Xu Hướng 8/2022 # Án Treo Là Gì? Điều Kiện Và Cách Xin Hưởng Án Treo Mới Nhất # Top View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 8/2022 # Án Treo Là Gì? Điều Kiện Và Cách Xin Hưởng Án Treo Mới Nhất # Top View

Xem 792

Bạn đang xem bài viết Án Treo Là Gì? Điều Kiện Và Cách Xin Hưởng Án Treo được cập nhật mới nhất ngày 13/08/2022 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 792 lượt xem.

--- Bài mới hơn ---

  • Ubtvqh Thông Qua Nghị Quyết Ban Hành Quy Chế Hướng Dẫn Tổ Chức Và Hoạt Động Của Hđnd
  • Thông Qua Nghị Quyết Ban Hành Quy Chế Hướng Dẫn Hoạt Động Hđnd
  • Thực Hiện Tinh Giản Biên Chế Theo Các Quy Định Của Trung Ương Và Nghị Quyết Số 27 Của Hđnd Thành Phố
  • Tp Hcm: Hơn 2.300 Cán Bộ Không Chuyên Trách Dôi Dư Được Hưởng Trợ Cấp Ra Sao?
  • Đối Tượng Nào Có Nguy Cơ Bị Tinh Giản Biên Chế Trong Năm 2022?
  • Án treo là gì? Điều kiện và cách xin hưởng án treo mới nhất. Trường hợp nào không được hưởng án treo theo quy định của Bộ luật hình sự.

    Vấn đề tội phạm và nhà nước do luật hình sự điều chỉnh, chỉ những hành vi phạm tội nào được Bộ luật hình sự quy định là tội phạm thì mới bị truy cứu trách nhiệm hình sự, xã hội càng ngày càng văn minh việc hình phạt không còn nặng về trừng phạt nữa mà nó là biện pháp nhằm giáo dục và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật nhiều hơn. Quy định về án treo nó không phải hình phạt chính cũng không phải hình phạt bổ sung mà nó được hình thành từ cơ sở hình phạt hình phạt tù khi có đủ điều kiện, nó cũng chính là biện pháp mà pháp luật nhà nước khoan hồng cho những người có đủ điều kiện để họ có tự giáo dục bản thân về hành vi của mình khi thực hiện hành vi của mình. Mong rằng bài viết này bạn đọc có thể nhận được cái nhìn về án treo được quy định Điều 65 Bộ luật hình sự hiện hành (Bộ luật hình sự 2022 sửa đổi bổ sung 2022)

    Vấn đề án treo được Hội đồng thẩm phán tòa án nhân dân tối cao ban hành nghị quyết số 02/2018/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 65 của Bộ luật hình sự về án treo.

    Cơ bản án treo là biện pháp khi mà người phạm tội khi có đủ điều kiện mà thấy không cần phải cách ly người phạm tội khỏi xã hội thì tòa án cho người kết án phạt tù hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách từ 1 năm đến 5 năm. Khi tòa án áp dụng án treo thì tòa án có thể áp dụng hình phạt bổ sung nếu tội danh có quy định về hình phạt bổ sung. Nó cũng là biện pháp có nhiều ưu điểm và nhược điểm.

    Về mặt ưu điểm: Án treo tạo điều kiện cho người phạm tội một cơ hội để nhận thức được hành vi của bản thân, không bị cách ly họ khỏi đời sống xã hội, họ có cơ hội được tiếp tục lao động và làm việc, giảm gánh nặng cho xã hội.

    Còn nhược điểm của án treo là đề cao trách nhiệm của chính quyền địa phương dễ kéo theo việc lạm quyền trong trong việc áp dụng các biện pháp khi thi hành án của cơ quan có thẩm quyền, dẫn đến việc đánh giá tính chất mức độ nghiêm trọng của hành vi không đúng.

    Điều kiện cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo.

    Thứ nhất: Người phạm tội bị xử phạt tù không quá 3 năm.

    Bàn đến việc bị phạt tù không quá ba năm ở đây không được hiểu là người phạm tội phạm vào tội ít nghiêm trọng. Theo quy định của Bộ luật hình sự hiện hành tại Điều 9 quy định rằng tội phạm ít nghiêm trọng có khung hình phạt tù đến ba năm nhưng không được nhầm với định nghĩa là bị xử phạt tù không quá 3 năm, với định nghĩa này mình phải hiểu nó có thể là hành vi thuộc tội phạm ít nghiêm trọng nhưng có thể là tội phạm nghiêm trọng cũng có thể là tội phạm hay tội phạm rất nghiêm trọng hay tội đặc biệt nghiêm trọng nhưng do có nhiều tình tiết giảm nhẹ hay vì vai trò trong đồng phạm không có quan trọng nên tòa án kết án cho người phạm tội hình phạt tù không quá 3 năm tù.

    Theo nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP thì người phạm tội phải có nhân thân tốt, đa phần chúng ta hay hiểu nhầm rằng nhân thân tốt có nghĩa rằng người phạm tội lần đầu nhưng như vậy là không đủ, còn một trường hợp nữa là người đã bị kết án nhưng đã được xóa án tích, người đã bị xử phạt hành chính hoặc bị xử lý kỷ luật mà đã quá 06 tháng kể từ ngày vi phạm.

    Thêm vào đó người phạm tội phải có nơi cư trú rõ ràng, nơi làm việc ổn định thì mới có thể hưởng được án treo, vì án treo thì không cách ly người phạm tội khỏi đời sống xã hội mà giao người phạm tội cho chính quyền địa phương và cơ quan nơi làm việc giám sát, quản lý.

    Thứ ba: Có nhiều tình tiết giảm nhẹ.

    Người phạm tội có nhiều tình tiết giảm nhẹ là có từ hai tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự trong đó phải có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ ở khoản 1 Điều 51 và người phạm tội không có tình tiết tăng nặng ở khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự hiện hành.

    Trong trường hợp người phạm tội có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì số tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự phải nhiều hơn số tình tiết tăng nặng từ 02 tình tiết trở lên, trong đó có ít nhất 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2022.

    Thứ tư: Xét thấy không cần thiết phải chấp hành hình phạt tù.

    Mặt khác, pháp luật có quy định trong thời gian thử thách của án treo từ một năm đến năm năm, nếu người phạm tội được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên theo quy định của Luật thi hành án hình sự, thì Tòa án có thể quyết định buộc người phạm tội phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Khi người được hưởng án treo thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án xét xử với tội mới và rồi tổng hợp hình phạt với tội được hưởng án treo sang tù theo điều 56 Bộ luật hình sự 2022 sửa đổi bổ sung năm 2022.

    Ngoài những điều kiện được pháp luật quy định cho hưởng án treo, pháp luật còn quy định những trường hợp không cho hưởng án treo. Thực ra thì những trường hợp này là những trường hợp rơi vào tình tiết tăng nặng của Điều 52 Bộ luật hình sự hiện hành mà pháp luật quy định không cho hưởng án treo được quy định cụ thể ở Điều 3 nghị quyết 02/2018/NQ-HĐTP.

    T hứ nhất: Chủ thể có quyền xin hưởng án treo.

    Theo quy định tại Điều 331 Bộ Luật tố tụng hình sự 2022 thì bị cáo, người đại diện của họ có quyền kháng cáo bản án hoặc quyết định sơ thẩm để xin hưởng án treo. Đối với người chưa thành niên, người có nhược điểm hạn chế về tâm thần hoặc thể chất (bị đau ốm, bị thương, tâm thần..) thì người bào chữa cho những chủ thể này có quyền kháng cáo để xin hưởng án treo.

    Về hồ sơ: Điều 332 Bộ luật tố tụng hình sự 2022 quy đình thì hồ sơ gồm có đơn kháng cáo theo mẫu và các tài liệu chứng cứ bổ sung để chứng minh người phạm tội có điều kiện hưởng án treo như giấy xác nhận đã nhận được bồi thường từ phía nạn nhân, đơn xin giảm án của nạn nhân, giấy xác nhận hoàn cảnh đặc biệt khó khăn…

    Thủ tục: Chủ thể kháng có sẽ nộp đơn kháng cáo tại Tòa án đã xét xử sơ thẩm hoặc Tòa án cấp phúc thẩm, đối với bị cáo đang bị tạm giam hay tạm giữ thì phải đảm bảo các điều kiện cho bị cáo gửi đơn kháng cáo đến Tòa. Thời hạn kháng cáo xin hưởng án treo đối với bản án sơ thẩm là 15 ngày kể từ ngày tuyên án, 07 ngày đối với quyết định sơ thẩm.

    – Tư vấn cấu thành của tội giết người

    – Tư vấn tham gia thủ tục tố tụng hình sự

    – Tư vấn tội trộm cắp tài sản chuyển sang tội cướp tài sản

    – Tư vấn miễn trách nhiệm hình sự có người dưới 18 tuổi.

    1. Có được hưởng án treo khi nhân thân tốt?

    Tôi phạm tội cưỡng đoạt tài sản theo Điều 135 BLHS. Tôi có được xử án treo không nếu có một số tình tiết giảm nhẹ sau: – nhân thân tốt, pham tội lần đầu, không có tiền án tiền sự – vợ sắp cưới của tôi đang mang thai hơn 3 tháng – khai báo thành khẩn, biết ăn năn hối cải. Xin tư vấn giúp, xin cảm ơn!

    Điều 60 BLHS quy định : ” Khi xử phạt tù không quá ba năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giả nhẹ, xét thấy không cần phải bắt chấp hành hình phạt tù, thì Tòa án cho hưởng án treo và ấn định thời gian thử thách từ một năm đến năm năm”.

    Theo quy định trên thì các căn cứ để cho người bị kết tù đươc hưởng án treo đó là:

    Về nhân thân người phạm tội: người được hưởng án treo phải là người có nhân thân tương đối tốt.

    Con của tôi đánh nhau, gây thương tích. Tháng 01 năm 2022 Hải bị TAND tỉnh xử phạt 12 tháng tù cho hưởng án treo về tội cố ý gây thương tích, thời gian thử thách là 02 năm. Vậy Luật sư cho tôi hỏi con sau bao lâu thì mới được xóa án tích.

    Theo Điều 64 “Bộ luật hình sự năm 2022” sửa đổi, bổ sung năm 2009 có quy định:

    Như vậy, đối với tội cố ý gây thương tích và tòa án đã cho bạn được hưởng án treo thì sau một năm kể từ khi chấp hành xong bản án sẽ đương nhiên được xóa án tích. Như vậy, cần xác định ngày chấp hành xong bản án như sau:

    Theo Điều 4 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP quy định:

    3. Trường hợp Toà án cấp sơ thẩm không cho hưởng án treo, Toà án cấp phúc thẩm cho hưởng án treo thì thời điểm bắt đầu tính thời gian thử thách là ngày tuyên án phúc thẩm.

    3. Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội có được hưởng án treo không?

    Chào luật sư, em có một tình huống đang cần được tư vấn, anh/chị có thể gợi ý giúp em không ạ: Ngày 2/10/2011, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản của người không quen biết (tài sản trị giá 49 triệu đồng – thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS) nhưng không bị phát hiện. Ngày 5/10/2012, H lại phạm tội cướp giật tài sản (thuộc khoản 4 Điều 136 BLHS) bị phát hiện và Công an bắt giữ H. Câu hỏi: Giả định H phạm tội cướp giật tài sản bị truy tố theo khoản 1 Điều 136 BLHS và tội trộm cắp như tình huống nêu trên thì H có khả năng được hưởng án treo không?

    Án treo là biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, được Tòa án áp dụng đối với người phạm tội bị phạt tù không quá 3 năm, căn cứ vào nhân thân của người phạm tội và các tình tiết giảm nhẹ, xét thấy không cần buộc phải chấp hành hình phạt tù nên theo Khoản 1 Điều 60 “Bộ luật hình sự 2022” quy định về án treo như sau:

    Do đó, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP, Hội đồng xét xử sẽ xem xét cho hưởng án treo nếu người phạm tội đáp ứng đầy đủ các điều kiện sau:

    d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại Khoản 1 Điều 48 Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại Khoản 1 Điều 46 Bộ luật hình sự. Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại Khoản 2 Điều 46 Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/QĐ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của “Bộ luật hình sự năm 2022″”;

    Như vậy, khi đáp ứng đầy đủ các điều kiện đã quy định ở trên thì bạn sẽ được hưởng án treo.

    Nhưng với tình huống bạn đặt ra, người đó bị tuyên án với hành vi phạm tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138 và tội cướp giật tài sản theo khoản 1 Điều 136 , bị tuyên phạt tù theo “Bộ luật hình sự 2022” Nghị quyết 01/2013/NĐ-HĐTP vì phạm nhiều tội thì căn cứ vào khoản 2 Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP:

    Do đó, H bị tuyên phạt nhiều tội trong cùng một lần xét xử nên thuộc đối tượng nằm trong các trường hợp không cho hưởng án treo theo quy định pháp luật nêu ở trên nên H không đủ điều kiện được hưởng án treo.

    4. Chưa xóa án tích còn phạm tội có được hưởng án treo không?

    Chồng em bị bắt về tội tàng trữ, sử dụng chất ma túy với số lượng ít. Về gia đinh thì có giấy thương binh liệt sĩ và là gia đình nghèo được nhà nước công nhận nhưng cách đây 1 năm anh có bị bắt về tội trộm cắp mà chưa xóa án tích.cho em hỏi là anh bị như vậy có được hưởng án treo không ạ. Em cảm ơn?

    Tại Điều 194 Bộ luật hình sự có quy định như sau:

    Điều 194. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy

    1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

    2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

    c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn;

    d) Lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

    đ) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

    e) Sử dụng trẻ em vào việc phạm tội hoặc bán ma tuý cho trẻ em;

    g) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm trăm gam đến dưới một kilôgam;

    h) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ năm gam đến dưới ba mươi gam;

    i) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới hai mươi lăm kilôgam;

    k) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới hai trăm kilôgam;

    l) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ mười kilôgam đến dưới năm mươi kilôgam;

    m) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ hai mươi gam đến dưới một trăm gam;

    n) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ một trăm mililít đến dưới hai trăm năm mươi mililít;

    o) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm g đến điểm n khoản 2 Điều này;

    3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ mười lăm năm đến hai mươi năm:

    a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ một kilôgam đến dưới năm kilôgam;

    b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ ba mươi gam đến dưới một trăm gam;

    c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ hai mươi lăm kilôgam đến dưới bảy mươi lăm kilôgam;

    d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ hai trăm kilôgam đến dưới sáu trăm kilôgam;

    đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ năm mươi kilôgam đến dưới một trăm năm mươi kilôgam;

    e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ một trăm gam đến dưới ba trăm gam;

    g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ hai trăm năm mươi mililít đến dưới bảy trăm năm mươi mililít;

    h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 3 Điều này.

    4. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

    a) Nhựa thuốc phiện, nhựa cần sa hoặc cao côca có trọng lượng từ năm kilôgam trở lên;

    b) Hêrôin hoặc côcain có trọng lượng từ một trăm gam trở lên;

    c) Lá, hoa, quả cây cần sa hoặc lá cây côca có trọng lượng từ bảy mươi lăm kilôgam trở lên;

    d) Quả thuốc phiện khô có trọng lượng từ sáu trăm kilôgam trở lên;

    đ) Quả thuốc phiện tươi có trọng lượng từ một trăm năm mươi kilôgam trở lên;

    e) Các chất ma tuý khác ở thể rắn có trọng lượng từ ba trăm gam trở lên;

    g) Các chất ma tuý khác ở thể lỏng từ bảy trăm năm mươi mililít trở lên;

    h) Có từ hai chất ma tuý trở lên mà tổng số lượng của các chất đó tương đương với số lượng chất ma tuý quy định tại một trong các điểm từ điểm a đến điểm g khoản 4 Điều này.

    5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm trăm triệu đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ một năm đến năm năm.

    Theo thông tin bạn trình bày là chồng bạn bị bắt về tội tàng trữ chất ma túy với số lượng ít, tuy nhiên không rõ cụ thể là số lượng bao nhiêu. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 194 Bộ luật hình sự có quy định người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma tuý, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm.

    Ngoài ra, tại Điều 2 Nghị quyết 01/2013/NQ-HĐTP hướng dẫn áp dụng Điều 60 của Bộ luật hình sự về án treo có quy định về việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo như sau:

    Điều 2. Việc xem xét cho người bị kết án phạt tù được hưởng án treo

    1. Chỉ xem xét cho người bị xử phạt tù hưởng án treo khi có đủ các điều kiện sau đây:

    a) Bị xử phạt tù không quá 3 năm về tội ít nghiêm trọng, tội nghiêm trọng, tội rất nghiêm trọng theo phân loại tội phạm quy định tại khoản 3 Điều 8 của Bộ luật hình sự

    b) Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này họ luôn tôn trọng các quy tắc xã hội, chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ nghĩa vụ của công dân nơi cư trú, công tác; không vi phạm các điều mà pháp luật cấm; chưa bao giờ bị kết án, bị xử lý vi phạm hành chính, bị xử lý kỷ luật.

    Trường hợp người phạm tội có án tích nhưng đã được xóa án tích, được đương nhiên xóa án tích thì coi là chưa bị kết án; đã bị xử lý hành chính, xử lý kỷ luật nhưng đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật hoặc hết thời hiệu xử lý vi phạm hành chính, xử lý kỷ luật thì được coi là chưa bị xử lý hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật, nhưng không phải là có nhân thân tốt. Việc cho hưởng án treo đối với những trường hợp này phải hết sức chặt chẽ. Chỉ có thể xem xét cho hưởng án treo khi thuộc một trong các trường hợp sau:

    b1) Người bị kết án từ trên 3 năm tù đến 15 năm tù về tội do cố ý (kể cả trường hợp tổng hợp hình phạt của nhiều tội hoặc nhiều bản án) mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

    b2) Người bị kết án đến 3 năm tù về tội do cố ý mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

    b3) Người bị kết án về các hình phạt cảnh cáo, phạt tiền, cải tạo không giam giữ mà thời gian được xóa án tích tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

    b4) Người bị kết án về các tội do vô ý mà đã được xóa án tích;

    b5) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

    b6) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc một lần và có nhiều lần bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính, chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 2 năm;

    b7) Người đã bị đưa vào cơ sở giáo dục bắt buộc mà thời gian được coi là chưa bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

    b8) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật từ hai lần trở lên mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 18 tháng;

    b9) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật về hành vi có cùng tính chất với hành vi phạm tội lần này mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 1 năm;

    b10) Người đã bị xử phạt vi phạm hành chính hoặc xử lý kỷ luật mà thời gian được coi là chưa bị xử phạt vi phạm hành chính, chưa bị xử lý kỷ luật tính đến ngày phạm tội lần này đã quá 6 tháng;

    b11) Người đã bị áp dụng biện pháp xử lý hành chính giáo dục tại xã, phường, thị trấn, đưa vào trường giáo dưỡng hoặc đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc đã hết thời hạn được coi là chưa bị xử lý hành chính;

    c) Có nơi cư trú cụ thể, rõ ràng;

    d) Không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự quy định tại khoản 1 Điều 48 của Bộ luật hình sự và có từ hai tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên trong đó có ít nhất một tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự; nếu có một tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự thì phải có từ ba tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự trở lên, trong đó có ít nhất hai tình tiết giảm nhẹ quy định tại khoản 1 Điều 46 của Bộ luật hình sự

    Những tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 46 của Bộ luật hình sự là những tình tiết được hướng dẫn tại điểm c mục 5 Nghị quyết số 01/2000/NQ-HĐTP ngày 04-8-2000 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao “Hướng dẫn áp dụng một số quy định trong Phần chung của Bộ luật hình sự

    đ) Có khả năng tự cải tạo và nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm, đặc biệt là các tội phạm về tham nhũng.

    2. Không cho hưởng án treo nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây:

    a) Người phạm tội thuộc đối tượng cần phải nghiêm trị quy định tại khoản 2 Điều 3 của Bộ luật hình sự bao gồm: người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy, ngoan cố chống đối, lưu manh, côn đồ, tái phạm nguy hiểm, lợi dụng chức vụ, quyền hạn để phạm tội; người phạm tội dùng thủ đoạn xảo quyệt, có tổ chức, có tính chất chuyên nghiệp, cố ý gây hậu quả nghiêm trọng; phạm tội đặc biệt nghiêm trọng;

    b) Bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội;

    c) Trong hồ sơ thể hiện là ngoài lần phạm tội và bị đưa ra xét xử, họ còn có hành vi phạm tội khác đã bị xét xử trong một vụ án khác hoặc đang bị khởi tố, điều tra, truy tố trong một vụ án khác;

    d) Bị cáo tại ngoại bỏ trốn trong giai đoạn chuẩn bị xét xử, Tòa án đã đề nghị cơ quan điều tra truy nã.

    Như thông tin bạn trình bày gia đinh bạn có giấy thương binh liệt sĩ và là gia đình nghèo, cách đây một năm chồng bạn có bị bắt về tội trộm cắp mà chưa được xóa án tích. Do vậy, căn cứ theo các quy định trên của pháp luật hiện hành thì chồng của bạn sẽ không đủ điều kiện để được hưởng án treo.

    Trong thời gian công tác tại cơ sở cai nghiện tôi có nhận giúp cho 2 gia đình người cai nghiện bắt buộc được về cai nghiện tại cộng đồng và tôi đã nhận của 2 gia đình này mỗi người 10 triệu. Và khi được về thì một gia đình đưa thêm 15 triệu và một gia đình đưa thêm 5 triệu nhưng trong thời gian trên tôi hướng dẫn 2 gia đình trên làm thủ tục nhưng tòa án không chấp nhận và ra quyết định cai nghiện bắt buộc và lúc đó tôi nói là không giúp được và sẽ trả tiền lại và cũng trong thời gian này có một học viên trốn.

    Tôi đã gọi điện thoại động viên gia đình đưa học viên đó đến trình diện và tôi sẽ gửi trả lại số tiền 10 triệu mà tôi đã nhận trước đó và gia đình đồng ý nhưng tới hôm nay tôi nhiều lần điện thoại mà gia đình không bắt máy, còn về phía gia đình kia tôi cũng gọi điện để trả lại số tiền 10 triệu thì gia đình không có thời gian và hẹn tôi 3 lần để qua nhận tiền lại nhưng không có qua đến khoảng 1 tháng sau gia đình có qua và tôi đã trả lại được 8 triệu và hẹn 1 tuần sau sẽ trả 2 triệu còn lại nhưng trong thời gian này tôi bị công an mời lên điều tra theo tin tố giác tội phạm và tôi đã thành khẩn khai báo, giao nộp lại tổng số tiền còn lại của 2 gia đình trên là 12 triệu cho công an để khắc phục hậu quả và đồng thời tôi cũng bị ra quyết định khởi tố vụ án hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo khoản 1 điều 139 BLHS.

    Như vậy tôi có được hưởng án treo hay không, hay tôi phải chấp hành án tù và nếu như được hưởng án treo thì tôi có bị buộc thôi việc không vì hiện tại tôi đang bị đình chỉ công tác để hổ trợ công tác điều tra thời gian là 2 tháng và như vậy tôi có được hưởng lương trong thời gian đình chỉ công tác. Xin Luật Dương Gia từ vấn dùm tôi. Và cho tôi hỏi thêm nếu 1 trong 2 giá đình trên có làm đơn yêu cầu không xử lý hình sự thì tôi có được hưởng án treo không? Rất cấm ơn và mong tư vấn sớm dùm cho tôi được rõ.

    Dựa trên những thông tin bạn cung cấp, hiện nay bạn đang bị khởi tố hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trường hợp này để xác định bạn có được hưởng án treo và có được hưởng lương trong thời gian đình chỉ công tác để điều tra hay không thì cần xem xét các phương diện sau:

    Thứ nhất, về việc khởi tố bạn với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Theo thông tin bạn cung cấp thì hiện bạn đang bị cơ quan công an ra quyết định khởi tố về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự. Dựa theo thông tin này cho thấy, thời điểm xảy ra hành vi phạm tội và việc ra quyết định khởi tố vụ án hình sự là thời điểm đang áp dụng “Bộ luật hình sự năm 2022”. Bởi căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 139 “Bộ luật hình sự năm 2022”, sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì:

    1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.

    Xem xét tình huống của bạn, theo thông tin, trong thời gian công tác tại cơ sở cai nghiện bắt buộc, bạn đã có nhận tiền của hai gia đình, mỗi người 10 triệu; sau đó nhận thêm của những gia đình này là một gia đình đưa thêm 15 triệu, còn gia đình còn lại đưa thêm 5 triệu với mục đích là giúp đỡ cho người thân của họ không phải cai nghiện bắt buộc tại trung tâm, mà được về cai nghiện tại địa phương. Tuy nhiên, sau khi hướng dẫn hai bên gia đình làm thủ tục mà không được Tòa án chấp nhận, và Tòa án vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp cai nghiện bắt buộc đối với người thân của hai gia đình này. Sau khi không giúp đỡ được những người này, bạn đã có đề nghị về việc trả lại tiền cho họ. Tuy nhiên, do không liên lạc được và gặp nhiều khó khăn mà bạn chưa trả được hết số tiền mà bạn đã nhận.

    Trường hợp này, theo đơn tố giác tội phạm thì bạn được cơ quan công an mời lên điều tra và đã có quyết định khởi tố vụ án hình sự lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Có thể thấy, mặc dù đã có quyết định khởi tố vụ án nhưng chưa có quyết định khởi tố bị can, chưa xem xét bạn như là một người bị tình nghi phạm tội.

    Trong trường hợp này bạn chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có đầy đủ bằng chứng, chứng cứ cho thấy bạn có đủ yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Cụ thể, căn cứ theo quy định tại khoản 1 Điều 139 “Bộ luật hình sự năm 2022” sửa đổi, bổ sung năm 2009 thì cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định như sau:

    Chủ thể của tội phạm – người phạm tội cũng tương tự như đối với tội xâm phạm sở hữu khác phải là người có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Trong đó, vì trường hợp được quy định tại khoản 1 Điều 139 Bộ luật hình sự năm 1999, sửa đổi, bổ sung năm 2009 là tội phạm ít nghiêm trọng, nên căn cứ theo quy định tại Điều 12 “Bộ luật hình sự năm 2022” thì chủ thể phạm tội phải là người từ đủ 16 tuổi trở lên.

    Trong trường hợp của bạn, hiện tại bạn đang công tác trong cơ sở cai nghiện bắt buộc nên có thể xác định, bạn đã đủ 16 tuổi trở lên và hoàn toàn đáp ứng điều kiện về năng lực chịu trách nhiệm hình sự.

    Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản cũng tương tự như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

    – Hành vi khách quan: Do đặc điểm riêng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là chiếm đoạt tài sản, nhưng chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối.

    Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối, lừa đảo thường thể hiện ở việc đưa ra những thông tin sai sự thật, hoặc bằng những thủ đoạn khác nhằm mục đích lừa dối người bị hại, khiến cho người bị hại tin tưởng, tự nguyện giao tài sản cho người phạm tội.

    – Hậu quả của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Mà đối với trường hợp người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 139 “Bộ luật hình sự năm 2022”, sửa đổi, bổ sung năm 2009, thì hậu quả của tội phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xác định có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới 50 triệu đồng; hoặc dưới 2 triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản nhưng chưa được xóa án tích mà còn vi phạm.

    Trong trường hợp cụ thể của bạn, bạn chỉ đáp ứng mặt khách quan của tội phạm, khi bạn có hành vi gian dối, hoặc thủ đoạn khác nhằm đưa ra những thông tin sai sự thật ví dụ như bạn quen biết rộng, có chức vụ cao, có thể quyết định, hoặc tìm được cách để cho hai người đang thực hiện việc cai nghiện bắt buộc có thể cai nghiện tại cộng đồng. Việc đưa ra thông tin này, nhằm mục đích yêu cầu tiền bạc, tài sản từ gia đình những người cai nghiện này, và thực tế, vì tin tưởng vào lời nói, hành động của bạn mà họ tự nguyện giao tài sản cho bạn. Tuy nhiên, sau khi có được tài sản bạn lại không thực hiện công việc đã thỏa thuận, đưa ra những lý do, thông tin gian dối khác cố tình trốn tránh nhằm chiếm đoạt tài sản này.

    Trường hợp này sẽ khác với việc hai bên thỏa thuận về việc giúp đỡ những người này thông qua việc hướng dẫn trình tự, thủ tục để đề nghị về việc được cai nghiện tại cộng đồng thay vì cai nghiện bắt buộc tại cơ sở cai nghiện. Khi thỏa thuận không thực hiện được đã có hành vi trả lại tài sản theo thỏa thuận.

    Cũng như đối với các tội khác có tính chất chiếm đoạt, tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

    Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện thủ đoạn gian dối và hành vi chiếm đoạt tài sản. Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp rồi mới có ý định chiếm đoạt thì không được xác định là hành vi chiếm đoạt tài sản.

    Trong trường hợp của bạn, chỉ xuất hiện dấu hiệu chủ quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản khi có căn cứ xác định rằng trước khi bạn đưa ra thông tin, cũng như nhận tiền từ người nhà của hai người cai nghiện này thì bạn đã nảy sinh ý định chiếm đoạt. Và vì có dự định chiếm đoạt số tiền này nên bạn mới sử dụng thủ đoạn gian dối để lừa đảo những người này để họ tin tưởng giao tài sản cho mình.

    Nếu trường hợp bạn nhận tiền để giúp họ lo việc nhưng không có mục đích chiếm đoạt tài sản của họ, và theo thỏa thuận khi không giúp đỡ được thì bạn sẽ trả tiền cho họ thì trường hợp này sẽ không đủ yếu tố cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Như vậy, qua phân tích nêu trên, bạn chỉ có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo quy định tại khoản 1 Điều 139 “Bộ luật hình sự năm 2022”, sửa đổi, bổ sung năm 2009 khi đáp ứng đầy đủ các yếu tố cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Chỉ cần không đáp ứng đủ một trong bốn yếu tố nêu trên thì sẽ không đủ căn cứ để truy cứu trách nhiệm hình sự đối với bạn.

    Tuy nhiên, hiện nay vụ việc đang trong quá trình điều tra, nên việc bạn có bị truy cứu trách nhiệm hình sự hay không còn phụ thuộc vào những bằng chứng, chứng cứ thu thập được phản ánh về sự việc như thế nào. Chỉ khi có đầy đủ bằng chứng cho thấy anh có hành vi chiếm đoạt tài sản thì bạn mới có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

    Thứ hai, xem xét về việc bạn có được hưởng án treo hay không.

    Xem xét trường hợp của bạn, mặc dù sự việc xảy ra vào thời điểm “Bộ luật hình sự năm 2022”, sửa đổi bổ sung năm 2009 đang có hiệu lực, nhưng khi bạn bị khởi tố, và được đưa ra xét xử vào thời điểm năm 2022, thì trường hợp này, việc xem xét về việc hưởng án treo cũng như thủ tục tố tụng hình sự được xác định theo quy định của Bộ luật hình sự năm 2022, sửa đổi bổ sung năm 2022 và Bộ luật tố tụng hình sự năm 2022. Cụ thể:

    Căn cứ theo quy định tại Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2022, đồng thời được hướng dẫn bởi quy định tại tiểu mục 6.1, mục 6 Nghị quyết 01/2007/NQ- HĐTP thì bạn sẽ được Tòa án xem xét cho hưởng án treo thay vì áp dụng hình phạt tù khi có đủ các điều kiện sau:

    – Bị xử phạt tù không quá 03 năm, không phân biệt về tội gì;

    Trường hợp người bị xét xử trong cùng một lần về nhiều tội mà khi tổng hợp hình phạt, hình phạt chung không quá 03 năm tù, thì cũng có thể cho hưởng án treo.

    – Có nhân thân tốt được chứng minh là ngoài lần phạm tội này, họ luôn chấp hành đúng chính sách, pháp luật, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân; chưa có tiền án, tiền sự, có nơi làm việc ổn định hoặc có nơi thường trú cụ thể, rõ ràng;

    – Có từ hai tình tiết giảm nhẹ trở lên và không có tình tiết tăng nặng, trong đó có ít nhất là một tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định trong Bộ luật hình sự năm 2022 (cụ thể được quy định tại Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2022). Trường hợp vừa có tình tiết giảm nhẹ vừa có tình tiết tăng nặng, thì tình tiết giảm nhẹ phải nhiều hơn tình tiết tăng nặng từ hai tình tiết trở lên;

    – Nếu không bắt họ đi chấp hành hình phạt tù thì không gây nguy hiểm cho xã hội hoặc không gây ảnh hưởng xấu đến cuộc đấu tranh phòng, chống tội phạm.

    Dựa trên những căn cứ được xác định ở Điều 65 Bộ luật hình sự năm 2022, được hướng dẫn bởi tiểu mục 6.1, mục 6 Nghị quyết 01/2007/NQ- HĐTP thì bạn sẽ được xem xét được hưởng án treo khi đáp ứng đủ các điều kiện được phân tích ở trên. Tuy nhiên, việc quyết định về việc bạn có được hưởng án treo hay không còn phụ thuộc vào thẩm quyền quyết định của Hội đồng xét xử. Trong trường hợp, bạn đủ điều kiện để được xem xét hưởng án treo thì bạn có thể làm đơn đề nghị hoặc trực tiếp đưa ra yêu cầu để Tòa án xem xét về việc cho hưởng án treo.

    Việc một trong hai gia đình làm đơn yêu cầu không xử lý hình sự đối với bạn không được xác định là căn cứ, hay điều kiện để được hưởng án treo. Việc đề nghị của gia đình người bị hại chỉ được xem như là một trong những căn cứ để Tòa án xem xét trong việc giảm nhẹ hình phạt cho bạn.

    Thứ ba, bạn có được hưởng lương trong thời gian bạn bị đình chỉ công tác để hỗ trợ điều tra

    Theo thông tin, bạn hiện đang công tác tại cơ sở cai nghiện nhưng bạn không nói rõ đây là cơ sở cai nghiện bắt buộc hay không. Đồng thời bạn cũng không nói rõ bạn là người lao động, cán bộ công chức hay là viên chức. Bởi theo quy định tại khoản 2 Điều 1 Nghị định 135/2004/NĐ- CP và được sửa đổi bởi Khoản 1 Điều 1 Nghị định 61/2011/NĐ- CP thì cơ sở cai nghiện bắt buộc được xác định là Trung tâm Chữa bệnh – Giáo dục – Lao động xã hội, và là đơn vị sự nghiệp công lập. Do vậy, khi bạn công tác tại cơ sở cai nghiện, nếu đây là cơ sở cai nghiện bắt buộc thì bạn có thể là công chức, viên chức hoặc là người lao động.

    Do trong thông tin không nói rõ nên khi bạn bị đình chỉ công tác để hỗ trợ và phục vụ công tác điều tra thì để xác định việc bạn có được hưởng lương trong thời gian đình chỉ công tác hay không thì cần xem xét các trường hợp sau:

    – Trường hợp 1: Bạn được xác định là cán bộ, công chức, hiện đang công tác trong cơ sở cai nghiện thì căn cứ theo quy định tại Điều 81 Luật cán bộ công chức năm 2008 thì:

    “Điều 81. Tạm đình chỉ công tác đối với cán bộ, công chức

    1. Cơ quan, tổ chức, đơn vị quản lý cán bộ, công chức có thể ra quyết định tạm đình chỉ công tác trong thời gian xem xét, xử lý kỷ luật cán bộ, công chức, nếu để cán bộ, công chức đó tiếp tục làm việc có thể gây khó khăn cho việc xem xét, xử lý. Thời hạn tạm đình chỉ công tác không quá 15 ngày, trường hợp cần thiết có thể kéo dài thêm nhưng tối đa không quá 15 ngày; nếu cán bộ, công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác điều tra, truy tố, xét xử thì thời gian tạm giữ, tạm giam được tính là thời gian nghỉ việc có lý do; hết thời hạn tạm đình chỉ công tác nếu cán bộ, công chức không bị xử lý kỷ luật thì được tiếp tục bố trí làm việc ở vị trí cũ.

    2. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công tác hoặc bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ cho công tác điều tra, truy tố, xét xử, cán bộ, công chức được hưởng lương theo quy định của Chính phủ.”

    Trong trường hợp này, khi bạn được xác định là công chức bị tạm giữ, tạm giam để phục vụ công tác, điều tra, truy tố, hoặc bị tạm đình chỉ công tác để phục vụ việc xác minh, xử lý kỷ luật thì bạn vẫn được hưởng tiền lương theo quy định của pháp luật.

    – Trường hợp 2: Trường hợp bạn được xác định là viên chức làm việc trong đơn vị sự nghiệp công lập thì theo quy định tại Điều 54 Luật viên chức năm 2010 thì trong thời gian bạn bị xử lý kỷ luật hoặc cần điều tra xác minh sự việc thì viên chức có thể bị tạm đình chỉ công tác. Trong thời gian tạm đình chỉ công tác thì viên chức vẫn được hưởng lương theo quy định của pháp luật.

    – Trường hợp 3: Bạn được xác định là người lao động đang làm việc trong cơ sở cai nghiện thì căn cứ theo quy định tại Điều 129 “Bộ luật lao động năm 2022” thì:

    1. Người sử dụng lao động có quyền tạm đình chỉ công việc của người lao động khi vụ việc vi phạm có những tình tiết phức tạp, nếu xét thấy để người lao động tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn cho việc xác minh. Việc tạm đình chỉ công việc của người lao động chỉ được thực hiện sau khi tham khảo ý kiến của tổ chức đại diện tập thể lao động tại cơ sở.

    2. Thời hạn tạm đình chỉ công việc không được quá 15 ngày, trường hợp đặc biệt cũng không được quá 90 ngày. Trong thời gian bị tạm đình chỉ công việc, người lao động được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc.

    3. Hết thời hạn tạm đình chỉ công việc, người sử dụng lao động phải nhận người lao động trở lại làm việc.

    4. Trường hợp người lao động bị xử lý kỷ luật lao động, người lao động cũng không phải trả lại số tiền lương đã tạm ứng.

    Trường hợp người lao động không bị xử lý kỷ luật lao động thì được người sử dụng lao động trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.”

    Trong trường hợp của bạn, khi vụ việc có tính chất phức tạp, cần thực hiện việc đình chỉ công việc của bạn vì xét thấy nếu để bạn tiếp tục làm việc sẽ gây khó khăn trong việc xác minh vụ việc này, hay gây khó khăn trong việc điều tra vụ việc.

    Trong thời gian tạm đình chỉ công việc thì bạn vẫn được tạm ứng 50% tiền lương trước khi bị đình chỉ công việc. Sau thời gian bạn bị đình chỉ công việc, bạn có được hưởng lương hay không còn phụ thuộc vào việc bạn có bị xử lý kỷ luật với hành vi vi phạm hay không.

    Nếu bạn bị xử lý kỷ luật vì có đầy đủ căn cứ cho thấy việc bạn bị xử lý trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản gây ảnh hưởng đến công việc của bạn và là một trong những căn cứ để bạn bị xử lý kỷ luật, thì trong trường hợp này, bạn sẽ không được hưởng lương. Tuy nhiên, nếu trong thời gian bạn bị tạm đình chỉ công việc bạn đã được ứng 50% tiền lương thì số tiền này bạn cũng không cần phải trả lại cơ quan.

    Nếu bạn không bị xử lý kỷ luật thì cơ quan vẫn phải trả đủ tiền lương cho thời gian bị tạm đình chỉ công việc.

    Như vậy, dù bạn là công chức, viên chức, hay là người lao động thì trong thời gian bạn bị tạm đình chỉ công tác, tạm đình chỉ công việc để hỗ trợ và phục vụ quá trình điều tra, xác minh sự việc thì bạn vẫn được hưởng lương theo quy định của pháp luật.

    --- Bài cũ hơn ---

  • Các Địa Phương, Đơn Vị Triển Khai Thực Hiện Các Nghị Quyết Tư6 (Khóa X)
  • Công Bố Nghị Quyết Của Quốc Hội Về Dự Án Sân Bay Long Thành
  • Bộ Chính Trị Ban Hành Nghị Quyết Về Tinh Giảm Biên Chế
  • Nghị Quyết Về Việc Tinh Giảm Biên Chế Hành Chính
  • Một Số Kết Quả Bước Đầu Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Ở Đảng Bộ Phường Phúc Đồng
  • Cập nhật thông tin chi tiết về Án Treo Là Gì? Điều Kiện Và Cách Xin Hưởng Án Treo trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

  • Web hay
  • Links hay
  • Push
  • Chủ đề top 10
  • Chủ đề top 20
  • Chủ đề top 30
  • Chủ đề top 40
  • Chủ đề top 50
  • Chủ đề top 60
  • Chủ đề top 70
  • Chủ đề top 80
  • Chủ đề top 90
  • Chủ đề top 100
  • Bài viết top 10
  • Bài viết top 20
  • Bài viết top 30
  • Bài viết top 40
  • Bài viết top 50
  • Bài viết top 60
  • Bài viết top 70
  • Bài viết top 80
  • Bài viết top 90
  • Bài viết top 100