Xu Hướng 1/2023 # 5 Hoạt Động Dân Số Theo Tinh Thần Nghị Quyết 21 # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # 5 Hoạt Động Dân Số Theo Tinh Thần Nghị Quyết 21 # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết 5 Hoạt Động Dân Số Theo Tinh Thần Nghị Quyết 21 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nghị quyết 21-NQ/TW được coi là “kim chỉ nam” đánh dấu bước ngoặt quan trọng của chính sách dân số Việt Nam trong tình hình mới.

Nghị quyết 21 NQ/TW ra đời năm 2017 được Ban Chấp hành Trung ương Đảng ban hành năm 2017, về công tác dân số trong tình hình mới với quan điểm chủ đạo: Tiếp tục chuyển trọng tâm chính sách dân số từ kế hoạch hoá gia đình sang Dân số và Phát triển. Công tác dân số phải chú trọng toàn diện các mặt quy mô, cơ cấu, phân bố, đặc biệt là chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ hữu cơ với các yếu tố kinh tế, xã hội, quốc phòng, an ninh và bảo đảm phát triển nhanh, bền vững.

Mục tiêu Nghị quyết hướng đến: Giải quyết toàn diện các vấn đề dân số về quy mô, cơ cấu, phân bố, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế – xã hội; duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỷ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên, tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý, nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh và bền vững.

Đánh giá 3 năm thực hiện Nghị quyết 21-NQ/TW, TS Phạm Vũ Hoàng, Phó Tổng cục trưởng Tổng cục Dân số, Bộ Y tế cho biết, trong 3 năm qua, ngành dân số đã triển khai đồng bộ các hoạt động phù hợp với yêu cầu chuyển trọng tâm công tác dân số sang dân số và phát triển theo tinh thần Nghị quyết 21-NQ/TW.

Theo TS Hoàng, ngành Dân số đã làm được 5 việc cơ bản:

Thứ nhất, về thể chế hóa các quan điểm, mục tiêu và nhiệm vụ của Nghị quyết 21-NQ/TW, ngành dân số đã tham mưu cấp ủy, chính quyền các cấp ban hành Chiến lược dân số Việt Nam đến năm 2030 và các chương trình, kế hoạch, đề án theo nhiệm vụ được giao trong Nghị quyết 137/NQ-CP như đã đề cập phía trên. Tổ chức triển khai thực hiện các chương trình, kế hoạch, đề án hướng tới mục tiêu dân số và phát triển.

Thứ hai, ngành dân số đã xây dựng, triển khai nhiều hoạt động truyền thông, đổi mới về hình thức và nội dung phù hợp với việc chuyển trọng tâm chính sách dân số trong tình hình mới; đã phối hợp các cơ quan truyền thông đẩy mạnh tuyên truyền về Nghị quyết 21-NQ/TW, chiến lược, các chương trình, kế hoạch như Chương trình Truyền thông Dân số đến năm 2030, Chương trình Điều chỉnh mức sinh phù hợp các vùng, đối tượng đến năm 2030, Chương trình Chăm sóc sức khỏe người cao tuổi đến năm 2030… để cán bộ, nhân dân hiểu rõ những nội dung chính sách dân số mới.

Bên cạnh công tác truyền thông, ngành chú trọng mở rộng, ứng dụng các kỹ thuật, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của nhân dân. Nhờ đó, hiệu quả và chất lượng chăm sóc sức khỏe, KHHGĐ, sức khỏe sinh sản cho người dân nói chung có những bước chuyển biến đáng kể.

Thứ ba, ngành dân số đã triển khai đồng bộ các hoạt động trên các lĩnh vực quy mô, cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số. Cụ thể: Chương trình KHHGĐ tiếp tục thực hiện cuộc vận động mỗi cặp vợ chồng nên có hai con, bảo đảm quyền và trách nhiệm trong việc sinh con và nuôi dạy con tốt; cung cấp đầy đủ, kịp thời các phương tiện tránh thai, dịch vụ KHHGĐ an toàn, hiệu quả, gần dân và với chất lượng ngày càng tốt hơn.

Để giải quyết tình trạng chênh lệch mức sinh giữa các vùng, đối tượng, duy trì vững chắc mức sinh thay thế, ngành dân số xây dựng hệ thống thông điệp truyền thông, nội dung tuyên truyền vận động riêng cho từng vùng mức sinh khác nhau thay cho một nội dung tuyên truyền chung cho cả nước; điều chỉnh, hoàn thiện các chính sách hỗ trợ khuyến khích phù hợp với từng vùng mức sinh.

Về cơ cấu và nâng cao chất lượng dân số, tiếp tục triển khai có hiệu quả các chương trình, đề án về kiểm soát mất cân bằng giới tính khi sinh; tầm soát bệnh, tật trước sinh và sơ sinh; tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn, chăm sóc sức khỏe người cao tuổi….

Đề án sàng lọc trước sinh và sơ sinh đang mở rộng triển khai tại các cơ sở y tế công lập, qua đó cung cấp kịp thời các thông tin về sàng lọc trước và sau sinh; lập danh sách theo dõi, quản lý đối tượng trong độ tuổi sinh đẻ để tư vấn, động viên trực tiếp tại các hộ gia đình nhằm hạn chế tỷ lệ trẻ em sinh ra bị mắc các dị tật bẩm sinh.

Thứ tư, đẩy mạnh nghiên cứu về dân số và phát triển, tăng cường hợp tác với các cơ sở nghiên cứu khoa học trong và ngoài nước. Trên cơ sở đó hình thành và phát triển mạng lưới nghiên cứu về dân số và phát triển; tiếp tục duy trì hệ thống thông tin số liệu chuyên ngành dân số, cung cấp thông tin số liệu dân số một cách đầy đủ, tin cậy để phục vụ quản lý nhà nước về dân số và lồng ghép các yếu tố dân số trong xây dựng và thực hiện các chiến lược, quy hoạch kế hoạch chương trình, dự án phát triển kinh tế xã hội.

Thứ năm, để đáp ứng nhu cầu và nhiệm vụ của công tác dân số trong tình hình mới, ngành dân số đẩy mạnh công tác đào tạo, bồi dưỡng nâng cao năng lực, chuẩn hóa đội ngũ cán bộ dân số các cấp, các ngành phù hợp yêu cầu chuyển hướng chính sách dân số sang dân số và phát triển.

Mục Tiêu Của Công Tác Dân Số Theo Nghị Quyết 21

MỤC TIÊU CỦA CÔNG TÁC DÂN SỐ THEO NGHỊ QUYẾT 21-NQ/TƯ NGÀY 25/10/2017 CỦA BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG KHÓA 12

Giải quyết toàn diện, đồng bộ các vấn đề về quy mô, cơ cấu, phân bổ, chất lượng dân số và đặt trong mối quan hệ tác động qua lại với phát triển kinh tế – xã hội. Duy trì vững chắc mức sinh thay thế; đưa tỉ số giới tính khi sinh về mức cân bằng tự nhiên; tận dụng hiệu quả cơ cấu dân số vàng, thích ứng với già hóa dân số; phân bố dân số hợp lý; nâng cao chất lượng dân số, góp phần phát triển đất nước nhanh, bền vững.

Đến năm 2030:

– Duy trì vững chắc mức sinh thay thế (bình quân mỗi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ có 2,1 con), quy mô dân số 104 triệu người.

Giảm 50% chênh lệch mức sinh giữa nông thôn và thành thị, miền núi và đồng bằng; 50% số tỉnh đạt mức sinh thay thế; mọi phụ nữ trong độ tuổi sinh đẻ đều được tiếp cận thuận tiện với các biện pháp tránh thai hiện đại; giảm 2/3 số vị thành niên và thanh niên có thai ngoài ý muốn.

– Bảo vệ và phát triển dân số các dân tộc có dưới 10 nghìn người, đặc biệt là những dân tộc có rất ít người.

– Tỉ số giới tính khi sinh dưới 109 bé trai/100 bé gái sinh ra sống; tỷ lệ trẻ em dưới 15 tuổi đạt khoảng 22%; tỷ lệ người từ 65 tuổi trở lên đạt khoảng 11%; tỷ lệ phụ thuộc chung đạt khoảng 49%.

– Tỷ lệ nam, nữ thanh niên được tư vấn, khám sức khỏe trước khi kết hôn đạt 90%; giảm 50% số cặp tảo hôn, giảm 60% số cặp hôn nhân cận huyết thống; 70% phụ nữ mang thai được tầm soát ít nhất 4 loại bệnh tật bẩm sinh phổ biến nhất; 90% trẻ sơ sinh được tầm soát ít nhất 5 bệnh bẩm sinh phổ biến nhất.

– Tuổi thọ bình quân đạt 75 tuổi, trong đó thời gian sống khỏe mạnh đạt tối thiểu 68 năm; 100% người cao tuổi có thẻ bảo hiểm y tế, được quản lý sức khỏe, được khám, chữa bệnh, được chăm sóc tại gia đình, cộng đồng, cơ sở chăm sóc tập trung.

– Chiều cao người Việt Nam 18 tuổi đối với nam đạt 168,5 cm, nữ đạt 157,5 cm. Chỉ số Phát triển con người (HDI) nằm trong nhóm 4 nước hàng đầu khu vực Đông Nam Á.

– Tỷ lệ dân số đô thị đạt trên 45%. Bố trí, sắp xếp dân cư hợp lý ở vùng biên giới, hải đảo, vùng đặc biệt khó khăn. Bảo đảm người di cư được tiếp cận đầy đủ và công bằng các dịch vụ xã hội cơ bản.

– 100% dân số được đăng ký, quản lý trong hệ thống cơ sở dữ liệu dân cư thống nhất trên quy mô toàn quốc.

Cải Cách Tiền Lương Theo Tinh Thần Nghị Quyết 27

Nghị quyết Hội nghị Trung ương 7 khóa XII về cải cách chính sách tiền lương là cuộc “cách mạng” thực sự trên lĩnh vực tiền lương. Nghị quyết ra đời nhằm giải quyết đồng bộ, toàn diện, triệt để, sâu sắc lĩnh vực chính sách tiền lương, nhằm tạo động lực mạnh mẽ cho kinh tế – xã hội phát triển, phát huy cao độ nguồn lực con người – yếu tố có tính chất quyết định cho quá trình đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, chủ động và tích cực hội nhập quốc tế, gắn với phát triển kinh tế tri thức đáp ứng cuộc cách mạng công nghệp 4.0. Từ đó sớm đưa Việt Nam trở thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa, góp phần xây dựng đất nước giàu mạnh, xã hội dân chủ, công bằng, văn minh. Theo đó mục tiêu, lộ trình thực hiện cải cách tiền lương theo tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/05/2018 đối với khu vực công là:

– Từ năm 2018 đến năm 2020, tiếp tục điều chỉnh tăng mức lương cơ sở theo Nghị quyết của Quốc hội, bảo đảm không thấp hơn chỉ số giá tiêu dùng và phù hợp với tốc độ tăng trưởng kinh tế; không bổ sung các loại phụ cấp mới theo nghề. Hoàn thành việc xây dựng và ban hành chế độ tiền lương mới theo nội dung cải cách chính sách tiền lương, gắn với lộ trình cải cách hành chính, tinh giản biên chế; đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị; đổi mới đơn vị sự nghiệp công lập.

– Từ năm 2021 đến năm 2025 và tầm nhìn đến năm 2030, áp dụng chế độ tiền lương mới thống nhất đối với cán bộ, công chức, viên chức, lực lượng vũ trang trong toàn bộ hệ thống chính trị từ năm 2021; năm 2021, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng mức lương thấp nhất bình quân của khu vực doanh nghiệp. Định kỳ (2 đến 3 năm) thực hiện nâng mức tiền lương phù hợp với chỉ số giá tiêu dùng CPI, mức tăng trưởng kinh tế và khả năng của NSNN. Đến năm 2025, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức cao hơn mức lương thấp nhất bình quân của khu vực doanh nghiệp. Đến năm 2030, tiền lương thấp nhất của cán bộ, công chức, viên chức bằng hoặc cao hơn mức lương thấp nhất của vùng cao nhất của khu vực doanh nghiệp.

Từ 1-7-2020, cán bộ, công chức, viên chức nhận lương theo mức lương cơ sở mới là 1,6 triệu đồng/tháng. Tuy nhiên, bắt đầu từ năm 2021, khi áp dụng chính sách cải cách tiền lương mới thì các đối tượng này sẽ bị mất nhiều khoản thu nhập. Nguyên nhân hiện nay có quá nhiều loại phụ cấp, nhiều khoản thu nhập ngoài lương làm phát sinh những chi phí bất hợp lý, không thể hiện rõ thứ bậc hành chính trong hoạt động công vụ. Việc có quá nhiều phụ cấp cũng đồng thời cào bằng các vị trí làm việc, không đánh giá đúng năng lực, phát huy được vai trò của từng đối tượng. Điều này khiến cho năng suất, chất lượng và hiệu quả công chức, viên chức không cao. Do đó theo Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/05/2018 thì từ năm 2021 sẽ có 07 khoản phụ cấp tiếp tục được thực hiện và bãi bỏ 05 khoản phụ cấp. Cụ thể như sau:

– 7 khoản phụ cấp được tiếp tục thực hiện từ năm 2021 gồm:

+ Phụ cấp kiêm nhiệm

+Phụ cấp thâm niên vượt khung.

+Phụ cấp khu vực.

+Phụ cấp trách nhiệm công việc.

+ Phụ cấp lưu động.

+Phụ cấp phục vụ an ninh, quốc phòng.

+Phụ cấp đặc thù với lực lượng vũ trang (quân đội, công an, cơ yếu).

– 5 khoản phụ cấp sẽ bị bãi bỏ  từ năm 2021 gồm:

+ Phụ cấp thâm niên nghề (trừ quân đội, công an, cơ yếu để đảm bảo tương quan tiền lương với cán bộ, công chức)

+ Phụ cấp chức vụ lãnh đạo (do các chức danh lãnh đạo trong hệ thống chính trị thực hiện xếp lương chức vụ)

+ Phụ cấp công tác đảng, đoàn thể chính trị – xã hội (do đã đưa vào trong mức lương cơ bản);

+ Phụ cấp công vụ (do đã đưa vào trong mức lương cơ bản);

+ Phụ cấp độc hại nguy hiểm (do đã đưa điều kiện lao động có yếu tố độc hại, nguy hiểm vào phụ cấp theo nghề)

Bên cạnh đó, Nghị quyết số 27-NQ/TW ngày 21/05/2018 cũng quy định bãi bỏ các khoản chi ngoài lương của công chức, viên chức có nguồn gốc ngân sách Nhà nước như: Tiền bồi dưỡng họp; Tiền bồi dưỡng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, đề án; Hội thảo… và khoán các chế độ ngoài lương như: tiền xăng xe, điện thoại, không gắn lương công chức, viên chức với việc xây dựng, sửa đổi, bổ sung văn bản quy định chính sách, chế độ không có tính chất lương.

Kích vào ảnh để phóng to

Kích vào ảnh để phóng to

Nguyễn Văn Tuấn- Văn phòng, Viện KSND tỉnh Bắc Giang

Đẩy Mạnh Công Tác Thể Dục Thể Thao Theo Tinh Thần Nghị Quyết Số 08

Đ ảng và Nhà nước ta luôn quan tâm, chú trọng công tác thể dục thể thao (TDTT) – một bộ phận không thể thiếu trong chính sách phát triển kinh tế – xã hội, nhằm bồi dưỡng và phát huy nhân tố con người, tạo sức mạnh và động lực phát triển đất nước. Các văn kiện của Đảng đã soi đường chỉ lối cho đội ngũ làm công tác TDTT phấn đấu xây dựng một nền TDTT phát triển và tiến bộ, mang đậm tính dân tộc, khoa học, đại chúng và nhân dân. Những văn kiện ấy đã đặt nền tảng cơ bản về quan điểm, tư tưởng, về xây dựng tổ chức, hoạt động TDTT qua các thời kỳ, hướng TDTT phục vụ đắc lực nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần nâng cao sức khỏe cho nhân dân, rèn luyện con người mới phát triển toàn diện.

Ngày 1-12-2011, Bộ Chính trị đã ban hành Nghị quyết số 08-NQ/T W về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020” (Nghị quyết 08). Nghị quyết 08 đã xác định các quan điểm phát triển TDTT trong thời kỳ hội nhập quốc tế: “Phát triển thể dục thể thao là một yêu cầu khách quan của xã hội, nhằm góp phần nâng cao sức khoẻ, thể lực và chất lượng cuộc sống của nhân dân, chất lượng nguồn nhân lực,… đồng thời là trách nhiệm của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, đoàn thể, tổ chức xã hội và của mỗi người dân, đảm bảo cho sự nghiệp thể dục thể thao ngày càng phát triển”. Theo đó, cần phải có sự quan tâm đầu tư xây dựng cơ sở vật chất TDTT, phát huy các nguồn lực xã hội để phát triển TDTT, đổi mới phương thức quản lý, điều hành của Nhà nước về TDTT. Nghị quyết 08 cũng đã đề ra nhiệm vụ và biện pháp chung như: các cấp uỷ Đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội cần tăng cường sự lãnh đạo, chỉ đạo, sự quan tâm đối với các hoạt động TDTT, quán triệt sâu sắc các quan điểm của Đảng về công tác TDTT. Trên cơ sở đó đề ra những chủ trương lãnh đạo, chỉ đạo công tác TDTT ở từng ngành, từng địa phương, cơ sở cho phù hợp; các cấp uỷ Đảng, chính quyền cần quan tâm chỉ đạo công tác tuyên truyền nhằm tạo sự chuyển biến sâu sắc về nhận thức của các cấp, các ngành và toàn xã hội về công tác TDTT.

Sau 8 năm triển khai thực hiện Nghị quyết 08, với sự quan tâm của các cấp ủy đảng, chính quyền và toàn xã hội cùng những nỗ lực của toàn ngành TDTT, công tác TDTT nước nhà đã đạt được những kết quả quan trọng, góp phần tích cực vào thành tích chung trong sự nghiệp văn hóa, thể thao và du lịch, nhất là chuẩn bị bồi dưỡng nguồn nhân lực chất lượng cao, phục vụ các nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội của đất nước. Kết quả thể hiện trên một số nét cơ bản như sau:

công tác giáo dục thể chất và thể thao trong trường học có nhiều chuyển biến tích cực. Đến nay, có hơn 95% số trường học trên cả nước đã thực hiện chương trình giáo dục thể chất chính khóa, 75% số trường có hoạt động TDTT ngoại khóa và số học sinh, sinh viên tham gia tập luyện TDTT ngoại khóa đạt hơn 70%. Trong quá trình xây dựng chương trình, môn học giáo dục thể chất đã từng bước được mở rộng, trong đó có các nội dung tự chọn, có sự liên thông giữa các bậc học theo nguyên tắc kế thừa và phát triển. Chương trình giảng dạy môn học giáo dục thể chất đã có nhiều đổi mới về mục tiêu, nội dung và phương pháp, cung cấp được một phần về kiến thức, kĩ năng vận động, hình thành thói quen tập luyện TDTT cho học sinh và xây dựng lối sống lành mạnh, giáo dục đạo đức, ý chí; giúp học sinh vận dụng kiến thức, kĩ năng đã học vào hoạt động thường ngày nhằm nâng cao sức khỏe và hoàn thiện thể chất, góp phần đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao phục vụ cho sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, xây dựng và bảo vệ đất nước trong thời kỳ hội nhập và phát triển.

phong trào TDTT quần chúng ở cơ sở tiếp tục được phát triển rộng trên tất cả các đối tượng và địa bàn theo hướng xã hội hóa với nhiều hình thức đa dạng; chất lượng phong trào từng bước được nâng lên . Cuộc vận động . Việc chỉ đạo, phối hợp với các ngành, địa phương tuyên truyền, phát động và tổ chức Ngày chạy Olympic vì sức khỏe toàn dân và phong trào toàn dân tập luyện môn bơi, phòng chống đuối nước; hoạt động TDTT của người cao tuổi, người khuyết tật, trẻ em có hoàn cảnh khó khăn được quan tâm hơn. Các phương pháp dưỡng sinh cổ truyền, các trò chơi dân gian và một số môn thể thao dân tộc được khôi phục và phát triển mạnh mẽ. “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” và Chương trình xây dựng nông thôn mới” tiếp tục được mở rộng, thu hút sự tham gia của đông đảo quần chúng(1), góp phần nâng cao sức khoẻ, xây dựng đời sống văn hoá lành mạnh ở cơ sở

thể thao thành tích cao có bước tiến bộ vượt bậc, thể hiện qua số lượng, cơ cấu huy chương đã đạt được tại các kỳ đại hội thể thao. Kết quả tham dự các giải thể thao quốc tế năm 2019, Thể thao Việt Nam giành tổng số 587 huy chương vàng (HCV), 428 huy chương bạc (HCB), 468 huy chương đồng (HCĐ) (trong đó, có 101 HCV, 60 HCB, 48 HCĐ thế giới; 120 HCV, 105 HCB, 108 HCĐ châu Á; 354 HCV, 258 HCB, 300 HCĐ Đông Nam Á và 12 HCV, 6 HCB, 13 HCĐ giải quốc quốc tế khác)(2). Việt Nam đã đăng cai tổ chức thành công nhiều sự kiện thể thao lớn, tạo tiền đề và cơ sở để đăng cai các kỳ SEA Games và Đại hội thể thao châu Á (ASIAD).

c ơ sở vật chất kỹ thuật được nâng cấp và xây dựng mới cả ở cấp Trung ương và địa phương; công tác đối ngoại và hội nhập quốc tế trong lĩnh vực TDTT tiếp tục được tăng cường và mở rộng theo hướng thiết thực và hiệu quả, vị thế của thể thao Việt Nam đã được nâng cao…

Đạt được những thành tựu trên là nhờ có sự phấn đấu nỗ lực của đa số cán bộ, đảng viên và nhân dân, của ngành TDTT; sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy đảng, chính quyền; sự tham gia tích cực và có hiệu quả của các ban, bộ, ngành, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị-xã hội, tổ chức kinh tế và đông đảo nhân dân.

Có thể khẳng định, sau 8 năm triển khai thực hiện Nghị quyết số 08-NQ/TW của Bộ Chính trị về “Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, tạo bước phát triển mạnh mẽ TDTT đến năm 2020”, TDTT nước ta đã có những đóng góp tích cực trong việc thực hiện các nhiệm vụ chính trị – xã hội và đối ngoại của Đảng và Nhà nước.

Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đạt được, vẫn còn một số hạn chế, bất cập như: sự lãnh đạo, chỉ đạo của cấp ủy đảng, chính quyền đối với công tác TDTT ở một số địa phương và ngành chưa được quan tâm đúng mức; phong trào TDTT phát triển chưa sâu rộng, nhất là ở nông thôn, miền núi và ở các khu công nghiệp; công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong học sinh, sinh viên kết quả đạt chưa như mong muốn; văn minh, văn hóa trong thể thao và hưởng thụ thể thao còn thấp, tiêu cực trong thể thao vẫn còn; các nguồn lực đầu tư cho TDTT còn hạn hẹp,…

Để khắc phục những hạn chế nhằm đẩy mạnh công tác TDTT theo tinh thần Nghị quyết số 08 của Bộ Chính trị, theo chúng tôi, trong thời gian tới cần tiếp tục tập trung thực hiện một số giải pháp chủ yếu sau:

nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác giáo dục thể chất và hoạt động thể thao trong trường học – bộ phận quan trọng của phong trào TDTT; đồng thời, triển khai có hiệu quả “Ðề án tổng thể phát triển giáo dục thể chất và thể thao trường học”; phát triển mạnh các hoạt động thể thao của học sinh, sinh viên bảo đảm mục tiêu phát triển thể lực toàn diện và kỹ năng vận động cơ bản của học sinh, sinh viên, góp phần đào tạo năng khiếu và tài năng thể thao…

đ ẩy mạnh hoạt động TDTT quần chúng thông qua phong trào “Toàn dân rèn luyện thân thể theo gương Bác Hồ vĩ đại” gắn với Cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ở cơ sở” và Chương trình xây dựng nông thôn mới, xây dựng khu đô thị văn minh; phát triển các môn thể thao dân tộc và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc trong các hoạt động TDTT; chú trọng phát triển TDTT trong lực lượng vũ trang đáp ứng yêu cầu xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

, tăng cường công tác giáo dục chính trị, tư tưởng, đạo đức, lối sống cho vận động viên, huấn luyện viên, trọng tài và cán bộ TDTT, đặc biệt là công tác giáo dục chính trị, tư tuởng cho các vận động viên, huấn luyện viên trong các đội tuyển quốc gia đi liền với việc thực hiện Chỉ thị số 05 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh” gắn với thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI, khóa XII) về xây dựng Đảng.

(1) Năm 2019, số người tập luyện TDTT thường xuyên trên toàn quốc đạt 33,6%; số gia đình tập luyện TDTT đạt 25%; cả nước có 73.155 câu lạc bộ thể thao; có 65.611 cộng tác viên thể thao.

(2) Đoàn Thể thao Việt Nam thi đấu xuất sắc giành 98 HCV, 85 HCB, 105 HCĐ, xếp vị trí thứ thứ 2/11 quốc gia tham dự SEA Games 30, đặc biệt đội tuyển B óng đá U22 nam lần đầu tiên trong lịch sử vô địch SEA Games, đội tuyển bóng đá nữ lần thứ 6 vô địch SEA Games và nhiều thành tích xuất sắc của các đội thể thao tham dự SEA Games 30; các đội tuyển bóng đá thi đấu xuất sắc, như: Đội tuyển Bóng đá nữ vô địch Đông Nam Á, đội tuyển U23 Việt Nam xếp vị trí nhất bảng K và giành quyền thi đấu vòng chung kết tại Giải vô địch U23 châu Á năm 2020 và giành HCB Giải Bóng đá King Cup 2019 tại Thái Lan; đội tuyển Taekwondo giành 1 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ tại Giải GranPrix thế giới và 26 HCV, 20 HCB, 43 HCĐ tại Giải vô địch trẻ Đông Nam Á; đội tuyển Aerobic giành 3 HCV, 3 HCB, 3 HCĐ tại Giải Cup Suzuki thế giới; đội tuyển Cử tạ giành 6 HCV, 4 HCB tại Giải Cup thế giới, 3 HCV, 3 HCB tại Giải vô địch trẻ thế giới và 3 HCV, 2 HCV, 4 HCĐ tại Giải vô địch châu Á; đội tuyển Thể dục dụng cụ giành 1 HCV, 1 HCB, 1 HCĐ tại Giải Cup trẻ thế giới; đội tuyển Điền kinh giành 1 HCV tại Giải vô địch châu Á và 7 HCV, 9 HCB, 12 HCĐ tại Giải vô địch trẻ Đông Nam Á; đội tuyển Cờ vua giành 1 HCV, 2 HCB tại Giải vô địch châu Á,…

Cập nhật thông tin chi tiết về 5 Hoạt Động Dân Số Theo Tinh Thần Nghị Quyết 21 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!