Xu Hướng 2/2023 # Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm # Top 11 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm # Top 11 View

Bạn đang xem bài viết Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điểm c khoản 2 Điều 266 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (BLTTDS năm 2015) quy định: “Bản án gồm có phần mở đầu, phần nội dung vụ án và nhận định và phần quyết định của Tòa án, cụ thể như sau: […] c) Trong phần quyết định phải ghi rõ các căn cứ pháp luật, quyết định của Hội đồng xét xử về từng vấn đề phải giải quyết trong vụ án, về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, án phí, chi phí tố tụng và quyền kháng cáo đối với bản án; trường hợp có quyết định phải thi hành ngay thì phải ghi rõ quyết định đó“.

Mặt khác, khoản 1 Điều 139 BLTTDS năm 2015 quy định: “Quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay“ và theo Điều 140 BLTTDS năm 2015 thì “Đương sự có quyền khiếu nại, Viện kiểm sát có quyền kiến nghị với Chánh án Tòa án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời […]”

Từ các quy định trên, thực tiễn xét xử còn tồn tại nhiều quan điểm khác nhau trong việc ghi nhận nội dung áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm.

1.Thực tiễn xét xử

Vụ án thứ nhất[1]Ngày 24-01-2018, Công ty H khởi kiện yêu cầu buộc Công ty B trả số tiền gốc 1.920.512.821 đồng và yêu cầu tính lãi 08%/năm với số tiền 195.892.306 đồng. Ngày 26-3-2018, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2018/QĐ-BPKCTT về việc phong tỏa tài sản của người có nghĩa vụ đối với Công ty B.

Ngày 02-7-2018, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Bản án sơ thẩm “[…] Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 01/2018/QĐ-BPKCTT ngày 26-3-2018 […]”.

Bị đơn Công ty B có đơn kháng cáo Bản án sơ thẩm với nội dung […] không đồng ý việc Tòa án tuyên xử tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời […]. Tòa án cấp phúc thẩm quyết định: “Không chấp nhận kháng cáo của Công ty B và giữ nguyên bản án kinh doanh thương mại sơ thẩm […]. Tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời theo Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 01/2018/QĐ-BPKC ngày 26-3-2018 […]”.

Ở[2]gày 26-6-2018, chị Đ khởi kiện yêu cầu được ly hôn với anh H. Hai bên có tranh chấp về con chung và tài sản chung. Ngày 18-10-2018, Tòa án cấp sơ thẩm ban hành Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 105/2018/QĐ-BPKCTT phong tỏa tài sản là phần đất do chị Đ đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, trên đất có căn nhà của chị Đ. Ngày 21-11-2018, Tòa án cấp sơ thẩm đã ban hành Bản án sơ thẩm quyết định: “[…] Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số: 105/2018/QĐ-BPKCTT ngày 18-10-2018 […] đến khi Tòa án có quyết định thay đổi, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”.

Nguyên đơn chị Đ kháng cáo Bản án sơ thẩm, trong đó có yêu cầu Tòa án ra quyết định thu hồi Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 105/2018/QĐ-BPKCTT. Quyết định Tòa án cấp phúc thẩm: “Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của chị Trần Thị Đ và sửa một phần Bản án sơ thẩm số […]. Hủy phần 4 quyết định của bản án sơ thẩm về việc tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời số 105/2018/QĐ-BPKCTT ngày 18-10-2018 […]”.

2.Quan điểm khác nhau

Điểm c khoản 2 Điều 266 BLTTDS năm 2015 đã khẳng định nội dung về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những nội dung thuộc phần quyết định của Bản án sơ thẩm. Tuy nhiên, vấn đề đặt ra, nếu trước đó đã có Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử có được quyết định tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời đó trong Bản án sơ thẩm hay không? Trong trường hợp việc tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời được ghi nhận trong Bản án sơ thẩm thì đương sự có được quyền kháng cáo đối với phần nội dung này hay không?

Quan điểm thứ nhất: Không được ghi nhận việc tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm.

Theo quan điểm này, chỉ khi tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời thì Hội đồng xét xử sơ thẩm mới ghi nhận nội dung này trong Bản án sơ thẩm. Hay nói cách khác, việc tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng trong các giai đoạn tố tụng trước đó sẽ không được ghi nhận trong Bản án sơ thẩm. Bởi lẽ:

Thứ nhất, theo các quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” trong BLTTDS năm 2015, biện pháp khẩn cấp tạm thời được Tòa án áp dụng thông qua việc ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Tại mẫu số 17-DS và 18-DS ban hành kèm theo Nghị quyết số 01/2017/NQ-HĐTP cũng ghi nhận Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời dành cho Thẩm phán (trước phiên tòa) và Hội đồng xét xử sơ (phúc) thẩm (tại phiên tòa). Như vậy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được ban hành bằng một quyết định độc lập, không thể ghi nhận trong nội dung của Bản án sơ thẩm.

Thứ hai, quy định tại khoản 2 Điều 266 BLTTDS năm 2015 là về nội dung của Bản án sơ thẩm và ghi nhận các quyết định của Hội đồng xét xử sơ thẩm. Do đó, Bản án sơ thẩm về nguyên tắc chỉ có thể ghi nhận việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Hội đồng xét xử tại phiên tòa sơ thẩm, không thể ghi nhận lại việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án trước phiên tòa (thuộc thẩm quyền của Thẩm phán được phân công giải quyết vụ án). Mặt khác, theo điểm b khoản 2 Điều 133, Điều 137 BLTTDS năm 2015, trường hợp Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu áp dụng, thay đổi, bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa thì phải thông báo ngay tại phòng xử án và ghi vào biên bản phiên tòa. Kết hợp với phân tích nêu trên, nội dung của Bản án sơ thẩm về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời chỉ có thể là về việc Hội đồng xét xử quyết định không chấp nhận yêu cầu áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại phiên tòa.

Thứ ba, theo quy định của BLTTDS năm 2015, biện pháp khẩn cấp tạm thời được áp dụng chỉ hết hiệu lực thi hành nếu như bị Tòa án thay đổi (Điều 137 BLTTDS năm 2015) hoặc hủy bỏ (Điều 138 BLTTDS năm 2015). Do đó, nếu như tại phiên tòa sơ thẩm, Hội đồng xét xử không áp dụng những căn cứ này thì biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được áp dụng đương nhiên tiếp tục có hiệu lực thi hành. Nói cách khác, việc ghi nhận tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm là hoàn toàn không cần thiết.

Đây chính là hướng giải quyết của Tòa án cấp phúc thẩm trong Vụ án thứ hai. Cụ thể, trong Bản án sơ thẩm, Tòa án cấp sơ thẩm đã quyết định: “[…] Tiếp tục duy trì Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời […] đến khi Tòa án có quyết định thay đổi, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời”. Khi xét kháng cáo của nguyên đơn, Tòa án cấp phúc thẩm đã nhận định việc Tòa án cấp sơ thẩm tuyên duy trì quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm là “vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng”.

Quan điểm thứ hai: Bản án sơ thẩm phải ghi nhận việc tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã có và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần quyết định tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm.

Theo quan điểm này, việc tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những nội dung phải được ghi nhận trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần nội dung này. Quan điểm này có thể được lý giải bởi những lý do sau:

Thứ nhất, khoản 2 Điều 266 BLTTDS năm 2015 như đã đề cập đã khẳng định một trong những nội dung phải được ghi nhận trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm là “về áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời“. Bên cạnh đó, Mục III.6 Công văn số 212/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 13-9-2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử quy định: “[…] việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở một quyết định của Tòa án hoặc ghi nhận trong bản án và được thực hiện theo trình tự, thủ tục riêng biệt […]”. Như vậy, theo BLTTDS năm 2015 và Công văn số 212/TANDTC-PC thì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là một trong những nội dung mà Tòa án cấp sơ thẩm phải ghi nhận trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm, việc ghi nhận này bao gồm cả những biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được Tòa án áp dụng trước và tại phiên tòa sơ thẩm.

Thứ hai, việc ghi nhận này cũng phù hợp với quy định về thủ tục ra bản án và quyết định của Tòa án tại phiên tòa. Bởi lẽ, khoản 2 và khoản 3 Điều 235 BLTTDS năm 2015 quy định, chỉ có quyết định thay đổi người tiến hành tố tụng, người giám định, người phiên dịch, chuyển vụ án, tạm đình chỉ hoặc đình chỉ giải quyết vụ án, hoãn phiên tòa, quyết định công nhận sự thỏa thuận của các đương sự, tạm ngừng phiên tòa là Hội đồng xét xử phải ban hành bằng văn bản tại phiên tòa. Đối với những quyết định khác, Hội đồng xét xử không cần ban hành bằng văn bản mà chỉ cần ghi nhận trong biên bản phiên tòa. Như vậy, việc quyết định tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không được liệt kê trong số những quyết định phải ban hành bằng văn bản riêng. Do đó, Bản án sơ thẩm ghi nhận việc tiếp tục duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là hoàn toàn hợp lý.

Thứ tư, khoản 2 Điều 482 BLTTDS năm 2015 quy định những bản án, quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm được thi hành ngay mặc dù có thể bị kháng cáo, khiếu nại, kháng nghị, kiến nghị bao gồm: i) Bản án, quyết định về cấp dưỡng, trả công lao động, nhận người lao động trở lại làm việc, trả lương, trợ cấp thôi việc, trợ cấp mất sức lao động, trợ cấp mất việc làm, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm thất nghiệp, bảo hiểm y tế hoặc bồi thường thiệt hại về tính mạng, sức khỏe, tổn thất tinh thần của công dân; quyết định về tính hợp pháp của cuộc đình công; ii) Quyết định về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Có thể thấy, việc kháng cáo Bản án sơ thẩm không làm ảnh hưởng đến hiệu lực của Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Ngoài ra, bên cạnh quyền hủy toàn bộ Bản án sơ thẩm, Hội đồng xét xử phúc thẩm còn có thẩm quyền hủy một phần Bản án sơ thẩm để xét xử lại[4]. Do đó, trong trường hợp cần duy trì việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời để bảo toàn chứng cứ hoặc đảm bảo thi hành án, Hội đồng xét xử phúc thẩm hoàn toàn có thể thực hiện thẩm quyền hủy một phần bản án mà không hủy việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ năm, việc ghi nhận nội dung áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong Bản án sơ thẩm và cho phép đương sự có quyền kháng cáo sẽ giúp Tòa án cấp phúc thẩm có thể khắc phục được những sai sót trong việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án cấp sơ thẩm trong trường hợp đương sự đã không khiếu nại theo thời hạn quy định của pháp luật, qua đó bảo vệ tốt hơn cho quyền lợi hợp pháp của người bị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Đây dường như là quan điểm mà Tòa án cấp phúc thẩm trong vụ án thứ nhất đã vận dụng, việc tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời phải được ghi nhận trong phần quyết định của Bản án sơ thẩm và đương sự có quyền kháng cáo đối với phần nội dung này của Bản án sơ thẩm.

Quan điểm thứ ba: Bản án sơ thẩm phải ghi nhận việc tiếp tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã có nhưng đương sự không có quyền kháng cáo đối với phần quyết định tiếp tục duy trì biện pháp khẩn cấp tạm thời ản án sơ thẩm.

Thứ nhất, đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được ban hành độc lập, khoản 1 Điều 139 và Điều 140 BLTTDS năm 2015 đã khẳng định một cách minh thị các quyết định này có hiệu lực thi hành ngay và đương sự chỉ có quyền khiếu nại.

Mặt khác, Mục 13.2 Nghị quyết số 02/2005/NQ-HĐTP ngày 27-4-2005 của Hội đồng Thẩm phán TANDTC hướng dẫn thi hành một số quy định tại Chương VIII “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” của BLTTDS trước đây có quy định: ” Trong trường hợp đương sự kháng cáo bản án, quyết định sơ thẩm mà trong đơn kháng cáo hoặc kèm theo đơn kháng cáo, đương sự khiếu nại quyết định áp dụng, thay đổi hoặc hủy bỏ BPKCTT của Tòa án cấp sơ thẩm, thì Tòa án cấp phúc thẩm thông báo ngay cho họ biết là Tòa án cấp phúc thẩm không có thẩm quyền giải quyết khiếu nại và giải thích cho họ biết họ có quyền yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm thay đổi, áp dụng bổ sung BPKCTT; hủy bỏ BPKCTT đã được áp dụng hoặc ra quyết định áp dụng BPKCTT theo quy định chung của Bộ luật tố tụng dân sự và hướng dẫn tại Nghị quyết này”. Với quy định trên, Hội đồng thẩm phán TANDTC đã khẳng định Tòa án cấp phúc thẩm chỉ có thể xem xét yêu cầu hủy bỏ, thay đổi, áp dụng bổ sung biện pháp khẩn cấp tạm thời. Nói cách khác, Tòa án cấp phúc thẩm không có quyền xem xét kháng cáo (và cả khiếu nại) đối với quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời.

Thứ hai, trong những vụ án nêu trên, Bản án sơ thẩm chỉ khẳng định lại (không phải thay thế) cho Quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời đã được ban hành trước đó. Do đó, nếu cho phép kháng cáo, kháng nghị đối với phần quyết định của Bản án sơ thẩm về nội dung này, sẽ dẫn đến sự mâu thuẫn giữa hiệu lực đối với cùng một trường hợp áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (Quyết định ban hành độc lập thì không được kháng cáo, kháng nghị còn Bản án sơ thẩm thì lại được).

Thứ tư, Mục III.6 Công văn số 212/TANDTC-PC của Tòa án nhân dân tối cao ngày 13-9-2019 về việc thông báo kết quả giải đáp trực tuyến một số vướng mắc trong xét xử quy định: “[…] việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện ở một quyết định của Tòa án hoặc ghi nhận trong bản án và được thực hiện theo trình tự, thủ tục riêng biệt; quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có hiệu lực thi hành ngay và không bị kháng cáo, kháng nghị […]”. Như vậy, theo Công văn số 212/TANDTC-PC thì cho dù việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời được thể hiện dưới hình thức là một quyết định độc lập hoặc được ghi nhận trong Bản án sơ thẩm thì đương sự cũng không có quyền kháng cáo.

Tòa án huyện Châu Đức, BRVT đã mở phiên tòa xét xử vụ án “Tranh chấp quyền sử dụng đất” – Ảnh: Trần Minh Quế

Trường Hợp Được Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời

Ngày 1-12, Nghị quyết số 02/2020 của Hội đồng Thẩm phán TAND Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định về các biện pháp khẩn cấp tạm thời của BLTTDS chính thức có hiệu lực thi hành.

Nghị quyết hướng dẫn các trường hợp được yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời (AD BPKCTT) và nêu các ví dụ chi tiết.

Theo đó, đương sự, người đại diện hợp pháp của đương sự hoặc cơ quan, tổ chức, cá nhân khởi kiện có quyền yêu cầu tòa án áp dụng một hoặc nhiều BPKCTT trong những trường hợp sau:

Ví dụ: A gây thương tích cho B. Tòa án đang giải quyết vụ án yêu cầu bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm. B cần tiền ngay để điều trị thương tích tại bệnh viện nên B yêu cầu tòa án AD BPKCTT buộc A thực hiện trước một phần nghĩa vụ bồi thường thiệt hại do sức khỏe bị xâm phạm.

– Để thu thập, bảo vệ chứng cứ của vụ án đang do tòa án thụ lý, giải quyết trong trường hợp đương sự cản trở việc thu thập chứng cứ hoặc chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;

Ví dụ: A khởi kiện tranh chấp ranh giới bất động sản liền kề với B, A yêu cầu tòa án AD BPKCTT cấm thay đổi hiện trạng tài sản đang tranh chấp, buộc B giữ nguyên hiện trạng mốc giới ngăn cách đất, không được di dời.

Ví dụ: Trong vụ án ly hôn, người vợ đứng tên sổ tiết kiệm tại ngân hàng, người chồng yêu cầu tòa án AD BPKCTT phong tỏa tài khoản đứng tên người vợ để bảo đảm cho việc giải quyết phân chia tài sản chung của vợ chồng.

– Để bảo đảm việc giải quyết vụ án hoặc thi hành án, tức là làm cho chắc chắn các căn cứ để giải quyết vụ án, các điều kiện để khi bản án, quyết định của tòa án được thi hành thì có đầy đủ điều kiện để thi hành án.

Ví dụ: A là nguyên đơn, yêu cầu tòa án buộc B phải trả cho A 1.000.000.000 đồng tiền vay, để bảo đảm cho việc thi hành án nên A yêu cầu tòa án AD BPKCTT phong tỏa tài sản thuộc quyền sở hữu của B là ngôi nhà X trị giá 900.000.000 đồng.

Ngoài ra, nghị quyết còn liệt kê các trường hợp không AD BPKCTT. Ví dụ như việc AD BPKCTT dẫn đến doanh nghiệp, hợp tác xã bị ngừng hoạt động, AD BPKCTT đối với tài sản bị cấm lưu thông; tài sản phục vụ quốc phòng, an ninh, lợi ích công cộng; tài sản của cá nhân như lương thực đáp ứng nhu cầu thiết yếu…

3 trường hợp được yêu cầu AD BPKCTT khi nộp đơn kiện

Theo Nghị quyết, trong ba trường hợp sau đây thì đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện, cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu tòa án có thẩm quyền ra quyết định AD BPKCTT:

a) Do tình thế khẩn cấp, tức là cần được giải quyết ngay, không chậm trễ;

b) Cần bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được;

c) Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (hậu quả về vật chất hoặc về tinh thần).

Tòa tự ra văn bản ngăn chặn tài sản

Hội Thảo Về Áp Dụng, Thay Đổi, Hủy Bỏ Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Tại Tand

Chiều nay 16/12, TANDTC đã tổ chức Hội thảo về áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời tại TAND. Bí thư Trung ương Đảng, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình chủ trì hội thảo. Những vi phạm thường gặp

Phát biểu khai mạc hội thảo, Chánh án Nguyễn Hòa Bình đã nhấn mạnh đến những nội dung đã được định hướng trong buổi sáng nay. Chánh án cho biết, việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời của Tòa án, Luật đã trao thẩm quyền cho Tòa án áp dụng biện pháp này, nhưng có rất nhiều vấn đề cần chấn chỉnh. Thời gian vừa qua, trước thông tin của lãnh đạo Đảng và Nhà nước, các đại biểu Quốc hội xung quanh việc áp dụng Biện pháp khẩn cấp tạm thời, TANDTC đã giao cho cơ quan Thanh tra TANDTC tiến hành thanh tra một số nơi có áp dụng biện pháp này nhưng chất lượng không tốt. Kết quả cho thấy cũng có những vướng mắc cần hướng dẫn.

Để đảm bảo chất lượng công tác này được tốt, góp phần hoàn thành nhiệm vụ của TAND, Chánh án TANDTC đề nghị các đại biểu đánh giá những tồn tại hạn chế, vướng mắc, và đề xuất những biện pháp khắc phục kịp thời để việc áp dụng biện pháp này đảm bảo tính khả thi.

Khái quát chung về tình hình áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời, Phó Vụ trưởng Vụ Pháp chế và Quản lý khoa học TANDTC Nguyễn Chí Công cho biết, qua công tác giám đốc việc giải quyết các vụ án dân sự, hôn nhân và gia đình, kinh doanh thương mại… cho thấy, việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời tại các Tòa án về cơ bản đảm bảo đúng quy định của pháp luật. Tuy nhiên, qua công tác kiểm tra nghiệp vụ cho thấy một số Tòa án có những sai sót, vi phạm khi áp dụng biện pháp này; Một số quy định của Bộ luật TTDS, Bộ luật dân sự, Luật Xuất nhập cảnh… còn chưa được hiểu và áp dụng thống nhất.

Một số những sai sót thường gặp trong quá trình áp dụng của Tòa án, đó là: vi phạm về thẩm quyền, thủ tục áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, trường hợp buộc thực hiện biện pháp bảo đảm, hủy bỏ việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời,…

Cụ thể, các biện pháp khẩn cấp tạm thời gồm: Kê biên tài sản đang tranh chấp, cấm chuyển dịch về quyền tài sản đối với tài sản đang tranh chấp, cấm thay đổi hiện trạng quy định tại Điều 120, 121, 122 Bộ luật tố tụng dân sự. Biện pháp khẩn cấp tạm thời trên chỉ áp dụng đối với tài sản đang tranh chấp nhưng có Tòa án áp dụng đối với cả những tài sản không có tranh chấp.

Theo ông Nguyễn Chí Công, để kịp thời hướng dẫn, bảo đảm áp dụng thống nhất pháp luật trong áp dụng biện pháp này, TANDTC đang nghiên cứu xây dựng dự thảo Nghị quyết thay thế Nghị quyết 02/2005/NQ-HĐTP quy định về vấn đề này.

Thực tiễn cho thấy, khi đương sự yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời, nhưng tài sản yêu cầu áp dụng đang được thế chấp tại ngân hàng, thì một số Thẩm phán vẫn ra quyết định áp dụng biện pháp này. Khi áp dụng cũng có quan điểm cho rằng không đúng, không bảo vệ được tổ chức nhận thế chấp tài sản, nhưng cũng có ý kiến cho rằng đây là biện pháp khẩn cấp tạm thời, do tính chất tạm thời nên không phải là quyết định cuối cùng để giải quyết vụ án nên không vi phạm các quy định của pháp luật.

Góp ý về việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời và một số quy định trong dự thảo Nghị quyết, đại diện Tòa dân sự TAND TP Hồ Chí Minh cho biết, đây là biện pháp có ý nghĩa quan trọng trong việc giải quyết vụ việc dân sự. Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời không đúng, không kịp thời có thể dẫn đến hậu quả không thể khắc phục được. Ngoài ra, còn phát sinh nghĩa vụ bồi thường thiệt hại theo quy định tại Bộ luật TTHS 2015. Đại biểu cũng kiến nghị một số nội dung cần hoàn thiện trong dự thảo Nghị quyết.

Góp ý về những bất cập trong thực hiện biện pháp này, đại diện TAND TP Hà Nội nêu lên những khó khăn vướng mắc trong áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời. Theo quy định của Bộ luật TTDS 2015, áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời trong quá trình Tòa án thụ lý giải quyết vụ án dân sự, hôn nhân gia đình, hành chính… là hết sức cần thiết để bảo vệ chứng cứ, ngăn chặn hậu quả có thể xảy ra.

Việc áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời có thể dưa trên cơ sở đơn đề nghị của một trong các bên đương sự hoặc Tòa án trong quá trình giải quyết vụ án xét thấy cần thiết thì có thể tự mình ra quyết định áp dụng. Tuy nhiên, theo quy định tại Điều 113 Bộ luật TTDS và quyết định 120 của Chánh án TANDTC, thì Thẩm phán luôn phải chịu trách nhiệm trong trường hợp áp dụng hay không áp dụng biện pháp này.

Thẩm phán từ chối áp dụng hoặc áp dụng không đúng về thời gian hoặc áp dụng không đầy đủ theo yêu cầu của người đề nghị áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời thì bị xử lý trách nhiệm và Tòa án có thể phải bồi thường thiệt hại nếu có thiệt hại xảy ra. Đây là quy định khó khăn, cản trở hoạt động của các Thẩm phán khi tiến hành tố tụng.

Kết luận hội thảo, Chánh án TANDTC Nguyễn Hòa Bình cho biết: Khẩn cấp tạm thời là biện pháp quan trọng và có ý nghĩa trong việc bảo vệ quyền lợi ích hợp pháp của người dân, bảo đảm thi hành án, thu thập chứng cứ, chống việc trốn tránh các nghĩa vụ mà Luật đã quy định cho Tòa án thẩm quyền thực hiện.

Vừa qua, lãnh đạo TANDTC đã yêu cầu cơ quan chuyên môn tổ chức kiểm tra công tác này tại một số địa phương như Hải Phòng, Hà Nội, Đà Nẵng, Quảng Ninh, TP Hồ Chí Minh. Tất cả những tồn tại, thiếu sót được thống kê để có biện pháp giải quyết kịp thời. Những hạn chế trong công tác do nhiều nguyên nhân khác nhau: do quy định của pháp luật, do thiếu kinh nghiệm, sự hiểu biết pháp luật..

Để khắc phục tình trạng trên cần phải ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán TANDTC. Hiện đã có Nghị quyết 02 và hai văn bản hướng dẫn thi hành biện pháp này. Nhưng Nghị quyết 02 là hướng dẫn luật cũ, hiện Bộ luật TTDS mới được ban hành cần phải có hướng dẫn thay thế.

Chánh án Nguyễn Hòa Bình cho biết, sẽ ghi nhận và nghiên cứu các ý kiến đóng góp của các đại biểu và tổ chức hoàn thiện dự thảo nghị quyết hướng dẫn này. Trước mắt, cần chấn chỉnh kịp thời những tiêu cực (nếu có) trong công tác này hiện nay.

Biện pháp khẩn cấp tạm thời nếu không được kiểm soát chặt chẽ thì khả năng rủi ro cao. Vì vậy, Chánh án TANDTC đề nghị Chánh án Tòa án cấp tỉnh có biện pháp kịp thời để việc áp dụng các biện pháp khẩn cấp tạm thời được thực hiện một cách công tâm, khách quan, đúng pháp luật.

Đánh giá hội thảo đã được các đại biểu đóng góp ý kiến rất chất lượng, cung cấp nhiều thông tin quý giá cho ngành Tòa án, Chánh án Nguyễn Hòa Bình yêu cầu cơ quan tham mưu tiếp thu các ý kiến đóng góp của đại biểu để quán triệt trong hội nghị tổng kết công tác ngành Tòa án tới đây.

Theo congly.vn

Nguồn bài viết: https://congly.vn/hoat-dong-toa-an/tieu-diem/hoi-thao-ve-ap-dung-thay-doi-huy-bo-bien-phap-khan-cap-tam-thoi-tai-tand-325022.html

Hướng Dẫn Quy Định Về Các Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời

Với các lý do nêu trên, việc ban hành Nghị quyết của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự số 92/2015/QH13 về các biện pháp khẩn cấp tạm thời là hết sức cần thiết.

Tại dự thảo, Tòa án nhân dân tối cao đã đề xuất một số hướng dẫn cụ thể như: Về quy định tại khoản 2 Điều 111 Bộ luật Tố tụng dân sự (trong trường hợp do tình thế khẩn cấp, cần phải bảo vệ ngay chứng cứ, ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra thì cơ quan, tổ chức, cá nhân có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 của Bộ luật này đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện cho Tòa án đó), dự thảo đề xuất hướng dẫn cụ thể như sau: Chỉ khi có đầy đủ các điều kiện sau đây, đồng thời với việc nộp đơn khởi kiện (đơn khởi kiện phải được làm theo đúng quy định tại Điều 189 Bộ luật Tố tụng dân sự) thì cơ quan, tổ chức, cá nhân mới có quyền yêu cầu Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời quy định tại Điều 114 Bộ luật Tố tụng dân sự: 1- Do tình thế khẩn cấp, tức là cần được giải quyết ngay, không chậm trễ; 2- Cần bảo vệ ngay chứng cứ trong trường hợp nguồn chứng cứ đang bị tiêu hủy, có nguy cơ bị tiêu hủy hoặc sau này khó có thể thu thập được; 3- Ngăn chặn hậu quả nghiêm trọng có thể xảy ra (có thể là hậu quả về vật chất hoặc phi vật chất).

Trường hợp đơn khởi kiện đã có các nội dung để xác định việc thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án là thuộc thẩm quyền của Tòa án nhận đơn nhưng cần phải sửa đổi, bổ sung một số nội dung khác thì Tòa án thụ lý giải quyết đơn yêu cầu áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời ngay theo quy định tại khoản 3 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự và hướng dẫn quy định tại khoản 2 Điều 133 Bộ luật Tố tụng dân sự nêu tại dự thảo. Việc yêu cầu sửa đổi, bổ sung đơn khởi kiện và thụ lý vụ án được thực hiện theo quy định tại Điều 193 và Điều 195 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Tòa án có thẩm quyền ra quyết định áp dụng biện pháp khẩn cấp tạm thời là Tòa án có thẩm quyền thụ lý đơn khởi kiện và giải quyết vụ án theo quy định tại các điều 35, 36, 37, 38, 39 và 40 Bộ luật Tố tụng dân sự.

Theo Tuệ Văn(Báo Chính phủ)

http://baochinhphu.vn/Chinh-sach-moi/Huong-dan-quy-dinh-ve-cac-bien-phap-khan-cap-tam-thoi/381810.vgp

Cập nhật thông tin chi tiết về Áp Dụng Biện Pháp Khẩn Cấp Tạm Thời Trong Phần Quyết Định Của Bản Án Sơ Thẩm trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!