Xu Hướng 10/2023 # Bài Tập Tình Huống Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án) # Top 12 Xem Nhiều | Bac.edu.vn

Xu Hướng 10/2023 # Bài Tập Tình Huống Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án) # Top 12 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bài Tập Tình Huống Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án) được cập nhật mới nhất tháng 10 năm 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

94282

Bài tập tình huống luật thương mại 1, 2

Doanh nghiệp tư nhân Z. được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp để kinh doanh buôn bán máy bơm nước công nghiệp và gia dụng. Do có việc riêng cần giải quyết, chủ doanh nghiệp muốn ngừng kinh doanh trong một thời gian nhất định. Chủ doanh nghiệp muốn biết: cần phải làm gì và làm như thế nào để:

Hoàn tất các thủ tục cần thiết trong trường hợp này thể theo Luật Doanh Nghiệp?

Không phải chịu thuế trong thời gian ngưng hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp?

Tình huống 2:

Doanh nghiệp tư nhân X. được thành lập và hoạt động theo Luật Doanh nghiệp với chức năng sản xuất, kinh doanh hàng may mặc. Do gặp khó khăn về thị trường và hoạt động kinh doanh không có hiệu quả, chủ doanh nghiệp muốn chấm dứt hoạt động sản xuất kinh doanh của doanh nghiệp để tìm cơ hội đầu tư khác bằng cách giải thể doanh nghiệp. Chủ doanh nghiệp tư nhân đó muốn biết:

Có được giải thể doanh nghiệp trong trường hợp này hay không?

Cần phải làm gì và làm như thế nào để giải thể doanh nghiệp trong trường hợp này?

Tranh chấp về việc thay đổi thành viên, triệu tập và biểu quyết tại Hội đồng thành viên trong công ty TNHH.

A, B, C và D cùng thỏa thuận thành lập công ty Trách nhiệm hữu hạn X để kinh doanh khách sạn, nhà hàng, và dịch vụ vui chơi giải trí với số vốn điều lệ là 5 tỷ đồng. công ty X được Phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh K cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh vào ngày 1/1/2023.

Theo Điều lệ công ty được các thành viên thỏa thuận thông qua thì A góp 2 tỷ đồng, B, C, D mỗi người góp 1 tỷ đồng. Cũng theo điều lệ thì A làm Giám đốc công ty kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên. B làm phó giám đốc công ty, C là kế toán trưởng. Các nội dung khác của Điều lệ tương tự như Luật doanh nghiệp 2014.

A có quyền triệu tập cuộc họp HĐTV không? Căn cứ pháp lý?

Đầu tháng 2/2023, A với tư cách là Chủ tịch hội đồng thành viên đã quyết định triệu tập Hội đồng thành viên công ty vào ngày 20/02/2023 để thông qua báo cáo tài chính năm, kế hoạch phân chia lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh năm 2007. Giấy mời họp đã được gửi đến tất cả các thành viên trong công ty.

Việc làm của B có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Do bất đồng trong điều hành công ty với A, nên B đã không tham dự cuộc họp Hội đồng thành viên.

D có thể ủy quyền cho A qua điện thoại không? Căn cứ pháp lý?

D bận đi công tác xa nên đã gọi điện thoại báo vắng mặt, và qua đó ủy quyền cho A bỏ phiếu cho mình.

Cuộc họp trên có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Ngày 20/02/2023, A và C đã tiến hành cuộc họp Hội đồng thành viên và đã bỏ phiếu thông qua báo cáo tài chính hàng năm của công ty, kế hoạch phân chia lợi nhuận 2006 và kế hoạch kinh doanh năm 2023.

Việc A không gửi giấy triệu tập cho B có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Sau cuộc họp Hội đồng thành viên, B đã gửi văn bản tới các thành viên khác trong công ty, phản đối kế hoạch phân chia lợi nhuận và kế hoạch kinh doanh năm 2007 vừa được thông qua. Quan hệ giữa B và các thành viên khác trở nên căng thẳng. Trước tình hình này, A lại gửi đơn triệu tập cuộc họp Hội đồng thành viên vào ngày 10/03/2007 với mục đích nhằm giải quyết một số vấn đề phát sinh trong công ty, giấy triệu tập này A không gửi cho B, vì cho rằng có gửi thì B cung không tham dự.

Quyết định khai trừ của HĐTV có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Tại cuộc họp của Hội đồng thành viên, A, C, D đã biểu quyết thông qua việc khai trừ B ra khỏi công ty và giảm số vốn điều lệ tương ứng với phần vốn góp của B, và hoàn trả phần vốn này cho B.

Việc làm của Phòng ĐKKD có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Quyết định này cùng với Biên bản cuộc họp Hội đồng thành viên ngày 10/03/2007 đã được gửi cho B và gửi lên phòng Đăng ký kinh doanh tỉnh K. Phòng ĐKKD căn cứ vào biên bản cuộc họp 3 thành viên công ty X để cấp Giấy chứng nhận đăng ký thay đổi với nội dung là giảm số thành viên từ 4 người trước đây xuống còn 3 người, và giảm vốn điều lệ của công ty còn 4 tỷ đồng.

Tình huống 4:

Hải, Hồng và Công cùng tham gia thành lập công ty TNHH Vinh Quang vào tháng 07 năm 2006, ngành nghề kinh doanh là sản xuất và mua bán đồ nhựa với số vốn điều lệ là 2 tỷ đồng.

Hải vốn là nhân viên của một Công ty TNHH khác, Hồng là chủ của một doanh nghiệp tư nhân, còn Công là nhân viên hợp đồng của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Y.

Trong thỏa thuận góp vốn, các bên thỏa thuận Hải góp vốn 500 triệu đồng ( chiếm 25% vốn điều lệ), Hồng góp vốn 1 tỷ đồng (chiếm 50% vốn điều lệ) và Công góp vốn 500 triệu đồng (chiếm 25% vốn điều lệ).

Việc góp vốn của các thành viên trong công ty có hợp pháp không? Căn cứ pháp lý?

Trong bản Điều lệ được các thành viên soạn thảo và nhất trí thông qua thì Hồng giữ chức Giám đốc Công ty kiêm Chủ tịch Hội đồng thành viên. Các nội dung khác của bản Điều lệ tương tự như các quy định của Luật Doanh nghiệp.

Sau khi Công ty TNHH Vinh Quang đi vào họat động được 5 tháng, 3 thành viên ký kết hợp đồng với Dương, trong đó các thành viên thỏa thuận kết nạp Dương làm thành viên của Công ty. Tài sản góp vốn của Dương là chiếc ô tô tải được các bên định giá 300 triệu đồng.

Dương đã trở thành thành viên hợp pháp của công ty chưa? Căn cứ pháp lý?

Do khó khăn trong việc làm thủ tục chuyển sở hữu chiếc ô tô sang cho Công ty, giấy tờ xe ô tô lại đang đứng tên vợ chồng Dương nên tất cả các thành viên thỏa thuận rằng khi nào thuận lợi thì sẽ chuyển sở hữu và làm thủ tục đăng ký theo quy định. Công ty đã quyết định chi 100 triệu đồng để sữa chữa xe ô tô đều mang tên Công ty TNHH Vinh Quang. Chiếc xe ô tô cũng được sơn tên và lô gô của Công ty TNHH Vinh Quang.

Sau một thời gian họat động, Công ty kinh doanh thua lỗ và đã xảy ra những tranh cãi giữa các thành viên về phương án kinh doanh của Công ty.

Dương có được hưởng khoản lợi nhuận trên không?Vì sao?

Không bằng lòng với những tranh cãi trên, trong một lần đi giao hàng Dương đã giữ lại 100 triệu đồng tiền hàng của Công ty và tuyên bố rằng đây là lợi nhuận đáng được hưởng của mình, sau đó tuyên bố rút khỏi Công ty và đơn phương rút lại chiếc xe ô tô của mình.

Hồng có quyền khới kiện không? Việc xử lý tài sản đối với chiếc xe ôtô, 100 triệu tiền nâng cấp xe, và 100 triệu tiền Dương đang nắm giữ được thực hiện như thế nào?

Hồng nộp đơn ra tòa với tư cách người đại diện theo pháp luật của Công ty kiện đòi Dương chiếc xe ô tô là tài sản của Công ty và 100 triệu đồng mà Hồng cho là Dương đã chiếm đọat của Công ty.

Các thành viên trên có quyền góp vốn vào công ty không? Căn cứ pháp lý?

Dương cũng nộp đơn ra tòa kiện rằng Công là nhân viên của Sở Kế hoạch và Đầu tư thành phố Y nhưng lại tham gia thành lập và góp vốn vào Công ty TNHH và việc Phòng Đăng ký kinh doanh thành phố Y cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh cho Công ty TNHH Vinh Quang là vi phạm pháp luật. Ngoài ra, Dương cho rằng Hồng là chủ một doanh nghiệp tư nhân nên không có quyền tham gia sáng lập, góp vốn và điều hành công ty TNHH.

Công ty A gửi công văn đề nghị giao kết hợp đồng với công ty B vào ngày 12/1/2023, theo đó công ty A đặt mua 100 tấn cà phê với giá 30 triệu/ tấn và thanh toán sau khi công ty A nhận hàng. Công ty B gửi công văn đề ngày 20/01/2023 trả lời công ty A là công ty B đồng ý bán số hàng nói trên cho công ty A, nhưng yêu cầu công ty A thanh toán thành 2 đợt:

Đợt 1: khi hợp đồng được xác lâp.

Đợt 2 : tại thời điểm công ty B giao hàng cho người vận chuyển do công ty A thuê.

Ngày 28/01/2023 công ty A trả lời chấp nhận yêu cầu trên của công ty B. Cùng ngày công ty B nhận được trả lời chấp nhận của công ty A bẳng Fax. hỏi:

Hãy xác định thời điểm xác lập hợp đồng mua bán hàng hoá giữa công ty A và công ty B?

Ai phải chịu trách nhiệm khi hàng hoá của đợt 2 bị hư hỏng do người vận chuyển hàng hoá gặp bão lớn mà họ ko thể chống đỡ được và đã thông báo cho công ty

Ngày 15.01.2023 Giám đốc công ty TNHH A gửi đồng thời qua máy fax của công ty đến công ty cổ phần B và công ty TNHH C thư chào bán một xe xúc đất chuyên dụng trong xây dựng đề “Kính gửi Quý Công ty” với cùng một nội dung. Thư này đáp ứng đủ các điều kiện quy định tại BLDS 2023. Trong đó thời hạn giao hàng là 7 ngày kể từ khi bên chào bán nhận được chấp thuận mua hàng, thời điểm cụ thể do các bên thỏa thuận. Ngày 20.1.2023 công ty TNHH A nhận được một bản fax của công ty cổ phần B do Giám đốc công ty này ký với nội dung đồng ý mua chiếc xe đó với toàn bộ điều kiện ghi trong thư chào bán. Ngày 30.1.2023 Công ty TNHH A lại nhận được một bản fax của công ty TNHH C cũng với nội dung đồng ý mua với toàn bộ điều kiện ghi trong thư chào bán.

Hỏi:

Giám đốc Công ty TNHH A đã quyết định bán chiếc xe trên cho công ty cổ phần B, thời gian giao xe là ngày 25/01/2023 và tiến hành thủ tục chuyển quyền sở hữu cho công ty này.

Các hợp đồng nào đã được xác lập giữa các công ty nào? Tại sao?

Tranh chấp giữa những công ty nào có thể xảy ra, vì sao?

Hình thức khuyến mãi này có phải là hình thức giảm giá 50% hay không?

Hình thức khuyến mãi này có cần sự chấp thuận của cơ quan quản lý NN về TM hay không?

Hãy nhận xét về các tình huống sau đây căn cứ vào các qui định của Luật Thương mại 2005:

Văn phòng đại diện của thương nhân A (Quốc tịch Hàn quốc) tại VN ký hợp đồng thuê Công ty TNHH thương mại và dịch vụ B của VN thực hiện một chương trình khuyến mãi cho 1 Sản phẩm do thương nhân A sản xuất tại hệ thống siêu thị Coopmart. Biết rằng Vp đại diện có giấy ủy quyền của thương nhân A.

Trong 1 cuộc bán đấu giá hàng hóa do công ty A tổ chức, Công ty B đã trả giá 1 lô hàng 100 tấn cá phê với giá 600 USD/ tấn, cao hơn giá khởi điểm là 50 USD/ tấn. Sau đó công ty B rút lại ngay giá đã trả và cuộc đấu giá vẫn được tiến hành. Nhưng sau đó không có người tham gia đấu giá nào trả giá cao hơn giá khởi điểm.

Căn cứ Luật TM, hãy xác định loại HĐ giao kết giữa ông A và công ty HG.

Căn cứ PL Việt Nam, trong trường hợp trên phải giải quyết như thế nào?

Câu Hỏi Ôn Tập Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án)

85544

Đề cương ôn tập Luật thương mại 1, 2 (có đáp án) Tập đề I: Những câu hỏi tự luận Luật thương mại thường gặp

Nêu và phân tích các điều kiện thành lập doanh nghiệp. Lấy ví dụ cụ thể.

Nêu và phân tích hồ sơ đăng ký kinh doanh của doanh nghiệp. Lấy ví dụ cụ thể.

Nêu và phân tích các loại ngành nghề kinh doanh.

Phân biệt doanh nghiệp tư nhân và hộ kinh doanh

Vấn đề quản lý doanh nghiệp tư nhân

Các vấn đề về vốn và tài chính của doanh nghiệp tư nhân?

Phân biệt công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên và hai thành viên ?

Tổ chức quản lý của công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên?

Các vấn đề tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn có từ 2 thành viên trở lên?

Công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên: khái niệm và đặc điểm?

Trình bày cơ cấu tổ chức của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên?

Quyền và nghĩa vụ của chủ sở hữu công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên?

Vốn và tài chính của công ty trách nhiệm hữu hạn một thành viên

Cơ cấu tổ chức của Công ty cổ phần?

Các loại cổ phần và cổ đông trong công ty cổ phần?

Cổ đông thiểu số và Quy định nhằm bảo vệ quyền lợi của các cổ đông thiểu số?

Phát hành chứng khoán của công ty cổ phần?

Nêu khái niệm, đặc điểm và vấn đề vốn và chế độ tài chính của công ty hợp danh.

Phân tích các hạn chế của thành viên hợp danh trong công ty hợp danh.

So sánh loại hình công ty đối nhân và công ty đối vốn trên thế giới. Liên hệ pháp luật Việt Nam.

Quy chế pháp lý về việc chấm dứt hoạt động của doanh nghiệp?

Trình bày phân loại về phá sản

So sánh phá sản và giải thể doanh nghiệp.

Tại sao nói phá sản là thủ tục tư pháp đặc biệt/ Thủ tục thanh toán nợ đặc biệt?

Các vấn đề hệ quả sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản là gì?

So sánh hoạt động ủy thác mua bán hàng hoá với hoạt động đại lý thương mai.

Anh (chị) hãy so sánh tính chất pháp lý giữa hợp đồng đại lý và hợp đồng nhượng quyền thương mại theo quy định của pháp luật thương mại

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài.

Hỗ trợ của tòa án đối với hoạt động của trọng tài thương mại

So sánh ưu điểm và nhược điểm của việc giải quyết tranh chấp bằng con đường Trọng tài và Tòa án.

Các nguyên tắc giải quyết tranh chấp bằng con đường Tòa án.

Thẩm quyền của tòa án trong việc giải quyết tranh chấp kinh doanh, thương mại.

Phân tích nghĩa vụ giao hàng đúng đối tượng và chất lượng của bên bán.

Phân tích nghĩa vụ chuyển quyền sở hữu đối với hàng hoá của bên bán cho bên mua. Nêu rõ thời điểm chuyển quyền sở hữu hàng hoá có trùng với thời điểm chuyển rủi ro đối với hàng hoá mua bán không?

Phân tích các quyền của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật hiện hành.

Phân tích các nghĩa vụ của bên bán trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật hiện hành.

Phân tích các quyền của bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật hiện hành.

Phân tích các nghĩa vụ của bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy định của pháp luật hiện hành.

Phân tích các trường hợp chuyển rủi ro trong quan hệ mua bán hàng hoá

Phân tích điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hoá trong nước theo quy định của pháp luật hiện hành.

Trình bày quy định của pháp luật hiện hành về chuyển rủi ro đối với hàng hóa trong hợp đồng mua bán hàng hóa

Cho ví dụ về một loại ngành nghề kinh doanh có điều kiện và phân tích điều kiện để kinh doanh ngành nghề đó.

Câu hỏi nhận định đúng sai Luật thương mại 1. Hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại chỉ được điều chỉnh bởi Luật thương mại. 2. Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại vô hiệu khi vi phạm các quy định của Bộ luật Dân sự về điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. 3. Hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại có hiệu lực pháp luật khi bên cuối cùng ký vào văn bản hợp đồng. 4. Chủ thể của hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại là người thực hiện việc ký kết hợp đồng. 5. Quyền sở hữu đối với hàng hóa trong quan hệ mua bán trong thương mại luôn được chuyển giao cùng một thời điểm với rủi ro đối với hàng hóa đó. 6. Hợp đồng đại diện cho thương nhân là một dạng đặc biệt của hợp đồng ủy quyền. 7. Bên đại diện có thể làm đại diện cho nhiều thương nhân. 8. Cả 2 bên chủ thể của quan hệ đại diện cho thương nhân đều phải có tư cách pháp nhân. 9. Các bên tham gia hợp đồng môi giới thương mại phải là thương nhân và kí hợp đồng môi giới thương mại nhằm mục đích kinh doanh. 10. A và B có tư cách thương nhân, vì vậy, hợp đồng đại diện ký giữa A và B là hợp đồng đại diện cho thương nhân theo quy định của Luật thương mại. 50 câu hỏi lý thuyết luật thương mại thường gặp

Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại.

Câu 1: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với quan hệ hàng đổi hàng, quan hệ tặng cho hàng hóa, quan hệ cho thuê hàng hóa.

1. Khái niệm: (Khoản 8 điều 3 Luật Thương mại)

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

b) Những vật gắn liền với đất đai

Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

2. Đặc điểm

Quyền tài sản (Điều 181 Bộ luật Dân sự) là động sản.

– Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

– Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

– Hình thức: hợp đồng là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận được.

NOTE: hợp đồng có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các hợp đồng pháp luật quy định phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: hợp đồng mua bán quốc tế.

Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa trong thương mại với một số quan hệ có đối tượng là hàng hoặc hàng hóa. * Mua bán hàng hóa:

Quá trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

– Khái niệm: Là hoạt động thương mại.

– Chủ thể: Chủ yếu là các thương nhân với nhau, gồm: bên mua & bên bán.

– Đối tượng: Là hàng hoá qđ tại k2Đ3 Luật Thương mại.

– Chuyển quyền sở hữu: Bên bán chuyển hàng hóa, quyền sở hữu cho bên mua và nhận thanh toán; Bên mua nhận quyền sở hữu hàng hóa và thanh toán cho bên bán. Kể từ thời điểm giao hàng thì quyền quyền sở hữu hàng hóa được chuyển từ người bán sang nguời mua.

– Mục đích: Kinh doanh thu lợi nhuận.

* Hàng đổi hàng

– Luật áp dụng: Luật Thương mại và Luật dân sự

– Khái niệm: Là giao dịch dân sự.

– Chủ thể: Là chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung, gồm: 2 bên trao đổi cho nhau.

– Đối tượng: Hàng hoá theo quy định của Bộ luật Dân sự.

– Chuyển quyền sở hữu: Hai bên chuyển giao HH & quyền SH cho nhau.

– Mục đích: Đổi hàng này lấy hàng kia, phục vụ cho nhu cầu trong cuộc sống.

* Tặng cho hàng hóa

– Luật áp dụng: Luật dân sự

– Khái niệm: Là giao dịch dân sự.

– Chủ thể: Là chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung, gồm: bên tặng & bên đuợc tặng.

– Đối tượng: Hàng hoá theo quy định của Bộ luật Dân sự.

– Chuyển quyền sở hữu: Bên tặng chuyển quyền SH cho bên được tặng; bên được tăng không có nghĩa vụ gì với bên tặng.

– Mục đích: Xuất phát từ ý chí của 1 bên chủ thể tặng cho vì nhiều mục đích khác nhau.

* Cho thuê:

– Luật áp dụng: Luật dân sự

– Khái niệm: Có thể là hđộng thương mại hoặc giao dịch dân sự.

– Chủ thể: Nếu là hợp đồng thương mại thì bên thuê phải là thương nhân, gồm: bên thuê & bên cho thuê

– Đối tượng: Là hàng hoá theo qđ của Luật Thương mại.

– Chuyển quyền sở hữu: không chuyển quyền SH mà người thuê chỉ có quyền sử dụng trong một thời gian nhất định theo thoả thuận và trả tiền thuê cho bên cho thuê.

– Mục đích: Kinh doanh thu lợi nhuận.

– Luật áp dụng: Luật Thương mại và Luật dân sự

1. Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. a) Khái niệm

Câu 2: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa với quan hệ mua bán tài sản trong dân sự.

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

– Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

– Những vật gắn liền với đất đai

Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

b) Đặc điểm

Quyền tài sản (Điều 181 Bộ luật Dân sự) là động sản.

– Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

– Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

– Hình thức: hợp đồng là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận được.

NOTE: hợp đồng có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các hợp đồng pháp luật quy định phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: hợp đồng mua bán quốc tế.

2. Phân biệt quan hệ mua bán hàng hóa với quan hệ mua bán tài sản trong dân sự. a) Chủ thể:

Quá trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

– Quan hệ mua bán hàng hóa: Là hoạt động thương mại.

b) Đối tượng:

– Mua bán tài sản trong dân sự: Là giao dịch dân sự.

– Quan hệ mua bán hàng hóa: Chủ yếu là giữa các thương nhân với nhau.

c) Phạm vi:

– Mua bán tài sản trong dân sự: Là chủ thể của quan hệ pháp luật nói chung.

– Quan hệ mua bán hàng hóa: Phạm vi hẹp hơn chỉ đối với hàng hoá theo qđ tại k2Đ3 Luật Thương mại không có bất động sản.

d) Mục đích:

– Mua bán tài sản trong dân sự: Phạm vi rộng hơn bao gồm tất cả cá loại tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự trong đó có cả bất động sản.

– Quan hệ mua bán hàng hóa: Kinh doanh thu lợi nhuận.

Luật áp dụng:

– Mua bán tài sản trong dân sự: Nhiều mục đích khác nhau nhưng không nhất thiết là phải có mục đích lợi nhuận như trong mua bán hàng hoá.

– Quan hệ mua bán hàng hóa: Luật dân sự và Luật Thương mại

– Mua bán tài sản trong dân sự: Luật dân sự

1. Khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. a) Khái niệm:

Câu 3: Phân tích khái niệm và đặc điểm của mua bán hàng hóa trong thương mại. Nêu rõ nguồn luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.

Mua bán hàng hóa là hoạt động thương mại, theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán, bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán và nhận hàng và quyền sở hữu hàng hóa theo thỏa thuận.

Hàng hóa bao gồm (Điều 3 (2)):

a) Tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai;

b) Những vật gắn liền với đất đai

Bất động sản bao gồm: Đất đai; Nhà, công trình xây dựng gắn liền với đất đai, kể cả các tài sản gắn liền với nhà, công trình xây dựng đó; Các tài sản khác gắn liền với đất đai; Các tài sản khác do pháp luật quy định.

Động sản là những tài sản không phải là bất động sản.

b) Đặc điểm

Quyền tài sản (Điều 181 Bộ luật Dân sự) là động sản.

– Chủ thể của hoạt động mua bán hàng hóa trong thương mại là thương nhân hoặc thương nhân và các chủ thể khác có nhu cầu về hàng hóa.

– Đối tượng của quan hệ mua bán hàng hóa theo quy định của Luật Thương mại là hàng hóa theo quy định tại khoản 2 điều 3 Luật Thương maị.

– Hình thức: hợp đồng là phương tiện để các bên ghi nhận kết quả đã thoả thuận được.

NOTE: hợp đồng có thể được xác lập bằng lời nói, bằng văn bản hoặc có thể xác lập bằng hành vi. Đối với các hợp đồng pháp luật quy định phải lập bàng văn bản thì phải tuân theo quy đinh đó, ví dụ: hợp đồng mua bán quốc tế.

Quá trình thực hiện hành vi mua bán hàng hóa gắn liền với quá trình chuyển giao quyền sở hữu hàng hóa từ bên bán sang bên mua.

2. Nguồn luật cơ bản điều chỉnh quan hệ hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại.

Nguồn luật điều chỉnh:

– Bộ luật Dân sự 2005

– Luật Thương mại 2005

– NĐ 12/2006 hướng dẫn hoạt động mua bán hàng hoá quốc tế

– NĐ 158 /2006 hướng dẫn hoạt động mua bán hàng hoá qua sở giao dịch.

– ĐƯQT WTO

– Công ước Viên 1980 về mua bán hàng hoá

Câu 4: Nêu và phân tích các vấn đề pháp lý cơ bản của việc giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa trong thương mại (chủ thể, đại diện, đề nghị giao kết hợp đồng, chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng và thời điểm giao kết, nội dung cơ bản cần thỏa thuận)

1. Chủ thể

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận giữa các bên theo đó bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận thanh toán; bên mua có nghĩa vụ thanh toán cho bên bán, nhận hàng và quyền sở hữu hàng hoá theo thỏa thuận

Chủ thể giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa chủ yếu là thương nhân (hoạt động thương mại độc lập thường xuyên liên tục, mục đích lợi nhuận, hợp pháp có đăng kí kinh doanh), các điều kiện khác (kiểu như độ tuổi, năng lực…) phải được đảm bảo. bao gồm bên mua bên bán và bên trung gian (nếu có).

2. Đại diện

Chủ thể không phải là thương nhân phải tuân theo Luật Thương mại 2005 khi chủ thể lựa chọn áp dụng Luật Thương mại.

Hợp đồng mua bán hàng hóa có thể do bên đại diện giao kết (đại diện theo pháp luật hoặc theo ủy quyền) – đại diện đúng thẩm quyền.

3. Đề nghị giao kết hợp đồng Lời đề nghị giao kết hợp đồng mua bán:

Giao kết hợp đồng không đúng thẩm quyền (sai thẩm quyền) không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ của các bên trừ trường hợp người đại diện hợp pháp của bên được đại diện chấp nhận.

Đề nghị giao kết hợp đồng phải:

Là những điều khoản do một bên đưa ra cho phía bên kia, nó chỉ mới thể hiện ‎yù chí, nguyện vọng của một bên trong quan hệ hợp đồng. Lời đề nghị này phải được chấp nhận mới trở thành sự nhất trí thỏa thuận chung

+ Hàm chứa các điều khoản chủ yếu như đối tượng của HĐ;

+ Thể hiện mong muốn ràng buộc trách nhiệm;

+ Hướng đến một chủ thể hoặc một số chủ thể nhất định;

+ Tuân theo hình thức pháp luật quy định.

+ Đề nghị giao kết có hiệu lực kể từ thời điểm bên kia nhận được đề nghị. Đó là thời điểm:

+ Chuyển đến nơi cư trú của bên được đề nghị;

+ Đưa vào hệ thống thông tin của bên được đề nghị;

+ Bên được đề nghị nhận được đề nghị thông qua các phương thức khác.

+ Bên đưa ra đề nghị phải đưa ra thời hạn trả lời đề nghị.

– Đề nghị hợp đồng được gửi đến một hay nhiều chủ thể đã xác định. Hiệu lực của đề nghị giao kết hợp đồng do bên đề nghị ấn định. Bên đề nghị phải chịu trách nhiệm về lời đề nghị của mình.

– Đề nghị giao kết hợp đồng chấm dứt hiệu lực trong trường hợp :

+ Bên nhận được đề nghị trả lời không chấp nhận

+ Hết thời hạn trả lời chấp nhận

+ Thông báo về viêc thay đổi hoặc rút lại đề nghị có hiệu lực

+ Thông báo về việc hủy bỏ đề nghị có hiệu lực

Chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng mua bán hàng hóa.

+ Theo thỏa thuận của bên đề nghị và bên nhận được đề nghị trong thời hạn chờ bên được đề nghị trả lời.

Là sự trả lời của bên được đề nghị đối với bên đề nghị về việc chấp nhận toàn bộ nội dung của đề nghị. Thời hạn trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng được xác định khác nhau trong các trường hợp sau :

– Trong thời hạn bên đề nghị yêu cầu. Nếu thông báo đến chậm vì lí‎ do khách quan mà bên đề nghị biết thì thông báo chấp nhận vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên đề nghị trả lời ngay không đồng ‎ý với chấp nhận đó.

– Nếu bên đề nghị nhận được trả lời khi đã hết thời hạn thì chấp nhận này được coi là đề nghị mới của bên chậm trả lời.

Thời điểm giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá :

– Khi các bên trực tiếp giao tiếp với nhau, kể cả trường hợp qua điện thoại hoặc qua phương tiện khác thì bên được đề nghị phải trả lời ngay là có chấp nhận hay không chấp nhận, trừ trường hợp có thoả thuận về thời hạn trả lời.

– Đối với Hợp đồng giao kết trực tiếp bằng văn bản : thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm bên sau cùng ký‎ tên vào văn bản

– Đối với hợp đồng được giao kết gián tiếp bằmg văn bản : hợp đồng được giao kết khi bên đề nghị nhận được trả lời chấp nhận giao kết hợp đồng

Nội dung cơ bản cần thỏa thuận

– Hợp đống giao kết bằng lời nói : thời điểm giao kết hợp đồng là thời điểm các bên đã thoả thuận về nội dung hợp đồng.

Pháp luật không bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung nào trong HĐ. Tuy nhiên trong hợp đồng cần các điều khoản: Nhất thiết phải có điều khoản về đối tượng (nó là loại hàng hóa gì); Các vấn đề về giá cả, chất lượng, thời điểm, địa điểm, phương thức thanh toán…

1. Khái niệm:

Câu 5: Phân tích khái niệm, đặc điểm và nội dung chủ yếu (các điều khoản cơ bản) của hợp đồng mua bán hàng hóa.

2. Đặc điểm

Hợp đồng mua bán hàng hóa là sự thỏa thuận nhằm xác lập, thay đổi, chấm dứt các quyền và nghĩa vụ trong quan hệ mua bán hàng hóa (bao gồm cả mua bán hàng hóa quốc tế; mua bán hàng hóa trong nước).

– Về chủ thể: chủ yếu là thương nhân, có thể trong nước và cả nước ngoài, có thể không là thương nhân nhưng vẫn áp dụng luật thương mại điều chỉnh nếu lựa chọn áp dụng

– Về hình thức: Hợp đồng mua bán hàng hoá được thể hiện bằng lời nói, bằng văn bản hoặc được xác lập bằng hành vi cụ thể. Đối với các loại hợp đồng mua bán hàng hoá mà pháp luật quy định phải được lập thành văn bản thì phải tuân theo các quy định đó (Điều 24 Luật Thương mại)

– Về đối tượng: là hàng hóa, hàng hóa bao gồm: tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong trong tương lai, những vật gắn liền với đất đai (khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại)

3. Nội dung chủ yếu của hợp đồng mua bán hàng hóa

– Về nội dung: quyền và nghĩa vụ của các bên trong quan hệ mua bán. Theo đó, bên bán có nghĩa vụ giao hàng, chuyển quyền sở hữu hàng hóa cho bên mua và nhận tiền, còn bên mua có nghĩa vụ nhận hàng hóa và trả tiền cho bên bán. Mục đích của các bên mua bán là lợi nhuận.

Là các điều khoản, hông bắt buộc các bên phải thỏa thuận những nội dung cụ thể nào, tuy nhiên với điều khoản chủ yếu của hợp đồng mua bán nói chung gồm:

– Đối tượng của hợp đồng.

– Chất lượng và giá cả của hàng hóa.

– Phương thức thanh toán.

– Thời hạn và địa điểm giao nhận hàng.

Câu 6: phân tích các điều kiện có hiệu lực của hợp đồng mua bán hàng hóa

– Chủ thể tham gia hợp đồng phải có năng lực pháp luật và năng lực hành vi. Đối với các thương nhân khi tham gia hợp đồng phải đáp ứng điều kiện có đăng ký kinh doanh hợp pháp đối với hàng hóa được mua bán. Trong trường hợp mua bán hàng hóa có điều kiện kinh doanh thì thương nhân phải đáp ứng các điều kiện kinh doanh đó theo quy định của pháp luật.

– Đại diện của các bên giao kết hợp đồng phải đúng thẩm quyền, có thể là đại diện theo pháp luật hoặc đại diện theo ủy quyền. người không có quyền đại diện, khi giao kết sẽ không làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với bên hợp đồng được đại diện, trừ trường hợp bên giao kết kia biết hoặc phải biết về việc không có quyền đại diện.

– Mục đích và nội dung của hợp đồng mua bán không vi phạm điều cấm của pháp luật, không trái đạo đức xã hội hàng hóa là đối tượng của hợp đồng không bị cấm kinh doanh theo quy định của pháp luật.

– Hợp đồng mua bán được giao kết đảm bảo các nguyên tắc của hợp đồng theo quy định của pháp luật: tự do giao kết nhưng không trái pháp luật, trái đạo đức xã hội; tự nguyện, bình đẳng, thiện chí, trung thực và ngay thẳng.

– Hình thức hợp đồng phù hợp với quy định của pháp luật.

1. Bên bán – Giao hàng đúng đối tượng và chất lượng

Câu 7: Phân tích các nghĩa vụ của bên bán và bên mua trong hợp đồng mua bán hàng hoá theo quy đinh của Luật Thương mại 2005

Về nguyên tắc phải căn cứ vào nội dung hợp đồng để xác định vấn đề này, nếu không thì dựa trên quy định của pháp luật, các trường hợp sau đây được coi là hàng hóa không phù hợp với hợp đồng (Điều 39)

+ không phù hợp với mục đích sử dụng sử dụng thông thường của các hàng hóa cùng chủng loại;

+ không phù hợp với mục đích bên mua báo cho bên bán hoặc bên bán phải biết vào thời điểm giao kết hợp đồng

+ không bảo đảm chất lượng theo mẫu mà bên mua đã giao cho bên bán

– Giao chứng từ kèm theo hàng hóa

+ Không được bảo quản, đóng gói theo cách thức thông thường đối với loại hàng hoá đó hoặc không theo cách thức thích hợp để bảo quản hàng hoá trong trường hợp không có cách thức bảo quản thông thường

Các chứng từ như: chứng nhận chất lượng, chứng nhận nguồn gốc xuất xứ…

– Giao hàng đúng thời hạn. – Giao hàng đúng địa điểm Theo Điều 35

Trường hợp không có thỏa thuận, bên bán có nghĩa vụ giao cho bên mua trong thời hạn, tại thời điểm hợp lý để bên mua có thể nhận hàng. Nghĩa vụ này được qui định tại điều 42 Luật Thương mại Chứng từ phải giao trong thời hạn thỏa thuận hoặc thời điểm hợp lí, nếu giao trước hạn mà thiếu sót thì trong thời hạn vẫn được khắc phục những thiếu sót này, nhưng nếu việc này gây thiệt hại hoặc bất lợi cho bên mua thì bên mua được quyền yêu cầu bên bán khắc phục hoặc chịu chi phí đó

Theo thỏa thuận không có thỏa thuận thì lần lượt theo các nguyên tắc sau:

– Hàng hóa gắn liền với đất đai thì giao tại nơi có đất đai

– Giao cho người vận chuyển đầu tiên nếu có qui định về vận chuyển

– Giao tại kho nếu biết kho

– Giao tại nơi kinh doanh cư trú của bên bán

– Tạo điều kiện cho bên mua kiểm tra hàng hóa trước khi giao hàng

Trường hợp có thỏa thuận thì bên bán phải bảo đảm cho bên mua có điều kiện tiến hành việc ktra hàng hóa. Nếu phát hiện hàng hóa không đúng hợp đồng, bên mua phải thông báo cho bên bán trong 1thời hạn hợp lý.

– Đảm bảo quyền sở hữu đối với hàng hóa

Trừ trường hợp PL có quy định khác hoặc các bên có thỏa thuận khác, quyền SH được chuyển từ bên bán sang bên mua kể từ thời điểm hàng hóa được chuyển giao.

– Rủi ro đối với hàng hóa

Trường hợp các bên không có thỏa thuận, theo Luật Thương mại xác định như sau:

Trong trường hợp có địa điểm giao hàng xác định: rủi ro chuyển giao cho bên mua khi nhận hàng tại địa điểm đó.

Trong trường hợp không có địa điểm giao hàng xác định: rủi ro được chuyển cho bên mua khi hàng hóa đã được giao cho người vận chuyển đầu tiên.

Trong trường hợp giao hàng cho người nhận hàng để giao mà không phải là người vận chuyển: rủi ro được chuyển giao cho bên mua chỉ khi: bên mua nhận được chứng từ sở hữu hàng hóa hoặc khi người nhận hàng để giao xác nhận quyền chiếm hữu của bên mua.

Trong trường hợp mua bán hàng hóa đang trên đường vận chuyển: rủi ro được chuyển cho bên mua kể từ thời điểm giao kết HĐ.

– Bảo hành hàng hóa

2. Bên mua – Nhận hàng và thanh toán tiền nhận hàng:

TH hàng hóa mua bán có bảo hành thì bên bán phải chịu trách nhiệm bảo hành hàng hóa đó theo nội dung và thời hạn đã thỏa thuận. Bên bán phải chịu các chi phí về bảo hành, trừ trường hợp có thỏa thuận khác (Điều 49).

Được hiểu là bên mua tiếp nhận trên thực tế hàng hóa từ bên bán. Bên mua hàng có ngĩa vụ nhận hàng theo thỏa thuận.

Sau khi hoàn thành việc giao nhận, bên bán vẫn phải chịu trách nhiệm về những khiếm khuyết của hàng hóa được giao, nếu bên bán biết hoặc phải biết nhưng không thông báo cho bên mua.

Bên bán giao hàng mà bên mua không tiếp nhận thì bị coi là VPHĐ và phải chịu các biện pháp chế tài theo thỏa thuận hoặc theo quy định của pháp luật.

– Địa điểm thanh toán:

Thanh toán: Là nghĩa vụ quan trọng nhất của bên mua. Các điều khoản thanh toán trong hợp đồng mua bán:

Trường hợp không có thỏa thuận, địa điểm thanh toán sẽ là:

Địa điểm kinh doanh của bên bán tại thời điểm giao kết hợp đồng, nếu không là tại nơi cư trú của bên bán;

– Thời hạn thanh toán:

Địa điểm giao hàng hoặc giao chứng từ, nếu việc thanh toán trùng với giao hàng hoặc giao chứng từ.

Trường hợp không có thỏa thuận thì:

Bên mua phải thanh toán vào thời điểm bên bán giao hàng hoặc giao chứng từ;

Bên mua không có nghĩa vụ thanh toán khi chưa kiểm tra hàng hóa (trong trường hợp có thảo thuận).

Bên mua phải thanh toán trong trường hợp hàng hóa mất mát, hư hỏng sau thời điểm rủi ro được chuyển từ bên bán sang bên mua.

– Xác định giá: Trường hợp không có thỏa thuận thì giá của hàng hóa được xác định theo gía của loại hàng hóa đó trong các điều kiện tương tự về phương thức giao hàng, thời điểm mua bán, thị trường địa lý, phương thức thanh toán và các điều kiện khác.

– Ngừng thanh toán:

– Chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán: Bên bán có quyền yêu cầu bên mua trả tiền lãi trên số tiền chậm trả đó theo lãi suất nợ quá hạn trung bình trên thị trường tại thời điểm thanh toán.

Trừ trường hợp có thỏa thuận khác:

Bên mua có bằng chứng về việc bên bán lừa dối thì có quyền tạm ngừng thanh toán;

Có bằng chứng về đối tượng của hàng hóa là đối tượng đang bị tranh chấp

Có bằng chứng bến bán giao hàng không phù hợp với HĐ.

(Bằng chứng mà bên mua đưa ra không xác thực, gây thiệt hại cho bên bán thì bên mua phải BTTH đó và chịu các chế tài khác theo quy định.)

1. Khái niệm:

Câu 8: Đặc điểm của dịch vụ thương mại. Kể tên những dịch vụ thương mại được điều chỉnh bởi luật thương mại.

Dịch vụ là hoạt động của con người nhằm đáp ứng yêu cầu nào đó của con người và được kết tinh thành các loại sản phẩm vô hình.

Dịch vụ thương mại ra đời bởi hoạt động cung ứng dịch vụ thương mại. Cung ứng dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên (sau đây gọi là bên cung ứng dịch vụ) có nghĩa vụ thực hiện dịch vụ cho một bên khác và nhận thanh toán; bên sử dụng dịch vụ (sau đây gọi là khách hàng) có nghĩa vụ thanh toán cho bên cung ứng dịch vụ và sử dụng dịch vụ theo thỏa thuận. (khoản 9 Điều 3)

2. Đặc điểm

Dịch vụ trung gian thương mại được xác định là hoạt động của thương nhân để thực hiện các giao dịch thương mại cho 1 hoặc 1 số thương nhân được xác định bao gồm: Hoạt động đại diện cho thương nhân, môi giới thương mại, ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.

– DV trung gian thương mại do 1 bên chủ thể trung gian thực hiện vì lợi ích của bên thuê dịch vụ để hưởng thù lao.

– Bên thực hiện dịch vụ trung gian phải là thương nhân và có tư cách pháp lý độc lập với bên thuê dịch vụ và bên thứ 3.

– Dịch vụ trung gian thương mại được xác lập trên cơ sở hợp đồng bằng văn bản hoặc hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương.

Những dịch vụ thương mại được điều chỉnh bởi luật thương mại năm 2005

– Nhóm dịch vụ trung gian thương mại: đại diện, môi giới, ủy thác, đại lí

– Nhóm khác: đấu giá, đấu thầu, gia công, logistics, quá cảnh hàng hóa, giám định, cho thuê hàng hóa, nhượng quyền thương mại.

Bên cung ứng dịch vụ (xem từ Điều 78 đến 84)

Câu 9: Phân tích quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại.

– Bảo quản và giao lại cho khách hàng tài liệu và phương tiện được giao để thực hiện dịch vụ sau khi hoàn thành công việc;

– Thông báo ngay cho khách hàng trong trường hợp thông tin, tài liệu không đầy đủ, phương tiện không bảo đảm để hoàn thành việc cung ứng dịch vụ;

– Giữ bí mật về thông tin mà mình biết được trong quá trình cung ứng dịch vụ nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định

Bên khách hàng

– Hợp tác với khách hàng (trao đổi thông tin, tiến hành các hoạt động cần thiết).

– Thanh toán tiền cung ứng dịch vụ như đã thoả thuận trong hợp đồng; nếu không có thỏa thuận khác thì việc thanh toán được tiến hành khi dịch vụ hoàn thành

– Cung cấp kịp thời các kế hoạch, chỉ dẫn và những chi tiết khác để việc cung ứng dịch vụ được thực hiện không bị trì hoãn hay gián đoạn;

– Hợp tác trong tất cả những vấn đề cần thiết khác để bên cung ứng có thể cung ứng dịch vụ một cách thích hợp;

– Trường hợp một dịch vụ do nhiều bên cung ứng dịch vụ cùng tiến hành hoặc phối hợp với bên cung ứng dịch vụ khác, khách hàng có nghĩa vụ điều phối hoạt động của các bên cung ứng dịch vụ để không gây cản trở đến công việc của bất kỳ bên cung ứng dịch vụ nào.

1. Khái niệm (Điều 141 Luật Thương mại)

Câu 10: Phân tích khái niệm và đặc điểm của hoạt động đại diện cho thương nhân. So sánh đại diện cho thương nhân với đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự 2005

Đại diện cho thương nhân là việc một thương nhân nhận uỷ nhiệm (gọi là bên đại diện) của thương nhân khác (gọi là bên giao đại diện) để thực hiện các hoạt động thương mại với danh nghĩa, theo sự chỉ dẫn của thương nhân đó và được hưởng thù lao về việc đại diện.

Trong trường hợp thương nhân cử người của mình để làm đại diện cho mình thì áp dụng quy định của Bộ luật dân sự.

2. Đặc điểm

Vậy đại diện cho thương nhân được chia làm 2 trường hợp là hợp đồng cung ứng dịch vụ thương mại và là trường hợp cá nhân đại diện cho tổ chức là thương nhân. Tuy nhiên trường hợp thứ 2 không xét phân tích đặc điểm

– Chủ thể: Quan hệ đại diện cho thương nhân phát sinh giữa bên đại diện và bên giao đại diện. Cả 2 bên đều phải là thương nhân.

– Bản chất: Bên giao đại diện sẽ ủy quyền cho bên đại diện thay mặt, nhân danh bên giao đại diện thực hiện các hoạt động thương mại. Khi bên đại diện giao dịch với bên thứ 3, thì về mặt pháp lí các hành vi do người này thực hiện được xem như người ủy quyền (người giao đại diện thực hiện). Bên giao đại diện phải chịu trách nhiệm về các cam kết do bên đại diện thực hiện trong phạm vi ủy quyền.

– Nội dung của hoạt động đại diện rất đa dạng: có thể thỏa thuận thực hiện một phần hoặc toàn bộ các hoạt động thương mại thuộc pham vi hoạt động của bên giao đại diện, nó có thể bao gồm các hoạt động như tìm kiếm cơ hội kinh doanh cho bên giao đại diện, thay mặt bên giao đại diện để thực hiện các hoạt động nghiên cứu thị trường, lựa chọn đối tác, đàm phán, giao kết hợp đồng với bên thứ 3…)

So sánh đại diện cho thương nhân với đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ luật dân sự 2005 Đại diện cho thương nhân theo quy định của Luật Thương mại 2005

– Hình thức pháp lí: thông qua hợp đồng đại diện cho thương nhân (phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức có giá trị tương đương)

– Chủ thể: Bắt buộc phải là thương nhân

– Mục đích hoạt động: Nhằm mục đích lợi nhuận

Đại diện theo ủy quyền theo quy định của Bộ Luật dân sự 2005

– Hình thức hợp đồng: Văn bản hoặc hình thức khác có giá trị tương đương

– Chủ thể: Có thể là bất kỳ ai miễn là đáp ứng đủ điều kiện về năng lực chủ thể được quy định trong Bộ Luật dân sự

– Mục đích hoạt động: Không nhất thiết phải nhằm mục đích lợi nhuận

– Hình thức hợp đồng: Các bên tự thỏa thuận hình thức chỉ phải lập thành văn bản khi pháp luật qui định.

1. Khái niệm:

Câu 11: Phân tích đặc điểm của hoạt động môi giới thương mại theo qui định của Luật Thương mại. Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại?

2. Đặc điểm

Môi giới thương mại là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân làm trung gian (gọi là bên môi giới) cho các bên mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (gọi là bên được môi giới) trong việc đàm phán, giao kết hợp đồng mua bán hàng hoá, dịch vụ và được hưởng thù lao theo hợp đồng môi giới. (Đ 150 -LTM2005)

Về chủ thể: bao gồm bên môi giới, bên được môi giới trong đó bên môi giới phải là thương nhân có đăng kí hoạt động môi giới bên được môi giới không nhất thiết phải là thương nhân. Khi sử dụng dịch vụ môi giới TM, bên môi giới nhân danh chính mình để quan hệ với các bên được môi giới và làm nhiệm vụ giới thiệu các bên được môi giới với nhau.

Về nội dung: bao gồm tìm kiếm và cung cấp các thông tin cần thiết về đối tác cho bên được môi giới, tiến hành các hoạt động giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ cần môi giới, thu xếp để các bên được môi giới tiếp xúc với nhau, giúp đỡ các bên được môi giới soạn thảo văn bản hợp đồng khi họ yêu cầu.

Về mục đích: mục đích của bên môi giới là tìm kiếm lợi nhuận, mục đích bên được môi giới là kí kết được hợp đồng.

Về phạm vi: rất rộng bao gồm tất cả các hoạt động có thể kiếm lời như môi giới mua bán hàng hóa, môi giới chứng khoán, môi giới bảo hiểm, môi giới bất động sản…

Quan hệ môi giới được thực hiện trên cơ sở: hợp đồng môi giới

– Hợp đồng được giao kết giữa bên môi giới và bên được môi giới.

– Đối tượng của hợp đồng là công việc môi giới nhằm chắp nối qhe giữa các bên được môi giới với nhau.

– Hình thưc hợp đồng không được Luật Thương mại 2005 quy định.

– Nội dung: pháp luật không quy định, các bên có thể thỏa thuận về những điều khoản về nội dung cụ thể của việc môi giới, mức thù lao, thời hạn thực hiện HĐ, quyền và nghĩa vụ, trách nhiệm của các bên, giải quyết tranh chấp phát sinh.

* Bên môi giới được kí hợp đồng với bên thứ 3 trừ trường hợp nó là đại diện.

Quyền và nghĩa vụ cơ bản của các bên trong hoạt động môi giới thương mại

Bên môi giới

(Điều 151. Luật Thương mại 2005)

Được trả thù lao môi giới và các chi phí hợp lý khác nếu các bên không có thỏa thuận thì quyền hưởng thù lao môi giới được phát sinh từ khi các bên được môi giới kí được hợp đồng với nhau, thù lao được xác định theo giá dịch vụ (qui định tại điều 86 Luật Thương mại)

Bên được môi giới (Đ 152-LTM2005)

Trả thù lao môi giới và các chi phí hợp lý khác cho bên môi giới.

Quyền:

– Yêu cầu bên môi giới bảo quản các mẫu tài liệu, hàng hóa đã được giao để thực hiện việc môi giới và phải hoàn trả cho bên được môi giới sau khi hoàn thành công việc.

– Yêu cầu bên môi giới không được tiết lộ, cung cấp thông tin làm phương hại đến lợi ích của mình.

Câu 12: Phân tích quyền và nghĩa vụ của bên đại diện, bên giao đại diện với nhau và đối với bên thứ 3

Quyền và nghĩa vụ của bên đại diện với bên giao đại diện

* Nghĩa vụ:

Bên đại diện:

– Thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa và vì lợi ích của bên giao đại diện, thực hiện các hoạt động chỉ trong phạm vi đại diện và không được thực hiện các hoạt động đó với danh nghĩa của mình hoặc của một bên khác (đặc biệt quan trọng trong trường hợp có xung đột lợi ích giữa bên đại diện và bên giao đại diệ: trường hợp gây thiệt hại do vượt quá phạm vi đại diện, trường hợp có xung đột lợi ích kinh tế …)

– Thông báo cho bên đại diện về cơ hội và kết quả thực hiện các hoạt động thương mại đã ủy quyền (đây là những thông tin đã biết hay phải biết, nó sẽ giúp bên giao đại diện hoạch định kế hoạch kinh doanh và đưa ra những chỉ dẫn cho bên đại diện tiếp tục thực hiện công việc đại diện)

– Thực hiện những chỉ dẫn của bên giao đại diện nếu nó không vi phạm qui định của pháp luật (có thể từ chối nếu nó vi phạm pháp luật hoặc trao đổi lại nếu thấy chỉ dẫn đó nếu được thực hiện sẽ gây thiệt hại cho bên giao đại diện)

– Không được thực hiện hoạt động thương mại với danh nghĩa của mình hoặc người thứ 3 trong phạm vi đại diện

– Bảo quản các tài liệu được giao để thực hiện hoạt động đại diện

Bên giao đại diện:

– Thông báo về việc giao kết, việc thực hiện các hợp đồng mà bên đại diện đã giao kết (bên đại diện cần phải biết bên giao đại diện có chấp nhận hay không việc đó, về khả năng có giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng được không, thông báo này cần phải kịp thời)

– Cung cấp tài sản tài liệu cần thiết để bên đại diện thực hiện hoạt động đại diện

– Trả thù lao và các chi phí hợp lí khác

* Quyền:

Bên đại diện:

– Hưởng thù lao

– Yêu cầu thanh toán chi phí

– Nắm giữ các tài sản được giao (đương nhiên)

Bên giao đại diện:

– Không chấp nhận những hợp đồng bên đại diện đã kí không đúng thẩm quyền (nếu có thiệt hại được bồi thường)

– Đưa ra những chỉ dẫn và yêu cầu bên đại diện tuân thủ những chỉ dẫn đó

Nghĩa vụ với bên thứ ba:

– Của bên đại diện: báo cho bên thứ 3 về thời hạn, phạm vi đại diện, về việc sửa đổi bổ sung phạm vi đại diện (584 Bộ luật Dân sự)

– Của bên giao đại diện: báo bằng văn bản cho bên thứ 3 về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng đại diện, nếu không báo thì hợp đồng mà bên đại diện kí với bên thứ 3 vẫn có hiệu lực trừ trường hợp bên thứ 3 biết hoặc buộc phải biết về việc đơn phương chấm dứt hợp đồng này (588 Bộ luật Dân sự)

1. Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa

Câu 13: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa và đại lý thương mại.

Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)

Đặc điểm

2. Hoạt động đại lí thương mại

Về chủ thể: quan hệ ủy thác mua bán hàng hóa được xác lập giữa bên ủy thác và bên nhận ủy thác. Bên được ủy thác phải là thương nhân kinh doanh mặt hàng phù hợp với hàng hóa được ủy thác, bên ủy thác không nhất thiết phải có tư cách thương nhân. Bên nhận ủy thác tiến hành hoạt động với danh nghĩa của chính mình và các hành vi của bên nhận ủy thác sẽ mang lại hậu quả cho chính họ. hoạt động ủy thác đôi khi còn được gọi là hoạt động “kí gửi”.

Về nội dung: gồm việc giao kết và thực hiện ủy thác. Nội dung của ủy thác hẹp hơn so vơi đại diện.

Về hình thức: hợp đồng ủy thác (phải được lập thành văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương). hợp đồng ủy thác mua bán hàng hóa là 1 loại hợp đồng dịch vụ, đó đối tượng của hợp đồng ủy thác là công việc mua bán hàng hóa do bên nhận ủy thác tiến hành theo sự ủy quyền của bên ủy thác.

Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao(166 Luật Thương mại)

Đặc điểm

Hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa

Câu 14: Phân tích đặc điểm của hoạt động ủy thác mua bán hàng hóa. So sánh ủy thác mua bán hàng hóa với đại lí thương mại.

Khái niệm:

Uỷ thác mua bán hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận uỷ thác thực hiện việc mua bán hàng hoá với danh nghĩa của mình theo những điều kiện đã thoả thuận với bên uỷ thác và được nhận thù lao uỷ thác (155 Luật Thương mại)

So sánh ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại

Đặc điểm

Điểm giống

Khác nhau:

Ủy thác mua bán hàng hóa

– Chủ thể: Qhe ủy thác được thiết lập giữa thương nhân với thương nhân, giữa thương nhân với các bên liên qua

– Phạm vi: Hẹp hơn đại lý TM. Chỉ được thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

– Quyền của bên thực hiện dịch vụ: không được tự do lựa chọn bên thứ 3. Bên thứ 3 do bên ủy thác thỏa thuận (chỉ định)

– Tính chất của quan hệ: Mang tính vụ việc, đơn lẻ

Đại lý thương mại

– Chủ thể: Quan hệ đại lý chỉ có thể thiết lập giữa các thương nhân

– Phạm vi: Rộng hơn. Có thể thực hiện trong nhiều lĩnh vực của hoạt động thương mại

– Quyền của bên thực hiện dịch vụ: được tự do hơn trong việc lựa chọn bên thứ 3 để giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng

– Tính chất của quan hệ: Là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên đại lý và bên giao đại lý. Trong Qh đại lý, bên đại lý có sự gắn bó, phụ thuộc vào bên giao đại lý đồng thời bên giao đại lý có sự ktra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của bên đại lý

Câu 15: Phân tích đặc điểm của hoạt động đại lí thương mại. So sánh đại lí thương mại với ủy thác mua bán hàng hóa.

Hoạt động đại lí thương mại

Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (166 Luật Thương mại)

Đặc điểm

Về chủ thể: quan hệ phát sinh giữa bên đại lí và bên giao đại lí, cả 2 bên đều phải là thương nhân. Bên đại lí nhận hàng hóa để bán hoặc nhận tiền để mua hoặc nhận ủy quyền để cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lí.

Về nội dung: bao gồm việc giao kết và thực hiện hợp đồng đại lí, bên đại lí nhân danh chính mình để thực hiện các hợp đồng với bên thứ 3 (trong quan hệ đại lí mua bán hàng hóa, hàng hóa vẫn thuộc sở hữu của bên giao đại lí cho tới khi nó được bán)

Về hình thức: phát sinh qua hợp đồng đại lí (văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị tương đương)

So sánh: ủy thác mua bán hàng hóa Đại lí thương mại

Điểm giống

Khác nhau:

Ủy thác mua bán hàng hóa

– Phạm vi: Hẹp hơn đại lý TM. Chỉ được thực hiện trong lĩnh vực mua bán hàng hóa

– Quyền của bên thực hiện dịch vụ: không được tự do lựa chọn bên thứ 3. Bên thứ 3 do bên ủy thác thỏa thuận (chỉ định)

– Tính chất của quan hệ: Mang tính vụ việc, đơn lẻ

Đại lý thương mại:

– Chủ thể: Quan hệ đại lý chỉ có thể thiết lập giữa các thương nhân

– Phạm vi: Rộng hơn. Có thể thực hiện trong nhiều lĩnh vực của hoạt động thương mại

– Quyền của bên thực hiện dịch vụ: được tự do hơn trong việc lựa chọn bên thứ 3 để giao kết hợp đồng và thực hiện hợp đồng

– Tính chất của quan hệ: Là quá trình hợp tác lâu dài giữa bên đại lý và bên giao đại lý. Trong Qh đại lý, bên đại lý có sự gắn bó, phụ thuộc vào bên giao đại lý đồng thời bên giao đại lý có sự ktra, giám sát chặt chẽ đối với hoạt động của bên đại lý

Câu 16: Phân tích đặc điểm của các hình thức đại lí theo qui định của Luật Thương mại

Đại lý thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên giao đại lý và bên đại lý thoả thuận việc bên đại lý nhân danh chính mình mua, bán hàng hoá cho bên giao đại lý hoặc cung ứng dịch vụ của bên giao đại lý cho khách hàng để hưởng thù lao (Đ166 Luật Thương mại)

Đại lý bao tiêu là hình thức đại lý mà bên đại lý thực hiện việc mua, bán trọn vẹn một khối lượng hàng hoá hoặc cung ứng đầy đủ một dịch vụ cho bên giao đại lý. Bên giao đại lí ấn định giá giao, bên đại lí ấn định giá bán, bên đại lí hưởng giá chênh lệch, ngoài ra vẫn được hưởng thù lao đại lí.

Đại lý độc quyền là hình thức đại lý mà tại một khu vực địa lý nhất định bên giao đại lý chỉ giao cho một đại lý mua, bán một hoặc một số mặt hàng hoặc cung ứng một hoặc một số loại dịch vụ nhất định, nó được hưởng thù lao đại lí.

Tổng đại lý mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ là hình thức đại lý mà bên đại lý tổ chức một hệ thống đại lý trực thuộc để thực hiện việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ cho bên giao đại lý, hình thức này tạo ưu thế trong việc phân phối sản phẩm, nó được hưởng thù lao đại lí.

Các hình thức khác mà các bên thỏa thuận: đại lí hoa hồng, đại lí bảo đảm thanh toán…

Khái niệm:

Câu 17: Phân tích đặc điểm của khuyến mại. Phân tích và cho ví dụ về các hình thức khuyến mại theo luật thương mại năm 2005

Đặc điểm:

Khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định. (Đ 88- Luật Thương mại2005).

Các hình thức khuyến mại theo Luật Thương mại

Chủ thể thực hiện hoạt động khuyến mại là thương nhân, thương nhân tự thực hiện việc khuyến mại cho mình hoặc làm dịch vụ cho thương nhân khác để kinh doanh (việc này hình thành trên cơ sở hợp đồng dịch vụ khuyến mại)

Cách thức xúc tiến thương mại: dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (vật chất hoặc phi vật chất). Khách hàng được khuyến mại là người tiêu dùng hoặc là các trung gian phân phối.

Mục đích của việc khuyến mại là xúc tiến việc bán hàng và cung ứng dịch vụ để tăng thị phần của doanh nghiệp trên thị trường hàng hóa dịch vụ chủ yếu thông qua việc lôi kéo khách hàng thực hiện hành vi mua sắm, sử dụng dịch vụ, giới thiệu sản phẩm mới, kích thích trung gian phân phối chú ý hơn nữa tới hàng hóa của doanh nghiệp, tăng lượng hàng đặt mua

Đưa hàng hoá mẫu, cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền: thông thường hình thức này được áp dụng khi thương nhân muốn giới thiệu một sản phẩm mới hoặc một sản phẩm cải tiến, hàng giới thiệu thường là hàng đang hoặc sẽ bán trên thị trường.

Tặng hàng hoá cho khách hàng, cung ứng dịch vụ không thu tiền: quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ của thương nhân khác, thương nhân có thể liên kết xúc tiến thương mại.

Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng, giá cung ứng dịch vụ trước đó, được áp dụng trong thời gian khuyến mại đã đăng ký hoặc thông báo. Trường hợp hàng hóa, dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc khuyến mại theo hình thức này được thực hiện theo quy định của Chính phủ. Pháp luật cũng qui định mức độ giảm giá với các đơn vị hàng hóa dịch vụ để bảo đảm môi trường cạnh tranh lành mạnh.

Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng một hay một số lợi ích nhất định.

Bán hàng, cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

Bán hàng, cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham dự các chương trình mang tính may rủi mà việc tham gia chương trình gắn liền với việc mua hàng hóa, dịch vụ và việc trúng thưởng dựa trên sự may mắn của người tham gia theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên, theo đó việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận sự mua hàng hoá, dịch vụ hoặc các hình thức khác.

Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa, nghệ thuật, giải trí và các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại, việc này có thể áp dụng với người đã hay chưa mua hàng hóa sử dụng dịch vụ.

Ngoài ra cũng có thể khuyến mại bằng các hình thức khác nhưng trước khi tiến hành phải được cơ quan nhà nước chấp thuận.

Mục đích là giới thiệu về hàng hóa, dịch vụ nhằm tạo sự nhận biết và kiến thức của khách hàng về sản phẩm, thu hút khách hàng để đáp ứng nhu cầu cạnh tranh và mục tiêu lợi nhuận của thương nhân.

Câu 19: Trình bày các hình thức khuyến mại theo Luật Thương mại năm 2005 và hạn mức về giá trị khuyến mại, thời gian khuyến mại áp dụng cho các hình thức khuyến mại đó.

Các hình thức khuyến mại: như dùng thử hàng mẫu miễn phí, giảm giá, tặng quà, tặng phiếu mua hàng, các chương trình may rủi, tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên…. (Điều 92)

1. Hàng mẫu: đưa hàng mẫu, cung ứng dịch vụ để khách hàng dùng thử không fải trả tiền.

– Sử dụng khi thương nhân cần giới thiệu một sản fẩm mới.

– Hàng mẫu fải là hàng hóa kinh doanh hợp fáp mà thương nhân đang hoặc sẽ bán trên thị trường.

– Khi nhận hàng mẫu: khách hàng không fải thực hiện bất kì nghĩa vụ thanh toán nào.

2. Tặng quà: tặng hàng hóa dịch vụ cho khách hàng không thu tiền.

– Hàng hoá làm quà tặng có thể là hàng hóa mà thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hoá của thương nhân khác.

3. Bán hàng, cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng hoá cung ứng dịch vụ trc đó.

– Mức giảm giá tối đa đối với hàng hoá dịch vụ được khuyến mại không được vượt quá 50% giá hàng hoá dịch vụ đó ngay trc thời gian khuyến mại.

– Không được giảm giá bán hàng hoá dịch vụ trong tr hợp giá bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ (CƯDV) đã được nhà nước quy định giá cụ thể.

– Không giảm giá bán HH, CƯDV xuống thấp hơn mức giá tối thiểu trong trường hợp NN quy định khung giá hoặc quy định giá tối thiểu.

– Tổng thời gian thực hiện chương trình khuyến mại bằng cách giảm giá đối với 1 loại nhãn hiệu hang hoá, dvụ không được vượt quá 90 ngày/năm; 1 đợt khuyến mại không quá 45ngày.

– Nghiêm cấm lợi dụng hình thức khuyến mại để bán fá giá.

4. Bán hàng, CƯDV có kèm fiếu mua hàng, fiếu sử dụng dịch vụ.

– phiếu mua hàng, fiếu sử dụng DV kèm theo là fiếu để mua hàng, nhận CƯDV của chính thương nhân đó hoặc để mua hàng nhận CƯDVcủa thương nhân khác.

– Nội dung fiếu mua hàng, fiếu sử dụng dịch vụ: Đ97 Luật Thương mại.

5. Bán hàng, CƯDV có kèm fiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố.

– Nội dung fiếu dự thi: đ97 Luật Thương mại

– Nội dung chương trình không được trái với truyền thống lịch sử văn hoá, đạo đức thuần fong mĩ tục VN.

6. Bán hàng, CƯDV kèm theo việc tham gia chương trình mang tính may rủi.

– Chương trình fải được tổ chức côg khai. Trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên fải thông báo cho cơ quan quản lí NN về thương mại có thẩm quyền.

– Tổng thời gian thực hiện khuyến mại không vượt quá 180 ngày/năm; 1 chương trình không vượt quá 90 ngày.

– Thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn trao giải thưởng mà không có ng trúng thưởng thì fải được trích nộp 50% giá trị công bố vào NSách NN.

7. Tổ chức các chương trình khách hàng thường xuyên: theo đó, việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc trị giá mua hàng hóa dịch vụ mà khách hàng thực hiện.

8. Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hoá nghệ thuật, các sự kiện khác vì mục đích khuyến mại. Chính là lợi ích fi vật chất mà thương nhân dành cho khách hàng.

9. Các hình thức khuyến mại khác mà được cơ quan quản lí NN về thương mại chấp thuận.

Các hạn mức khuyến mại:

– Giá trị vật chất dùng để khuyến mại cho một đơn vị hàng hoá dịchvụ không được vượt quá 50% giá của đơn vị HH, DV được khuyến mại trc thời gian khuyến mại đối với t/hợp: giảm giá và bán hàng kèm theo phiếu mua hàng, fiếu sử dụng dịch vụ.

– Tổng giá trị dùng để khuyến mại mà thương nhân thực hiện trong một chương trình khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị của HH, DV được khuyến mại, trừ trường hợp hàng mẫu.

– Tặng quà Tổng giá trị dịch vụ hàng hóa dùng để khuyến mại không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dùng để khuyến mại

– Giảm giá 50% giá trị sản phẩm trước thời gian khuyến mại/đơn vị sản phẩm hàng hóa

– Đều là hoạt động xúc tiến thương mại của các thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng, CƯDV.

Về khái niệm:

– Khuyến mại: Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (VD: giảm giá, tặng hàng hoá cho khách hàng mà không thu tiền…). Điều 88

Về chủ thể:

Về cách thức xúc tiến thương mại:

– Khuyến mại:

+ Dành cho khách hàng những lợi ích nhất định: có thể là lợi ích vật chất hoặc fi vật chất. Tuỳ thuộc mục tiêu của đợt khuyến mại. Khách hàng được khuyến mại có thể là ng tiêu dùng hoặc trung gian fân fối.

+ Bao gồm: hàng mẫu, giảm giá…

Về mục đích

Về thủ tục:

– Khuyến mại: không phải đăng ký

Ảnh hưởng tiêu cực của hoạt động này tời người tiêu dùng:

– Về kinh tế: Tăng sự lãng phí, tiêu thụ không cần thiết (giá rẻ – mua nhiều hơn mức cần thiết). Ngoài ra khách hàng cần thời gian tìm kiếm, so sánh các chương trình KM, QC của sản phẩm (nhằm tìm ra chương trình tốt nhất) hay thậm chí không mua hàng khi có nhu cầu thực sự mà cố đợi đến đợt KM.

– Về thông tin lên nhận thức:

+ Giá cả: Khách hàng dần có xu hướng cho rằng giá trị thực tế của hàng hóa, dịch vụ chính là giá KM nên đối với họ mức giá thông thường của hàng hóa, Dv khi chưa có khuyến mại là cao, không chấp nhận đc.

+ Chất lượng: Đối với KM, khách hàng cho rằng hàng hóa, DV cùng loại của nhà sản xuất khác, thậm chí là thấp hơn hàng hóa, DV đó khi chưa có KM.

Khái niệm:

Câu 21: Trình bày các đặc điểm của khuyến mại và nêu rõ các hoạt động khuyến mại bị cấm thực hiện

Đặc điểm: Các hoạt động khuyến mại bị cấm thực hiện: (Điều 100)

Là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hoá, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định (VD: giảm giá, tặng hàng hoá cho khách hàng mà không thu tiền…). (Điều 88)

Khuyến mại cho hàng hóa dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông trên thị trường, dịch vụ chưa được phép cung ứng

Hàng hóa dịch vụ sử dụng để khuyến mại là hàng hóa dịch vụ bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa chưa được phép lưu thông trên thị trường, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

Khuyến mại hoặc sử dụng rượu bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi

Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 300 trở lên để khuyến mại dưới bất kì hình thức nào

Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về sản phẩm để lừa dối khách hàng.

Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và các lợi ích công cộng khác

Khuyến mại tại bệnh viện trường học, trụ sở các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị xã hội đơn vị vũ trang nhân dân

Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

KM Nhằm cạnh tranh không lành mạnh

Thực hiện KM mà giá trị hàng hóa, DV dùng để KM vượt quá hạn mức tối đa hoặc giảm giá hàng hóa, DV được KM quá mức tối đa theo quy định tại K4- Đ94

Khái niệm:

Câu 22: Trình bày các đặc điểm pháp lí của xúc tiến thương mại và nêu rõ các hoạt động xúc tiến thương mại bị cấm thực hiện.

Về tính chất: nó là hoạt động thương mại nhưng khác với các hoạt động thương mại khác ở chỗ nó có ý nghĩa thúc đẩy hỗ trợ hoạt động mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ hay các hoạt động thương mại có mục đích sinh lời khác,…

Về chủ thể: chủ thể chủ yếu là thương nhân, phải có tư cách pháp lý độc lập. Pháp luật không cho phép văn phòng đại diện của thương nhân tiến hành hoạt động xúc tiến thương mại, chỉ có chi nhánh của thương nhân mới được tham gia một số hoạt động xúc tiến thương mại.

Về mục đích: hỗ trợ thúc đẩy cơ hội mua bán hàng hóa cung ứng dịch vụ nhằm kiếm lợi nhuận (không bao gồm xúc tiến đầu tư).

Các hoạt động xúc tiến thương mại bị cấm thực hiện

Xúc tiến thương mại với các sản phẩm bị cấm kinh doanh, hạn chế kinh doanh, hàng hóa cấm lưu thông, hạn chế lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

Xúc tiến thương mại làm phương hại đến an ninh quốc gia, đến thuần phong mĩ tục, truyền thống văn hóa, môi trường…nói chung là các lợi ích của cộng đồng

Xúc tiến thương mại tạo sự cạnh tranh không lành mạnh

Các trường hợp khác bị pháp luật cấm (cụ thể với từng hoạt động đều có điều luật qui định cụ thể)

* Giống;

– Đều là hoạt động XTTM.

– Đều do thương nhân tự thực hiện hoặc thuê thương nhân khác thực hiện XTTM.

– Đều nhằm mục đích giới thiệu sản phẩm, kích thích tiêu dùng.

* Khác:

Khái niệm

– Trưng bày giới thiệu sản phẩm: Là hoạt động XTTM của thương nhân dùng hàng hóa, DV và tài liệu về hàng hóa, DV để giới thiệu với khách hàng về hàng hóa, DV đó (Đ 117)

Đối tượng

– Trưng bày giới thiệu sản phẩm: Chỉ là hàng hóa

Chủ thể

– Trưng bày giới thiệu sản phẩm: Chủ thể thường không đa dạng bằng thường chỉ là thương nhân có hàng hóa cần trưng bày giới thiệu và và thương nhân kinh doanh dịch vụ trưng bày giới thiệu hàng hóa

Phương tiện

– Trưng bày giới thiệu sản phẩm:

Sử dụng HH, DV và các tài liệu kèm theo.

+ HH, DV chính là công cụ để giới thiệu thông tin về sản phẩm,kiểu dáng, chất lượng, giá cả…

+ tổ chức hội nghị hội thảo có trưng bày HH

+ trưng bày HH,DV trên internet …

Hình thức

+ Hình thức: thể hiện bằng tiếng nói,chữ viết, biểu tượng…thông qua các phuơng tiện.

– Trưng bày giới thiệu sản phẩm:

+ mở phòg trưng bày

+ giới thiệu HH, Dv tại các trung tâm TM, hội chợ triển lãm.

Khái niệm:

Câu 25: Trình bày điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics và giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam.

Để đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:

Là doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam

Đáp ứng các điều kiện với từng loại dịch vụ logistics cụ thể:

1. ĐK KD đối với thương nhân KD các DV log chủ yếu:

– Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo PL VN.

– Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.

– Nếu đó là thương nhân nước ngoài thì còn phải đáp ứng được cacs điều kiện:

o Kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 50%.

o Kinh doanh dịch vụ kho bãi: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2014).

o Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (không hạn chế tỷ lệ vốn góp kể từ năm 2014).

o Kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác: được thành lập công ty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (51% vào năm 2010; chấm dứt hạn chế năm 2014).

– Là doanh nghiệp có ĐKKD hợp pháp;

– Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của PL VN;

– Nếu đó là thương nhân nước ngoài thì phải đáp ứng thêm các điều kiện:

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải: chỉ được thành lập cty liên doanh vận hành đội tàu từ 2009 với tỷ lệ vốn góp không quá 49%; được thành lâp liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2012);

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải thủy nội địa: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49%;

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng VN;

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (không quá 51% kể từ 2010);

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (không quá 51% kể từ 2010);

+ không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống (trừ trường hợp VN tham gia ĐƯQT).

– Là doanh nghiệp có ĐKKD theo PL VN;

– Nếu là thương nhân nước ngoài thì còn phải tuân theo các đk:

+ KD dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của CP;

Giới hạn trách nhiệm của người kinh doanh dịch vụ logistics

+ không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác (trừ khi VN tham gia các ĐƯQT).

– Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ log không thuộc phạm vi trên:

+ Các bên có thể thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm BTTH.

+ Nếu các bên không thỏa thuận về giới hạn trách nhiệm BTTH: toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh DV log không vượt quá giới hạn trách nhiệm và tổn thất hàng hóa (Đ238 Luật Thương mại). Cụ thể:

Khách hàng không có thông báo trc về giá trị của HH thì giới hạn trách nhiệm tối đa là 500tr đối với mỗi yêu cầu bồi thường;

Khách hàng đã thông báo trc về giá trị của HH và được thương nhân KD DV log xác nhận thì giới hạn trách nhiệm là toàn bộ giá trị của HH đó.

– Đối với thương nhân kinh doanh dịch vụ log tổ chức thực hiện nhiều công đoạn có quy định giới hạn trách nhiệm khác nhau: giới hạn trách nhiệm được tính là giới hạn trách nhiệm của công đoạn có giới hạn trách nhiệm cao nhất.

* Giới hạn trách nhiệm của người làm dịch vụ Logistic (Đ238 Luật Thương mại)

– Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, toàn bộ trách nhiệm của thương nhân kinh doanh dịch vụ Logistics không vượt quá giới hạn trách nhiệm đối với tổn thất toàn bộ hàng hóa.

Khái niệm:

Câu 26: Phân tích khái niệm đặc điểm của dịch vụ logistics và điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics theo pháp luật Việt Nam

Điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics

Chủ thể gồm 2 bên: người làm dịch vụ logistic và khách hàng, người làm dịch vụ phải là thương nhân có đăng kí kinh doanh và đáp ứng được các điều kiện kinh doanh cụ thể. Khách hàng có thể không phải là thương nhân, là thương nhân thậm chí cũng là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, có thể là chủ sở hữu hay không phải là chủ sở hữu hàng hóa.

Nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng có thể bao gồm các công việc sau:

Nhận hàng từ người gửi để tổ chức vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi mã hiệu; chuyển hàng từ kho của người gửi đến địa điểm giao hàng hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận.

Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để gửi hoặc nhận hàng hóa được chuyển đến

Giao hàng cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo qui định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến.

Tổ chức nhận hàng, lưu kho lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc tổ chức việc giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng

Dịch vụ logistics là một dịch vụ thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ được khách hàng trả tiền công và chi phí hợp lí khác.

Để đáp ứng điều kiện kinh doanh dịch vụ logistics các doanh nghiệp phải đáp ứng các điều kiện sau:

Là doanh nghiệp có đăng kí kinh doanh hợp pháp theo pháp luật Việt Nam

Đáp ứng các điều kiện với từng loại dịch vụ logistics cụ thể:

1. ĐK KD đối với thương nhân KD các DV log chủ yếu:

– Là doanh nghiệp có đăng ký kinh doanh hợp pháp theo PL VN.

– Có đủ phương tiện, thiết bị, công cụ đảm bảo tiêu chuẩn an toàn, kỹ thuật và có đội ngũ nhân viên đáp ứng yêu cầu.

– Nếu đó là thương nhân nước ngoài thì còn phải đáp ứng được cacs điều kiện:

+ Kinh doanh dịch vụ bốc dỡ hàng hóa: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 50%.

+ Kinh doanh dịch vụ kho bãi: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2014).

+ Kinh doanh dịch vụ đại lý vận tải: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (không hạn chế tỷ lệ vốn góp kể từ năm 2014).

+ Kinh doanh dịch vụ bổ trợ khác: được thành lập công ty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (51% vào năm 2010; chấm dứt hạn chế năm 2014).

– Là doanh nghiệp có ĐKKD hợp pháp;

– Tuân thủ các điều kiện về kinh doanh vận tải theo quy định của PL VN;

– Nếu đó là thương nhân nước ngoài thì phải đáp ứng thêm các điều kiện:

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng hải: chỉ được thành lập cty liên doanh vận hành đội tàu từ 2009 với tỷ lệ vốn góp không quá 49%; được thành lâp liên doanh cung cấp dịch vụ vận tải biển quốc tế với tỷ lệ vốn góp không quá 51% (hạn chế này chấm dứt năm 2012);

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải thủy nội địa: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49%;

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải hàng không thì thực hiện theo quy định của Luật hàng không dân dụng VN;

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải đường sắt: chỉ được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (không quá 51% kể từ 2010);

+ Kinh doanh dịch vụ vận tải đường bộ: được thành lập cty liên doanh với tỷ lệ vốn góp không quá 49% (không quá 51% kể từ 2010);

+ không được thực hiện dịch vụ vận tải đường ống (trừ trường hợp VN tham gia ĐƯQT).

– Là doanh nghiệp có ĐKKD theo PL VN;

– Nếu là thương nhân nước ngoài thì còn phải tuân theo các đk:

+ KD dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật: (lằng nhằng lắm ở điểm a kh 2 Đ7 NĐ140 ý.

+ KD dịch vụ bưu chính, dịch vụ thương mại bán buôn, dịch vụ thương mại bán lẻ thực hiện theo quy định riêng của CP;

+ Không được thực hiện các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác (trừ khi VN tham gia các ĐƯQT).

Câu 27: Trình bày khái niệm đặc điểm của dịch vụ logistics và liệt kê chuỗi dịch vụ logistics

Khái niệm

Đặc điểm:

Chủ thể gồm 2 bên: người làm dịch vụ logistic và khách hàng, người làm dịch vụ phải là thương nhân có đăng kí kinh doanh và đáp ứng được các điều kiện kinh doanh cụ thể. Khách hàng có thể không phải là thương nhân, là thương nhân thậm chí cũng là thương nhân kinh doanh dịch vụ logistics, có thể là chủ sở hữu hay không phải là chủ sở hữu hàng hóa.

Nội dung của dịch vụ logistics rất đa dạng có thể bao gồm các công việc sau:

Nhận hàng từ người gửi để tổ chức vận chuyển: đóng gói bao bì, ghi mã hiệu; chuyển hàng từ kho của người gửi đến địa điểm giao hàng hoặc địa điểm khác theo thỏa thuận.

Làm các thủ tục giấy tờ cần thiết để gửi hoặc nhận hàng hóa được chuyển đến

Giao hàng cho người vận chuyển, xếp hàng hóa lên phương tiện vận chuyển theo qui định, nhận hàng hóa được vận chuyển đến.

Tổ chức nhận hàng, lưu kho lưu bãi, bảo quản hàng hóa hoặc tổ chức việc giao hàng hóa được vận chuyển đến cho người có quyền nhận hàng

Dịch vụ logistics là một dịch vụ thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ được khách hàng trả tiền công và chi phí hợp lí khác.

Chuỗi dịch vụ logistics:

Gồm các công vc được chia theo 3 nhóm:

Các dịch vụ log chủ yếu:

Dịch vụ vận tải hàng hải;

Dịch vụ vận tải thuỷ nội địa;

Dịch vụ vận tải hàng không;

Dịch vụ vận tải đường sắt;

Dịch vụ vận tải đường bộ;

Dịch vụ vận tải đường ống.

Dịch vụ kiểm tra và phân tích kỹ thuật;

Dịch vụ bưu chính;

Dịch vụ thương mại bán buôn;

Dịch vụ thương mại bán lẻ, bao gồm cả hoạt động quản lý hàng lưu kho, thu gom, tập hợp, phân loại hàng hóa, phân phối lại và giao hàng;

Các dịch vụ hỗ trợ vận tải khác.

Khái niệm (K1- Đ185)

Câu 28: Trình bày khái niệm đặc điểm của đấu giá hàng hóa. Phân biệt các phương thức đấu giá hàng hóa theo qui định của pháp luật hiện hành.

Đặc điểm:

Đấu giá hàng hóa là họat động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện bán hàng hóa công khai để chọn người mua trả giá cao nhất.

Là hoạt động thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

Đặc điểm đặc thù là:

* Phân biệt các phương thức đấu giá hàng hóa theo qui định của pháp luật hiện hành

1. Khái niệm

– PT trả giá lên: Là phương thức bán đấu giá, theo đó ng trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là ng có quyền mua hàng.

– PT đặt giá xuống: Là phương thức bán đấu giá, theo đó ng đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là ng có quyền mua hàng.

2. Cách thức tiến hành

– PT trả giá lên: Nhân viên điều hành bán ĐG nêu lên giá khởi điểm thấp nhất của lô hàng hay TS bán ĐG. Những ng mua sẽ trả giá nâng dần lên theo từng mức mặc cả nhất định.

– PT đặt giá xuống: Nhân viên điều hành nêu lên mức giá khởi điểm cao nhất, rồi sau đó hạ dần từng nấc một để ng mua đặt giá.

3. Ng có quyền mua

– PT trả giá lên: Ng trả giá cao nhất sẽ được quyền mua lô hàng hoặc TS đó.

– PT đặt giá xuống: HH được bán khi có ng chấp nhận mua.

4. Phạm vi áp dụng

– PT trả giá lên: được áp dụng phổ biến vì nó có lợi cho cả 2 bên mua và bên bán.

– PT đặt giá xuống: Chỉ áp dụng đối với 1 số loại hàng hóa (như hàng thanh lý) và không hấp dẫn với cả ng mua và ng bán hàng.

Câu 29: Nêu các chủ thể tham gia quan hệ đấu giá hàng hóa và phân tích quyền và nghĩa vụ của người tổ chức đấu giá hàng hóa.

Các chủ thể tham gia quan hệ đấu giá hàng hóa

a. Người bán hàng hóa

Người bán hàng là chủ sở hữu hàng hoá, ng­ười đ­ược chủ sở hữu hàng hoá uỷ quyền bán hoặc ng­ười có quyền bán hàng hoá của ng­ười khác theo quy định của pháp luật.

b. Người tổ chức bán đấu giá:

– Là thương nhân, có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá hoặc là người bán hàng trong trường hợp người bán hàng tự tổ chức bán đấu giá.

c. Người điều hành đấu giá:

Người điều hành cuộc bán đấu giá tài sản là đấu giá viên

đ. Người tham gia đấu giá:

Người mua hàng hóa:là người tham gia đấu giá hàng hóa, bao gồm tổ chức, cá nhân đăng ký tham gia đấu giá

người mua hàng hóa.

Quyền và nghĩa vụ của người tổ chức đấu giá (Điều 189, 190).

* Quyền (Đ189 Luật Thương mại): Trừ trường hợp có thỏa thuận khác, người tổ chức đấu giá có các quyền sau đây:

– Tổ chức cuộc đấu giá;

– Yêu cầu người mua hàng thực hiện việc thanh toán;

– Nhận thù lao dịch vụ đấu giá do người bán hàng trả.

* Nghĩa vụ (Đ190 Luật Thương mại)

– Tổ chức bán đấu giá hàng hóa theo đúng nguyên tắc, thủ tục do pháp luật quy định và theo phương thức thỏa thuận với người bán hàng;

– Bảo quản hàng hóa đấu giá khi được người bán giao giữ;

– Trình bày hàng hóa, mẫu hàng hóa hoặc tài liệu giới thiệu về hàng hóa cho người tham gia đấu giá xem xét;

– Giao hàng hóa đấu giá cho người mua phù hợp với hợp đồng tổ chức dịch vụ đấu giá hàng hóa.

– Làm thủ tục chuyển quyền sở hữu đối với hàng hóa bán đấu giá phải đăng ký quyền sở hữu cho người mua theo quy định của pháp luật, trừ trường hợp có thỏa thuận khác với người bán hàng.

– Thanh toán cho người bán hàng tiền hàng đã bán, kể cả khoản tiền chênh lệch thu được từ người rút lại giá đã trả, hoặc trả lại hàng hóa không bán được cho người bán hàng theo thỏa thuận.

Khái niệm:

Câu 30: Phân tích đặc điểm của đấu giá hàng hóa. Nêu khái quát thủ tục và trình tự đấu giá hàng hóa

Đặc điểm:

Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất. (K1- Đ185).

Là hoạt động thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

Thủ tục và trình tự bán đấu giá

Đặc điểm đặc thù là:

Thủ tục

Lập hợp đồng DV tổ chức ĐG HH: bằng VB hoặc hình thức khác có giá trị tương đương.

Xác định giá khởi điểm: ng bán HH phải xác định giá khởi điểm.

Chuẩn bị bán ĐG HH: niêm yết, thông báo công khai về vc bán ĐG; đăng ký tham gia ĐG và nộp tiền đặt cọc; trưng bày, xem HH ĐG…

Tiến hành đấu giá: (phần trình tự)

Đăng ký quyền sở hữu đối với HH ĐG: là nghĩa vụ của ng bán hàng và ng tổ chức ĐG (trừ trường hợp có thỏa thuận khác).

Trình tự:

Người điều hành ĐG điểm danh người đã đăng ký tham gia ĐG HH;

Người điều hành ĐG giới thiệu từng HH bán ĐG, nhắc lại giá khởi điểm, trả lời các câu hỏi của người tham gia ĐG và yêu cầu trả giá;

Đối với phương thức trả giá lên, người điều hành phải nhắc lại giá đã trả sau cùng cao hơn giá người trước đã trả ít nhất 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 30s; chỉ được công bố người mua, nếu sau 3 lần nhắc lại giá người đó đã trả mà không có người nào trả giá cao hơn;

Đối với phương thức đặt giá xuống, người điều hành phải nhắc lại từng mức giá được hạ xuống thấp hơn giá khởi điểm ít nhất là 3 lần, mỗi lần cách nhau ít nhất 30s; công bố ngay người đầu tiên chấp nhận mức giá khởi điểm hoặc mức giá hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng hóa đấu giá;

Lập văn bản bán ĐG HH ngay tại cuộc ĐG, kể cả trường hợp ĐG không thành. Văn bản bán đấu giá phải ghi rõ kết quả đấu giá, có chữ ký của người điều hành đấu giá, người mua hàng và hai người chứng kiến trong số những người tham gia đấu giá; đối với hàng hoá bán đấu giá phải có công chứng nhà nước theo quy định của pháp luật thì văn bản bán đấu giá cũng phải được công chứng.

Khái niệm:

Câu 31: Phân tích đặc điểm của đấu giá hàng hóa và các nguyên tắc cơ bản trong đấu giá hàng hóa

Đặc điểm:

Đấu giá hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất. (K1- Đ185).

Là hoạt động thương mại (có tất cả các đặc điểm của hoạt động thương mại)

Các nguyên tắc cơ bản trong đấu giá hàng hóa (188 Luật Thương mại)

Đặc điểm đặc thù là:

Điều 188: “Việc đấu giá hàng hoá trong thương mại phải được thực hiện theo nguyên tắc công khai, trung thực, bảo đảm quyền, lợi ích hợp pháp của các bên tham gia”.

1. Ng/tắc công khai:

– Mọi v/đề lquan đến cuộc đấu giá & những thông tin về hh phải được công khai cho tất cả những ai muốn mua

– Hình thức: niêm yết, thông báo, trưng bày, g/thiệu về t/sản,…

– 1 số nd bắt buộc phải công khai:

o tgian, địa điểm tiến hành bán đấu giá;

o tên loại hh bán đấu giá;

o số lượng, chất lượng, giá khởi điểm;

o địa điểm trưng bày g/thiệu hh, các h/sơ t/liệu lquan đến hh;

o họ tên người bán hàng, tên t/chức bán đấu giá & những người đăng kí mua hh(nếu theo qđ pl, người mua hh phải đăng kí)…

– Tại phiên đấu giá, người điều hành bán đấu giá phải công khai các mức giá được trả & họ tên người mua trả giá cao nhất của mỗi lần trả giá.

2. Ng/tắc trung thực:

– những nd sau phải thật rõ ràng, chính xác, đầy đủ để kô tạo sự nhầm lẫn hay lừa dối đ/với các bên làm cuộc đấu giá bị vô hiệu:

+ các thông báo về cuộc đấu giá & thông tin về hh;

+ các giấy tờ lquan đến hh;

+ những đặc điểm khuyết tật kô nhìn thấy (nhất là những hh là t/sản có g/trị về l/sử, nghệ thuật);

+ các giấy tờ x/định tư cách người tgia đấu giá.

– Người bán phải trung thực khi x/định giá khởi điểm của hh, kô nên đưa mức khởi điểm quá cao so với giá trị thực tế của hh làm người mua bị thiệt.

– t/chức bán đấu giá kô phải chịu tr/nhiệm về giá trị, chất lượng của hh bán đấu giá trừ trường hợp kô thông tin đầy đủ cho người mua.

3. Ng/tắc b/vệ quyền & lợi ích hợp pháp của các bên tgia: Quyền và lợi ích của các bên trong q/hệ đấu giá hh phải được coi trọng & đ/bảo đầy đủ.

– Người bán hàng có quyền x/định giá khởi điểm của hh, quyền yêu cầu t/chức bán đấu giá thanh toán đầy đủ tiền bán hh ngay sau khi cuộc đấu giá k/thúc, được bồi thường t/hại nếu t/chức bán đấu giá or bên mua có hvi x/hại đến lợi ích của mình.

– Người mua hàng có quyền được xem hh, yêu cầu cung cấp đầy đủ thông tin về hh, được tự đặt giá, được x/lập quyền sở hữu đ/với hh sau khi hoàn thành v/bản đấu giá & họ đã thực hiện xong ng/vụ thanh toán.

Tổ chức bán đấu giá được thu của người bán hàng lệ phí & các khoản chi phí cần thiết cho việc t/chức bán đấu giá theo qđ của pl

Khái niệm:

Câu 32: Phân tích khái niệm, đặc điểm của đấu thầu hàg hóa, dịch vụ theo quy định của Luật Thương mại và trình bày hai phương thức đấu thầu hàg hóa dịch vụ.

Đặc điểm:

Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu). (K1-Đ214)

Phương thức đấu thầu hàg hóa, dịch vụ

Các đặc điểm của hoạt động thương mại

Luôn gắn liền với mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Đấu thầu chỉ được tổ chức khi thương nhân có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ với mục đích lựa chọn người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất.

Đấu thầu là giai đoạn tiền hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các bên trong hoạt động thương mại, không có tính độc lập.

Các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ cũng chính là các bên mua và bán hàng hóa, dịch vụ. Bên mời thầu có nhu cầu mua sắm, bên dự thầu có năng lực cung cấp hàng hóa, dịch vụ cho gói thầu. Trong quan hệ này không xuất hiện thương nhân chuyên kinh doanh dịch vụ đấu thầu hàng hóa dịch vụ (mặc dù có sự tham gia của một số trung tâm và các giai đoạn của quy trình tổ chức đầu thầu như các côg ty tư vấn giúp lập hồ sơ mời thầu, tổ chuyên gia đánh giá hồ sơ dự thầu..)

Quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ luôn được xác lập giữa một bên mời thầu và nhiều nhà thầu. Vì đầu thầu là phương thức để giúp người mua lựa chọn người bán do đó trong mỗi gói thầu phải tạo ra sự cạnh tranh càng lớn càg tốt giữa những người có năng lực bán hàng. Về nguyên tắc, số lượng nhà thầu tham dự một gói thầu phải nhiều hơn 1.

Hình thức pháp lý của quan hệ đầu thầu hàng hóa dịch vụ là hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu, đó là các cơ sở pháp lý cho việc xác lập, thay đổi, chấm dứt quyền v à nghĩa vụ của các bên trong quan hệ đấu thầu hàng hóa, dịch vụ.

Đấu thầu một túi: bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu để nhà mời thầu xem xét và đánh giá chung và việc mở thầu được tiến hành một lần.

Đấu thầu hai túi: (thường áp dụng khi hàng hóa dịch vụ có yêu cầu đặc biệt về chỉ tiêu khĩ thuật)bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước, những nhà thầu nào đạt điểm số về kĩ thuật nhất định theo tiêu chuẩn mới được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất để so sánh giá

Phương thức đấu thầu hàg hóa, dịch vụ

Câu 33: trình bày về các phương thức đấu thầu hàng hóa dịch vụ và thủ tục, trình tự đấu thầu hàg hóa, dịch vụ

Trình tự thủ tục:

Đấu thầu một túi: bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong một túi hồ sơ theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu để nhà mời thầu xem xét và đánh giá chung và việc mở thầu được tiến hành một lần.

Đấu thầu hai túi: (thường áp dụng khi hàng hóa dịch vụ có yêu cầu đặc biệt về chỉ tiêu khĩ thuật)bên dự thầu nộp hồ sơ dự thầu gồm đề xuất về kỹ thuật, đề xuất về tài chính trong từng túi hồ sơ riêng biệt được nộp trong cùng một thời điểm và việc mở thầu được tiến hành hai lần. Hồ sơ đề xuất về kỹ thuật sẽ được mở trước, những nhà thầu nào đạt điểm số về kĩ thuật nhất định theo tiêu chuẩn mới được mở tiếp túi hồ sơ đề xuất để so sánh giá

Mời thầu: bên mua sản phẩm đưa ra lời đề nghị mua hàng, dịch vụ kèm theo những điều kiện cụ thể của việc cung cấp sản phẩm. Cần tiến hành các bước

Sơ tuyển nhà thầu: Bên mời thầu có thể tổ chức sơ tuyển các bên dự thầu nhằm lựa chọn những bên dự thầu có khả năng đáp ứng các điều kiện mà bên mời thầu đưa ra. Thường áp dụng với những gói thầu lớn hoặc hàng hóa dịch vụ có yêu cầu phức tạp về công nghệ, hoặc trường hợp mà chi phí làm hồ sơ dự thầu cao khiến cho các nhà thầu ngần ngại tham dự hoặc chi phí cho việc đánh giá tất cả các hồ sơ dự thầu quá lớn. Lúc đó bên mời thầu sẽ gửi thư mời sơ tuyển, các

Dự thầu: Các nhà thầu phải là thương nhân và cần có những tiêu chuẩn nhất định, hồ sơ dự thầu bao gồm các tài liệu lập theo yêu cầu của hồ sơ mời thầu. hồ sơ phải được niêm phong, trên túi hồ sơ ghi rõ tên gói thầu, tên dự án tên địa chỉ nhà thầu kèm theo dòng chữ “không được mở ra trước ngày…giờ…”. Hồ sơ mời thầu phải được nộp trước thời điểm đóng thầu. Hồ sơ dự thầu phải được bảo mật theo qui định của luật. các nhà thầu phải nộp 1 khoản tiền đảm bảo dự thầu (khoản này sẽ được trả lại cho nhà thầu nếu không trúng thầu, nhà thầu sẽ không được hoàn lại trong các trường hợp: trúng thầu mà không kí hợp đồng hoặc từ chối thực hiện hợp đồng; rút hồ sơ dự thầu sau thời điểm đóng thầu; có sự vi phạm qui chế đấu thầu).

Đánh giá và so sánh hồ sơ dự thầu: Hồ sơ dự thầu được đánh giá và so sánh theo từng tiêu chuẩn làm căn cứ để đánh giá toàn diện. ác tiêu chuẩn đánh giá hồ sơ dự thầu do bên mời thầu quy định. Có thể đánh giá theo thang điểm hoặc theo những các phương pháp khác đã được ấn định trước khi mở thầu. Việc đánh giá tiến hành theo 2 bước: đánh giá về mặt kĩ thuật của hồ sơ dự thầu và đánh giá về tài chính thương mại

Xếp hạng và lựa chọn nhà thầu Căn cứ vào kết quả đánh giá hồ sơ dự thầu, bên mời thầu phải xếp hạng và lựa chọn các bên dự thầu theo phương pháp đã được ấn định. Trong trường hợp có nhiều bên tham gia dự thầu có số điểm, tiêu chuẩn trúng thầu ngang nhau thì bên mời thầu có quyền chọn nhà thầu.

Thông báo kết quả thầu và kí hợp đồng: Ngay sau khi có kết quả đấu thầu, bên mời thầu có trách nhiệm thông báo kết quả đấu thầu cho bên dự thầu. Bên mời thầu tiến hành hoàn thiện và ký kết hợp đồng với bên trúng thầu trên cơ sở: Kết quả đấu thầu; Các yêu cầu nêu trong hồ sơ mời thầu; Nội dung nêu trong hồ sơ dự thầu.

Khái niệm:

Câu 34: Phân tích đặc điểm của đấu thầu hàng hóa dịch vụ. Phân biệt với đấu giá hàng hóa theo qui định của Luật Thương mại 2005.

Đặc điểm:

Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu (gọi là bên mời thầu) nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu (gọi là bên dự thầu) thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng (gọi là bên trúng thầu). (K1-Đ214)

Các đặc điểm của hoạt động thương mại

Luôn gắn liền với mua bán hàng hóa và cung ứng dịch vụ. Đấu thầu chỉ được tổ chức khi thương nhân có nhu cầu mua sắm hàng hóa hoặc sử dụng dịch vụ với mục đích lựa chọn người cung cấp hàng hóa, dịch vụ tốt nhất.

Phân biệt với đầu giá hàng hóa:

Đấu thầu là giai đoạn tiền hợp đồng cung cấp hàng hóa, dịch vụ giữa các bên trong hoạt động thương mại, không có tính độc lập.

Tiêu chí

Khái niệm

– Đầu thầu hàng hóa dịch vụ: Là hoạt động thương mại, theo đó một bên mua hàng hoá, dịch vụ thông qua mời thầu nhằm lựa chọn trong số các thương nhân tham gia đấu thầu thương nhân đáp ứng tốt nhất các yêu cầu do bên mời thầu đặt ra và được lựa chọn để ký kết và thực hiện hợp đồng

– Đấu giá hàng hóa: Là hoạt động thương mại, theo đó người bán hàng tự mình hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai để chọn người mua trả giá cao nhất

Chủ thể

– Đầu thầu hàng hóa dịch vụ:

Tất cả đều là thương nhân

Trong đó có nhiều chủ thể cung cấp sản phẩm

– Đấu giá hàng hóa:

Không có thương nhân hoặc chỉ bên bán là thương nhân có nhiều chủ thể mua sản phẩm

Đối tượng

– Đầu thầu hàng hóa dịch vụ: Hàng hóa và dịch vụ

– Đấu giá hàng hóa: Hàng hóa

Hình thức p.lí

– Đầu thầu hàng hóa dịch vụ: Hồ sơ mời thầu và hồ sơ dự thầu

– Đấu giá hàng hóa: Hợp đồng ủy quyền bán đấu giá và văn bản bán đấu giá

Tiêu chí lựa chọn

– Đầu thầu hàng hóa dịch vụ: Nhiều tiêu chí khác nhau

– Đấu giá hàng hóa: Giá cao nhất

Khái niệm:

Câu 35: Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, hình thức và nội dung cơ bản của hợp đồng gia công.

Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao”. (Đ178 Luật Thương mại)

Hình thức: văn bản hoặc tương đương (Đ179 Luật Thương mại)

Nội dung cơ bản của hợp đồng gia công: các điều khoản: hàng gia công (bắt buộc phải có đối tượng: hàng hóa được xác định trước theo mẫu theo tiêu chuẩn mà các bên thỏa thuận hoặc pháp luật qui định), thù lao gia công, thời hạn…

Khái niệm:

Câu 36: Trình bày về: Khái niệm gia công hàng hóa trong thương mại, quyền và những nghĩa vụ cơ bản của mỗi bên trong quan hệ gia công hàng hóa.

Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. (178 Luật Thương mại)

Bên nhận gia công

Cung ứng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu để gia công theo thỏa thuận với bên đặt gia công về số lượng, chất lượng, tiêu chuẩn kỹ thuật và giá.

Nhận thù lao gia công và các chi phí hợp lý khác. (thù lao gia công có thể bằng tiền và máy móc gia công)

Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bên nhận gia công được xuất khẩu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị thuê hoặc mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu theo uỷ quyền của bên đặt gia công.

Trường hợp nhận gia công cho tổ chức, cá nhân nước ngoài, bên nhận gia công được miễn thuế nhập khẩu đối với máy móc, thiết bị, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư tạm nhập khẩu theo định mức để thực hiện hợp đồng gia công theo quy định của pháp luật về thuế.

Chịu trách nhiệm về tính hợp pháp của hoạt động gia công hàng hoá trong trường hợp hàng hoá gia công thuộc diện cấm kinh doanh, cấm xuất khẩu, cấm nhập khẩu.

Bên đặt gia công

Giao một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu gia công theo đúng hợp đồng gia công hoặc giao tiền để mua vật liệu theo số lượng, chất lượng và mức giá thoả thuận.

Nhận lại toàn bộ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư, phế liệu sau khi thanh lý hợp đồng gia công, trừ trường hợp có thoả thuận khác.

Bán, tiêu huỷ, tặng biếu tại chỗ sản phẩm gia công, máy móc, thiết bị cho thuê hoặc cho mượn, nguyên liệu, phụ liệu, vật tư dư thừa, phế phẩm, phế liệu theo thoả thuận và phù hợp với quy định của pháp luật.

Cử người đại diện để kiểm tra, giám sát việc gia công tại nơi nhận gia công, cử chuyên gia để hướng dẫn kỹ thuật sản xuất và kiểm tra chất lượng sản phẩm gia công theo thoả thuận trong hợp đồng gia công.

Chịu trách nhiệm đối với tính hợp pháp về quyền sở hữu trí tuệ của hàng hoá gia công, nguyên liệu, vật liệu, máy móc, thiết bị dùng để gia công chuyển cho bên nhận gia công.

Câu 37: Trình bày về khái niệm cho thuê hàng hóa, hình thức và những nội dung cơ bản của hợp đồng cho thuê hàng hóa.

Cho thuê hàng hoá là hoạt động thương mại, theo đó một bên chuyển quyền chiếm hữu và sử dụng hàng hoá (gọi là bên cho thuê) cho bên khác (gọi là bên thuê) trong một thời hạn nhất định để nhận tiền cho thuê.

Hình thức: theo hình thức chung của hợp đồng

Nội dung: hàng hóa cho thuê, thời hạn, việc cho thuê lại, thù lao…

Khái niệm:

Câu 38: Trình bày khái niệm dịch vụ giám định thương mại và giá trị pháp lí của chứng thư giám định

Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng. (Điều 254)

Giá trị pháp lí của chứng thư giám định

Chứng thư giám định là văn bản xác định tình trạng thực tế của hàng hóa, dịch vụ theo các nội dung giám định được khách hàng yêu cầu

Giá trị pháp lí:

Điều kiện: phải có chữ ký của người đại diện có thẩm quyền của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, chữ ký, họ tên của giám định viên và phải được đóng dấu nghiệp vụ được đăng ký tại cơ quan có thẩm quyền.

Phạm vi: chỉ có giá trị đối với những nội dung được giám định.

Không có giá trị pháp lí trong trường hợp: bên yêu cầu hoặc các bên trong hợp đồng chứng minh được kết quả giám định không khách quan, trung thực hoặc sai về kĩ thuật, nghiệp vụ giám định. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm về tính chính xác của kết quả và kết luận trong chứng thư giám định.

Chứng thư giám định có giá trị pháp lí đối với bên yêu cầu giám định, với các bên trong hợp đồng nếu các bên có thỏa thuận về việc sử dụng chứng thư giám định của một thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định. Nếu các bên trong hợp đồng không thỏa thuận về việc sử dụng dịch vụ giám định của 1 thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định này thì chứng thư giám định chỉ có giá trị với một bên yêu cầu, bên kia có thể yêu cầu giám định lại, nếu kết quả giám định 2 lần khác nhau mà thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định lần 1 thừa nhận kết quả lần 2 thì theo kết quả lần 2, nếu thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định lần 1 không thừa nhận thì các bên trong hợp đồng phải thỏa thuận lại để chọn 1 thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thứ 3 và kết quả giám định này có giá trị với tất cả các bên trong hợp đồng.

Khái niệm:

Câu 39: Phân tích các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại:

Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng.

Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 257 Luật Thương mại, bao gồm:

Phải được tổ chức dưới hình thức doanh nghiệp. Các thương nhân khác không phải là doanh nghiệp (như: tổ hợp tác, hộ kinh doanh cá thể) sẽ không được kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa.

Được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại.

Là doanh nghiệp hoạt động độc lập và chuyên kinh doanh dịch vụ giám định thương mại. Các doanh nghiệp này không được cung ứng dịch vụ thương mại và mua bán hàng hóa trừ các hàng hóa phục vụ cho việc kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa của doanh nghiệp. Mục đích của quy định này để đảm bảo tính độc lập, khách quan của của hoạt động giám định thương mại do thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định tiến hành.

Có giám định viên có trình độ chuyên môn; có quy trình, phương pháp giám định trong lĩnh vực hàng hóa, dịch vụ được yêu cầu giám định. Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có quyền ra quyết định công nhận giám định viên đối với người có đủ tiêu chuẩn theo quy định của của pháp luật và chịu trách nhiệm về việc giám định của giám định viên của mình.

Các thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại còn phải tiến hành việc đăng ký đấu nghiệp vụ theo tiêu chuẩn tại khoản 2 Điều 8 Nghị định 20/2006/NĐ-CP. Việc lập hồ sơ đăng kí theo quy định tại khoản 1 Điều 10 Nghị định 20/2006/NĐ-CP và nộp tại Sở thương mại nơi thương nhân đó đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 9 Nghị định 20/2006/NĐ-CP).

Tổ chức giám định đã hoạt động ít nhất 18 tháng kể từ ngày được cấp giấy đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định.

Có giám định viên đạt tiêu chuẩn quy định trong Nghị định 20/2006/NĐ-CP của Chính phủ.

Có đủ phương tiện kỹ thuật, thử nghiệm được các chỉ tiêu quan trọng chủ yếu của hàng hoá đăng ký kiểm tra.

Có quy trình nghiệp vụ kỹ thuật giám định phù hợp với hàng hoá cần được giám định theo trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Được cấp một trong ba loại chứng chỉ (đang còn thời hạn hiệu lực) sau đây:

Chứng chỉ công nhận tổ chức phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN/ISO/IEC 17020:2001 do Văn phòng Công nhận Chất lượng thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp đối với lĩnh vực hàng hoá đăng ký được kiểm tra.

Chứng chỉ công nhận Phòng thử nghiệm phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN/ISO/IEC 17025:2002 do Văn phòng Công nhận Chất lượng thuộc Tổng cục Tiêu chuẩn Đo lường Chất lượng cấp đối với phạm vi thử nghiệm các chỉ tiêu cơ bản của hàng hoá đăng ký được kiểm tra.

Chứng chỉ chứng nhận hệ thống quản lý chất lượng đối với hoạt động giám định phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam ISO 9000 do các Tổ chức chứng nhận cấp.

Quyền và nghĩa vụ của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Như vậy, kinh doanh dịch vụ giám định là loại hình kinh doanh có điều kiện,một thương nhân muốn hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định phải được Sở Kế hoạch Đầu tư của các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương cấp giấy phép. Thương nhân là người nước ngoài chỉ được thực hiện dịch vụ giám định hàng hoá tại Việt Nam hoặc được thành lập chi nhánh tại Việt Nam khi được cơ quan nhà nước có thẩm quyền cho phép, phù hợp với Luật Thương mại và Luật Đầu tư nước ngoài Các thương nhân có quyền cung cấp dịch vụ giám định cho khách hàng theo đúng quy định trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh do cơ quan nhà nước có thẩm quyền cấp. Tuy nhiên, làm thế nào để biết được một thương nhân có đủ năng lực kỹ thuật và năng lực quản lý để cung cấp dịch vụ giám định thông qua các chứng thư giám định là có chất lượng và đáng tin cậy? Điều này chỉ có thể được giải quyết thông qua hoạt động công nhận năng lực giám định của một cơ quan độc lập, khách quan tiến hành.

Quyền

Nghĩa vụ

Khái niệm:

Câu 40: Trình bày khái niệm về gia công hàng hóa trong thương mại. Phân biệt hợp đồng gia công với hợp đồng hợp tác kinh doanh.

Phân biệt Gia công với Hợp tác trong kinh doanh

Gia công trong thương mại là hoạt động thương mại, theo đó bên nhận gia công sử dụng một phần hoặc toàn bộ nguyên liệu, vật liệu của bên đặt gia công để thực hiện một hoặc nhiều công đoạn trong quá trình sản xuất theo yêu cầu của bên đặt gia công để hưởng thù lao. (178 Luật Thương mại)

* Giống: Đều cùng hợp tác để tạo nên sản phẩm

* Khác:

Tiêu chí

Mục đích lợi nhuận

– Hợp đồng gia công:chỉ có ở bên nhận gia công

– Hợp đồng hợp tác kinh doanh:ở cả 2 bên

Đối tượng

– Hợp đồng gia công:Bên nhận gia công là thương nhân, còn lại có thể không

– Hợp đồng hợp tác kinh doanh:Cả 2 đều là thương nhân

Phân chia lợi nhuận

– Hợp đồng gia công:Bên nhận gia công được trả thù lao

– Hợp đồng hợp tác kinh doanh:Chia % đối với lợi nhuận

Câu 41: Phân tích các đặc điểm của chế tài thương mại theo qui định của Luật Thương mại và các căn cứ áp dụng đối với từng loại chế tài.

Đặc điểm: Chế tài thương mại được hiểu theo 2 nghĩa:

– Nghĩa rộng: Là chế tài áp dụng đối với những tổ chức, cá nhân có hành vi vi phạm pháp luật trong hoạt động thương mại (đối với tổ chức, cá nhân quy định tại Điều 320 -LTM – Đối với cả những hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại).

+ Áp dụng với hành vi vi phạm hợp đồng đã có hiệu lực.

+ Nội dung gắn liền với việc thực hiện nghĩa vụ theo hợp đồng và trách nhiệm về tài sản.

+ Do cơ quan có thẩm quyền áp dụng hoặc do bên bị vi phạm áp dụng.

Câu 42: Phân tích đặc điểm của tranh chấp thương mại và nêu khái quát 4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại.

Tranh chấp thương mại là những mâu thuẫn (bất đồng hay xung đột) về quyền và nghĩa vụ giữa các bên trong quá trình thực hiện hoạt động thương mại.

Đặc điểm:

Tranh chấp thương mại phải hội tụ đủ các yếu tố:

Là những mâu thuẫn bất đồng về quan điểm của các bên trong mối quan hệ cụ thể.

Phát sinh từ hoạt động thương mại

Phát sinh chủ yếu giữa các thương nhân

4 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại

Thương lượng: Là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại thông qua việc các bên cùng nhau bàn bạc, tự dàn xếp, tháo gỡ những bất đồng phát sinh để loại bỏ tranh chấp mà không cần có sự trợ giúp hay phán quyết của bất kì bên thứ 3 nào.

Hòa giải: Là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại với sự tham gia của bên thứ 3 làm trung gian hòa giải để hỗ trợ, thuyết phục các bên tranh chấp tìm kiếm các giải pháp nhằm loại trừ tranh chấp đã phát sinh.

Trọng tài thương mại: Là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định.

Tòa án: Là phương thức giải quyết tranh chấp thương mại tại cơ quan xét xử nhân danh quyền lực Nhà nước, được tiến hành theo trình tự, thủ tục nghiêm ngặt, chặt chẽ và bản án hay quyết định của Tòa án về vụ tranh chấp nếu không có sự tự nguyện tuân thủ sẽ được bảo đảm thi hành bằng sức mạnh cưỡng chế của Nhà nước.

Khái niệm:

Câu 43: Phân tích khái niệm của trọng tài thương mại và phân biệt hai hình thức trọng tài thương mại

Trọng tài thương mại là phương thức giải quyết tranh chấp phát sinh trong hoạt động thương mại được các bên thỏa thuận và được tiến hành theo trình tự, thủ tục tố tụng do Pháp lệnh Trọng tài thương mại quy định.

Phân biệt hai hình thức trọng tài thương mại

Là một phương thức giải quyết tranh chấp thương mại.

Do các bên thỏa thuận: linh hoạt, mềm dẻo trong thủ tục, bảo đảm tối đa quyền tự định đoạt của các bên và bảo đảm uy tin cho các bên, giữ gìn bí mật kinh doanh cho các bên.

Không có cơ chế riêng cho việc bảo đảm thực thi phán quyết.

Khái niệm

– Trọng tài vụ việc: Là phương thức trọng tài do các bên tranh chấp thỏa thuận thành lập để giải quyết vụ việc giữa các bên và trọng sẽ chấm dứt sự tồn tại khi giải quyết xong vụ tranh chấp.

– Trọng tài thường trực (quy chế):Là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường xuyên, có trụ sở và điều lệ và có quy tắc xét xử riêng.

Tổ chức

– Trọng tài vụ việc: Không có tổ chức, không có bộ máy, không có trụ sở, không có qui chế riêng, không có nguyên tắc tố tụng

– Trọng tài thường trực (quy chế): Tổ chức thành trung tâm trọng tài, có tư cách pháp nhân, là tổ chức phi chính phủ, có qui chế riêng.

Thành lập và giải thể

– Trọng tài vụ việc:

Thành lập khi các bên phát sinh tranh chấp thỏa thuận lựa chọn

Chấm dứt khi giải quyết xong vụ việc

– Trọng tài thường trực (quy chế):

Thành lập và chấm dứt theo các qui định của pháp lệnh trọng tài

Câu 44: Phân tích đặc điểm, ưu điểm, hạn chế của 2 hình thức giải quyết tranh chấp thương mại: Thương lượng và hòa giải.

* Đặc điểm

Về cơ chế

– Thương lượng: Các bên tranh chấp tự gặp nhau bàn bạc thỏa thuận

– Hòa giải: Có sự hiện diện của bên thứ ba làm trung gian để trợ giúp các bên tìm kiếm giải pháp tối ưu nhằm loại trừ tranh chấp

Về quá trình

– Thương lượng và hòa giải: Không chịu bất kì ràng buộc của nguyên tắc pháp lí hay qui định khuôn mẫu nào về giải quyết tranh chấp

Về kết quả

– Thương lượng và hòa giải: Kết quả hoàn toàn phụ thuộc vào các bên và không được bảo đảm thi hành

* Ưu điểm

– Thương lượng và hòa giải:

Đơn giản, hiệu quả, nhanh chóng, thuận tiện, ít tốn kém

Bảo vệ uy tín cho các bên tranh chấp, bảo vệ bí mật kinh doanh

– Hòa giải: Cơ hội thành công cao hơn vì có người thứ ba

* Nhược điểm

– Thương lượng và hòa giải: Không được đảm bảo bởi cơ chế bắt buộc

– Hòa giải: Uy tín, bí mật kinh doanh vẫn bị ảnh hưởng; Tốn kém chi phí dịch vụ cho người thứ 3

Câu 45: Phân tích đặc điểm của trọng tài thương mại thường trực. Phân biệt trọng tài thương mại thường trực và trọng tài kinh tế nhà nước trước đây.

Đặc điểm: * Phân biệt trọng tài thương mại thường trực và trọng tài kinh tế nhà nước trước đây Khái niệm

Trọng tài thường trực là trọng tài có tổ chức được thành lập để hoạt động một cách thường xuyên, có trụ sở và điều lệ và có quy tắc xét xử riêng.

– Trọng tài thường trực: được tổ chức dưới dạng các t.tâm trọng tài, là tổ chức phi chính phủ, có tư cách pháp nhân, có con dâu riêng, có tài khoản riêng và trụ sở giao dịch ổn định

Đặc điểm

– Trọng tài vụ việc: Là p.thức do các bên tr/chấp thỏa thuận t.lập để g.quyết vụ tr.chấp giữa các bên & t.tài sẽ tự chấm dứt h.động khi g.quyết xong vụ tr.chấp

– Trọng tài thường trực:

+ Là tổ chức phi chính phủ (tổ chức xã hội- nghề nghiệp), không nằm trong hệ thống cơ quan nhà nước. t.lập theo sáng kiến của t.tài viên, h.động theo n.tắc tự trang trải kinh phí

+ Mỗi t.tâm t.tài tự q.định lĩnh vực h.động & có q.tắc tt riêng.(các t.tâm tt tồn tại độc lập nhau)

+ Có tư cách pháp nhân, tồn tại độc lập với nhau.

+ Tổ chức ở các t.tâm tt rất đơn giản gọn nhẹ (gồm ban điều hành và các ttv)

+ Hoạt động xx của các t.tâm tt được tiến hành bởi các t.tài viên của t.tâm

– Trọng tài vụ việc:

+ Chỉ được t.lập khi phát sinh tr.chấp & tự chấm dứt hoạt động

+ không có trụ sở thường trực, không có bộ máy điều hành & không có danh sách t.tài viên riêng.

Khái niệm:

Câu 46: Khái niệm, đặc điểm của trung tâm trọng tài thương mại thường trực. Hãy làm rõ bản chất phi chính phủ của tổ chức trọng tài thường trực

Đặc điểm: Bản chất phi chính phủ được thể hiện ở những điểm sau:

Là một tổ chức phi chính phủ, hoạt động với tư cách là 1 tổ chức nghề nghiệp, do các trọng tài viên thành lập ra để giải quyết các tranh chấp thương mại

Việc thành lập là do sáng kiến của trọng tài viên (ít nhất là 5 người, những người đủ tiêu chuẩn trọng tài viên) được hội luật gia Việt Nam giới thiệu, bộ tư pháp chỉ xem xét quyết định cấp giấy phép thành lập (chứ không ra quyết định thành lập)

Kinh phí hoạt động không từ ngân sách nhà nước.

Nhân danh 1 bên thứ ba ra phán quyết

Không mang tính quyền lực nhà nước

Câu 47: Nêu và phân tích 2 căn cứ xác định thẩm quyền của trọng tài thương mại (cụ thể là qui định của pháp luật về thẩm quyền của trọng tài thương mại và thỏa thuận trọng tài).

Một tranh chấp thuộc thẩm quyền giải quyết của trọng tài thương mại nếu như có cả hai căn cứ sau:

Tranh chấp phải là tranh chấp thương mại: một tranh chấp có thể được giải quyết bằng trọng tài thương mại phải là tranh chấp thương mại theo qui định của pháp luật, nếu không phải là tranh chấp thương mại theo qui định của pháp luật thì các bên không thể giải quyết bằng trọng tài thương mại. Ngay cả khi có thỏa thuận trọng tài mà tranh chấp không thuộc lĩnh vực thương mại thì thỏa thuận trọng tài cũng vô hiệu và trọng tài không thể có thẩm quyền giải quyết Giữa các bên tranh chấp phải có thỏa thuận trọng tài: thỏa thuận trọng tài phải chỉ rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài nào có thẩm quyền giải quyết. Nếu không có thỏa thuận trọng tài thì trọng tài không có thẩm quyền giải quyết vì thẩm quyền của trọng tài là thẩm quyền về vụ việc không giống với thẩm quyền của tòa án.

Thỏa thuận trọng tài cũng phải không vô hiệu thì trọng tài mới có thẩm quyền giải quyết.

Câu 48: Nêu và phân tích 5 nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài thương mại. So sánh với các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của tòa án.

Nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại bằng trọng tài

Thỏa thuận trọng tài: Khác với giải quyết tranh chấp tại tòa án, các bên phải cùng đồng ý về việc giải quyết tranh chấp tại trọng tài, nguyên tắc chung là không có thỏa thuận trọng tài, không có tố tụng trọng tài. Thỏa thuận trọng tài có thể là thỏa thuận riêng hoặc thỏa thuận trong hợp đồng, có thể trước hoặc sau khi có tranh chấp. Nhưng tóm lại là nếu không có thỏa thuận trọng tài hoặc thỏa thuận trọng tài vô hiệu thì thẩm quyền giải quyết không thuộc về trọng tài.

Trọng tài viên độc lập, vô tư, khách quan: Đây là vấn đề được đặc biệt quan tâm. Trọng tài viên phải đáp ứng những điều kiện nhất định để chứng tỏ rằng họ vô tư, khách quan, độc lập, và trọng tài viên sẽ không được giải quyết các tranh chấp trong trường hợp, họ đồng thời là người thân thích của một bên hoặc đại diện của bên đó; có lợi ích trong vụ tranh chấp; có căn cứ rõ ràng cho thấy Trọng tài viên không vô tư, khách quan trong khi làm nhiệm vụ.

Từ khi được chọn hoặc được chỉ định và trong quá trình tố tụng trọng tài, Trọng tài viên phải thông báo công khai và kịp thời những việc có thể gây nghi ngờ về tính khách quan, vô tư của mình. Trọng tài viên không bị chi phối bởi bất kỳ tổ chức, cá nhân nào. Quyết định của trọng tài viên phải đúng với sự thật khách quan. Nếu trọng tài viên không vô tư, không khách quan trong việc giải quyết tranh chấp vi phạm nghĩa vụ của trọng tài viên thì quyết định của hội đồng trọng tài có trọng tài viên đó (hoặc của trọng tài viên duy nhất giải quyết tranh chấp) sẽ bị hủy.

So sánh với các nguyên tắc giải quyết tranh chấp thương mại của tòa án

Trọng tài viên phải căn cứ vào pháp luật: Để giải quyết công bằng và hợp lí, bảo vệ quyền và lợi ích của các bên thì cần phải tuân theo các qui định của pháp luật. (Về nguyên tắc áp dụng pháp luật để giải quyết tranh chấp đã được ghi tại Điều 7)

Trọng tài viên phải tôn trọng sự thỏa thuận của các bên: Một trong những ưu điểm của việc giải quyết tranh chấp thương mại theo thủ tục trọng tài là các bên có tranh chấp được đảm bảo thỏa tối đa quyền tự do định đoạt trên nhiều phương diện trong quá trình giải quyết. các bên có thể thỏa thuận về thủ tục giải quyết và các trọng tài viên phải tôn trọng điều này, nếu không quyết định trọng tài sẽ bị hủy theo yêu cầu của các bên.

Giải quyết một lần: Quyết định của trọg tài có giá trị chung thẩm, không bị kháng cáo, kháng nghị. Nếu quyết định trọng tài không bị tòa hủy bỏ theo đơn yêu cầu của một trong các bên mà bên phải thi hành không tự nguyện thi hành thì sau thời hạn 30 ngày kể từ ngày hết thời hạn thi hành quyết định trọng tài, bên được thi hành có quyền làm đơn yêu cầu cơ quan thi hành án cấp tỉnh nơi có trụ sở, nơi cư trú hoặc nơi có tài sản của bên phải thi hành, thi hành quyết định trọng tài.

– Nguyên tắc các chủ thể giải quyết phải vô tư, khách quan, độc lập và chỉ căn cứ theo pháp luât.(pháp luật TTDS có nguyên tắc bảo đảm sự vô tư của người tiến hành tố tụng).

– Nguyên tắc tôn trọng sự thỏa thuận trong TT trọng tài giống nguyên tắc đảm bảo quyền tự định đoạt trong Tttòa án.

– Đều bảo đảm quyền bảo vệ của các bên tranh chấp (TTTTài các bên có quyền mời luật sư giống trong TTTA).

Tố tụng trọng tài

– chỉ có sự tham gia của trọng tài, các bên tranh chấp, có thể có luật sư, không hội thẩm

– giải quyết không công khai, quyết định của trọng tài không được công khai, đảm bảo uy tín của các bên

– Nguyên tắc chỉ giải quyết 1 lần, quyết định của trọng tài là quyết định chung thẩm, có hiệu lực pl ngay, không bị kháng cáo, kháng nghị

– Nguyên tắc tự định đoạt của các đương sư:

+ các đương sự có quyền thỏa thuận trong mọi vấn đề, lựa chọn trọng tài viên giải quyết, lựa chọn thời gian, địa điểm giải quyết

+ chỉ khi có thỏa thuận thì mới có tố tụng trọng tài

– không có nguyên tắc này: các bên tự hòa giải hoặc yêu cầu Ttài hòa giải chứ không bắt buộc Trọng tài tổ chức hòa giải

Tố tụng tòa án

– Nguyên tắc xét xử có hội thẩm nhân dân tham gia

– Nguyên tắc xét xử công khai đảm bảo xxử minh mạch, đúng pháp luật

– Nguyên tắc thực hiện chế độ 2 cấp xét xử: bản án sơ thẩm có thể bị kcáo,knghị theo thủ tục phúc thẩm.bên cạnh đó còn ngtắc giám đốc việc xét xử

+ phạm vi thực hiện quyền hẹp hơn, phải tuân theo trình tự, thủ tục tố tụng nghiêm ngặt, không được lựa chọn người tiến hành tố tụng cũng như địa điểm, thời gian giải quyết tranh chấp

+ chỉ cần 1 trong hai bên khởi kiện ra tòa thì sẽ tiến hành tố tụng Tòa án

Câu 49: Phân tích khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại (đối với trọng tài vụ việc). Nêu ít nhất 3 điểm khác biệt với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại trọng tài thường trực

– Nguyên tắc trách nhiệm hòa giải của Tòa án: trong tTDS hòa giải là một chế định bắt buộc, trc khi mở phiên tòa sơ thẩm, Tòa án phải tổ chức hòa giải, nếu không thành công thì mới đưa ra xử

Khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại đối với trọng tài vụ việc

Đơn kiện: Nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi cho bị đơn, đơn kiện phải được gửi trong thời hiệu pháp luật qui định đối với từng loại tranh chấp

Bản tự bảo vệ của bị đơn: nếu không có thỏa thuận gì khác, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày nhận được đơn kiện của nguyên đơn bị đơn phải làm bản tự bảo vệ gửi cho nguyên đơn và tên trọng tài viên mà mình lựa chọn, chứng cứ có thể gửi sau 30 ngày nhưng phải trước ngày hội đồng trọng tài mở phiên họp.

Thành lập hội đồng trọng tài: các bên thành lập hội đồng trọng tài với sự giúp đỡ của tòa án. Nếu bị đơn không chọn trọng tài viên thì nguyên đơn yêu cầu tòa án cấp tỉnh nơi bị đơn cư trú hoặc có trụ sở chỉ định trọng tài viên. Trong thời hạn 7 ngày kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu chánh án giao cho một thẩm phán chỉ định trọng tài viên cho bị đơn và thông báo cho các bên. Trong thời hạn 15 ngày 2 trọng tài viên được 2 bên chọn thống nhất chọn trọng tài viên thứ 3 làm chủ tịch, không được thì yêu cầu tòa án chỉ định Các thủ tục tiếp theo giống trọng tài thường trực

Điểm khác biệt:

Do tòa án giúp thành lập và do trung tâm trọng tài tự thành lập

Trọng tài viên bất kì, trọng tài viên thuộc trung tâm

Không lưu hồ sơ và lưa hồ sơ tại trung tâm Câu 50: Phân tích khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại (đối với trọng tài thường trực). Nêu ít nhất 3 điểm khác biệt với trình tự, thủ tục giải quyết tranh chấp thương mại tại tòa án.

1. Đơn kiện và thụ lí đơn kiện

Khái quát trình tự, thủ tục tố tụng trọng tài thương mại đối với trọng tài thường trực

Để giải quyết vụ tranh chấp tại trung tâm trọng tài, nguyên đơn phải làm đơn kiện gửi đến đúng trung tâm trọng tài mà các bên đã thỏa thuận lựa chọn. kèm theo là bản chính hoặc bản sao thỏa thuận trọng tài hoặc các bản sao tài liệu chứng cứ và nộp tạm ứng phí nếu không có thỏa thuận khác Thời hiệu theo pháp luật qui định hoặc là 2 năm nếu không qui định Nguyên đơn có thể sửa đổi, bổ sung, rút đơn kiện trước khi hội đồng trọng tài ra quyết định trọng tài.

Tố tụng trọng tài tại trung tâm trọng tài bắt đầu từ khi trung tâm trọng tài nhận được đơn kiện.

2. Tự bảo vệ của bị đơn:

Trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ khi nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện của nguyên đơn và những tài liệu kèm theo mà nguyên đơn cung cấp và danh sách trọng tài viên của trung tâm.

Nếu các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo của nguyên đơn do Trung tâm

3. Thành lập hội đồng trọng tài tại trung tâm trọng tài

Trọng tài gửi đến, bị đơn phải gửi cho Trung tâm Trọng tài bản tự bảo vệ. trong đó có tên trọng tài viên mà mình lựa chọn. Thời hạn bị đơn phải gửi bản tự bảo vệ kèm theo chứng cứ có thể dài hơn ba mươi ngày, nhưng phải trước ngày Hội đồng Trọng tài mở phiên họp.

Trong trường hợp các bên không có thoả thuận khác thì trong thời hạn năm ngày làm việc, kể từ ngày nhận được đơn kiện, Trung tâm Trọng tài phải gửi cho bị đơn bản sao đơn kiện, tên Trọng tài viên mà nguyên đơn chọn và các tài liệu kèm theo cùng với danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Nếu các bên không

có thoả thuận khác thì trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn kiện và các tài liệu kèm theo do Trung tâm Trọng tài gửi đến, bị đơn phải chọn Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài và báo cho Trung tâm Trọng tài biết hoặc yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên cho mình. Hết thời hạn này, nếu bị đơn không chọn Trọng tài viên hoặc không yêu cầu Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn quy định tại khoản này, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho bị đơn.

Trong trường hợp vụ tranh chấp có nhiều bị đơn thì các bị đơn phải thống nhất chọn một Trọng tài viên trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu chọn Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài. Hết thời hạn này, nếu các bị đơn không chọn được Trọng tài viên thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên có tên trong danh sách

Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài cho các bị đơn.

Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày hai Trọng tài viên được các bên chọn hoặc được Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định, các Trọng tài viên này phải chọn Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài. Hết thời hạn này, hai Trọng tài viên được

chọn hoặc được chỉ định không chọn được Trọng tài viên thứ ba thì trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày hết hạn, theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên thứ ba có tên trong danh sách Trọng tài viên của Trung tâm Trọng tài làm Chủ tịch Hội đồng Trọng tài.

Trong trường hợp các bên thoả thuận vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất của Trung tâm Trọng tài giải quyết, nhưng không chọn được Trọng tài viên thì theo yêu cầu của một bên, Chủ tịch Trung tâm Trọng tài chỉ định Trọng tài viên duy nhất cho các bên trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu và thông báo cho các bên.

Trọng tài viên duy nhất làm nhiệm vụ như một Hội đồng Trọng tài. Quyết định của Trọng tài viên duy nhất có hiệu lực thi hành như quyết định của Hội đồng Trọng tài.

4. Chuẩn bị giải quyết

Sau khi đã chọn trọng tài viên, các bên mới phát hiện trọng tài viên do mình lựa chọn thuộc trường hợp cần phải thay đổi trọng tài viên thì việc thay đổi Trọng tài viên do các Trọng tài viên khác trong Hội đồng Trọng tài quyết định. Trong trường hợp không quyết định được hoặc nếu hai Trọng tài viên hay Trọng tài viên duy nhất từ chối giải quyết vụ tranh chấp thì chủ tịch trung tâm trọng tài quyết định. Trong quá trình tố tụng trọng tài, nếu trọng tài viên khôg thể tiếp tục tham gia thì việc thay đổi trọng tài viên cũng được giải quyết theo trình tự này.

5. Hòa giải

Để tiến hành giải quyết tranh chấp mà trung tâm trọng tài đã nhận đơn, các trọng tài viên sau khi được chọn hoặc chỉ định phải tiến hành các công việc cần thiết cho việc giải quyết là: nghiên cứu hồ sơ, xác minh sự việc, thu thập chứng cứ.

Hòa giải không phải là một nguyên tắc bắt buộc đối với tố tụng trọng tài Trong quá trình tố tụng trọng tài, các bên có thể tự hoà giải. Trong trường hợp hoà giải thành thì theo yêu cầu của các bên, Hội đồng Trọng tài sẽ đình chỉ tố tụng.

Các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài tiến hành hoà giải. Trong trương hợp hoà giải thành thì các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài lập biên bản hoà giải thành và ra quyết định công nhận hoà giải thành. Biên bản hoà giải thành phải được các bên và các Trọng tài viên ký. Quyết định công nhận hoà giải thành của Hội đồng Trọng tài là chung thẩm và được thi hành

Tổ chức phiên họp giải quyết tranh chấp và quyết định trọng tài

Trong tố tụng trọg tài tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên nên các bên có thể thỏa thuận cả thời gian giải quyết tranh chấp tức là các bên quyết định khi nào tổ chức phiên họp giải quyết, hội đồng trọng tài phải tôn trọng quyết định đó và chỉ khi các bên không có thỏa thuận thì chủ tịch hội đồng trọng tài mới quyết định thời gian mở phiên họp

Khi Chủ tịch Hội đồng Trọng tài quyết định thời gian mở phiên họp thì Giấy triệu tập các bên tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp phải gửi cho các bên chậm nhất ba mươi ngày trước ngày mở phiên họp, nếu các bên không có thoả thuận khác.

Phiên họp giải quyết vụ tranh chấp không công khai. Trong trường hợp có sự đồng ý của các bên, Hội đồng Trọng tài có thể cho phép những người khác tham dự phiên họp.

Các bên có thể trực tiếp hoặc uỷ quyền cho người đại diện tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Các bên có quyền mời nhân chứng, luật sư bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình.

Các bên hoặc người đại diện cho các bên phải tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp nếu khôg yêu cầu HĐTT giải quyết vắng mặt Nếu Nguyên đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì được coi là đã rút đơn kiện. Trong trường hợp này, Hội đồng Trọng tài tiếp tục giải quyết vụ tranh chấp nếu bị đơn yêu cầu hoặc có đơn kiện lại Bị đơn đã được triệu tập tham dự phiên họp giải quyết vụ tranh chấp mà không tham dự phiên họp không có lý do chính đáng hoặc bỏ phiên họp mà không được Hội đồng Trọng tài đồng ý thì Hội đồng Trọng tài vẫn tiến hành giải quyết vụ tranh chấp căn cứ vào tài liệu và chứng cứ hiện có.

Trong trường hợp các bên yêu cầu, Hội đồng Trọng tài có thể căn cứ vào hồ sơ để giải quyết vụ tranh chấp mà không cần các bên có mặt.

Trường hợp có lý do chính đáng, các bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp. Hội đồng Trọng tài phải hoãn phiên họp giải quyết vụ tranh chấp nếu xét thấy chưa đủ cơ sở để giải quyết vụ tranh chấp Toàn bộ diễn biến của phiên họp phải lập thành bb, kết thúc giải quyết tranh chấp hội đồng trọng tài phải đưa ra quyết định của hội đồng trọng tại (quyết định trọng tài của Hội đồng Trọng tài được lập theo nguyên tắc đa số, trừ trường hợp vụ tranh chấp do Trọng tài viên duy nhất giải quyết. Ý kiến của thiểu số được ghi vào biên bản phiên họp)

Quyết định trọng tài có thể được công bố ngay tại phiên họp cuối cùng hoặc sau đó, nhưng chậm nhất là sáu mươi ngày, kể từ ngày kết thúc phiên họp cuối cùng.

Toàn văn quyết định trọng tài phải được gửi cho các bên ngay sau ngày công bố.

Theo yêu cầu của các bên, Trung tâm Trọng tài hoặc Hội đồng Trọng tài do các bên thành lập cấp cho bên có yêu cầu bản sao quyết định trọng tài. Trong thời hạn mười lăm ngày, kể từ ngày nhận được quyết định trọng tài, một bên có thể yêu cầu Hội đồng Trọng tài sửa chữa những lỗi về tính toán, lỗi đánh máy, lỗi in hoặc những lỗi kỹ thuật khác. Trong thời hạn ba mươi ngày, kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu, Hội đồng Trọng tài tiến hành sửa chữa và phải thông báo cho bên kia. Quyết định sửa chữa là một phần của quyết định trọng tài và phải được Hội đồng Trọng tài ký.

Điểm khác biệt

Hòa giải: bắt buộc và không bắt buộc

Xét xử công khai và giải quyết không công khai

Được lựa chọn và không được lựa chọn người giải quyết

Câu 51: Phân tích nội dung, thời điểm và hình thức của thỏa thuận trọng tài. Nêu và cho ví dụ về các trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu Thỏa thuận trọng tài là thỏa thuận giữa các bên cam kết giải quyết bằng trọng tài các vụ tranh chấp có thể phát sinh hoặc đã phát sinh trong hoạt động thương mại.

Nội dung: cam kết của các bên về các việc sau: đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài được giải quyết tranh chấp.

Thời điểm: có thể lập trước hay sau khi có tranh chấp

Trường hợp thỏa thuận trọng tài vô hiệu

Hình thức: văn bản hoặc tương đương (telex, điện báo, thư, fax, email…), có thể là một thỏa thuận riêng hoặc 1 điều khoản trọng tài trong hợp đồng.

Tranh chấp phát sinh không phải là tranh chấp thương mại

Người ký thoả thuận trọng tài không có thẩm quyền ký kết theo quy định của pháp luật;

Một bên ký kết thoả thuận trọng tài không có năng lực hành vi dân sự đầy đủ;

Thoả thuận trọng tài không quy định hoặc quy định không rõ đối tượng tranh chấp, tổ chức trọng tài có thẩm quyền giải quyết vụ tranh chấp mà sau đó các bên không có thoả thuận bổ sung;

Thoả thuận trọng tài không đảm bảo về hình thức;

Bên ký kết thoả thuận trọng tài bị lừa dối, bị đe doạ và có yêu cầu tuyên bố thoả thuận trọng tài vô hiệu;

Bài Tập Tình Huống Luật Hình Sự Phần Tội Phạm (Có Đáp Án)

77380

M (nữ) cùng hai tên H và Q rủ L là một cô gái 17 tuổi cùng đi dự sinh nhật M tại một nhà nghỉ có phòng hát karaoke. Cả bốn cùng uống rượu, nhảy múa, H và Q còn pha thuốc kích dục vào đồ uống của mình. Một lát sau M rủ H là bạn trai của mình lên phòng nghỉ và đề nghị L cũng vào phòng nghỉ thành một cặp với Q. Tuy nhiên L từ chối và đòi về. M, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ. Thấy L vẫn tiếp tục nằng nặc từ chối M đã rút con dao đặt lên bàn và bảo “Mày thích gì? Có chiều Q không thì bảo?” L sợ quá đành đồng ý ở lại cùng Q. Sau đó Q đã thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn của L.

2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao? (2 điểm)

1. Tội hiếp dâm có cấu thành tội phạm vật chất hay cấu thành tội phạm hình thức? Trong trường hợp trên tội hiếp dâm đã hoàn thành chưa? Tại sao?

4. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao? (2 điểm)

Ta khẳng định tội hiếp dâm là tội có cấu thành tội phạm (CTTP) hình thức; như đã biết, dựa vào đặc điểm cấu trúc của các dấu hiệu thuộc mặt khách quan có thể chia CTTP thành CTTP vật chất và CTTP hình thức:

– CTTP vật chất là CTTP có dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả, mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả;

– CTTP hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Điểm khác nhau giữa CTTP vật chất và CTTP hình thức ở chỗ nhà làm luật quy định dấu hiệu hậu quả là dấu hiệu bắt buộc hay không phải là dấu hiệu bắt buộc trong CTTP. Việc xác định loại tội nào có CTTP vật chất hay có CTTP hình thức phải dựa vào quy định của luật. Nếu trong CTTP cơ bản của điều luật chỉ mô tả hành vi mà không mô tả hậu quả thì đó là tội phạm có CTTP hình thức, nếu trong CTTP cơ bản, nhà làm luật mô tả cả hành vi và hậu quả thì đó là tội phạm có CTTP vật chất.

Như ta thấy ở Điều 111 BLHS quy định về tội hiếp dâm: ” 1. Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ, thì bị phạt tù từ hai năm đến bẩy năm…“

2. Trong trường hợp này M có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?

Trong trường hợp trên thì tội hiếp dâm đã hoàn thành rồi. Vì M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng ngủ nhưng L vẫn tiếp tục từ chối sau đó M rút dao đe dọa L sợ quá nên L đồng ý ở lại cùng Q và sau đó Q đã thực hiện được hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Người phạm tội trong trường hợp này đã dùng vũ lực và sau đó là đe dọa dùng vũ lực buộc L phải đồng ý giao cấu trái muốn và Q đã thực hiện hành vi giao cấu với L. Như vậy, trong trường hợp này tội phạm đã hoàn thành.

Trong trường hợp phạm tội này M phải chịu trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm.

Đồng phạm được quy định tại Điều 20 BLHS như sau:

1. Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm.2. Người tổ chức, người thực hành, người xúi giục, người giúp sức đều là những người đồng phạm.Người thực hành là người trực tiếp thực hiện tội phạm.Người tổ chức là người chủ mưu, cầm đầu, chỉ huy việc thực hiện tội phạm.Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm.Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm..

Trường hợp phạm tội của M, H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu pháp lý của đồng phạm bao gồm mặt khách quan và mặt chủ quan:

Dấu hiệu về mặt khách quan: đó là phải có từ hai người trở lên tham gia vào việc thực hiện một tội phạm. Trong trường phạm tội trên thì M, H và Q cùng nhau thực hiện một tội phạm đó là tội hiếp dâm. M, H và Q đã dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ (thể hiện sự liên kết với nhau) để ép buộc L thực hiện hành vi giao cấu với Q. Hành vi này của M, H và Q đã cấu thành tội phạm cụ thể đó là tội hiếp dâm theo quy định tại khoản 1 Điều 111 BLHS. Tội phạm hiếp dâm là tội phạm cấu thành hình thức nên khi M, H và Q dùng hành vi vũ lực với L nhằm mục đích để Q giao cấu với L thì tội phạm hiếp dâm đã được cấu thành.

Dấu hiệu về mặt chủ quan: M, H và Q đã cố ý thực hiện hành vi tội phạm. Vềmặt lý tríM, H và Q có đủ khả năng nhận thức để thấy được hành vi dùng vũ lực nhằm thực hiện hành vi hiếp dâm của mình là nguy hiểm và trái với quy định của pháp luật và về mặt ý chí M, H mong muốn Q thực hiện hành vi giao cấu với L và Q cũng muốn thực hiện hành vi này. Như vậy, là họ mong muốn hậu quả xảy ra.

Căn cứ vào dấu hiệu khách quan và chủ quan đã phân tích ta có thể khẳng định M là đồng phạm của tội hiếp dâm. Nhưng trong trường hợp này M là nữ không có những đặc điểm cấu tạo sinh học như nam giới nên không thể thực hiện hành vi giao cấu nên ta phải xác định M giữ vai trò đồng phạm là người tổ chức, người xúi giục hay người giúp sức. Trong trường hợp này M giữ vai trò đồng phạm là người giúp sức. Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 thì: “Người giúp sức là người tạo những điều kiện tinh thần hoặc vật chất cho việc thực hiện tội phạm”. Người giúp sức là người tạo những điều kiện thuận lợi cho việc thực hiện tội phạm, có thể là giúp sức về vật chất hoặc tinh thần. M cùng H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng để tạo điều kiện cho Q giao cấu với L, sau đó Mdùng dao và lời nói mang tính chất đe dọa, nhằm cưỡng bức về tinh thần làm L sợ và không giám chống cự. Việc M cưỡng bức về tinh thần đối với L cũng nhằm tạo điều kiện thuận lợi cho Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L. Như vậy, chúng ta có thể kết luận cả hai hành vi dùng vũ lực và dùng dao cùng lời nói đe dọa nhằm tạo điều kiện để Q thực hiện hành vi giao cấu trái ý muốn với L thì M chính là người giúp sức.

Trong trường hợp trên ta có thể thấy H và Q đều phạm tội lỗi cố ý trực tiếp trong việc L bị giao cấu trái ý muốn.

Theo Điều 9 BLHS quy định :

Thứ nhất: Theo khoản 1 Điều 9 BLHS về lỗi cố ý trực tiếp:

1.Cố ý trực tiếp là lỗi của người phạm tội khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội, nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó và mong muốn hậu quả xảy ra.2. Lỗi cố ý gián tiếp là lỗi của người khi thực hiện hành vi nguy hiểm cho xã hội nhận thức rõ hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả của hành vi đó, tuy không mong muốn nhưng ý thức để mặc cho hậu quả xảy ra.

Xét về mặt lí trí: Người phạm tội nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và thấy trước hậu quả của hành vi đó

Tội hiếp dâm là loại tội có CTTP vật chất nên hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc nên vấn đề có thấy trước hay không thấy trước hậu quả không được đặt ra đối khi xem xét lí trí của người phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp. Trong trường hợp trên ta có thể thấy cả H và Q đều nhận thức được hậu quả nguy hiểm cho xã hội khi cảM, H và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ, L là cô gái chưa thành niên(17 tuổi), L không tự nguyện lên phòng nghỉ thành một cặp với Q (L đã từ chối và đòi về), địa điểm là phòng hát karaoke và việc dùng vũ lực kéo cô lên phòng đã thể hiện rõ tính chất nguy hiểm của hành vi của mình. Sự nhận thức rõ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi là cơ sở cho việc thấy trước hậu quả của hành vi.

Thứ hai: Xét về mặt ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả xảy ra.

Như vậy, xét về mặt lí trí thì trong tình huống trên cả H và Q đều thỏa mãn dấu hiệu của lỗi cố ý trực tiếp.

Đối với Q, việc nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình thì chứng tỏ chủ thể mong muốn thực hiện hành vi đó. Dùng vũ lực là dùng sức mạnh về thể chất như vật ngã, nắm giữ chân tay, kéo, xé quần áo của nạn nhân. Hành vi dùng vũ lực trong tội hiếp dâm cũng tương tự với hành vi dùng vũ lực ở một số tội phạm khác, nhưng ở tội hiếp dâm thì hàng vi dùng vũ lực là nhằm giao cấu với nạn nhân. Tội phạm được coi là hoàn thành từ thời điểm có hành động giao cấu, không cần căn cứ là đã giao cấu xong hay chưa. Xét tình huống trên thì thấy hành vi của Q là hành vi dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ để giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân.

Đối với H, H đã cùng với M và Q dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ, tức là H đã thực hiện hành vi có mục đích chứ không phải không mong muốn và để mặc cho hậu quảxảy ra. Mặc dù mục đích dùng vũ lực kéo L lên phòng nghỉ của H không nhằm mục đích giao cấu nhưng H nhận thức được tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi do mình gây ra. Tội hiếp dâm là tội có CTTP hình thức nên hậu quả nguy hiểm cho xã hội không được đặt ra. Chỉ cần người thực hiện hành vi nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó mà vẫn thực hiện hành vi đó. Như vậy, không thể cho rằng H có lỗi gián tiếp trong tình huống trên được.

4. Nếu sau khi M và H bỏ đi, L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu với L thì Q có phải chịu TNHS về tội hiếp dâm không? Tại sao?

Tóm lại, cả Q và H đều thỏa mãn dấu hiệu về lí trí và ý chí của lỗi cố ý trực tiếp,cả H và Q đều có lỗi cố ý trực tiếp của tội hiếp dâm. Vậy, ý kiến cho rằng trường hợp phạm tội này H chỉ có lỗi cố ý gián tiếp, còn Q có lỗi cố ý trực tiếp là sai.

Nếu sau khi M và H bỏ đi , L khóc lóc van xin Q tha cho mình và Q đã mủi lòng nên không thực hiện hành vi giao cấu của mình với L. Trong trường hợp này thì Q được miễn trách nhiệm hình sự về tội hiếp dâm. Vì hành vi của Q thuộc trường hợp tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội.

Theo Điều 19 BLHS : “Tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội là tự mình không thực hiện tội phạm đến cùng, tuy không có gì ngăn cản. Người tự ý nửa chừng chấm dứt việc phạm tội được miễn trách nhiệm hình sự về tội định phạm; nếu hành vi thực tế đã thực hiện có đủ yếu tố cấu thành của một tội khác thì người đó phải chịu trách nhiệm hình sự về tội này”.

Ta thấy rằng, quy định của tội hiếp dâm tại điều 111 BLHS có 2 loại hành vi khác nhau. Thứ nhất là loại hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng không thể tự vệ được của nạn nhân hoặc thủ đoạn khác” và loại hành vi thứ 2 là “giao cấu với nạn nhân trái ý muốn của họ”.

1. Trường đại học Luật Hà Nội, Giáo trình Luật hình sự Việt Nam, Tập I, Nxb.CAND, Hà Nội, 2009.

2. Nguyễn Ngọc Hòa, Tội phạm và cấu thành tội phạm, Nxb.CAND, Hà Nội, 2006, 2007, 2008.

3. Nguyễn Văn Hương, “Lỗi cố ý gián tiếp và tội phạm có cấu thành hình thức”, Tạp chí Luật học, số 4/2002.

4. Lê Thị Sơn, ” Khái niệm người thực hiện tội phạm và khái niệm người đồng phạm”, Tạp chí Luật học, số 1/1995.

Bài tập 2: Tình huống về hành vi chiếm đoạt tài sản

A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an.

Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:

1. H và Q phạm tội cướp tài sản;

2. H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;

Hỏi:

3. H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

Đáp án: 1. Ý kiến H và Q phạm tội cướp tài sản: ý kiến này là sai, vì các tình tiết của vụ án không đủ yếu tố cấu thành tội cướp tài sản

Hành vi của H, Q cấu thành tội gì? Tại sao?

Khoản 1 Điều 133 BLHS quy định về tội cướp tài sản như sau: “Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm”.

* Khách thể tội cướp tài sản:

Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhắm chiếm đoạt tài sản.

* Hành vi khách quan của tội cướp tài sản:

Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và Q lấy đi toàn bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến thân thể, đến tự do của chị B và hai người bạn hay nói cách khác là không xâm phạm đến quan hệ nhân thân. H và Q chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B.

Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là: Hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm chém… Hay có thể nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể sẽ nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa. Để xác định dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, ta thấy ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Hành vi khác làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi không phải dùng vũ lực, cũng không phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Để xác định hành vi này, trước hết xuất phát từ phía người bị hại phải là người bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bởi hành vi khác. Như vậy, hành vi khác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn công người bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được. Ví dụ như bỏ thuốc ngủ vào cốc nước cho người bị hại uống làm cho người đó ngủ say, bị mê mệt không biết gì sau đó mới chiếm đoạt tài sản của người bị hại…

Trong tình huống trên, H và Q không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay có hành vi nào khác làm cho chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được là do uống quá nhiều rượu nên say, việc chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không nhận thức, không chống cự được không có lỗi của H và Q. Vì vậy, trong tình huống này H và Q chỉ chiếm đoạt tài sản của chị B.

2. Ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản: ý kiến này cũng sai vì các tình tiết không cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản.

Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q không có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội cướp tài sản. Vì vậy ý kiến cho rằng H và Q phạm tội cướp tài sản là sai.

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 BLHS. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ.

Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh… Mặc dù tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa được các nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu nhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

– Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ;

– Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Trong trường hợp nếu chị B và hai người bạn không hẳn bị mê mệt mà vẫn có thể nhìn thấy hành vi chiếm đoạt tài sản của H và Q nhưng do quá say nên họ không thể ngăn cản hành vi của H và Q thì H và Q có thể bị cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Nhưng trong tình huống có ghi rõ “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…”, như vậy trong khi H và Q đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị B và hai người bạn không hề biết và nhìn thấy hành vi của H và Q, phải đến sáng hôm sau chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Như vậy, hành vi của H và Q không thể là công nhiên mà có hành vi lén lút, hành vi của H và Q chỉ có thể bị coi là công nhiên khi chị B hoặc hai người bạn của chị B tỉnh giấc nhận thấy chị B bị chiếm đoạt tài sản nhưng do quá say nên không có khả năng chống cự và H và Q vẫn công khai, trắng trợn lấy số nữ trang trên người chị B. Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng nó lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt, người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.

Các yếu tố cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản tại BLHS 2023 3. Ý kiến H và Q phạm tội trộm cắp tài sản: ý kiến này đúng, vì đủ yếu tố cấu thành tội trộm cắp tài sản.

Từ những phân tích trên, ta thấy H và Q không có đủ các dấu hiệu cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Vì vậy, ý kiến H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là sai.

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 138 BLHS. Điều 138 không mô tả những dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản mà chỉ nêu tội danh. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.

* Khách thể của tội trộm cắp tài sản:

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu.

* Hành vi khách quan:

Trong tình huống trên, H và Q không hề xâm hại đến quan hệ nhân thân của chị B và hai người bạn mà chỉ có hành vi xâm phạm đến tài sản của chị B, cụ thể là lấy đi toàn bộ số nữ trang bằng vàng của chị B.

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cành khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết

Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta có thể có một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù như sau:

– Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi có điều kiện sẽ lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản;

– Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác;

– Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc người tài sản không trực tiếp quản lý nên đã chiếm đoạt. Đặc trưng hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu lén lút. Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội xâm phạm sở hữu khác, dấu hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút. Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi có hành vi này xảy ra. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản, đối với những người khác, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản vẫn là công khai. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người phạm tội trong phần lớn vẫn là lén lút, che giấu đối với người khác.

Với sự liên hệ qua lại giữa các dấu hiệu này, giúp chúng ta dễ dàng tìm ra điểm đặc trưng của tội “Trộm cắp tài sản”, từ đó ta có cơ sở để quyết định H và Q phạm tội trộm cắp tài sản. Như vậy, căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội trộm cắp tài sản. Vì vậy, ý kiến cho rằng H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là đúng.

Do có mâu thuẫn trong kinh doanh, P đã nhờ Q đến đốt xưởng của N vào ban đêm. Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng. Hỏi:

Bài tập 2: Tình huống về hành vi hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

1. Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q. (2 điểm)

2. Giả sử khi đốt, Q không biết còn 1 công nhân của H bị say rượu ngủ quên trong xưởng nên đã gây ra hậu quả chết người. Q có phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của người công nhân này không? Tại sao? (3 điểm)

Bài làm: 1. Định tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của P, Q. 1.1 Tội danh và khung hình phạt áp dụng đối với hành vi của Q

3. Giả sử Q vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội cướp tài sản, chưa được xoá án tích lại thực hiện hành vi phạm tội nêu trên thì trường hợp phạm tội của Q là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm? Tại sao? (2 điểm)

* Hành vi của Q đã cấu thành Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo Điều 143 BLHS.

Mặt khách quan :

– Hành vi khách quan: Q đã có hành vi đốt xưởng của N, muốn là hư hại tài sản đó. Hành vi của Q là hành vi cố ý hủy hoại tài sản của người khác.

– Hậu quả của tội phạm: CTTP tội này đòi hỏi có hậu quả là tài sản bị hủy hoại hoặc bị làm hư hỏng. Tội phạm được coi là hoàn thành khi hậu quả này đã xảy ra.Hậu quả là toàn bộ nhà xưởng và máy móc của N đã bị thiêu rụi, thiệt hại 350 triệu đồng.

– QHNQ là dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản. Người có hành vi chỉ phải chịu TNHS về thiệt hại tài sản bị hủy hoại hoặc bị hư hỏng nếu giữa thiệt hại này và hành vi của họ có QHNQ với nhau. Cụ thể ở đây hành vi đốt phân xưởng của Q đã trực tiếp gây ra thiệt hại về tài sản cho N.

Mặt chủ quan của tội phạm:

+ Về lý trí: Q nhận thức rõ được tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi mình gây ra và thấy trước hậu quả của hành vi đó là gây thiệt hại về tài sản cho N.

+Về ý chí: Q muốn hậu quả xảy ra

* Định tội danh của Q

Theo điểm a Khoản 3 Điều 143 BLHS: “Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:

a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng”

Giá trị tài sản mà Q hủy hoại là 350 triệu đồng.

Mặt khách quan:

– Có từ 2 người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Cụ thể trong trường hợp này P và Q là 2 người có đủ điều kiện về năng lực TNHS và đạt độ tuổi chịu TNHS.

– Cùng thực hiện tội phạm (cố ý): P đã có hành vi nhờ Q đến đốt xưởng của N. Như vậy P đã có hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm. P là người xúi giục.

Về mặt chủ quan:

– Dấu hiệu lỗi :

+ Về lí trí:P nhận thức được rất rõ hành vi của mình( xúi giục người khác thực hiện hành vi phạm tội) cũng như của Q là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến khách thể được pháp luật hình sự bảo vệ và Pcũng nhận thức được rõ sự nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình và Q gây ra.

* Về ý chí:

Cả P và Q cùng mong muốn phân xưởng của N bị cháy để trả thù mâu thuẫn trong kinh doanh.

b.Dấu hiệu mục đích:

P muốn hủy hoại phân xưởng của N để trả thủ mẫu thuẫn trong kinh doanh, khiến công việc làm ăn của N gặp trở ngại. Q đã tiếp nhận mục đích đó của P và là người trực tiếp đốt phân xưởng của N

2. Giả sử khi đốt, Q không biết còn 1 công nhân của H bị say rượu ngủ quên trong xưởng nên đã gây ra hậu quả chết người. Q có phải chịu trách nhiệm hình sự về cái chết của người công nhân này không? Tại sao?

* Khung hình phạt áp dụng cho P cũng tương tự như Q là từ 7 năm đến 15 năm theo điểm a khoản 3 Điều 143 chúng tôi hậu quả phát sinh vì hành vi đồng phạm của Q và P là như nhau.

Q có phải chịu TNHS về cái chết của người công nhân này vì

Mặt chủ quan:

– Lỗi: Hành vi của Q là lỗi vô ý vì quá tự tin.

Q đã có hành vi đốt xưởng khiến 1 công nhân trong xưởng bị thiệt mạng.

+ Về lí trí: Q nhận thức được tính chất nguy hiểm cho xã hội do hành vi của mình gây ra. Mặc dù thấy trước được hậu quả chết người (nếu còn người trong xưởng) tuy nhiên Q đã quá tự tin cho rằng sẽ không còn ai trong xưởng( Q cho rằng hậu quả chết người do hành vi của mình sẽ không xảy ra mà chỉ có thể gây thiệt hại về tài sản).

+ Về ý chí: Q không mong muốn hậu quả làm chết người xảy ra. Sự không mong muốn này của Q gắn liền với việc Q đã loại trừ khả năng làm chết người xảy ra ( cho rằng không có ai ở trong xưởng ).

Mặt khách quan:

– Hành vi khách quan: Q đã có hành vi cố tình đốt xưởng.

– Hậu quả: gây thiệt hại về tài sản và gây ra cái chết cho công nhân trong xưởng.

Như vậy hành vi của Q đã thỏa mãn đầy đủ các dấu hiệu của CTTP

Trường hợp phạm tội của Q là tái phạm nguy hiểm theo quy định tại điểm a khoản 2 Điều 49 BLHS:

2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm:a) Đã bị kết án về tội rất nghiệm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý”* Bản án Q vừa chấp hành là 3 năm tù về tội cướp tài sản, thuộc khoản 1 điều 133 BLHS : “1. Người nào dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ ba năm đến mười năm.

Khoản 1 điều 133 BLHS có khung hình phạt cao nhất là đến 10 năm

* Q chưa được xóa án tích

* Q phạm tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản theo điểm a khoản 3 điều 143 BLHS:

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ bảy năm đến mười lăm năm:a) Gây thiệt hại cho tài sản có giá trị từ hai trăm triệu đồng đến dưới năm trăm triệu đồng

Như vậy khung hình phạt cao nhất cho tội này là đến 15 năm tù

– Lỗi của Q đối với tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản là lỗi cố ý

Bài tập 4: Tình huống về hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản

1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao? (4 điểm)

Bài làm: I. CƠ SỞ PHÁP LÝ.

3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện. (1 điểm)

– Đối tượng tác động của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản: tài sản trị giá 150 triệu.

II. GIẢI QUYẾT TÌNH HUỐNG 1. Hành vi của Đ cấu thành tội gì? Tại sao?

– Điều 139 bộ luật hình sự.

Hành vi của Đ cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 Bộ luật hình sự; có thể khẳng định như vậy vì những lý do sau:

Xét điều 139 Bộ luật hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, tội này được quy định như sau:

1. Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xoá án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:a) Có tổ chức;b) Có tính chất chuyên nghiệp;c) Tái phạm nguy hiểm;d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

* Về chủ thể của tội phạm: trong trường hợp này ta coi như Đ đã đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự.

* Khách thể của tội phạm: Quan hệ sở hữu đối với tài sản, trong tình huống này thì khách thể tội phạm do Đ thực hiện là quan hệ sở hữu của C với tài sản là tấm vé số trúng thưởng trị giá 150 triệu.

* Mặt khách quan của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản:

Về dấu hiệu pháp lý tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được định nghĩa là Hành vi chiếm đoạt tài sản của người khác bằng thủ đoạn gian dối.

+ Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản: gồm hai hành vi khác nhau đó là hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt .

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Cụ thể trong trường hợp này, Đ đã có hành vi lừa dối C, khi biết tấm vé số trúng thưởng lẽ ra Đ phải trả lại cho chủ của tấm vé là C nhưng Đ đã đi nhận thưởng và nói dối với C là tấm vé không trúng thưởng. Hành vi gian dối thứ hai là khi C sau khi được Đ mời ăn liên hoan mua xe máy mới đã nghi ngờ và đi dò thì biết tấm vé của mình trúng thưởng, Đ lại tiếp tục gian dối bằng cách nói dối là vé không trúng thưởng nên đã xé bỏ. Đ đã cố tình đưa ra những thông tin không đúng sự thật để đánh lừa C,

Hình thức của hành vi lừa dối: Hành vi lừa dối ở trong trường hợp này thể hiện qua lời nói, Đ đã gọi điện cho C và nói ” 3 tờ vé số hôm qua trượt hết rồi” và tiếp tục nói dối là đã xé bỏ vé số vì không trúng thưởng.

Hành vi chiếm đoạt : Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm hữu đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội, ở đây là Đ, Đ đã giữ lại tài sản là phần thưởng trị giá 150 triệu lẽ ra phải giao cho C. Vì đã tin vào thông tin mà Đ cung cấp là tấm vé số không trúng thưởng nên C đã không nhận giải, ngay từ đầu tình huống, Đ đã yêu cầu giữ hộ tấm vé cho may mắn và C đã tin tưởng giao cho Đ. Trường hợp này, tội phạm hoàn thành ngay khi Đ gọi điện cho C và nói tấm vé không trúng thưởng( trước đó đã tự ý đi nhận thưởng mà không nói với C).

+ Hậu quả: Hậu quả do hành vi của Đ gây ra là những thiệt hại cho quan hệ sở hữu thể hiện dưới dạng thiệt hại về vật chất, ở đây là C đã bị mất số tiến là 150 triệu mà lẽ ra C phải được hưởng do bỏ tiền ra mua vé số.

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả: Quan hệ nhân quả là dạng của mối liên hệ giữa các hiện tượng, trong đó hiện tượng được gọi là nguyên nhân với những điều kiện nhất định đã làm phát sinh hiện tượng khác gọi là kết quả. Hành vi chiếm đoạt tài sản trị giá 150 triệu là kết quả của hành vi lừa dối, hành vi chiếm đoạt xảy ra ngay khi hành vi lừa dối được hoàn thành.

* Mặt chủ quan của tội phạm: Đ đã đưa ra thông tin giả là tấm vé không trúng thưởng với mục đích là để C tin đó là sự thật và từ bỏ quyền sở hữu của mình với tấm vé số.( tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ xảy ra khi tấm vé số đã trúng thưởng, còn khi tấm vé số không trúng thưởng thì giá trị của tấm vé số không đủ để cấu thành tội, luật quy định phải từ 500000đ trở lên, trong khi 3 tờ vé có giá là15000đ). Đ đã đưa ra thông tin giả để C tin đó là sự thật.

+ Động cơ và mục đích phạm tội: Trường hợp này, động cơ và mục đích phạm tội của Đ có tính chất tư lợi, lấy tiền để phục vụ nhu cầu cá nhân của mình.

+ Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp,người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản, ở đây Đ đã có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối có kết quả (C hoàn toàn tin là tấm vé mình mua không trúng thưởng) để có thể chiếm đoạt được tài sản, Đ đã có chủ tâm chiếm đoạt tài sản của C và hành động để biến mục đích của mình được thực hiện.

– Về ý chí: Người phạm tội mong muốn hậu quả phát sinh, hậu quả của hành vi phạm tội mà người phạm tội đã thấy trước hoàn toàn phù hợp với mục đích, ở đây là mong muốn chiếm được 150 triệu của Đ, và hậu quả xảy ra đúng với mục đích của Đ.

– Về lý trí: Ở đây Đ nhận thức rõ hành vi phạm tội của mình và thấy trước được hậu quả của hành vi phạm tội của mình.

Để có thể xác định tội mà Đ thực hiện mà ở đây là tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành vật chất hay hình thức thì ta căn cứ vào những đặc điểm của cấu thành tội vật chất và hình thức để phân biệt:

* CTTP vật chất là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Đối với dấu hiệu hậu quả (và cùng với nó là dấu hiệu mối quan hệ nhân quả) ở loại CTTP này lại được quy định theo hai mức độ khác nhau:

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để xác định tội phạm hoàn thành. Ở loại CTTP này, nhà làm luật không trực tiếp đưa dấu hiệu hậu quả vào trong CTTP mà hậu quả được quy định gián tiếp thông qua cách quy định về hành vi phạm tội.

+ Hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội. Ở dạng CTTP này, nhà làm luật trực tiếp đưa hậu quả vào các quy định của CTTP với ý nghĩa là điều kiện xác định những trường hợp thoả mãn CTTP của loại tội đó, loại trừ những trường hợp hành vi không cấu thành tội phạm.

* Cấu thành tội phạm hình thức là CTTP có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội. CTTP hình thức là CTTP chỉ có một dấu hiệu của mặt khách quan được mô tả trong CTTP là dấu hiệu hành vi nguy hiểm cho xã hội. Trong CTTP hình thức không có dấu hiệu hậu quả cũng như quan hệ nhân quả giữa hành vi nguy hiểm và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Do đặc điểm của CTTP hình thức như vậy mà quan hệ tâm lí của người phạm tội với các dấu hiệu của tội phạm có CTTP hình thức có điểm khác căn bản so với tội phạm có CTTP vật chất.

Căn cứ vào những khái niệm và đặc điểm của CTTP nêu trên, ta có thể khẳng định tội mà Đ phạm phải (lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 139 bộ luật hình sự) có CTTP vật chất. Ta thấy ở mặt khách quan của tội mà Đ phạm, có đầy đủ dấu hiệu như hành vi, hậu quả và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Ở đây, hậu quả còn là yếu tố bắt buộc để định tội Đ, giả sử tấm vé Đ giữ không trúng thưởng, vì một lý do gì đó C đòi lại nhưng Đ không trả thì cũng không thể định tội Đ mặc dù ở đây có yếu tố lừa dối, do đó hậu quả là yếu tố bắt buộc trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Trong trường hợp của Đ, hậu quả là dấu hiệu bắt buộc để định tội, vì nếu lừa đảo nhưng không hay chưa chiếm đoạt được tài sản thì cũng không thể định tội danh được; hành vi của Đ lừa dối đi đến kết quả là lấy được số tiền trúng thưởng của C, và kết quả đã hoàn thành.

Không thể khẳng định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có cấu thành hình thức vì CTTP hình thức chỉ xét đến hành vi, lỗi đã là lỗi cố ý trực tiếp, xét riêng hành vi đã thấy được hậu quả nguy hiểm cho xã hội, mặc dù hậu quả có thể xảy ra hay không xảy ra vì những điều kiện khách quan. Trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, mặc dù lỗi cũng là lỗi cố ý trực tiếp nhưng phải tính đến yếu tố “chiếm đoạt tài sản”, nghĩa là xảy ra hậu quả tài sản bị chiếm đoạt thì mới định tội danh được, hành vi lừa dối trong trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được thực hiện là nhằm thực hiện việc chiếm đoạt. Những hành vi lừa dối nhằm mục đích khác dù mục đích này có tính tư lợi cũng không phải là hành vi phạm tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

3. Hãy xác định khung hình phạt đối với hành vi phạm tội mà Đ đã thực hiện.

Vậy tội phạm mà Đ thực hiện có cấu thành vật chất.

Để xác định khung hình phạt cho tội mà Đ đã thực hiện, trước hết, xét đến tội mà Đ phạm phải được quy định trong điều 139 về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Khung hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 139 như sau : “Người nào bằng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản của người khác có giá trị….., thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm” vì tài sản mà Đ chiếm đoạt là tấm vé số trúng thưởng 150 triệu nên không thể xác định khung hình phạt cho Đ theo khoản 1.

Theo khoản 2, điều 139:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm:

a) Có tổ chức;b) Có tính chất nguy hiểm;c) Tái phạm nguy hiểm;d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức.đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng;g) Gây hậu quả nghiêm trọng.

Khung hình phạt cho tội của Đ được xác định theo điểm e, khoản 2, điều 139, với tình tiết làm tăng nặng tội là tài sản bị chiếm đoạt có giá trị trong khoảng từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng mà cụ thể trong tình huống này, tài sản mà Đ chiếm đoạt là tấm vé số đạt giải của C với trị giá lên đến 150 triệu đồng.

Vậy khung hình phạt cho Đ là từ hai cho đến bảy năm tù giam, định mức khung hình phạt theo điểm e, khoản 2, điều 139.

Vào khoảng 19h ngày 26/03/2003 4 tên A, B, C và D ngồi quán uống rượu. Tại đây, B có rút dao mang theo cho A mượn xem. Đây là loại dao có lưỡi xếp vào cán dao, cán dao bằng mủ màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2-3cm, mũi dao hình dạng hơi bầu, lưỡi dao có một bên sắc bén, một bên bằng. Ra khỏi quán, B đòi A trả lại dao và cất vào túi quần. Cả bọn gặp 2 anh T và H đi ngược chiều. Do có quen biết, A và C dừng lại nói chuyện với H, còn B và D đi trước. A rủ H đi uống rượu tiếp nhưng H từ chối, A liền nắm tay H kéo đi thì T ngăn cản kéo H trở lại. Thấy vậy, A quay sang cãi nhau với T và dùng tay đẩy vào ngực T làm T bị mất thăng bằng ngã ngồi. T và A xô xát, ẩu đả với nhau. H dùng tay ôm ngăn A, còn C can T. A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao”. Nghe tiếng A la chửi, B đi trước quay trở lại nhìn thấy A và T đang đứng đối diện nhau, B cho rằng A bị T đánh nên đã lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T. Do C đang can T nên cũng bị một vết đâm vào tay trái. C bị đâm đau nên chửi. Thấy vậy, B ngừng đâm và cầm dao bỏ đi. H buông tay giữ A ra thì thấy T đang nằm ngửa, máu ra nhiều. H gọi C đưa T đi cấp cứu. Trên đường đi T đã tử vong.

B gọi điện thoại cho bạn là K kể về việc B vừa đâm T và nói kế hoạch trốn của B. K bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn. B trốn ra Hải Phòng đến ngày 09/4/2003 về đầu thú tại Công an huyện D.

Hỏi:

Tại Bản kết luận giám định pháp y số 46/GĐPY ngày 03/04/2003 của Tổ chức giám định pháp y tỉnh kết luận: Nạn nhân T bị tử vong do xuất huyết nội, gây giảm thể tích máu cấp tính sau các vết thương thủng gan và thủng bàng quang.

2. A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao? (2 điểm)

3. K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì? (1 điểm)

Bài làm: 1. Hãy lập luận định tội danh cho hành vi phạm tội của B? Xác định tình tiết tăng nặng định khung hình phạt nếu có?

4. Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích. Hãy xác định lần phạm tội này của B là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?(1 điểm)

B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS 2023 (sửa đổi, bổ sung 2023). Trong trường hợp này tình tiết tăng nặng định khung hình phạt của B là điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS. “n) Có tính chất côn đồ;”

– Khách thể của tội phạm: – Mặt khách quan:

Hành vi của B thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội giết người theo Điều 123 BLHS. Cụ thể:

+ Hành vi khách quan của tội giết người là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác, được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Hành vi này có thể được thực hiện qua hành động hoặc không hành động. Trong tình huống này, B đã có hành vi “đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T”, là hành vi nguy hiểm cho xã hội, có thể tước đoạt tính mạng của T.

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả chết người: việc xác định mối quan hệ nhân quả là điều kiện cần thiết để có thể buộc người có hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng người khác phải chịu trách nhiệm về hậu quả chết người đã xảy ra. Ta thấy trong tình huống trên, B có hành vi “đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T” là nguyên nhân dẫn đến hậu quả “T tử vong”.

– Mặt chủ quan của tội phạm: * Xác định tình tiết tăng nặng định khung hình phạt:

+ Phương tiện phạm tội: B đã sử dụng hung khí là một con dao. Đây là loại dao có lưỡi xếp vào cán dao, cán dao bằng mủ màu vàng dài khoảng 10cm, rộng khoảng 2-3cm, mũi dao hình dạng hơi bầu, lưỡi dao có một bên sắc bén, một bên bằng đã được B cất giấu trong người trước khi thực hiện tội phạm.

Tình tiết tăng nặng trong trường hợp này là điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS: “Có tính chất côn đồ”. Phạm tội có tính chất côn đồ là trường hợp giết người mà tất cả các tình tiết của vụ án thể hiện người phạm tội có tính chất hung hãn cao độ, quá coi thường tính mạng của người khác, sẵn sàng giết người vì những nguyên cớ nhỏ nhặt.

Do đó, B phải chịu TNHS về tội giết người theo Điều 123 BLHS với tình tiết định khung tăng nặng theo điểm n khoản 1 Điều 123 BLHS. 2. A có bị coi là đồng phạm với B không? Giải thích rõ tại sao?

Trong trường hợp này, ta thấy hành vi của B diễn ra sau khi nghe thấy A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao”, “Nghe tiếng A la chửi, B đi trước quay trở lại nhìn thấy A và T đang đứng đối diện nhau, B cho rằng A bị T đánh nên đã lấy con dao trong túi quần ra đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T”. Trước đó B không hề quen biết hay có mâu thuẫn với T, chỉ vì nghe thấy tiếng A la chửi mà quay lại đâm nhiều nhát vào T, do C đang can ngăn T nên cũng bị một vết đâm vào tay trái. Như vậy ta thấy, hành vi của B thể hiện rõ sự hung hãn cao độ, quá coi thường tính mạng của người khác, chỉ vì lí do nhỏ nhặt mà sẵn sàng giết người mà mình không hề quen biết, không có mâu thuẫn gì.

A có bị coi là đồng phạm với B.

Theo khoản 1 Điều 17 BLHS quy định: ” Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. “.

Đồng phạm đòi hỏi những dấu hiệu sau:

* Những dấu hiệu về mặt khách quan: Một là, đòi hỏi phải có hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện của chủ thể của tội phạm. Do đề bài không nêu rõ nên t coi A đủ 18 tuổi và có đủ năng lực TNHS.

Hai là, những người này phải cùng thực hiện tội phạm (cố ý); phải tham gia vào tội phạm với một trong bốn hành vi: hành vi thực hiện tội phạm, hành vi tổ chức thực hiện tội phạm, hành vi xúi giục người khác thực hiện tội phạm, hành vi giúp sức người khác thực hiện tội phạm.

– Trong tình huống trên, A là người xúi giục. A có hành vi xúi giục B giết T. Khoản 2 Điều 20 BLHS quy định: “Người xúi giục là người kích động, dụ dỗ, thúc đẩy người khác thực hiện tội phạm”. Ở đây ta thấy A là người kích động tinh thần, trực tiếp thúc đẩy B phạm tội khi A nhiều lần la lớn chửi T với nội dung “Chúng mày đánh chết nó cho tao” khiến B đi trước đã nghe thấy và quay trở lại. Lời nói này trực tiếp hướng vào T với mục đích muốn đánh chết T, đã kích động B thực hiện hành vi giết T. Hơn nữa, A không hề can ngăn khi thấy B đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T chứng tỏ A cũng đồng tình với hành vi phạm tội của B. Như vậy, ta thấy A thỏa mãn là người xúi giục B thực hiện tội phạm.

– B là người thực hành tội phạm bởi B là người trực tiếp thực hiện hành vi giết người, dùng dao đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T. Hung khí này đã được B giấu sẵn trong người từ trước. Hành vi của B đã xâm phạm đến tính mạng, thân thể của T dẫn đến hậu quả T tử vong. B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS.

* Những dấu hiệu về mặt chủ quan:

– Dấu hiệu lỗi:

Về lí trí, mỗi người đều biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội và đều biết người khác cũng có hành vi nguy hiểm cho xã hội cùng mình. Mỗi người đồng phạm thấy trước hậu quả nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình cũng như thấy trước hậu quả chung của tội phạm mà họ thực hiện. Trong tình huống trên, cả A và B đều biết hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội, thấy trước hậu quả sẽ xảy ra và đều biết người khác cũng có hành vi gây nguy hiểm cho xã hội cùng mình. A biết rõ việc mình xúi giục đánh chết T là gây nguy hiểm cho tính mạng của T và B cũng nhận thức rõ việc mình đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T sẽ làm T chết. Hơn nữa, B cũng hiểu rõ việc A mong muốn giết T thông qua việc A la lớn xúi giục giết T. Ngược lại, A cũng biết việc B dùng dao đâm T nguy hiểm tới tính mạng của T.

Như vậy, A có bị coi là đồng phạm với B; A tham gia vào tội phạm với vai trò là người xúi giục. 3. K có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Nếu có thì về tội gì?

Về ý chí, những người đồng phạm cùng mong muốn có hoạt động chung và cùng mong muốn hoặc cùng có ý thức để mặc cho hậu quả phát sinh. Trong tình huống trên, A thể hiện mong muốn hậu quả chết người xảy ra đối với T khi nói: “Chúng mày đánh chết nó cho tao”, đồng thời A cũng không ngăn cản khi B thực hiện hành vi đâm nhiều nhát vào bụng và ngực T, không có phản ứng gì sau khi B bỏ đi chứng tỏ giữa A và B có sự thống nhất về mặt ý chí khi thực hiện tội phạm. – Dấu hiệu mục đích: Đồng phạm đòi hỏi những người cùng thực hiện phải có cùng mục đích phạm tội đó. Ở trường hợp này, mục đích mà cả A và B đều hướng tới là giết T.

K có phải chịu trách nhiệm về hình sự về tội che giấu tội phạm quy định ở Điều 313 BLHS. Theo điều 18 BLHS về che giấu tội phạm: “Người nào không hứa hẹn trước, nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội, thì phải chịu trách nhiệm hình sự về tội che giấu tội phạm trong những trường hợp mà Bộ luật này quy định.”

– Măt khách quan:

Hành vi của K thỏa mãn cấu thành tội phạm của tội che giấu tội phạm. Cụ thể:

+ Hành vi: Che giấu tội phạm là hành vi của một người không hứa hẹn trước nhưng sau khi biết tội phạm được thực hiện đã che giấu người phạm tội, các dấu vết, tang vật của tội phạm hoặc có hành vi khác cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội. Trong tình huống này, K biết rõ B đã thực hiện hành vi giết người nhưng K đã “bảo B về nhà K chờ để K đi cầm điện thoại giùm B lấy tiền cho B đi trốn”; ta thấy K đã có hành vi che giấu người phạm tội, chứa chấp nuôi giấu người phạm tội trong nhà, giúp đỡ người phạm tội bỏ trốn cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội.

+ Hậu quả không phải là dấu hiệu bắt buộc của tội này.

+ Mối quan hệ nhân quả giữa hành vi khách quan và hậu quả: Hành vi của K đã gây hậu quả B trốn ra Hải Phòng; gây khó khăn, cản trở việc phát hiện, điều tra, xử lý người phạm tội giết người là B.

+ Mục đích: Che giấu tội phạm.

– Mặt chủ quan: Lỗi của K là lỗi cố ý trực tiếp, dù K biết B đã phạm tội giết người nhưng vẫn có hành vi che giấu tội phạm, tạo điểu kiện cho B trốn ra Hải Phòng, trốn tránh sự trừng phạt của pháp luật.

– Chủ thể: Do đề bài không xác định rõ nên ta coi K là người đủ tuổi luật định và có đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Như vậy, K phải chịu trách nhiệm về hình sự về tội che giấu tội phạm quy định tại Điều 313 BLHS. 4. Giả sử B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích. Hãy xác định lần phạm tội này của B là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm?

– Khách thể: Hoạt động đúng đắn – theo đúng pháp luật của các cơ quan tư pháp. Đối tượng tác động ở đây là những hoạt động bảo vệ công lí, hoạt động đấu tranh phòng chống tội phạm của các cơ quan tư pháp mà trong tình huống này K là người đã che dấu tội phạm giết người – là B.

Lần phạm tội này của B là tái phạm.

1. Tái phạm là trường hợp đã bị kết án, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý hoặc thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do vô ý. 2. Những trường hợp sau đây được coi là tái phạm nguy hiểm: a) Đã bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng do cố ý; b) Đã tái phạm, chưa được xóa án tích mà lại thực hiện hành vi phạm tội do cố ý.

Trong trường hợp trên, B vừa chấp hành xong bản án 3 năm tù về tội trộm cắp tài sản theo khoản 2 Điều 173 BLHS và chưa được xóa án tích. Xét khoản 2 Điều 173 BLHS ta thấy, mức cao nhất của khung hình phạt quy định trong khoản này là bảy năm tù. Đối chiếu theo quy định tại khoản 1 Điều 8 BLHS thì đây thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

Hơn nữa, theo khoản 2 Điều 53, người phạm tội chỉ bị coi là tái phạm nguy hiểm khi đã bị kết án về tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý, chưa được xóa án tích mà lại phạm tội rất nghiêm trọng, tội đặc biệt nghiêm trọng do cố ý. Ta thấy trường hợp phạm tội của B không thỏa mãn điểm a khoản 2 Điều 53. Đồng thời, trường hợp này cũng không thỏa mãn điểm b khoản 2 Điều 53.

Do vậy, lần phạm tội này của B không là tái phạm nguy hiểm.

Như đã phân tích ở trên, B phạm tội giết người theo Điều 123 BLHS với tình tiết tăng nặng định khung tại điểm n khoản 1 Điều 123. Xét khoản 1 Điều 123 BLHS ta thấy mức cao nhất của khung hình phạt là tử hình, đối chiếu theo quy định tại khoản 3 Điều 8 BLHS thì tội phạm mà B thực hiện thuộc loại tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Hơn nữa B thực hiện tội phạm với lỗi cố ý.

Như vậy, căn cứ vào Điều 53 BLHS ta thấy lần phạm tội này của B là tái phạm.

Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2023

Đề Cương Ôn Tập Câu Hỏi Tình Huống Luật Thương Mại 2023

Mọi ý kiến đóng góp xin gửi vào hòm thư: [email protected]

Các trường hợp bất khả kháng:

Không lường trước được.

Không tránh được.

Không khắc phục được.

Bài tập tình huống:

Bị đơn có đáng bị kiện không?

Công ty A bán thiết bị thu phát sóng cho công ty B. Trong hợp đồng 2 bên có thoả thuận với nhau công ty A phải lắp đặt hoàn chỉnh và vận hành, chạy thử cho công ty B. Sau khi khảo sát công ty A hoàn thành lắp đặt và chạy thử. Sau đó công ty B vận hành thiết bị nhưng không chạy được do nguồn điện tại công ty B không đồng bộ với nguồn điện của thiết bị. Bên B thông báo và sau nhiều lần thương lượng bên A đã tiến hành sửa chữa cho bên B. Tuy nhiên sau một thời gian vận hành thiết bị vẫn không sử dụng được. Bên B tiếp tục thông báo để bên A sửa chữa nhưng không được bên A hồi đáp. Bên B quyết định trả lại hàng cho bên A và mua thiết bị thay thế từ bên khác (đã thông báo cho bên A biết về giao dịch này), đồng thời yêu cầu bên A:

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Bên A đã tiến hành khảo sát, do đó yếu tố nguồn điện không đồng bộ là yếu tố bên A cần phải biết và cần phải điều chỉnh thiết bị để sử dụng được với điều kiện của bên B hoặc yêu cầu bên B thay đổi nguồn điện cho phù hợp với thiết bị.

Bên A đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, giao hàng không đúng phẩm chất, không phù hợp với hợp đồng dẫn đến hậu quả bên B không thể sử dụng được thiết bị.

Chế tài được áp dụng là chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng. Tuy nhiên bên B đã thông báo nhưng bên A không trả lời, do vậy bên B có quyền mua hàng hoá thay thế và bên A phải hoàn lại số tiền đã thanh toán đồng thời trả khoản tiền chênh lệch giữa thiết bị cũ và mới.

Những thiệt hại ngẫu nhiên do không chứng minh được là hậu quả trực tiếp của hành vi vi phạm hợp đồng nên sẽ không được bồi thường.

Người mua Việt Nam (NM) và người bán Hàn Quốc (NB) ký kết hợp đồng mua bán:

Tên hàng: Thép thanh

Số lượng: 80.000 tấn

Giá: 350 USD/ tấn chưa bao gồm cước vận chuyển

Thời gian giao hàng: từ ngày 15/6/2023 đến 15/12/2023

Quyền mua đặc biệt: Bên mua có quyền mua lên đến 160.000 tấn với giá như trong hợp đồng nhưng phải thông báo cho bên bán trước ngày 15/10/2023.

Diễn biến sự việc:

Ngày 1/10/2023, NM thông báo cho người bán thực hiện quyền mua đặc biệt, nâng số hàng mua lên 160.000 tấn. Vào thời điểm này giá thép trên thế giới tăng đáng kể nên NB đã yêu cầu NM thương lượng về giá cả của số thép mua thêm so với hợp đồng. NM đã kiên quyết từ chối yêu cầu tăng giá của NB và đề nghị NB thực hiện giao hàng đúng như giá thoả thuận trong hợp đồng.ngày 15/12/2023, NB không giao hàng, NM gửi thông báo nhấn mạnh NB đã vi phạm hợp đồng và gia hạn thêm thời hạn giao hàng đến ngày 30/12/2023. Ngày 5/1/2023, NM đã mua thép từ Nhật Bản với giá 380 USD/tấn (đã bao gồm cước vận chuyển là 5 USD/tấn) để phục vụ sản xuất cho kịp tiến độ và yêu cầu NB thanh toán số tiền chênh lệch 2.400.000 USD. NB không đồng ý với các lý do:

Hành động mua thép của NM từ Nhật Bản không được coi là hành động mua hàng thay thế do NM đã không thông báo ý định cho NB.

Khi NM đàm phán về việc tăng giá bán thép, NB đã đưa ra mức giá 376 USD/ tấn, thấp hơn giá NM đã mua hàng thay thế. Việc NM không mua thép của NB là một điều vô lý.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

Những lập luận của NB để từ chối bồi thường khoản chênh lệch là không chính xác.

Mặc dù NM không thông báo cho NB về việc mua hàng từ bên thứ ba nhưng việc mua hàng để phục vụ tiến độ sản xuất, vì vậy đây có thể coi là một hành động chủ động nhằm giảm thiệt hại do hành vi vi phạm hợp đồng gây ra (hành vi không giao hàng) và NM trên thực tế không hề đòi một khoản chi phí phát sinh nào ngoại trừ tiền chênh lệch giá.

Trên thực tế giá NM mua từ bên thứ ba đã có cước vận chuyển, do đó NM thực chỉ mua có 375 USD/ tấn, thấp hơn giá của NB đã đưa ra là 1 USD/tấn.

Người mua chỉ có thể đòi bồi thường những thiệt hại thực tế mà họ phải chịu trong trường hợp này, số tiền bồi thường sẽ chỉ là: (380 – 5 – 350) × 80.000 = 2.000.000 USD do người mua đã tiết kiệm được 5 USD/tấn tiền cước vận chuyển khi mua hàng từ bên thứ ba.

Người mua A ký kết hợp đồng mua 150.000 đôi giày nam với người bán B, yêu cầu người bán B cung cấp giày nam do hãng C sản xuất. Ngay sau khi ký kết hợp đồng, người bán B đã ký hợp đồng mua 150.000 đôi giày của hãng C. Đến ngày giao hàng của người bán B, công ty C chỉ giao được 90.000 đôi giày do không kịp nhập nguyên liệu sản xuất. Do vậy người bán B cũng chỉ giao được 90.000 đôi giày nam cho người mua A. Bên A kiện B ra trọng tài thương mại, yêu cầu bên B nộp phạt vi phạm 2% giá trị hàng giao chậm như đã thoả thuận trong hợp đồng, đồng thời yêu cầu bên B bồi thường về việc uy tín thương mại bị giảm sút, với lý do, bên B giao thiếu hàng nên bên A không thể giao hàng cho khách của mình. Điều này ảnh hưởng nghiêm trọng đến hoạt động kinh doanh của đối tác bên A do mặt hàng giày là mặt hàng có tính thời vụ. Bên B kháng cáo và lập luận rằng, do bên A yêu cầu cụ thể trong hợp đồng là mua giày do hãng C sản xuất nên bên B không thể tìm được nguồn hàng khác thay thế. Vì vậy, việc B không giao hàng đủ là bất khả kháng và B được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích?

B không được miễn trách nhiệm với hai lý do:

Trong trường hợp này lỗi bên C không cung cấp đủ hàng cho bên B không phải là nguyên nhân bất khả kháng. Việc C không kịp nhập nguyên liệu trên thực tế là việc có thể lường trước được, và C có thể tìm cách khắc phục vấn đề này bằng cách nhập nguyên liệu từ các nguồn khác. Do vậy việc B không cung cấp đủ hàng cho bên A không được coi là bất khả kháng, chưa kể đến việc B không chứng minh được đáng lẽ ra họ cũng đã phải lường trước hoặc tìm cách làm giảm bớt những hậu quả do việc giao hàng chậm từ phía C gây ra.

B đã không thông báo gì cho bên A biết về việc giao hàng thiếu do bên C không giao đủ hàng cho bên B ngay khi sự kiện này xảy ra. Điều này vi phạm quy định về thông báo bất khả kháng nên B sẽ không được miễn.

Bồi thường uy tín kinh doanh:

Nếu bên A không chứng minh được thiệt hại cụ thể do việc mất uy tín kinh doanh thì bên A sẽ không được bồi thường.

Nếu bên A đưa ra được các chứng cứ chứng minh thiệt hại như sự sụt giảm của doanh số và lợi nhuận với các đối tác truyền thông mua giày (mà A vẫn nhập của B) so với các kỳ kinh doanh trước. Lý do vì A đã không thảo mãn được các đơn hàng đã ký kết khiến cho đối tác không tiếp tục lựa chọn bên A. Yêu cầu đòi bồi thường thiệt hại về uy tín của A là hoàn toàn có căn cứ. Trong trường hợp này A phải được bồi thường cho thiệt hại về uy tín thương mại.

Diễn biến sự việc:

Ngày 12/2/2014, tàu cập cảng, NB thông báo cho NM để NM nhận hàng.

Ngày 1/1/2014, Chính phủ nước NM ra lệnh cấm nhập khẩu quặng Niken.

NM đã không nhận hàng từ phía NB, khiến NB phải lưu khoang hàng hoá đến ngày 25/2/2014 và sau đó phải bán lại lô hàng trên cho công ty C tại nước lân cận nước NM với giá thấp hơn.

NB kiện NM ra Toà trọng tài ICC yêu cầu người mua bồi thường thiệt hại bao gồm:

NM cho rằng mình không thể nhận hàng là bất khả kháng do lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ đưa ra sau khi ký hợp đồng, và yêu cầu được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

ICC đã tiếp nhận đơn kiện của NB, tuy nhiên trong quá trình xét xử, công ty NM phá sản và tuyên bố giải thể, tên của công ty sau đó bị xoá khỏi Sổ đăng ký kinh doanh.

Trường hợp này NM có được miễn trách nhiệm hay không? Việc pháp nhân (NM) không còn tồn tại có giải phóng các nghĩa vụ của người mua đối với phán quyết của trọng tài hay không? Kết quả của bản án sẽ như thế nào? Giải thích.

Mặc dù lệnh cấm nhập khẩu của Chính phủ có sau khi hợp đồng được ký kết nhưng đã có dự thảo từ trước khi có hợp đồng. Do vậy việc Chính phủ ra lệnh cấm là sự kiện có thể dự đoán trước và lý do không nhận hàng của NM không được coi là bất khả kháng. NM không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

Quá trình tố tụng trọng tài đã được bắt đầu tiến hành trước khi có sự xoá tên chính thức của NM trong Sổ đăng ký kinh doanh, do vậy địa vị pháp lý hiện tại của NM không ảnh hưởng gì tói hiệu lực của quá trình tố tụng đang được tiến hànhtoà trọng tài ICC. Đại diện của NM sẽ phải sẽ phải thanh lý toàn bộ tài sản của công ty NM và có nghĩa vụ thực hiện các phán quyết của trọng tài bằng số tiền nói trên.

Các chi phí NB nêu là các chi phí hợp lý để NB khắc phục hậu quả của việc vi phạm hợp đồng nên nếu NB đưa ra được bằng chứng về các chi phí và khoản lãi mất hưởng (do bán cho C với giá thấp hơn giá trong hợp đồng) như hoá đơn, chứng từ thanh toán, hợp đồng mua bán… NM sẽ phải bồi thường.

Trong trường hợp ngược lại, nếu những cho phí này chỉ là nhận định chủ quan của NB thì NB có thể không đòi được tiền bồi thường hay chỉ được bồi thường theo số tiền như thông lệ hoặc như tập quán. Tuy nhiên đối với chi phí lưu hàng, do NB không thông báo ngày giờ tàu cập cảng cho NM nên mặc định người mua sẽ chỉ phải nhận hàng vào ngày muộn nhất là ngày 15/2/2014. Chi phí lưu khoang NB yêu cầu như vậy là chưa hợp lý, NB chỉ có thể đòi NM chi phí lưu khoang trong 10 ngày.

Ngày 3/8/1997, công ty A (Việt Nam) và công ty B (Hàn Quốc) ký hợp đồng mua bán theo đó bên A mua của B hai máy thêu trị giá 136.000 USD theo điều kiện CIF Tân Cảng Thành phố Hồ Chí Minh, bảo hành 12 tháng sau khi hoàn thành lắp đặt.

Thực hiện hợp đồng, ngày 16/8/1997 B đã giao lại 2 máy thêu cho A, máy đã được lắp đặt và đưa vào sử dụng. Trong quá trình sử dụng, máy có nhiều hỏng hóc, B đã cử chuyên gia sang Việt Nam sửa chữa nhưng không thành công. B cam kết sẽ sửa chữa xong vào ngày 4/4/1998 và sẽ bồi thường 29.202 USD cho 40 ngày máy ngừng hoạt động nhưng sau đó B chỉ bồi thường 4.302 USD và không tiếp tục sửa chữa máy nữa.

A đã trưng cầu SGS Việt Nam giám định tình trạng 2 máy thêu. Biên bản giám định ngày 1/9/1998 của SGS ghi ” hai máy không thể sản xuất ra sản phẩm theo yêu cầu của Nguyên đơn”.

Do máy ngừng hoạt động, A đòi B đổi 2 máy mới và bồi thường thiệt hại phát sinh cho A. Ngày 18/4/1999 B thông báo với A việc tái giám định sẽ được tiến hành từ ngày 22 đến ngày 28/4/1999 bởi Viancontrol có sự chứng kiến của luật sư đại diện của B, A không phản đối.

Ngày 28/4/1999 Vinacontrol cấp Biên bản giám định số 095/1999G, trong đó kết luận máy bị hỏng hóc, tình trạng lắp ráp, căn chỉnh hai máy chưa hoàn tất, vào thời điểm giám định, cả 2 máy đều không thể vận hành được. B chấp nhận đổi máy cho A. Ngày 4/5/1999 A kiện B ra trọng tài, đòi:

Trả lại 2 máy thêu, lấy lại tiền.

Bồi thường thiệt hại, gồm:

Chi phí nhân công trong thời gian máy ngừng hoạt động;

Lãi suất trên số tiền hàng 136.000 USD kể từ ngày thanh toán đến ngày trọng tài xét xử;

Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam;

Thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

Kết quả giám định của Viancontrol và các hành vi sửa chữa cũng như cam kết bồi thường và đổi máy cho A chứng minh B đã giao hàng có khuyết tật cho A và B phải chịu trách nhiệm về hành vi vi phạm hợp đồng này.

Khi phát hiện 2 mát thêu có khuyết tật, bị hỏng hóc trong thời hạn bảo hành, A đã yêu cầu B thay thế 2 máy này bằng 2 máy có phẩm chất đúng như quy định của hợp đồng và B đã chấp nhận yêu cầu này của A. Như vậy, phương án thay thế 2 máy là phương án phù hợp với ý chí của 2 bên. Mặt khác, phương án trả lại 2 máy, lấy lại tiền hàng thông thường được áp dụng khi người bán không thể thay thế được máy khác. Vì vậy, yêu cầu trả lại 2 máy, đòi lại tiền hàng của A là không hợp lý.

Giao hàng có khuyết tật thiệt hại cho A thì B phải có trách nhiệm bồi thường những khoản tiền sau đây:

Chi phí nhân công trong thời gian 2 máy ngừng hoạt động, vì máy ngừng hoạt động, nhân công không có việc làm, A vẫn phải trả lương cho số công nhân này.

Lãi suất của 136.000 USD tính co thời gian kể từ ngày máy ngừng hoạt động cho đến ngày trọng tài xét xử. Đây là khoản thiệt hại do đọng vốn vì không sử dụng được máy.

Chi phí giám định trả cho SGS Việt Nam. Vì khuyết tật của máy phát sinh trong thời gian bảo hành, làm cho máy móc không hoạt động được, buộc A phải mời SGS làm giám định, kết quả là máy có khuyết tật, không vận hành được.

Yêu cầu của A đồi bồi thường thiệt hại do mất khách hàng, thiệt hại mất doanh thu, thiệt hại tinh thần không hợp lý bởi vì đây không phri thiệt hại tài sản trực tiếp thực tế, không phải do máy móc có khuyết tật trực tiếp gây ra.

Công ty A (Singapore) và công ty B (Việt Nam) là 2 đối tác quen thuộc, trong một cuộc điện đàm đại diện về pháp lý của 2 bên vào ngày 16/1/2023 đã trao đổi với nhau một nội dung như sau:

A: Chúng tôi hiện đang có 1 lô hàng 1000 tấn nhớt FO phẩm cáp loại 1, giá 850 USD/ tấn giao tại cảng Singapore.

B: Chúng tôi cũng đang cần số lượng nhớt như vậy nhưng với giá 850 USD là quá cao, chúng tôi khó có thể mua được với giá trên 750 USD/ tấn.

A: Vậy chúng tôi sẽ để cho các anh với giá 800 USD/tấn.

B: Chúng tôi sẽ mở L/C các anh trong tháng này và rất mong các anh sẽ giao hàng cho chúng tôi vào trung tuần tháng tới.

A: Chúng tôi đồng ý.

Trung tuần tháng sau, giá nhớt trên thị trường giảm xuống 650 USD/tấn, A hửi thông báo giao hàng cho B, bên B không có ý kiến gì. A tiến hành gửu hàng nhưng B đã không đưa tàu đến để nhận hàng, A phải lưu hàng tại cảng, khoản tiền theo L/C do đó cũng không được thanh toán. A đã kiejn B ra Toà trọng tài ICC, yêu cầu bên B nhận hàng và bồi thường cho bên A:

Chi phí lưu kho do B đã không nhận hàng đúng thời hạn.

Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan mà A đã đóng.

Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng tính từ khi A giao hàng cho đến khi B thực hiện thanh toán, với lãi suất là lãi suất của đồng USD tại ngân hàng của A.

Do không nhận được tiền hàng A đã không thể thanh toán tiền mua nguyên vật liệu cho công ty C nên bị công ty C từ chối các đơn hàng sau đó. A yêu cầu B bồi thường thiệt hại về uy tín và những khoản lợi kinh doanh dự tính vì không thực hiện được hợp đồng với C.

Bên B kháng cáo và đưa ra lập luận của mình: theo các hợp đồng đã ký trước đây giữa 2 bên, 2 bên đã thoả thuận với nhau nếu xảy ra tranh chấp thì luật áp dụng để giải quyết tranh chấp là luật của nước người mua. Và theo luật của Việt Nam thì hình thức của hợp đồng mua bán hàng hoá quốc tế phải bằng văn bản hoặc các hình thức khác có giá trị pháp lý tương đương. Trong trường hợp này 2 bên chỉ thoả thuận bằng lời nên hợp đồng vô hiệu ngay từ khi xác lập và không ràng buộc trách nhiệm của các bên. Bên B không có nghĩa vụ phải nhận hàng.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

Công ước Viên chính thức có hiệu lực với Việt Nam từ 1/1/2023. Theo khoản 1 điều 5 Luật Thương mại 2005: “Trường hợp ĐƯQT mà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng pháp luật nước ngoài, tập quán thương mại quốc tế hoặc có quy định khác với quy định của Luật này thì áp dụng quy định của ĐƯQT đó.” Trong trường hợp này nguồn luật được áp dụng sẽ là Công ước Viên 1980 do cả Việt Nam và Singapore đã là thành viên của Công ước.và theo Công ước, hình thức của hợp đồng có thể là văn bản, lời nói, hành vi nên trong trường hợp này thì hợp đồng đã hình thành giữa 2 bên.

Việc bên B không đến nhận hàng là đã vi phạm hợp đồng, hành vi này gây thiệt hại cho bên A nên việc bên A đòi B bồi thường là chính đáng. Tuy nhiên B sẽ chỉ phải bồi thường:

Chi phí lưu kho

Số tiền lãi theo giá trị của đơn hàng với lãi suất ngân hàng Singapore vì đây là khoản lãi mất hưởng của bên A (nếu B thực hiện hợp đồng thì A sẽ có số tiền này để gửi tại ngân hàng của mình tại Singapore).

Những khoản tiền B sẽ không phải bồi thường:

Thuế xuất khẩu và các lệ phí hải quan là không hợp lý do khi áp dụng chế tài buộc thực hiện đúng hợp đồng thì nghĩa vụ trên vốn dĩ thuộc về nhà xuất khẩu. (điều kiện F theo Incoterms 2010)

Những thiệt hại uy tín và những khoản lợi dự tính là những thiệt hại không xác đáng do bên A không thể chứng minh được những khoản thiệt hại này. Hơn nữa, việc A không nhận được tiền từ B không phải là nguyên nhân trực tiếp khiến A không thanh toán tiền cho bên C, do A hoàn toàn có thể huy động tiền từ các nguồn khác để thanh toán cho C.

Ngày 10/6/2013, giữa người bán Singapore (NB) và người mua Việt Nam (NM) ký hợp đồng 6923/TNUT.13, theo đó NB bán cho NM 9.937 kg cà phê và bột kem theo điều kiện CIF cảng HCM, thanh toán bằng chuyển tiền vào tài khoản của NB tại Singapore trong vòng 7 ngày sau khi NM nhận được chứng từ vận tải gốc, người hưởng lợi là NB.

Thực hiện hợp đồng, NB đã giao hàng cho NM ngày 21/6/2013. Sau khi giao hàng, NB đã chuyển cho NM vận đơn gốc và hoá đơn thương mại số 059/13 để ngày 21/6/2013 đòi tiền hàng, nhưng cuối cùng NB vãn không nhận được tiền hàng.

Qua nhiều lần đòi mà không được trả tiền, NB đã khởi kiện NM ra trọng tài đòi NM phải trả các khoản tiền sau:

Trong đơn thư phản bác đơn kiện NM trình bày như sau:

Ngày 10/6/2013NM đã ký hợp đồng số 9623/INUT.13 với NB để nhập khẩu uỷ thác cho Cửa hàng A. Theo biên bản thoả thuận riêng (không đề cập đến trong hợp đồng) ngày 10/6/2013 giữa 3 bên (NB, NM và Cửa hàng A) thì trách nhiệm thanh toán tiền hàng cho NB là Cửa hàng A, cho nên NB không có quyền kiện NM trả tiền hàng.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

NM căn cứ vào biên bản thoả thuận của 3 bên để từ chối nghĩa vụ thanh toán là không đúng với lý do:

Việc NM không trả tiền là vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng, do đó NM phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm gây ra cho NB:

Ngày 15/1/2023, công ty X (Việt Nam) ký hợp đồng mua vỏ giấy kẹo có in sẵn địa chỉ, logo của công ty mình với công ty Y (Trung Quốc), giao hàng làm 3 lần. Hợp đồng quy định trước mỗi đợt giao hàng các bên phải ký xác nhận với nhau về số lượng hàng sẽ giao trong biên bản thoả thuận (là 1 phần không thể tách rời của hợp đồng) làm căn cứ để mở L/C và giao hàng. Đợt giao hàng thứ nhất và thứ hai diễn ra thuận lợi, các bên đã nhận được tiền hàng và tiền thanh toán đúng như hợp đồng. Ngày 20/9/2023, công ty Y fax cho công ty X thông báo mình đã sản xuất xong lô hàng trị giá 80.000 USD và yêu cầu công ty X mở L/C để giao hàng tiếp. Công ty X telex trả lời đồng ý nhận lô hàng làm 2 lần vào ngày 15/11/2023 và 10 ngày sau đợt giao hàng thứ nhất. Tuy nhiên ngày 15/10/2023 công ty X đã thông báo cho công ty Y rằng mình không thể nhận hàng do kẹo không bán được trên thị trường Hà Nội và hiện công ty đang dừng sản xuất. Công ty Y không thể giao hàng và phải lưu lại lô hàng trong kho. Công ty Y sau đó đã kiện ra trọng tài yêu cầu công ty X bồi thường:

Công ty X kháng cáo không bồi thường với lý do:

Việc công ty X bị ngừng sản xuất là bất khả kháng và được miễn trách.

Trên thực tế công ty X và công ty Y chưa ký kết với nhau biên bản thoả thuận thứ 3 nào, do vậy Y không có căn cứ yêu cầu X mở L/C và nhận hàng.

Phán quyết của trọng tài sẽ như thế nào? Giải thích.

Công ty X và Y tuy chưa ký với nhau biên bản thoả thuận thứ ba nhưng công ty Y đã gửi đề nghị thông qua fax và công ty X cũng đã chấp nhận hàng vô điều kiện. Do đó các bên đã có thoả thuận về việc mua lô hàng thứ ba và công ty X phải mở L/C và nhận hàng.

Việc công ty X ngừng sản xuất không thể coi là bất khả kháng vì trong kinh doanh các bên cần phải dự đoán được xu hướng của thị trường, việc hàng hoá không bán được dẫn đến dừng sản xuất không thể coi là một sự kiện không thể lường trước được, do đó công ty X không được miễn trách nhiệm trong trường hợp này.

Công ty X đã vi phạm nghĩa vụ của hợp đồng nên phải bồi thường thiệt hại do hành vi vi phạm của mình gây ra:

Thông thường trong trường hợp bên mua vi phạm nghĩa vụ hợp đồng và không nhận hàng, bên bán phải bán lô hàng đó đi, nếu lãi họ hưởng còn nếu lỗ thì có quyền yêu cầu bồi thường. Tuy nhiên trong trường hợp này do vỏ kẹo đã in sẵn thông tin của công ty X nên không thể bán cho bên thứ ba, công ty Y có quyền đòi bồi thường là giá trị lô hàng nhưng phải trả lại hàng cho công ty X. Số tiền bồi thường không phải là giá trị số hàng sản xuất mà là giá trị của số hàng trong thoả thuận (80.000 USD).

Tiền lãi đối với 80.000 USD chứ không phải với 85.000 USD.

Chi phí chung nếu công ty Y có thể đưa ra chứng cứ hợp lý thì sẽ được bồi thường nhưng thông thường các chi phí này thường bị trọng tài bác bỏ.

Tải xuống tài liệu học tập PDF miễn phí

Tổng Hợp Các Bài Tập Tình Huống Luật Hình Sự 2023 (Có Đán Án)

169907

Ở đây mình có một số bài tập tình huống hình sự hay nhưng đối phức tạp nên mình đã chia thành các bài nhỏ, cụ thể:

20 bài tập tình huống hình sự thường gặp (có lời giải chi tiết)

40 bài tập hình huống hình sự từ đơn giản đến phức tạp (có lời giải chi tiết)

Bộ đề 60 bài tập tình huống hình sự thường gặp (Có hướng dẫn cách làm)

Đề cương – các dạng bài tập cơ bản môn Luật hình sự (Có hướng dẫn cách làm)

Tình huống xúi giục người khác giết người bị coi là đồng phạm – Bài tập học kỳ Luật Hình sự 2

Tình huống không trực tiếp thực hiện hành vi trộm cắp tài sản nhưng vẫn là đồng phạm

Tình huống lừa đảo chiếm đoạt tài sản thông qua việc không trả lại vé số trúng thưởng

Tình huống về tội trộm cắp tài sản thông qua việc rút bớt hàng hóa khi vận chuyển

Tình huống về Tội hủy hoại hoặc cố ý làm hư hỏng tài sản

Bài tập tình huống hình sự đang được cộng đồng dân luật quan tâm:

A (17 tuổi) và B (18 tuổi) có mâu thuẫn từ trước nên hẹn nhau lên bờ đê để “nói chuyện”. Do không giải quyết được mâu thuẫn, A, B to tiếng cãi nhau rồi đánh nhau. Khi A, B đánh nhau, A xô mạnh làm B bị trượt chân ngã đập đầu xuống đường và tử vong.

1. Xác định tội danh và khung hình phạt đối với hành vi phạm tội của A.2. Hình phạt nặng nhất mà A có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù?3. Giả sử, sau khi B chết, A đã lục túi lấy tiền của B (trong túi B có 500.000 đồng). Hành vi này của A có phạm tội không? Tội gì? Tại sao?4. Giả sử sau khi B bị ngã, thấy B nằm im, tưởng B đã chết nên A bỏ đi. B chỉ bị choáng, một lúc sau, B tỉnh lại và tự đi về nhà (thương tích không đáng). Hành vi của này của A có phạm tội không? Tội gì? Tại sao?

Tình huống 1: Xác định tội danh

Câu hỏi:

X và P rủ nhau đi săn thú rừng, khi đi X và P mỗi người mang theo khẩu súng săn tự chế. Hai người thoả thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần, nếu không thấy phản ứng gì sẽ bắn. Sau đó họ chia tay mỗi người một ngả. Khi X đi được khoảng 200 mét, X nghe có tiếng động, cách X khoảng 25 mét. X huýt sao 3 lần nhưng không nghe phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phía có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X chạy đến thì phát hiện P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội đưa P đến trạm xá địa phương để cấp cứu, nhưng P đã chết trên đường đi.

Xác định tội danh của X? (5 điểm)

Giả sử P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật là 29%, X có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao? (2 điểm)

Dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội vô ý làm chết người)

Căn cứ vào tình huống đã cho thì X phạm tội vô ý làm chết người theo khoản 1 Điều 128 BLHS năm 2023 (sửa đổi, bổ sung 2023): ” Người nào vô ý làm chết người, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 01 năm đến 05 năm“.

Khách thể của tội vô ý làm chết người là quyền nhân thân, đây là một trong những khách thể quan trọng nhất được luật hình sự bảo vệ. Đó là quyền sống quyền được tôn trọng và bảo vệ tính mạng. Đối tượng của tội này là những chủ thể có quyền được tôn trọng và bảo vệ về tính mạng. Đó là những người đang sống, những người đang tồn tại trong thế giới khách quan với tư cách là con người – thực thể tự nhiên và xã hội. Như vậy, trong tình huống trên X tước đoạt tính mạng của P, xâm phạm tới quan hệ nhân thân được luật hình sự bảo vệ.

– Hành vi khách quan của tội phạm: Người phạm tội có hành vi vi phạm quy tắc an toàn. Đó là những quy tắc nhằm bảo đảm an toàn về tính mạng, sức khỏe cho con người. Những quy tắc đó thuộc nhiều lĩnh vực khác nhau, có thể đã được quy phạm hóa hoặc có thể là những quy tắc xử sự xã hội thông thường đã trở thành những tập quán sinh hoạt, mọi người đều biết và thừa nhận. Trong tình huống trên thì X và P rủ nhau đi săn thú rừng và hai người thỏa thuận người nào phát hiện có thú dữ, trước khi bắn sẽ huýt sáo 3 lần nếu không thấy phản ứng gì thì sẽ bắn. Sau đó X lên phía đồi còn P xuống khe cạn. Và khi X nghe thấy có tiếng động, đã X huýt sáo 3 lần nhưng không nghe thấy phản ứng gì của P. X bật đèn soi về phìa có tiếng động thấy có ánh mắt con thú phản lại nên nhằm bắn về phía con thú. Sau đó, X xách súng chạy đến thì phát hiện là P đã bị trúng đạn nhưng chưa chết hẳn. X vội vã đưa P đi đến trạm xá địa phương nhưng P đã chết trên đường đi cấp cứu. Như vậy, hành vi của X do không cẩn thận xem xét kỹ lưỡng trong khi đi săn nên đã để đạn lạc vào người P làm cho P chết.

– Hậu quả của tội phạm: Hành vi vi phạm nói trên phải đã gây ra hậu quả chết người. Hậu quả này là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Trong tình huống trên thì hành vi của X đã gây ra hậu quả làm cho P chết.

– Quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả của tội phạm: QHNQ giữa hành vi vi phạm và hậu quả đã xảy ra là dấu hiệu bắt buộc của CTTP. Người có hành vi vi phạm chỉ phải chịu TNHS về hậu quả chết người đã xảy ra, nếu hành vi vi phạm của họ đã gây ra hậu quả này hay nói cách khác là giữa hành vi vi phạm của họ và hậu quả chết người có QHNQ với nhau. Trong tình huống trên thì hậu quả chết người của P là do hành vi của X gây ra. Đó là X nhằm bắn về phía con thú nhưng đã bắn sang P, hậu quả là làm cho P chết, như vậy nguyên nhân P chết là do hành vi bắn súng của X vào người P.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Trong trường hợp này, X phạm tội vô ý làm chết người với lỗi vô ý vì quá tự tin. Bởi vì X tuy thấy hành vi của mình có thể ra hậu quả làm chết người nhưng cho rằng hậu quả đó sẽ không xảy ra nên vẫn thực hiện và đã gây ra hậu quả chết người đó.

X nhận thức tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, thể hiện ở chỗ thấy trước hậu quả làm chết người do hành vi của mình có thể gây ra nhưng đồng thời lại cho rằng hậu quả đó không xảy ra. Như vậy, sự thấy trước hậu quả làm chết người ở đây thực chất chỉ là sự cân nhắc đến khả năng hậu quả đó xảy ra hay không và kết quả người phạm tội đã loại trừ khả năng hậu đó quả xảy ra.

Chủ thể của tội vô ý làm chết người là chủ thể thường, là người có năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định. Trong khuôn khổ của tình huống đã cho thì là người có đủ năng lực TNHS và đạt độ tuổi luật định.

Ngoài ra, trong trường hợp này X sẽ bị phạt hành chính vì sử dụng vũ khí cấm tại khoản 3 Điều 10 Nghị định 167/2013/NĐ-CP quy định về xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng chống bạo lực gia đình

X không phải chịu trách nhiệm hình sự.

Theo nội dung tình huống bài ra và hậu quả là P bị thương, với tỷ lệ thương tật là 29%. Có thể thấy, hành vi của X là đã vô ý gây thương tích cho P với lỗi vô ý vì quá tự tin. Căn cứ vào khoản 1 Điều 108 BLHS năm 2023 (sửa đổi bổ, sung 2023):

Người nào vô ý gây thương tích hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác mà tỷ lệ tổn thương cơ thể từ 31% đến 60%, thì bị phạt cảnh cáo, phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 20.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 01 năm.

Vậy, với hậu quả P không chết chỉ bị thương, tỷ lệ thương tật 29%, thì X không phải chịu TNHS nhưng X sẽ bị xử phạt hành chính về hành vi của mình theo Nghị Quyết 03/2006 về bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng.

Tình huống 2: Cấu thành tội phạm

A, B, K uống rượu say, đi loạng choạng và ngã ở dọc đường, H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn nằm bên đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an.

Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q:

Câu hỏi: Hành vi của H, Q cấu thành tội gì? Tại sao?

Khoản 1 Điều 168 BLHS 2023 quy định về tội cướp tài sản như sau: ” Người nào dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản, thì bị phạt tù từ 03 năm đến 10 năm.“.

Dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội cướp tài sản)

Tội cướp tài sản là “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhắm chiếm đoạt tài sản.

Trong tình huống trên, H và Q thấy chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường, lại thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng nên H và Q lấy đi toàn bộ tài sản của chị B trị giá 10 triệu đồng. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến thân thể, đến tự do của chị B và hai người bạn hay nói cách khác là không xâm phạm đến quan hệ nhân thân. H và Q chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B. Như vậy, trong tình huống này, H và Q không xâm hại đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm hại đến quan hệ sở hữu của chị B.

Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Bằng hành vi phạm tội của mình, người phạm tội cướp tài sản xâm phạm trước hết đến thân thể, đến tự do của con người để qua đó có thể xâm phạm được sở hữu.

Theo quy định của điều luật có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là: Hành vi dùng vũ lực; hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc; hành vi làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được để nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi dùng vũ lực là hành vi mà người phạm tội đã thực hiện, tác động vào cơ thể của nạn nhân như: đấm, đá, bóp cổ, trói, bắn, đâm chém… Hay có thể nói một cách khái quát là hành vi dùng sức mạnh vật chất nhằm chiếm đoạt tài sản.

Hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc là hành vi dùng lời nói hoặc hành động nhằm đe dọa người bị hại nếu không đưa tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện ngay. Vũ lực đe dọa sẽ thực hiện có thể sẽ nhằm vào chính người bị đe dọa nhưng cũng có thể nhằm vào người khác có quan hệ thân thuộc với người bị đe dọa. Để xác định dấu hiệu đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc, ta thấy ngay tức khắc là ngay lập tức không chần chừ, khả năng xảy ra là tất yếu nếu người bị hại không giao tài sản cho người phạm tội. Khả năng này không phụ thuộc vào lời nói hoặc hành động của người phạm tội mà nó tiềm ẩn ngay trong hành vi của người phạm tội. Đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng có nghĩa là nếu người bị hại không giao tài sản hoặc không để cho người phạm tội lấy tài sản thì vũ lực sẽ được thực hiện.

Trong tình huống trên, H và Q không có hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay có hành vi nào khác làm cho chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không thể chống cự được là do uống quá nhiều rượu nên say, việc chị B và hai người bạn lâm vào tình trạng không nhận thức, không chống cự được không có lỗi của H và Q. Vì vậy, trong tình huống này H và Q chỉ chiếm đoạt tài sản của chị B.

Hành vi khác làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được là hành vi không phải dùng vũ lực, cũng không phải là đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc nhưng lại làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Để xác định hành vi này, trước hết xuất phát từ phía người bị hại phải là người bị tấn công, nhưng không phải bị tấn công bởi hành vi dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc mà bị tấn công bởi hành vi khác. Như vậy, hành vi khác mà nhà làm luật quy định trong cấu thành trước hết nó phải là hành vi tấn công người bị hại, mức độ tấn công tới mức người bị hại không thể chống cự được. Ví dụ như bỏ thuốc ngủ vào cốc nước cho người bị hại uống làm cho người đó ngủ say, bị mê mệt không biết gì sau đó mới chiếm đoạt tài sản của người bị hại…

Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 172 BLHS 2023. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là lợi dụng chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ.

Đặc điểm nổi bật của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là người phạm tội ngang nhiên lấy tài sản trước mắt người quản lý tài sản mà họ không làm gì được (không có biện pháp nào ngăn cản được hành vi chiếm đoạt của người phạm tội hoặc nếu có thì biện pháp đó cũng không đem lại hiệu quả, tài sản vẫn bị người phạm tội lấy đi một cách công khai). Tính chất công khai, trắng trợn của hành vi công nhiên chiếm đoạt tài sản thể hiện ở chỗ người phạm tội không giấu giếm hành vi phạm tội của mình , trước, trong hoặc ngay sau khi bị mất tài sản, người bị thiệt hại biết ngay người lấy tài sản của mình (biết mà không thể giữ được).

Do đặc điểm riêng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức công khai, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh… Mặc dù tội công nhiên chiếm đoạt tài sản là tội phạm chưa được các nhà nghiên cứu khoa học nghiên cứu nhiều, nhưng qua thực tiễn xét xử chúng ta có thể thấy một số trường hợp công nhiên chiếm đoạt tài sản như sau:

Trong tình huống trên, H và Q đã lợi dụng lúc chị B và hai người bạn say rượu nằm mê mệt bên đường nên đã chiếm đoạt tài sản của chị B. Trong trường hợp nếu chị B và hai người bạn không hẳn bị mê mệt mà vẫn có thể nhìn thấy hành vi chiếm đoạt tài sản của H và Q nhưng do quá say nên họ không thể ngăn cản hành vi của H và Q thì H và Q có thể bị cấu thành tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Nhưng trong tình huống có ghi rõ “… H và Q phát hiện chị B cùng với hai người bạn đang say nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng cơn say hết, chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an…”, như vậy trong khi H và Q đang thực hiện hành vi trộm cắp tài sản, chị B và hai người bạn không hề biết và nhìn thấy hành vi của H và Q, phải đến sáng hôm sau chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Như vậy, hành vi của H và Q không thể là công nhiên mà có hành vi lén lút, hành vi của H và Q chỉ có thể bị coi là công nhiên khi chị B hoặc hai người bạn của chị B tỉnh giấc nhận thấy chị B bị chiếm đoạt tài sản nhưng do quá say nên không có khả năng chống cự và H và Q vẫn công khai, trắng trợn lấy số nữ trang trên người chị B. Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan, nhưng nó lại là một đặc điểm cơ bản, đặc trưng đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên đối với mọi người xung quanh. Tuy nhiên, đối với người xung quanh, người phạm tội có thể có những thủ đoạn gian dối, lén lút để tiếp cận tài sản, nhưng khi chiếm đoạt, người phạm tội vẫn công khai, trắng trợn.

Người phạm tội lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để công nhiên chiếm đoạt tài sản của họ;

Người phạm tội lợi dụng hoàn cảnh khách quan như: thiên tai, hỏa hoạn, bị tai nạn, đang có chiến sự để chiếm đoạt tài sản. Những hoàn cảnh cụ thể này không do người có tài sản gây ra mà do hoàn cảnh khách quan làm cho họ lâm vào tình trạng không thể bảo vệ được tài sản của mình, nhìn thấy người phạm tội lấy tài sản mà không làm gì được.

Tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 173 BLHS. Điều 173 không mô tả những dấu hiệu của tội trộm cắp tài sản mà chỉ nêu tội danh. Qua thực tiễn xét xử có thể hiểu: Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác.

Đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Trong tình huống trên, H và Q không hề xâm hại đến quan hệ nhân thân của chị B và hai người bạn mà chỉ có hành vi xâm phạm đến tài sản của chị B, cụ thể là lấy đi toàn bộ số nữ trang bằng vàng của chị B.

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt”, nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút, với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản, không trông giữ cẩn thận hoặc lợi dụng vào hoàn cành khách quan khác như chen lấn, xô đẩy, nhằm tiếp cận tài sản để thực hiện hành vi chiếm đoạt mà người quản lý tài sản không biết.

Để xác định hành vi trộm cắp tài sản và phân biệt tội trộm cắp với một số tội phạm khác gần kề, chúng ta có thể có một số dạng trộm cắp tài sản có tính chất đặc thù như sau:

Người phạm tội dùng những thủ đoạn gian dối tiếp cận tài sản để đến khi có điều kiện sẽ lén lút chiếm đoạt tài sản của chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản;

Người phạm tội lợi dụng chỗ đông người, chen lấn xô đẩy để chiếm đoạt tài sản của người khác;

Người phạm tội lợi dụng người quản lý tài sản không có mặt ở nơi để tài sản hoặc người tài sản không trực tiếp quản lý nên đã chiếm đoạt. Đặc trưng hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản là dấu hiệu lén lút. Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai ở các tội xâm phạm sở hữu khác, dấu hiệu này vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm khách quan là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút. Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà hình thức đó đó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết có hành vi chiếm đoạt khi có hành vi này xảy ra. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che giấu hành vi đang thực hiện của mình. Việc che giấu này chỉ đòi hỏi với chủ tài sản, đối với những người khác, ý thức chủ quan của người trộm cắp tài sản vẫn là công khai. Nhưng trong thực tế, ý thức chủ quan của người phạm tội trong phần lớn vẫn là lén lút, che giấu đối với người khác.

Với sự liên hệ qua lại giữa các dấu hiệu này, giúp chúng ta dễ dàng tìm ra điểm đặc trưng của tội “Trộm cắp tài sản”, từ đó ta có cơ sở để quyết định H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

Căn cứ vào những phân tích trên, căn cứ vào khách thể và mặt khách quan của tội phạm ta thấy, H và Q có đủ những dấu hiệu để cấu thành tội trộm cắp tài sản được quy định tại khoản 1 Điều 173 BLHS 2023. Như vậy, ý kiến cho rằng H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là đúng.

Tình huống 3: Định tội danh

A là chủ kiêm lái xe chở xăng dầu. A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty. Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X như sau:

Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phi đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe.

Câu hỏi:

Bằng thủ đoạn trên A đã nhiều lần lấy dầu được thuê vận chuyển với tổng trị giá là 100 triệu đồng thì bị phát hiện.

Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?

B có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A không? Nếu có thì tội danh cho hành vi của B là gì?

1. Anh (chị) hãy xác định tội danh cho hành vi của A?

Trường hợp 1: Hành vi của A cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản (Điều 175 BLHS 2023) :

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản 1. Người nào thực hiện một trong các hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt tài sản hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại và gia đình họ, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm: a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả; 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng; d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức; đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt; e) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; 3. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm. 4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

Về dấu hiệu pháp lý: Điều 140 BLHS quy định tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản bao gồm 2 trường hợp:

Thứ nhất, bằng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn, chiếm đoạt tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay mượn, thuê,…

Thứ hai, sử dụng tài sản của người khác đã được giao cho mình trên cơ sở hợp đồng vay, mượn, thuê,… vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Trong tình huống trên, khách thể của tội phạm chính là lượng dầu mà A đã chiếm đoạt được sau nhiều lần thực hiện hành vi gian dối, tổng tài sản chiếm đoạt trị giá 100 triệu đồng.

Khách thể của tội phạm của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản luôn là tài sản, giống như các tội có tính chất chiếm đoạt khác, tuy nhiên, tội phạm này không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu, đây là điểm khác biệt so với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhắm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản. Trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản không quy định những thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt. Vì vậy, nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản mà người phạm tội bị đuổi bắt, có hành vi chống trả để tẩu thoát, gây chết người hay gây thương tích, hoặc tổn hại sức khỏe cho người khác thì tùy trường hợp người phạm tội còn bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội giết người hoặc tội cố ý gây thương tích, hoặc gây tổn hại cho sức khỏe của người khác.

Theo đề ra, vì A ký hợp đồng vận chuyển dầu nên A chắc chắn đã có bằng lái ô tô bởi vậy có thể khẳng định rằng A có đủ điều kiện về tuổi và có năng lực trách nhiệm hình sự, Trong đề cũng nêu rõ “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”, như vậy A đã được công ty X tín nhiệm, giao cho việc vận chuyển dầu chạy máy. Nếu công ty X là doanh nghiệp tư nhân thì A không có trách nhiệm quản lý tài sản, mà chỉ có trách nhiệm vận chuyển, như vậy A không có dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô đó là có chức vụ, quyền hạn quản lý đối với tài sản được giao.

Ngoài những điều kiện về tuổi và phải có năng lực trách nhiệm hình sự, tội này đòi hỏi chủ thể phải là những người đã được chủ tài sản tín nhiệm giao cho khối lượng tài sản nhất định. Cơ sở giao tài sản là hợp đồng, việc giao và nhận tài sản là hoàn toàn ngay thẳng. Chủ tài sản do tín nhiệm đã giao tài sản để người được giao sử dụng, bảo quản, vận chuyển, gia công hoặc sửa chữa,… tài sản.

* Mặt khách quan của tội phạm:

– Hành vi phạm tội: Hành vi phạm tội của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là hành vi chiếm đoạt toàn bộ hay một phần tài sản đã được giao trên cơ sở hợp đồng đã được ký kết giữa chủ tài sản và người có hành vi chiếm đoạt.

Hành vi chiếm đoạt ở đây là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết. Những hành vi đó là những hành vi không thực hiện đúng nghĩa vụ cam kết:

– Không trả lại tài sản bằng thủ đoạn bỏ trốn hoặc bằng thủ đoạn gian dối ( như giả tạo bị mất, đánh tráo tài sản rút bớt tài sản,… ) hoặc

– Không trả lại được tài sản do không có khả năng vì đã sử dụng tài sản vào mục đích bất hợp pháp (như dùng vào việc buôn lậu, buôn bán hàng cấm hay đánh bạc, ….)

Ví dụ như vụ việc xảy ra tại Việt Trì trong khoảng tháng 1 và tháng 2 năm 2008: Xuất phát từ mối quan hệ quen biết giữa Nguyễn Thị Lộc (phố Đoàn

Hành vi gian dối của A đã được miêu tả kỹ trong đề bài “Khi nhận được dầu A chạy xe tới điểm thu mua dầu của B và nhanh chóng rút dầu ra bán cho B mỗi lần 200 lít. Sau đó A đổ đầy nước vào chiếc thùng phuy không mang sẵn đúng 200 lít. Đến địa điểm giao hàng, chiếc xe được cân đúng trọng lượng quy định nên được nhập dầu vào kho. Trong thời gian chờ đợi cân trọng lượng của xe sau khi giao dầu, A đã bí mật đổ hết số nước đã chất lên xe để khi cân chỉ còn đúng trọng lượng của xe”.Ban đầu sau khi nhận được dầu thật, A bí mật đem bán,sau đó A đổ nước vào thùng với khối lượng tương đương, đem tới công ty nhập kho, cuối cùng đổ nước đi và ra khỏi kho dầu.

A đã lợi dụng sự tín nhiệm của công ty X để kiếm lừa dối, chiếm dụng lượng dầu mỗi lần vận chuyển. Giữa A và công ty X đã có hợp đồng vận chuyển “A ký hợp đồng với công ty X vận chuyển dầu chạy máy cho công ty”. A đã có hành vi gian dối, tráo đổi tài sản, cụ thể là đổi dầu bằng nước.

– Đối tượng của hành vi chiếm đoạt: Đối tượng của hành vi chiếm đoạt trong tội này là những tài sản đã được giao ngay thẳng cho người phạm tội trên cơ sở hợp đồng, trong đề bài đối tượng của hợp đồng chính là 200 lít dầu mỗi lần A được thuê vận chuyển.

– Hậu quả: Hậu quả của tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản là thiệt hại về tài sản mà cụ thể là giá trị tài sản bị chiếm đoạt. Theo khoản 1 Điều 140 – BLHS thì giá trị tài sản bị chiếm đoạt từ 1 triệu đồng trở lên mới cấu thành tội phạm, còn nếu tài sản bị chiếm đoạt dưới 1 triệu đồng thì phải kèm theo điều kiện gây hậu quả nghiêm trọng, hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm mới cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong đề bài đã cho thì hậu quả của hành vi chiếm đoạt của A đã quá rõ ràng, tổng trị giá tài sản mà A đã chiếm đoạt phi pháp có giá trị là 100 triệu đồng, thỏa mãn Điểm d- Khoản 2- Điều 140 BLHS ” Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ trên năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý, mục đích của người phạm tội là chiếm đoạt được tài sản, mục đích cũng là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản.

Trong trường hợp đề ra thì lỗi của A là lỗi cố ý trực tiếp. Về lý trí, A nhận thức rõ hành vi chiếm đoạt dầu máy của công ty X sẽ gây thiệt hại về tài sản cho công ty, thấy trước hậu quả của hành vi chiếm đoạt trên. Về ý chí, A mong muốn hậu quả phát sinh, A mong chiếm được số dầu trên để đem bán kiếm lợi nhuận.

Khi phân tích đề bài rất có thể có sự nhầm lẫn, cho rằng hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, vì vậy ở đây em xin phân biệt rõ. Giữa tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và tội lạm dụng chiếm đoạt tài sản có 1 điểm khác nhau cơ bản đó là thời điểm phát sinh ý định chiếm đoạt, nếu như A trước khi ký hợp đồng vận chuyển dầu cho công ty X đã có ý định chiếm đoạt tài sản thì chắc chắn A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản, còn nếu sau khi A có được lượng dầu một cách hợp pháp ( thông qua hợp đồng vận chuyển) mới nảy sinh ý định chiếm đoạt thì hành vi của A cấu thành tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. Có thể thấy trong đề nêu rằng “Sau vài lần vận chuyển, A đã học được thủ đoạn lấy bớt dầu vẫn chuyển của công ty X” mặt khác, hợp đồng vận chuyển dầu nhiều lần thì thường là hợp đồng vận chuyển dài hạn, nên ý định phạm tội của A có thể coi là phát sinh sau khi ký được hợp đồng. Tuy nhiên, nếu ý định này phát sinh trước khi ký hợp đồng, hoặc hợp đồng vận chuyển dầu được ký mỗi lần trước khi vận chuyển thì hành vi của A cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Về cơ bản thì khung hình phạt của A là không thay đổi ” bị phạt tù từ 2 đến 7 năm”.

Trường hợp 2: Hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản (Điều 353 – BLHS 2023):

Về dấu hiệu pháp lý (cấu thành tội phạm)

1. Người nào lợi dụng chức vụ, quyền hạn chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm: a) Đã bị xử lý kỷ luật về hành vi này mà còn vi phạm; b) Đã bị kết án về một trong các tội quy định tại Mục 1 Chương này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 07 năm đến 15 năm: b) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; d) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 100.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng; đ) Chiếm đoạt tiền, tài sản dùng vào mục đích xóa đói, giảm nghèo; tiền, phụ cấp, trợ cấp, ưu đãi đối với n, tài sản trợ cấp, quyên góp cho những vùng bị thiên tai, dịch bệnh hoặc các vùng người có công với cách mạng; các loại quỹ dự phòng hoặc các loại tiềkinh tế đặc biệt khó khăn; e) Gây thiệt hại về tài sản từ 1.000.000.000 đồng đến dưới 3.000.000.000 đồng; g) Ảnh hưởng xấu đến đời sống của cán bộ, công chức, viên chức và người lao động trong cơ quan, tổ chức. 3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 15 năm đến 20 năm: a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 500.000.000 đồng đến dưới 1.000.000.000 đồng; b) Gây thiệt hại về tài sản từ 3.000.000.000 đồng đến dưới 5.000.000.000 đồng; c) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội; d) Dẫn đến doanh nghiệp hoặc tổ chức khác bị phá sản hoặc ngừng hoạt động. a) Chiếm đoạt tài sản trị giá 1.000.000.000 đồng trở lên; b) Gây thiệt hại về tài sản 5.000.000.000 đồng trở lên. 5. Người phạm tội còn bị cấm đảm nhiệm chức vụ nhất định từ 01 năm đến 05 năm, có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

Chủ thể của tội tham ô là chủ thể đặc biệt: chỉ những người mang dấu hiệu chủ thể đặc biệt đó làm dấu hiệu có chức vụ quyền hạn quản lý tài sản mới có thể là chủ thể của tội này, những người không có chức vụ quyền hạn chỉ có thể là đồng phạm tham ô với vai trò là người xúi giục, tổ chức hay giúp sức.

Chủ thể của tội tham ô là người có trách nhiệm quản lý tài sản, trách nhiệm này có thể có được do có chức vụ hoặc do đảm nhiệm những chức trách công tác nhất định, trách nhiệm quản lý tài sản cần được phân biệt với trách nhiệm bảo vệ đơn thuần của người làm công việc bảo vệ cơ quan nhà nước, doanh nghiệp nhà nước hay hợp tác xã. Người có chức vụ quyền hạn là người do bổ nhiệm,do bầu cử ,do hợp đồng hoặc do hình thức khác có hưởng lương hoặc ko hưởng lưong được giao thực hiện nhiệm vụ nhất định có quyền hạn. Cho nên ở đây A thông qua hợp đồng đã được công ty X giao cho nhiệm vụ và quyền hạn trong việc vận chuyển xăng dầu. A được đảm nhiệm công việc có tính độc lập đó là công việc tạo ra cho ngừoi được giao (tuy ko có trách nhiệm quản lí tài sản) mối quan hệ cũng như trách nhiệm với khối lượng tài sản nhất định trong khoảng thời gian nhất định.Ở đây công ty X đã giao cho anh A một mình vận chuyển chuyển chuyến hàng, ko có người áp tải.(Trong trường hợp những thùng dầu A chở được một cơ quan dùng dây chì buộc lại với nhau thì cơ quan đó mới là người quản lý tài sản, và khi đó A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản như đã nêu ở phần a.1).

Khi A có trách nhiệm quản lý lượng dầu máy thì A là người có thẩm quyền, bởi vậy A thỏa mãn dấu hiệu chủ thể đặc biệt của tội tham ô tài sản.

Người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản mà mình có trách nhiệm quản lý bằng thủ đoạn lợi dụng chức vụ quyền hạn.

Hành vi phạm tội của tội tham ô trước hết là hành vi chiếm đoạt, đối tượng của hành vi chiếm đoạt là những tài sản mà người phạm tội được giao quển lý, người phạm tội đã lợi dụng trách nhiệm quản lý tài sản được giao mà chiếm đoạt tài sản mình đang quản lý. Người phạm tội tham ô có thể dùng những thủ đoạn khác nhau để chiếm đoạt được tài sản, xét đến cùng thì những thủ đoạn đó thực chất đều là sử dụng chức vụ quyền hạn được giao như phương tiện, điều kiện để có thể dễ dàng biến tài sản được giao thành tài sản của mình.

Trong vụ án đề ra, hành vi của A là hành vi gian dối, với những thủ đoạn đã phân tích như trong phần a.1.

Khách thể của tội tham ô tài sản là những quan hệ xã hội xã hội chủ nghĩa đảm bảo sự hoạt động đúng đắn và uy tín của cơ quan nhà nước hoặc tổ chức xã hội, quyền và lợi ích hợp pháp của công dân. Hoạt động đúng đắn của các cơ quan nhà nước và tổ chức xã hội là hoạt động theo đúng các quy định của Hiến pháp và pháp luật.

Hành vi của A

Về mặt chủ quan của tội phạm không có gì khác biệt so với phần a.1.

Điểm khác biệt giữa Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản và Tội tham ô chính là dấu hiệu về chủ thể. Nếu như A có trách nhiệm quản lý tài sản thì hành vi của A cấu thành tội tham ô tài sản.

Hành vi của A thỏa mãn Điểm d Khoản 2 Điều 278 BLHS về tội tham ô tài sản.

2. B có thể phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.

Việc B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không thì có thể chia ra những trường hợp như sau:

b.1. Thứ nhất, nếu B hoàn toàn không biết gì về hành vi chiếm đoạt của A, không biết số dầu A bán cho mình là bất hợp pháp, và không có bất kỳ thỏa thuận nào với A thì B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A. Trong cấu thành của mọi vi phạm pháp luật thì yếu tố lỗi là yếu tố không thể thiếu. Lỗi là thái độ tâm lý của con người đối với hành vi nguy hiểm cho xã hội của mình và đối với hậu quả do hành vi đó gây ra được biểu hiện dưới hình thức cố ý hoặc vô ý. Trong trường hợp thứ nhất này, B không hề có lỗi trong việc tiêu thụ dầu của A, hoàn toàn ngay tình, bởi vậy nên B không phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tiêu thụ dầu của A.

b.2. Thứ hai, nếu B hoàn toàn biết được số dầu mình mua của A là do A chiếm đoạt được một cách phi pháp, nhưng giả vờ như không biết,giữa A và B không hề có sự hứa hẹn hay thỏa thuận nào, B do ham lợi vẫn cố tình tiêu thụ dầu thì hành vi của B thỏa mãn cấu thành Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có (Điều 323 BLHS)

– Về mặt khách quan của tội phạm, hành vi của B là hành vi tiêu thụ dầu máy mà biết được đó là lượng dầu A chiếm được do phạm tội, tuy nhiên giữa A và B không có bất kỳ sự thỏa thuận nào.

Như vậy hành vi của B sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự theo Điều 323 BLHS – Tội chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có.

– Về mặt chủ quan, B nhận thức rõ hành vi tiêu thụ dầu máy mà A chiếm đoạt được một cách phi pháp là nguy hiểm cho xã hội, lượng dầu rất lớn ( 200 lít dầu mỗi lần) nhưng do ham lợi nhuận, B vẫn cố tình tiêu thụ số dầu đó, B nhận thức được rõ ràng hậu quả của hành vi của mình. Lỗi của B là lỗi cố ý.

b.3. Thứ ba, nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau (ví dụ như A chiếm đoạt dầu để B tiêu thụ, dầu sẽ được bán cho B với giá thấp hơn giá thị trường 5%, B đảm bảo nguồn cầu cho A,.. ). A phạm tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản thì hành vi của B cấu thành Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản Điều 175 – BLHS với vai trò đồng phạm của A.

– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,

– Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi : thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm. A và B cùng tham gia thực hiện tội phạm, A lạm dụng tín nhiệm để chiếm đoạt dầu máy, B phụ trách tiêu thụ.

* Về mặt chủ quan:

Cả A và B đều cố ý thực hiện hành vi phạm tội, A chiếm đoạt, B tiêu thụ giúp, vì giữa hai người đã có sự thỏa thuận với nhau nên họ còn biết và mong muốn sự cố ý tham gia của người đồng phạm kia.

– Về lý trí: A biết rõ hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt dầu máy là trái pháp luật, gây nguy hiểm cho xã hội, B cũng biết rõ hành vi tiêu thụ dầu của mình là gây nguy hiểm cho xã hội. Hai người cũng biết rõ hành vi cố ý của người kia.

– Về ý chí: tất nhiên cả hai người này mong muốn có hoạt động chung, và cùng mong muốn để cho hậu quả phát sinh, bởi vì nếu A chiếm đoạt được dầu thì rất cần có nơi tiêu thụ, B cũng muốn kiếm được thêm tiền vì hành vi tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có, tuy nguy hiểm nhưng chắc chắn đem lại lợi nhuận cao hơn so với bình thường.

Đối với trường hợp đồng phạm giản đơn này, theo nguyên tắc chịu trách nhiệm chung về toàn bộ tội phạm, thì A và B đều bị truy tố, xét xử về cùng 1 tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, theo điểm d khoản 2.

Trường hợp đồng phạm của A và B là đồng phạm giản đơn, cả 2 người tham gia với vai trò đồng thực hành nếu phân chia theo dấu hiệu khách quan. Còn nếu chia theo dấu hiệu chủ quan thì trường hợp đồng phạm của họ là đồng phạm có dự mưu, nghĩa là đã có sự bàn bạc, thỏa thuận từ trước để thực hiện hành vi chiếm đoạt và tiêu thụ dầu nhiều lần ( tổng trị giá tài sản lên tới 100 triệu).

b.4. Thứ tư, nếu nếu giữa B và A có sự thỏa thuận trước với nhau, A phạm tội tham ô tài sản, thì hành vi của B cấu thành Tội tham ô tài sản với vai trò đổng phạm.

* Về mặt chủ quan: không có gì khác biệt so với trường hợp thứ ba nêu trên.

– Đồng phạm đòi hỏi có ít nhất 2 người tham gia thực hiện tội phạm và họ có đủ điều kiện chủ thể của tội phạm, cả A và B đều đủ điều kiện chủ thể,

– Những người đồng phạm cùng tham gia thực hiện một tội phạm, với một trong 4 hành vi : thực hiện tội phạm hoặc tổ chức thực hiện tội phạm hoặc xúi giục người khác thực hiện tội phạm hoặc giúp sức người khác thực hiện tội phạm.

Trong đề bài ra thì A đóng vai trò người thực hành của tội tham ô, hành vi của A là lợi dụng quyền hạn quản lý tài sản bằng hành vi gian dối đã chiếm đoạt lượng dầu với tổng trị giá 100 triệu, còn B đóng vai trò người giúp sức,hành vi của B là tiêu thụ dầu giúp A.

Như vậy B phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tham ô tài sản với vai trò người giúp sức. Ngoài ra B cũng có thể là người xúi giục hoặc người tổ chức.

Câu hỏi:

A là quốc tịch Canada. A có hành vi phạm tội giết người trên lãnh thổ Việt Nam và bị bắt tại Anh.

Hành vi phạm tội của A có bị xử theo Bộ luật Hình Sự Việt Nam không?

Giả định A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A có bị coi là tội phạm không?

Hãy cho biết quan điểm cá nhân về quy định tại Điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam.

Về nguyên tắc thì A bị xử lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam theo khoản 1 điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam: Bộ luật hình sự được áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tuy nhiên do A là người Canada nên việc xử lý A phải căn cứ vào khoản 2 điều 5 của bộ luật hình sự. Nếu A là đối tượng thuộc khoản 2, điều 5 bộ luật hình sự thì vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước CHXHCN Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Như vậy câu Lời giải chính xác là có thể.

Dù A là người thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao thì hành vi của A vẫn bị coi là tội phạm.

Hành vi của A là tội phạm theo quy định của Bộ luật hình sự Việt Nam vì nó thoả mãn những đặc điểm của tội phạm:

Tính nguy nguy hiểm cho xã hội

Tính có lỗi

Tính trái pháp luật hình sự

Tính chịu hình phạt

Hành vi của A là tội phạm tuy nhiên do A ( chủ thể của tội phạm) thuộc đối tượng được đặc miễn ngoại giao nên vấn đề trách nhiệm hình sự của A được giải quyết bằng con đường ngoại giao theo quy định tại khoan 2, điều 5 Bộ luật hình sự Việt Nam: Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng các quyền miễn trừ ngoại giao hoặc quyền ưu đãi và miễn trừ về lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo các điều ước quốc tế mà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam ký kết hoặc tham gia hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Quan điểm của cá nhân em về quy định tại điều 5 bộ luật hình sự Việt Nam.

Điều 5. Hiệu lực của Bộ luật Hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam 1. Bộ luật Hình sự áp dụng đối với mọi hành vi phạm tội thực hiện trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam. 2. Đối với người nước ngoài phạm tội trên lãnh thổ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam thuộc đối tượng được hưởng quyền miễn trừ ngoại giao hoặc lãnh sự theo pháp luật Việt Nam, theo điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên hoặc theo tập quán quốc tế, thì vấn đề trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết theo quy định của điều ước quốc tế hoặc theo tập quán quốc tế đó; trường hợp điều ước quốc tế đó không quy định hoặc không có tập quán quốc tế thì trách nhiệm hình sự của họ được giải quyết bằng con đường ngoại giao.

Quan điểm cá nhân em cho rằng điều 5 quy định về hiệu lực của bộ luật hình sự đối với những hành vi phạm tội trên lãnh thổ nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là một điều luật đúng hợp lý vừa thể hiện được tính nghiêm khắc vừa có sự kết hợp hài hoà với những thông lệ ngoại giao và tập quán quốc tế điều đó nói lên rằng Việt Nam rất tôn trọng những điều ước, điều khoản mà mình đã ký kết, đây là một điều kiện rất quan trọng để chúng ta ngày càng hội nhập sâu rộng với thế giới. Tuy vậy không vì điều đó mà việc thực hiện pháp chế bị ảnh hưởng mà trái lại điều luật này đã quy định rất rõ là mọi hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam đều được áp dụng thoe bộ luật này.

Bên cạnh sự đúng đắn và hợp lý đó em còn thấy rằng để thực hiện được điều luật này phải có một chính quyền đủ mạnh và phải có sự phối hợp giữa các quốc gia và vùng lãnh thổ trên thế giới. Vì một khi nhà nước mình không đủ mạnh để gây áp lực và quốc gia khác không hợp tác thì không thể xử lý được một hành vi phạm tội trên lãnh thổ Việt Nam mà bị bắt ở nước ngoài khi mình yêu cầu dẫn độ về nước để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam mà không được nước đó chấp nhận.

Một ví dụ điển hình năm 2001 Lý Tống dùng máy bay từ Thái Lan xâm phạm vào lãnh thổ Việt Nam rải truyền đơn rồi tẩu thoát về Thái Lan sau đó bị bắt, nhà nước ta đã yêu cầu phía Thái Lan dấn độ Lý Tống về Việt Nam để xử lý theo bộ luật hình sự Việt Nam nhưng không được phía Thái Lan chấp nhận. Nên hành vi tội phạm mà Lý Tống thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nhưng vẫn không bị xư lý theo Bộ luật hình sự Việt Nam.

Lợi dụng lúc gia đình B ngủ trưa không đóng cửa, A lẻn và nhà B lấy chiếc xe đạp mini Nhật ( trị giá khoảng hai triệu đồng). A dắt xe ra đến sân thì bị anh B phát hiện và đuổi theo giằng lại, A dùng chân đạp mạnh vào người anh B làm anh ngã ra sân. A vội lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát nhưng đã bị mọi người bắt giữ. Anh B ngã chỉ bị xây xước. Về việc phạm tội của A có quan điểm cho rằng:

Theo anh (chị) quan điểm nào đúng và giải thích tại sao?

A phạm tội trộm cắp tài sản với tình tiết hành hung tẩu thoát (điểm d khoản 2 Điều 173 BLHS)

A phạm tội cướp tài sản

Với tình huống như đã mô tả ở trên theo em A phạm tội cướp tài sản theo điều 173 BLHS.

Dấu hiệu pháp lý của tội cướp tài sản (133 BLHS)

Giải thích: Tội cướp tài sản là dùng vũ lực hoặc đe doa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

Xâm phạm đến quyền sở hữu ( chiếm hữu, sử dụng, định đoạt), xâm phạm đến tính mạng, sức khoẻ của người khác. Như vậy, tội “Cướp tài sản” xâm phạm đồng thời hai quan hệ được luật hình sự bảo vệ là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu.

Theo quy định của điều luật, có 3 dạng hành vi khách quan được coi là hành vi phạm tội của tội cướp tài sản. Đó là: + Hành vi dùng vũ lực; + Hành vi đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc; + Hành vi làm cho người khác lâm vào tình trạng không thể chống cự được. Cả ba hành vi trên đều có mục đích nhằm chiếm đoạt tài sản.

Là chủ thể thường chỉ đòi hỏi có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

* Mặt chủ quan của tội pham:

+ Lỗi của người phạm tội cướp tài sản là lỗi cố ý.

+ Mục đích của tội cướp tài sản là chiếm đoạt tài sản.

Đối chiếu và tình huống trên ta thấy mặc dù ý định ban đầu của A là thực hiện hành vi trộm cắp nhưng từ lúc A dắt xe ra bị B phát hiện và giữ lại, A dùng chân đạp mạnh và người B, làm B ngã và A đã lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát hành vi này đã đủ cấu thành tội cướp tài sản và lúc này tội trộm cắp tài sản đã chuyển hóa thành tội cướp tài sản, đây chính là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản. Kể cả trong trường hợp A đã chiếm đoạt được chiếc xe đạp bằng thủ đoạn của tội trộm cắp nhưng ngay sau đó đã bị phát hiện và A đã tấn công lại B bằng những thủ đoạn của tội cướp nhằm giữ bằng được chiếc xe đạp đã chiếm đoạt trước đó thì vấn bị xử tội cướp tài sản. Hành vi tấn công B ( dùng chân đạp mạnh vào người B làm B ngã và lên xe và đạp ra ngoài đường để tẩu thoát không thể được coi là tình tiết hành hung để tẩu thoát theo điểm d khoản 2 điều 173 BLHS được vì trường hợp hành hung để tẩu thoát là người phạm tội đã có hành vi dùng sức mạnh chống trả lại việc bắt giữ để tẩu thoát. Mục đích của việc chống trả là nhằm để tẩu thoát chứ không phải nhằm mục đích giữ bằng được tài sản vừa mới chiếm đoạt được. Mà theo mô tả trên thì A tấn công B không phải nhằm mục đích tẩu thoát mà nhằm mục đích giữ bằng được chiếc xe đạp vì vậy đây là hành vi dùng vũ lực để chiếm đoạt tài sản nên tội trộm cắp đã chuyển hoá thành tội cướp tài sản.

Thông tư liên tịch của Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Bộ Công an, Bộ Tư pháp số 02/2001/TTLT-TANDTC-VKSNDTC-BCA-BTP ngày 25 tháng 12 năm 2001 về việc Hướng dẫn áp đụng một số quy định tại chương XIV “Các tội xâm phạm sở hữu” của Bộ luật hình sự năm 1999:

6. Khi áp đụng tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm đ khoản 2 Điều 136; điểm a khoản 2 Điều 137; điểm đ khoản 2 Điều 138 BLHS) cần chú ý:6.1. Phạm tội thuộc trường hợp “hành hung để tẩu thoát” là trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng bị phát hiện và bị bắt giữ hoặc bị bao vây bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, bắn, xô ngã… nhằm tẩu thoát.6.2. Nếu người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đoạt được tài sản, nhưng đã bịngười bị hại hoặc người khác giành lại, mà người phạm tội tiếp tục dùng vũ lực, đe doạ dùng vũ lực ngay tức khắc tấn công người bị hại hoặc người khác nhằm chiếm đoạt cho được tài sản, thì trường hợp này không phải là “hành hung để tẩu thoát” mà đã có đầy đủ các dấu hiệu cấu thành tội cướp tài sản

Trong tình huống trên, mặc dù A cho là lên xe đạp để tẩu thoát nhưng xe đạp là xe của ông D, việc A tẩu thoát cùng với xe đạp của người bị hại phải bị coi là chiếm đoạt tài sản chứ không thể coi là A “mượn tạm” để tẩu thoát. Ai thực hiện hành vi phạm tội xong cũng đều có mục đích tẩu thoát. Nhưng trong trường hợp này, mục đích của A không chỉ đơn thuần là tẩu thoát mà còn là chiếm đoạt.

Như vậy, qua sự phân tích và căn cứ vào hướng dẫn trên ta khẳng định rằng A phạm tội cướp tài sản theo điều 173 BLHS, (do tội Cướp tài sản là tội có cấu thành hình thức nên tội phạm đã hoàn thành từ khi A dùng chân đạp vào B để lấy cho bằng được chiếc xe), chứ không phải tội trộm cắp tài sản với tình tiết “hành hung để tẩu thoát” (điểm d khoản 2 điều 173 BLHS).

Theo em, thì thực chất, cái mà chúng ta gọi là “chuyển hoá” chẳng qua là đã bỏ đi một tội cho người phạm tội. Khi A lén vào nhà B dắt xe ra, A đã thực hiện hết các hành vi có thể có trong tội Trộm cắp tài sản, nhưng chưa ra khỏi phạm vi kiểm soát của B (chưa ra khỏi nhà) thì bị phát hiện nên A phạm tội chưa đạt (đã hoàn thành). Tính nguy hiểm của hành vi này được thu hút vào hành vi Cướp tiếp theo nên chúng ta gọi là chuyển hoá thành tội “Cướp tài sản”./.

Tình huống 6:

Hỏi: 1. Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao? a. A phạm tội giết người? b. Tội phạm do A thực hiện ở giai đoạn tội phạm hoàn thành? 2. Phân tích sự khác nhau giữa tội khủng bố và tội giết người?

A bị lôi kéo tham gia vào tổ chức phản động trong nước. Khi thấy tính hình xã hội có nhiều biến động, để gây thêm thanh thế của tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, A nhận nhiệm vụ ném lựu đạn vào nhà chủ tịch huyện K (huyện giáp biên giới) nhằm giết chết ông K và làm suy yếu chính quyền. A ném lựu đạn vào nhà nhưng lựu đạn không nổ. Sau đó A bị bắt.

1 . Hay xác định các khẳng định sau là đúng hay sai và giải thích tại sao?

Nếu xét các dấu hiệu cảu mặt khách quan thì hành vi của A cũng tương tự tội giết người. Đối với tội giết người, mục đích không phải là dấu hiệu bắt buộc, dấu hiệu định tội nhưng nếu giết người có mục đích làm suy yếu chính quyền nhân dân thì đã thỏa mãn CTTP tội khủng bố. Hành vi của A không đơn thuần chỉ là hành vi giết một con người cụ thể mà hành vi của A để gây thêm thanh thế cho tổ chức, thu hút sự chú ý của dư luận trong và ngoài nước, từ đó nhằm làm suy yếu chính quyền. Mặt khác, K là một chủ tịch huyện, với vai trò cán bộ nhà nước, lại ở giáp biên giới, nơi thường bị các lực lượng thù địch lợi dụng chống phá. Như vậy, xét về tính chất nguy hiểm cho xã hội thì hành vi của A là đặc biệt nguy hiểm, xâm phạm đến an ninh quốc gia. Chính vì thế, A không phạm tội giết người mà là phạm tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân theo điều 113 BLHS 2023 .

Về căn cứ pháp lý, CTTP tội khủng bố là CTTP vật chất, là CTTP có các dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi, hậu quả và mối quan hệ giữa hành vi và hậu quả.

Mặt khác, tội khủng bố có 2 loại hậu quả:

Hậu quả trực tiếp: chết người, thương tích, tự do thân thể bị tước đoạt hoặc bị hạn chế. Đây chính là dấu hiệu bắt buộc của tội khủng bố, và nó hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra. Hậu quả này là phương tiện để người phạm tội đạt được kết quả suy yếu chính quyền nhân dân.

Hậu quả gián tiếp: thông qua hậu quả trực tiếp, người phạm tội có thể làm suy yếu chính quyền. Tuy nhiên hậu quả này không phải là dáu hiệu bắt buộc của CTTP tội khủng bố.

Xét về lý luận, CTTP vật chất hoàn thành khi hậu quả đã xảy ra, xét với tội khủng bố tức là cả 2 hậu quả đều xảy ra. Tuy nhiên, rất khó để xác định, thậm chí là không thể xác định được chính quyền đã suy yếu hay chưa, nếu suy yếu thì nó ở mức độ nào, và nhà nước cũng không thể công bố kết quả ra được vì nguyên nhân chính trị. . . Như vậy tội khủng bố hoàn thành khi hậu quả trực tiếp xảy ra.

Xét vào vụ án trên, A đã có hành vi ném lựu đạn vào nhà với ý muốn giết chết K, nên hành vi của A không thể là hành vi quy định tại khoản 3 điều 113: “đe dọa thực hiện một trong các hành vi quy định tại khoản 1 Điều này hoặc có hành vi khác uy hiếp tinh thần của cán bộ, công chức hoặc người khác” mà là hành vi quy đinh tại khoản 1 nhưng ở giai đoạn phạm tội chưa đạt vì hậu quả chết người chưa xảy ra.

Tình huống 7:

Trên đường đi uống rượu về, H và Q phát hiện ra chị B cùng với hai người bạn đang say rượu nằm mê mệt bên lề đường. Thấy chị B đeo nhiều nữ trang bằng vàng, H và Q lấy đi toàn bộ tài sản trị giá 10 triệu đồng. Gần sáng khi cơn say đã hết chị B tỉnh giấc mới biết mình bị mất tài sản và đi báo công an. Về vụ án này có các ý kiến sau đây về tội danh của H và Q :

Anh (chị) hãy xác định ý kiến nào đúng, ý kiến nào sai và giải thích rõ tại sao?

H và Q phạm tội cướp tài sản;

H và Q phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản;

H và Q phạm tội trộm cắp tài sản.

Giả thiết rằng ngoài việc chiếm đoạt tài sản H và Q còn có hành vi giao cấu với chị B thì bị chị này phát hiện và kêu cứu, sợ bị lộ H và Q đã bóp cổ làm chị B chết thì H và Q có phải chịu TNHS về hành vi của mình hay không? Nếu có tội thì tội danh cho hành vi của H và Q là gì? Căn cứ pháp lý?

1. H và Q phạm tội cướp tài sản là khẳng định sai vì:

Theo Điều 168 BLHS 2023 (sửa đổi, bổ sung 2023). Cướp tài sản là hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đoạt tài sản.

* Khách thể của tội phạm:

Ta khắng định như vậy là dựa vào dấu hiệu pháp lý sau:

Hành vi cướp tài sản xâm hại đồng thời hai quan hệ xã hội đó là quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu. Sự xâm hại một trong hai quan hệ này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản, nên cả hai quan hệ này đều chưa thể hiện được hết bản chất nguy hiểm của hành vi cướp tài sản. Do vậy cả hai quan hệ xã hội bị xâm hại đều được coi là khách thể trực tiếp của tội cướp tài sản.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Ở đây H và Q không có bất kỳ hành vi nào là dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay hành vi khác để đạt được mục đích chiếm đoạt tài sản mà H, Q chỉ thực hiện 1 hành vi duy nhất là lấy tài sản trên người chị B khi biết chị đang trong tình trạng say rượu.

Lỗi của người phạm tội là lỗi cố ý trực tiếp, biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn làm và mong muốn cho hậu quả xảy ra. Bên cạnh việc cố ý thực hiện hành vi phạm tội thì người phạm tội còn có mục đích chiếm đoạt tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu thuộc mặt chủ quan của tội cướp tài sản. Việc giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng được coi là dạng đặc biệt của mục đích chiếm đoạt. Như vậy, những hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay làm cho người khác bị tấn công không thể chống cự được nhằm mục đích giữ tài sản vừa chiếm đoạt được cũng bị coi là cấu thành tội cướp tài sản.

Lỗi của H, Q là lỗi cố ý trực tiếp. Khi thực hiện hành vi phạm tội cả H, Q đều biết mình có hành vi nguy hiểm cho xã hội là xâm phạm quan hệ sở hữu nhưng vẫn làm và mong muốn cho hậu quả đó xảy ra. Khi thấy B và bạn của chị trong tình trạng say rượu H, Q đã không tốn chút công sức nào để chiếm đoạt được tài sản.

Về dấu hiệu mục đích: Khi sử dụng rượu hay các chất kích thích khác thường gây ra sự hưng phấn trong cơ thể nên con người dễ thực hiện những hành vi nằm ngoài sự kiểm soát của bản thân.Trong tình huống này H, Q không hề có sự bàn bạc, thỏa thuận hay rủ nhau uống rượu vào để lợi dụng chất kích thích đi phạm tội. Việc phạm tội nằm ngoài ý chí chủ quan của H, Q. Chỉ khi vô tình nhìn thấy trên người chị B đeo nhiều nữ trang mà chị và các bạn đang ở trong tình trạng say mềm không còn biết gì nữa, không có khả năng phòng vệ nên H, Q mới nảy sinh ý định lấy tài sản.

* Mặt khách quan của tội phạm:

Theo luật hình sự Việt Nam thì công nhiên chiếm đoạt tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở, vướng mắc của người quản lý tài sản để lấy tài sản một cách công khai.

Do đặc điểm riêng của tội này nên người phạm tội chỉ có một hành vi khách quan duy nhất là “chiếm đoạt” nhưng bằng hình thức công khai với thủ đoạn lợi dụng sơ hở của người quản lý tài sản hoặc lợi dụng vào hoàn cảnh khách quan như thiên tai, hỏa hoạn, chiến tranh…

Tính chất công khai, trắng trợn tuy không phải là hành vi khách quan nhưng lại là một đặc điểm cơ bản đối với tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Công nhiên chiếm đoạt tài sản trước hết là công nhiên với chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản, sau đó là công nhiên với mọi người xung quanh.

Ta thấy về hành vi phạm tội, thì hành vi chiếm đoạt tài sản là hành vi có tính chất chiếm đoạt. Đây là dấu hiệu bắt buộc đòi hỏi người phạm tội phải có hành vi chiếm đoạt. Như vậy hành vi chiếm đoạt không còn là mục đích hành động mà phải được thực hiện trong thực tế.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Ở trường hợp này cả H và Q đã có hành vi chiếm đoạt là lấy tài sản của chị B, dấu hiệu chiếm đoạt ở đây mới nhìn có vẻ rất công khai nhưng thực tế lại không như vậy. Việc chiếm đoạt tài sản của H và Q đối với chị B được thực hiện một cách từ từ, từ khi bắt đầu cho tới khi kết thúc hành vi phạm tội, chính hành vi này đã làm cho ta lầm tưởng rằng H và Q không có ý định che giấu hành vi phạm tội của mình. Tuy vậy cả H và Q đều có hành vi che giấu việc thực hiện tội phạm. H và Q có công nhiên đối với tài sản nhưng lại có hành vi che giấu với chủ sở hữu tài sản là chị B và mọi người xung quanh mà cụ thể ở đây là những người bạn của chị B. Việc chiếm đoạt tài sản của H và Q không công khai nhưng do hoàn cảnh khách quan thuận lợi là trời tối vắng vẻ, chị B và những người bạn đều trong tình trạng say không biết gì đang xảy ra nên không có điều kiện ngăn cản. Vì vậy nên sau khi chiếm đoạt được tài sản H và Q đã không cần nhanh chóng lẩn trốn.

Cũng như đối với tội trộm cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cưỡng đoạt tài sản thì tội công nhiên chiếm đoạt tài sản cũng được thực hiện do lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Khác với tội xâm phạm sở hữu khác thì người phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản không thể có mục đích chiếm đoạt tài sản trong hoặc sau khi thực hiện hành vi chiếm đoạt vì hành vi chiếm đoạt đã bao gồm cả mục đích của người phạm tội. Vì vậy mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của chủ thể tội công nhiên chiếm đoạt tài sản. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt tài sản thì người phạm tội còn có thể có mục đích khác cùng với mục đích chiếm đoạt hoặc chấp nhận mục đích chiếm đoạt của người đồng phạm khác.

Như trên đã phân tích thì H và Q thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý trực tiếp và không có mục đích chuẩn bị phạm tội từ trước, hành vi phạm tội hoàn toàn là do điều kiện khách quan mang lại. Việc chiếm đoạt tài sản đã có chủ của H và Q được tiến hành khi họ biết chị B và những người bạn của chị đều trong tình trạng hạn chế về năng lực hành vi không có điều kiện để ngăn cản. Mặc dù chính lúc này chị B phải có đủ điều kiện và có thể kêu cứu để ngăn chặn kịp thời hành vi phạm tội của H và Q.

Như vậy H và Q không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản theo Điều 172 BLHS 2023.

3: H và Q phạm tội trộm cắp tài sản là khẳng định đúng vì:

Tội trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ.

Ta thấy hành vi phạm tội của H và Q đã thỏa mãn các dấu hiệu được quy định trong cấu thành tội phạm của tội trộm cắp tài sản, cụ thể là:

Đối với tội trộm cắp tài sản thì chủ thể của tội phạm cũng giống như đối với các tội xâm phạm sở hữu khác đều là chủ thể thường tức là đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự (Điều13 BLHS) và đạt độ tuổi luật quy định (Điều 12 BLHS).

Ở đây đề bài không nêu H và Q có dấu hiệu hạn chế về năng lực hành vi, mắc bệnh tâm thần… và độ tuổi nên ta mặc nhiên coi H và Q đã đủ tuổi và không ở trong tình trạng không có năng lực trách nhiệm hình sự.

Khách thể của tội trộm cắp tài sản cũng tương tự như những tội có tính chất chiếm đoạt khác, nhưng tội trộm cắp tài sản không xâm phạm đến quan hệ nhân thân mà chỉ xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Đây cũng là một điểm khác với các tội cướp tài sản, tội bắt cóc nhằm chiếm đoạt tài sản, tội cướp giật tài sản, điểm này được thể hiện trong cấu thành tội trộm cắp tài sản. Điều luật không quy định thiệt hại về tính mạng, sức khỏe là tình tiết định khung hình phạt vì vậy nếu sau khi đã chiếm đoạt được tài sản người phạm tội bị đuổi bắt có hành vi chống trả để tẩu thoát gây chết người, gây thương tích thì tùy từng trường hợp mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về các tội trên.

Trong trường hợp đề bài nêu thì H và Q cũng chỉ có hành vi xâm phạm đến quan hệ sở hữu. Vì khi lấy tài sản thì chủ sở hữu tài sản là chị B và các bạn của chị đang trong tình trạng say, không có điều kiện để ngăn cản hành vi phạm tội của H và Q, hơn nữa khi đó trời lại tối và vắng vẻ. Do đó cả H và Q không có ý định hay hành vi nào nhằm đối phó lại chị B và những người xung quanh.

* Mặt khách quan của tội phạm:

Do đặc điểm của tội trộm cắp tài sản, nên người phạm tội chỉ có hành vi duy nhất là “chiếm đoạt” nhưng chiếm đoạt bằng hình thức lén lút. Với thủ đoạn lợi dụng sơ hở, mất cảnh giác của người quản lý tài sản. Hành vi chiếm đoạt của tội trộm cắp tài sản có hai dấu hiệu phân biệt với hành vi chiếm đoạt của những tội khác đó là dấu hiệu lén lút và dấu hiệu tài sản đang có chủ.

Lén lút là dấu hiệu có nội dung trái ngược với dấu hiệu công khai. Nó vừa chỉ đặc điểm khách quan của hành vi chiếm đoạt vừa chỉ ý thức chủ quan của người thực hiện hành vi đó. Hành vi chiếm đoạt có đặc điểm là lén lút và ý thức chủ quan của người thực hiện cũng là lén lút.

Hành vi chiếm đoạt được coi là lén lút nếu được thực hiện bằng hình thức mà nó có khả năng không cho phép chủ tài sản biết. Ý thức chủ quan của người phạm tội là lén lút nếu khi thực hiện hành vi chiếm đoạt người phạm tội có ý thức che dấu hành vi phạm tội.

Tài sản là đối tượng của tội trộm cắp tài sản là tài sản đang có chủ. Hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản ở tội này phải là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản đang có chủ. Đó là tài sản đang ở trong sự chiếm hữu của người khác, nghĩa là đang nằm trong sự chi phối về mặt thực tế của chủ tài sản hoặc người có trách nhiệm và tài sản đang còn nằm trong khu vực quản lý, bảo quản của chủ tài sản.

Xét về khách quan, chỉ những tài sản trên mới là đối tượng của tội trộm cắp tài sản. Xét về chủ quan, người phạm tội khi thực hiện hành vi phạm tội cũng biết tài sản chiếm đoạt có đặc điểm đang có chủ.

Vì đặc điểm nổi bật của tội trộm cắp tài sản là người phạm tội lén lút (bí mật) lấy tài sản mà chủ sở hữu hoặc người quản lý tài sản không biết mình bị lấy tài sản, chỉ sau khi mất họ mới biết mình bị mất tài sản. Ở đây H và Q đã có hành vi lén lút mà không công khai. Sự lén lút trong việc phạm tội thể hiện ở việc lợi dụng chủ sở hữu đang trong tình trạng say rượu không biết gì để thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của chủ tài sản là chị B.Vì say mềm nên chị B và hai người bạn không hề biết bị H và Q lấy mất tài sản, chỉ sau khi tỉnh rượu thì họ mới biết là mình bị mất tài sản và đi báo công an.

Tính chất lén lút của hành vi trộm cắp tài sản còn thể hiện ở chỗ người phạm tội che giấu hành vi phạm tội của mình. Lén lút đối lập với công khai, trắng trợn. Tuy nhiên lén lút không phải là đặc trưng duy nhất của tội trộm cắp tài sản mà trong nhiều trường hợp người phạm tội cũng lén lút để thực hiện mục đích khác như lẻn vào nhà người khác để đặt mìn nhằm giết hại những người trong gia đình của họ, lẻn vào phòng ngủ của phụ nữ để thực hiện việc hiếp dâm …vì vậy khi nói đến trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản.

Ở đây H và Q đã lén lút lấy đi số nữ trang của chị B trị giá 10 triệu đồng, tuy công khai với tài sản nhưng cả H và Q đều có hành vi lén lút với chủ tài sản là chị B và những người xung quanh nhằm che giấu hành vi phạm tội của mình.

* Mặt chủ quan của tội phạm:

Tội trộm cắp tài sản được thực hiện với lỗi cố ý. Mục đích của người phạm tội là mong muốn chiếm đoạt được tài sản.

Mục đích chiếm đoạt tài sản của người phạm tội bao giờ cũng có trước khi thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản. Vì vậy có thể nói mục đích chiếm đoạt tài sản là dấu hiệu bắt buộc của chủ thể tội này. Tuy nhiên, ngoài mục đích chiếm đoạt tài sản người phạm tội còn có thể có mục đích khác.

Khi trên đường về phát hiện ra chị B và những người bạn của chị do say rượu không biết gì đang nằm mê mệt bên lề đường và trên người chị B có đeo nhiều nữ trang bằng vàng có giá trị nên H và Q đã nảy sinh ý định chiếm đoạt tài sản. Tuy không có chủ định,bàn bạc từ trước và việc phạm tội cũng hoàn toàn là do điều kiện khách quan mang lại nhưng lỗi mà H và Q thực hiện là lỗi cố ý chiếm đoạt tài sản đang có chủ sở hữu.

Hỏi: 1. Các khẳng định sau đây đúng hay sai? giải thích?

T, H, K là cựu sĩ quan của chính quyền Sài gòn có sự thù ghét mất mãn với chính quyền mới. Thấy hoạt động chống phá chính quyền trong nước gặp nhiều khó khăn cần có sự dúp đỡ của nước ngoài. T, H, K đã liên hệ với một tổ chức phản động ở nước ngoài. Theo thoả thuân, tổ chức phản động nước ngoài sẽ đón cả bọn tại hải phận quốc tế. T, H, K thuê A ngư dân dùng thuyền đưa bọn chúng ra hải phân quốc tế với giá 15 cây vàng. Biết rõ mục đích chống chính quyền của chúng nhưng do tham tiền nên A vẫn chở bọn chúng đi.

2. Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

T, H, K phạm tội nhằm lật đổ chính quyền nhân dân?

Tội phạm do T, H, K thực hiên ở giai đoạn phạm tội hoàn thành?

A là người đồng phạm

1. Các khẳng định sau đây đúng hay sai? giải thích?

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được quy định tại Điều 109 BLHS 2023:

Điều 109. Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân Người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì bị phạt như sau: 1. Người tổ chức, người xúi giục, người hoạt động đắc lực hoặc gây hậu quả nghiêm trọng, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, tù chung thân hoặc tử hình; 2. Người đồng phạm khác, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm; 3. Người chuẩn bị phạm tội này, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 05 năm.

Ta thấy hành vi của T, H, K đã có đủ dấu hiệu cấu thành tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Khách thể của tội này là xâm phạm sự tồn tại cuả chính quyền nhân dân. Thấy hoạt động chống chính quyền trong nước gặp nhiều khó khăn cần có sự tiếp sức của nước ngoài T, H, K đã liên hệ với một tổ chức phản động nước ngoài như vây về mặt khách quan thì K, H, T đã tham gia vào tổ chức phản động của nước ngoài nhằm tạo thêm sức mạnh để tiến tới hoạt động nhằm lật đổ chính quyền mới.

Mặt chủ quan của tội phạm được thực hiện với hình thức lỗi cố ý trực tiếp mục đích của T, H, K là lật đổ chính quyền nhân dân. mặc dù nhận thức được hành vi của mình, thấy rõ được hậu quả của hành vi đó có mức độ nguy hiểm cao ngây ra hoặc có khả năng gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội thuộc lĩnh vực an ninh quốc gia, tức là sức mạnh và sự tồn tại của chế độ nhà nước, chế độ xã hội, lợi ích cơ bản của dân tộc, sự đoàn kết thống nhất của toàn dân,an toàn chung xét trên quy mô quốc gia nhưng chúng vấn thực hiện và mong muốn cho hậu quả xẩy ra, hậu quả xẩy ra là hoàn toàn phù hợp với mục đích của chúng

Chủ thể của tội hoạt động nhăm lật đổ chính quyền nhân dân là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Khoản 1 điều 12 BLHS năm 2023 quy định về tuổi chiụu trách nhiệm hình sự “Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác.”. Điều 13 quy định về phạm tội do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác ” Người phạm tội trong tình trạng mất khả năng nhận thức hoặc khả năng điều khiển hành vi của mình do dùng rượu, bia hoặc chất kích thích mạnh khác, thì vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự“. Căn cứ vào hai điều luật này ta thấy T,H, K là cựu sĩ quan của chính quyền Sài gòn nên đã đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự và không trong tình trạng khôg có năng lực trách nhiệm hình sự. Khi thực hiện hành vi phạm tội T, H, K đã đủ điều kiện là chủ thể của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân đân.

Qua sự phân tích trên ta thấy tội phạm mà T, H, K thực hiện là tôị hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được quy định tại Điều 109 BLHS 2023:

Biểu hiện cụ thể của hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân rất đa dạng phong phú. Có thể nhận lời tham gia dưới hình thức thoả thuân miện, cũng có thể bằng hình thức văn bản như viết đơn, cam đoan xin gia nhập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân… một người được coi là tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi nhân lời tham gia tổ chức đó, không cần xét đến đã làm lễ kết nạp, ăn thề hay chưa, có tên trong danh sách tổ chức hay không, hoặc đã tiến hành những hoạt động tội phạm cụ thể theo sự phân công, chỉ đạo của tổ chức hay chưa. Như vậy sự tham gia ở đây là sự tự nguyện, nhận thức được tính chất phạm tội của tổ chức còn các trường hợp khác do bị cưỡng bức, lừa bịp hoặc do bị lạc hậu về nhận thức nên đã nhận lời tham gia tổ chức thì phải xem xét đánh giá điều kiện hoàn cảnh của từng trường hợp

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có cấu thành tội phạm cắt xén tức là chỉ có dấu hiệu hành vi mà không có dấu hiệu hậu quả. cấu thành tội phạm cắt xén khác với cấu thành tội phạm hình thức là dấu hiệu hành vi trong cắt xén không phải là sự phản ảnh chính hành vi phạm tội mà là hành vi “hoạt động” nhằm thực hiện hành vi đó, hành vi phạm tội của loại tội có cấu thành tội phạm cắt xén phản ảnh.

Trong cấu thành tội phạm của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân dấu hiệu hành vi phản ảnh tất cả những hoạt động nhằm thành lập hoặc tham gia tổ chức – có mục đích lật đổ chính quyền chứ không phản ảnh chính hành vi thành lập hoặc tham gia là hai loại hành vi phạm tội của loại tội này. Vì vậy tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tôi thực hiện hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Tổ chức phạm tội có thể hoàn thành hoặc chưa hoàn thành người tham gia tổ chức có những hành động cụ thể theo kế hoạch của tổ chức hoặc chưa có hành động cụ thể gì, điều đó chỉ có giá trị trong đánh gía mức độ phạm tội, để quyết định hình phạt và hình thức xử lý tương xứng chứ không có giá trị trong xác định cấu thành tội phạm hay không, khi có hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức thì tội phạm được xác định là hoàn thành.

Ở đây T, H, K có sự thù ghét bất mãn với chính quyền nhân dân, thấy hoạt động chống phá trong nước gặp nhiều khó khăn cần sự tiếp sức của tổ chức phản động nước ngoài K, T, H đã lên hệ với tổ chức phản động nước ngoài và theo thoả thuận tổ chức phản động nước ngoài sẽ đón cả bọn tại hải phận quốc tế như vậy mặc dù T, H, K chưa có hành động cụ thể nhưng bọn chúng đã có hành vi liên hệ với tổ chức phản động nước ngoài để tìm sự dúp đỡ và đã trốn ra nước ngoài để thuận lợi hơn cho việc hoạt động nhằm chống phá chính quyền nhân dân. Vì vậy tội phạm do T, H, K thực hiện ở giai đoạn tội phạm đã hoàn thành.

Tại khoản 1 điều 17 BLHS 2023 quy định ” Đồng phạm là trường hợp có hai người trở lên cố ý cùng thực hiện một tội phạm. “.

* Về mặt khách quan:

Đồng phạm là một hình thức phạm tội đặc biệt thể hiện quy mô và tính chất nguy hiểm hơn của tội phạm như tinh vi hơn xảo quyệt hơn táo bạo và liều lĩnh hơn có bàn bạc và lên kế hoạch…hơn so với tội phạm riêng rẽ.

* Về mặt chủ quan

Thứ nhất là phải có ít nhất từ hai người trở lên và những người này có đủ điều kiện về chủ thể của tội phạm.

Thứ hai là những người đồng phạm phải cùng tham gia vào một tội phạm sự tham gia này thể hiện một trong 4 hành vi là Tổ chức, thực hành, xúi dục và dúp sức, tương ứng với bốn hành vi đó là có bốn lại người đồng pham.

Tội phạm được thực hiện do đồng phạm phải là tội cố ý. Những người đồng phạm đều cố ý thực hiện tội phạm hoặc biết và mong muốn sự cố ý của người khác khi cùng thực hiên tội phạm. về lý trí mọi người đồng phạm đều nhận thức rõ hành vi của mình và của người khác trong vụ đồng phạm là nguy hiểm cho xã hội và cùng thấy trước được hậu quả của hành vi đó họ đều ý thức được hành vi của minh là môt bộ phận, một mắt xích trong quá trình thực hiện vụ đồng phạm, hành động của người này là điều kiện là tiền đề cho hành động của người kia và cho tất cả những đồng phạm khác. Về mặt ý chí mọi đồng phạm đều mong muốn hậu quả xẩy ra hoặc có ý để mặc cho hậu quả xẩy ra. Trong trường hợp này A đóng vai trò là người dúp sức. Khoản 2 điều 20 quy định ” người dúp sức là người tạo ra những điều kiện về vật chất hay tinh thần cho việc thực hiện tội phạm “

T, H, K đã thuế A là ngư dân dùng thuyền đưa bọn chúng ra hải phận quốc tế với giá mười lăm cây vàng biết rõ mục đích chống chính quyền của T, H, K nhưng A do tham lam nên vẫn chở bọn chúng trốn đi. Hành vi dúp sức qua hành động của A đã tạo điều kiện thuận lợi dễ dàng cho vịêc thực hiên tội phạm của T, H, K. Ở đây A không có cùng mục đích hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân với T, H, K nhưng vì động cơ cá nhân, tham tiền nên biết rõ A vẫn chấp nhận mục đích và tạo điều kiện vật chất bằng cách dùng thuyền đưa bọn chúng ra hải phân quốc tế. Về mặt lý trí A nhận thức rõ hành vi của mình trong vụ đồng phạm là nguy hiểm và có thể thấy trước hậu quả là T, H, K trốn thoát ra nước ngoài kết hợp với tổ chức phản động nước ngoài sẽ có những hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Đối với A hậu quả chính quyền nhân dân có bị lật đổ hay không A không quan tâm, cải mà A quan tâm chỉ là mười lăm cây vàng mà T, H, K dùng để thuê A chở bọn chúng trốn thoát.

2: Phân tích các dấu hiệu pháp lý của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 109 BLHS)

Theo quy định của điều luật mục đích của tội phạm là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thay đổi chế độ chính trị, chế độ kinh tế và xã hội đã được hiến pháp ghi nhận. Để đạt được mục đích đó người phạm tội đã tiến hành thành lâp, tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, xâm hại đến những quan hệ xã hội được luật hính sự bảo vệ là sự tồn tại sự vững mạnh của nhà nước của chế độ xã hội chủ nghĩa. Vì vậy khách thể trực tiếp của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thể hiên đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của tội phạm này là sự tồn tại, sự vững mạnh của nhà nước cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam.

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thể hiện ở những hành vi sau:

Thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hoạt động thành lập do người tổ chức tiến hành, chính hoạt động thành lập của người tổ chức dẫn đến tổ chức phạm tội được hình thành tồn tại và phát triển nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Hoạt động thành lập tổ chức có thể được thực hiện dưới các hình thức cụ thể sau:

– Khởi xướng và thành lập tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân đề ra chủ trương, phương hướng kế hoach hoạt động sau khi tổ chức phạm tội được thành lập.

– Tuy không khởi xướng việc thành lập tổ chức nhưng trực tiếp đứng ra thành lập tổ chức tuyên truyền lôi kéo người khác tham gia vào tổ chức phạm tội

– Soạn thảo cương lĩnh, điều lệ hoặc vạch ra phương hướng, kế hoạch hoạt động của tổ chức phạm tội.

Một tổ chức được thành lập nhằm lật đổ chính quyền nhân dân có thể đã soạn thảo được cương lĩnh điều lệ cũng có thể chỉ là thoả thuận miệm nội dung quan trọng chính là mục đích lật đổ chính quyền nhân dân của tổ chức phạm tội. Hành vi thành lập tổ chức thường xuất hiện khi tổ chức phạm tội chưa ra đời hoặc trong quá trình hình thành tổ chức. Trong một số trường hợp hành vi này xuất hiện khi tổ chức phạm tội đã được thành lập thâm chí đã tan rã cơ bả về cơ cấu tổ chức.

Tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân:

Đây là hành vi của những người gia nhập tổ chức phạm tội khi nhận thức được tính chất, mục đích hoạt động của tổ chức đó là lật đổ chính quyền nhân dân. Một người bị quy kết là tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi người đó nhận thức được rằng tổ chức mà mình tham gia là tổ chức phạm tội có mục đích lật đổ chính quyền nhân dân mà vẫn tham gia với bất kì vai trò nào trong tổ chức đó. Biểu hiên cụ thể của hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân rất phong phú và đa dạng. Có thể là nhận lời tham gia dưới hình thức thoả thuận miệng cũng có thể bằng văn bản như viết đơn cam đoan xin gia nhập tổ chức…một người bị coi là tham gia vào tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân khi nhận lời tham gia tổ chức đó mà không cần xét đến lễ kết nạp ăn thề hay chưa, có tên trong danh sách tổ chức hay không hoặc đã tiến hành hoạt động tội pham cụ thể theo sự phân công chỉ đạo của tổ chức hay chưa. Như vậy sự tham gia ở đây là tự nguyện, nhận thức được tính chất phạm tội của tổ chức còn các trường hợp bị cưỡng bức, lừa bịp hoặc lạc hậu về nhận thức nên đã nhận lời tham gia tổ chức thì phải xem xét đánh giá điều kiện hoàn cảnh thực tế cụ thể của từng trường hợp để kết luận.

– Nếu hoàn toàn bị lừa bịp không nhận thức được tính chất và mục đích của tổ chức nhưng sau đó đã nhận thức được mục đích của tổ chức là hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân nhưng vẫn không từ bỏ tổ chức đó thì phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân.

Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được coi là hoàn thành từ thời điểm người phạm tội thực hiện hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức nhăm lật đổ chính quyền nhân dân. Tổ chức phạm tội có thể đã hoàn thành hoặc chưa hoàn thành người tham gia tổ chức có thể đã có hoạt động tội phạm cụ thể theo kế hoạch của tổ chức hoắc chưa có hoạt động cụ thể gì điều đó chỉ có gía trị trong việc đánh giá mức độ phạm tội, để quyết định hình phạt và hình thức xử lý tương xứng chứ không có gía trị trong việc cấu thành tội phạm. Khi có hành vi thành lập hoặc tham gia tổ chức thì tội phạm đã được xác định là hoàn thành.

của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân là bất kỳ người nào có năng lực trách nhiêm hình sự và đạt độ tuổi lật định.

* Mặt chủ quan của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân được đặc trưng bởi hình thức lỗi cố ý trực tiếp và mục đích nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Người nào thành lập hoặc tham gia vào tổ chức phạm tội nhưng không nhằm mục đích lật đổ chính quyền nhân dân thì không phải chịu trách nhiêm hình sự về tội này. Khả năng và thực lực của tổ chức không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm của tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Thực tiến đấu tranh chống loại tội này cho thấy bọn tội phạm thường tập hợp lực lượng chuẩn bị vũ khí chờ thời cơ thuận lợi sẽ tiến hành lật đổ chính quyền nhân dân. Song cũng không ít trường hợp chúng manh động liều lĩnh chỉ có vài tên đã dùng vũ lực, chống phá chính quyền nhân dân. Cần phải xuất phát từ nguyên tắc rất cơ bản là phải bảo vệ an toàn tuyệt đối sự vững mạnh của chính quyền nhân dân vì thế không phải chờ khi những người phạm tội có hoạt động cụ thể nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mới quy kết là phạm tội.

Tình huống 9:

Anh (chị) hãy:

C mua đc 2kg côcain. C thuê Kchuyển số côcain này đến thị xã X cho một người tên là H với tiền công là 20 triệu đồng. Biết là hàng cấm nhưng đang cần tiền nên K đồng ý. Trên đường vận chuyển, vì lo sợ nên K có thái độ lấm lét khi cảnh sát kiểm tra giấy tờ xe và K đã bị đội đặc nhiệm bắt giữ cùng tang vật là gói hàng 2 kg côcain. K thành khẩn khai báo sự việc. Số hàng do K vận chuyển được đưa đi giám định. Kết quả giám định cho biết đó là chất ma tuý giả. Cơ quan điều tra cũng xác định được C mua lầm số hàng nói trên của một người tên là P. Mở rộng điều tra, cơ quan điều tra cũng xác định được rằng P biết số côcain bán cho C là giả nhưng P vẫn bán cho C.

Xác định tội danh cho hành vi của C, K và P.

Giả thiết rằng trên đường vận chuyển, biết được giá trị của ma tuý, K đã lấy khoảng 50 gam giấu đi và đánh tráo bằng 50 gam bột trắng (ma tuý) giả. Trong trường hợp này K có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không, tại sao?

Số ma tuý lấy được, K dùng để thanh toán tiền công sửa chữa nhà vệ sinh cho thợ xây là anh S thì K có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này không, tại sao?

1. Xác định tội danh cho hành vi của C, K và P.

Để xác định tội danh cho hành vi của C, ta xem xét các dấu hiệu cơ bản sau:

Hành vi của C đã xâm phạm tới chế độ quản lý của nhà nước về việc cất giữ vận chuyển trao đổi chất ma túy (côcain). Cho dù số côcain C mua là giả thì C vẫn bị truy cứu trách nhiệm hình sự. Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 của Bộ công an – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp : “Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà truy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy “. Số côcain mà C mua là giả nhưng khi mua nó trong ý thức chủ quan của mình C vẫn tin rằng số côcain đó là thật. Trường hợp này là sai lầm về khách thể.

C mua được 2 kg côcain của P và C đã thuê K chuyển số côcain này đến thị xã X cho H là 20 triệu đồng. Như vậy, trong vụ án này, trước hết ta xác định được chắc chắn rằng là C có hành vi mua côcain trái phép.

C có lỗi cố ý trực tiếp. Thể hiện ở việc C nhận thức được côcain là ma túy bị nhà nước cấm lưu thông nhưng C vẫn có hành vi mua 2kg côcain này và thuê K vận chuyển đến thị xã X cho H với tiền công rất lớn 20 triệu đồng. Tóm lại, C nhận thức được hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn thực hiện đến cùng tội phạm.

Chỉ cần C có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt độ tuổi luật định.

Tuy nhiên, như đã trình bày, ta chỉ mới xác định được C có hành vi mua côcain, chứ chưa biết C có mục đích bán hay không. Phải làm rõ được mục đích của C thì mới có thể định tội chính xác được.

Việc xác minh C có mục đích bán hay không, là trách nhiệm của cơ quan tiến hành tố tụng.Tuy nhiên, việc xác định mục đích của người mua trái phép chất ma túy có nhằm mục đích bán trái phép cho người khác hay không chỉ phức tạp trong trường hợp chất ma túy có số lượng nhỏ.Còn trong trường hợp của C, C đã mua 2kg côcain số lượng côcain rất lớn thì mục đích của C mua về để bán là dễ dàng chứng minh được. Bởi thường thì không ai mua 2kg côcain về sử dụng dần cả.

Tuy vậy ta vẫn phải chia thành hai trường hợp tương ứng với mục đích của C có phải là nhằm mua bán trái phép chất ma tuý hay không:

Chứng minh được mục đích mua bán trái phép chất ma tuý của C.

Ở trường hợp này thì hành vi của C là hành vi mua bán trái phép chất ma túy. Hành vi mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất kí hình thức nào.

Không chứng minh được mục đích bán trái phép chất ma túy của C.

Trong trường hợp này, C có thể có nhiều mục đích khác. Tùy từng mục đích cụ thể mà có thể khẳng định hành vi của C là hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy hoặc thậm chí là sản xuất trái phép chất ma tuý.

Hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là hành vi cất giữ trái phép chất ma túy trong người, trong nhà hoặc ở nơi nào nào đó, không kể thời gian bao lâu.

Hành vi sản xuất trái phép chất ma tuý là hành vi tham gia vào quá trình tạo ra chất ma tuý dưới bất kì hình thức nào. Quá trình này có thể gồm nhiều công đoạn khác nhau và được tiến hành với các phương pháp, quy trình cũng như với các phương tiện, thiết bị khác nhau. Người phạm tội có thể có hành vi tham gia vào một giai đoạn hoặc toàn bộ quá trình.

Để xác định tội danh cho hành vi của K, ta cũng cần xem xét các dấu hiệu cơ bản.

Các dấu hiệu về khách thể, chủ thể và thái độ lỗi của tội phạm mà K thực hiện cũng tương tự như C.

Có thể thấy ngay: Hành vi của K là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý là hành vi chuyển dịch bất hợp pháp chất ma tuý từ nơi này đến nơi khác, từ vị trí này sang vị trí khác, từ người này sang người khác, từ quốc gia này sang quốc gia khác.. bằng bất kì phương thức nào (trừ hình thức chiếm đoạt) nhưng đều không nhằm mục đích mua bán.

Như vậy, khái niệm vận chuyển trái phép chất ma tuý được dùng ở đây có nội hàm rộng hơn khái niệm vận chuyển hàng hoá thông thường. Vận chuyển trái phép chất ma tuý có thể giống với vận chuyển hàng hoá từ nơi này đến nơi khác trong một cự ly nhất định với phương tiện là ôtô, xe đạp, xe máy, tàu thuỷ, máy bay.., nhưng cũng có thể chỉ là hành vi chuyển dịch từ vị trí này sang vị trí khác trong một không gian chật hẹp như từ gầm giường sang giá sách, từ túi người này sang túi người khác trong một phòng, thậm chí từ túi này sang túi khác của cùng một người.

Xét hành vi của K: K dùng xe (không rõ là xe máy hay ôtô) để vận chuyển 2kg côcain đến thị xã X cho một người tên H theo thoả thuận với C. Như vậy hành vi của K đúng là hành vi vận chuyển trái phép ma tuý.

Cùng là hành vi vận chuyển trái phép chất ma tuý, nhưng với những thái độ lỗi khác nhau của người phạm tội thì có thể cấu thành những tội phạm khác nhau. Đặc biệt ở đây, K đóng vai trò vận chuyển thuê cho C, nởi vậy không thể không xét tới mối liên hệ về ý chí giữa hành vi của C và hành vi của K.

Cụ thể ở trường hợp này như sau:

Nếu vận chuyển ma tuý với mục đích mua bán chất ma tuý này thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý.

Nếu vận chuyển ma tuý cho người khác mà biết rõ mục đích mua bán ma tuý của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.

Nếu vận chuyển ma tuý hộ người khác, không nhằm mục đích mua bán, cũng không biết rõ mục đích của người mà mình nhận vận chuyển hộ thì người có hành vi vận chuyển bị truy cứu trách nhiệm hình sự tội vận chuyển trái phép chất ma tuý.

Dựa vào tình tiết của vụ án, ta có thể loại ngay trường hợp 1. Bởi lẽ: C là người đã giao cho K 2kg côcain đó và thuê K vận chuyển đến cho H với tiền công thoả thuận là 20 triệu đồng. Như vậy, rõ ràng K chỉ vận chuyển thuê chứ không phải mua bán với C hay H.

Tuy nhiên, do các tình tiết không nêu rõ K có biết được mục đích nhờ vận chuyển của C là mua bán chất ma tuý hay không, nên ta phải chia làm hai trường hợp ứng với hai trường hợp 2. và 3. nói trên cùng những tội danh tương ứng.

Kết luận: K có thể phạm tội vận chuyển trái phép chất ma tuý, hoặc đồng phạm tội mua bán trái phép chất ma tuý với vai trò giúp sức.

Theo Thông tư liên tịch số 17 ngày 24 tháng 12 năm 2007 Bộ công an – Viện Kiểm sát nhân dân Tối cao – Toà án nhân dân Tối cao – Bộ tư pháp: “Trường hợp một người biết là chất ma túy giả nhưng làm cho người khác tưởng là chất ma túy thật nên mua bán, trao đổi… thì người đó không bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội phạm về ma túy mà bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo Điều 174 BLHS, nếu thỏa mãn các dấu hiệu khác nữa trong cấu thành tội phạm của tội này”.

Như vậy, ta cần xét xem hành vi của P có thoả mãn các dấu hiệu pháp lý cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo điều 174 BLHS hay không.

Khách thể của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là quan hệ sở hữu. Hành vi lừa đảo của P là nhằm thiết lập quan hệ sở hữu đối với tài sản chiếm đoạt.

Đối tượng của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là tài sản. Đối tượng tác động của hành vi của P cũng là tài sản (số tiền tương ứng với giá trị 2kg côcain mà C trả cho P)

Hành vi tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản bao gồm hành vi lừa dối và hành vi chiếm đoạt:

Hành vi lừa dối là điều kiện để hành vi chiếm đoạt có thể xảy ra, còn hành vi chiếm đoạt là mục đích và là kết quả của hành vi lừa dối;

Hành vi lừa dối là hành vi cố ý đưa ra thông tin không đúng sự thật nhằm để người khác tin đó là sự thật.

Trong trường hợp này ta thấy mặc dù biết là côcain là giả nhưng P vẫn bán cho C. Như vậy, rõ ràng P đã lừa dối C.

Hành vi chiếm đoạt trong tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có hai hình thức thể hiện cụ thể:

Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ tài sản thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi nhận tài sản của người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã giao nhầm tài sản.

Nếu tài sản bị chiếm đoạt đang ở trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì hình thức thể hiện cụ thể của hành vi chiếm đoạt là hành vi giữ lại tài sản đáng lẽ phải giao cho người bị lừa dối. Vì đã tin vào thông tin của người phạm tội nên người bị lừa dối đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận.

Trong trường hợp này, tài sản bị chiếm đoạt là số tiền tương ứng với giá trị của 2kg côcain mà C đã trả cho P. P đã giao hàng cho C chứng tỏ P đã nhận tiền của C. Từ đó cho thấy P đã thực hiện hành vi chiếm đoạt.

Theo Điều 12 BLHS, P sẽ phải chịu trách nhiệm hình sự về tội lừa đảo, chiếm đoạt tài sản nếu P từ đủ 14 tuổi trở lên và có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự.

Người phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có lỗi cố ý trực tiếp. Người phạm tội biết mình có hành vi lừa dối và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để có thể chiếm đoạt được tài sản.

Từ những phân tích trên, ta khẳng định hành vi của P cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản.

Xét lỗi của P, ta thấy P biết mình có hành vi lừa dối C và mong muốn hành vi lừa dối đó có kết quả để chiếm đoạt được tài sản do đó P có lỗi cố ý trực tiếp.

2. Trên đường vận chuyển, biết được giá trị của ma tuý, K đã lấy khoảng 50 gam giấu đi và đánh tráo bằng 50 gam bột trắng (ma tuý) giả. Trong trường hợp này K có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình không, tại sao?

Hành vi K lấy khoảng 50g côcain rồi đánh tráo bằng 50g bột trắng (ma túy giả) thì K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội chiếm đoạt chất ma túy. Cụ thể hơn: hành vi của K là hành vi chiếm đoạt chất ma tuy bằng thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt ma túy của người khác.

– Hành vi chiếm đoạt chất ma tuý là hành vi chuyển chất ma tuý của người khác thành của mình bằng bất kì thủ đoạn nào.

– Hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản:

Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản của người khác là vay mượn thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối hoặc bỏ trốn để chiếm đoạt tài sản đó hoặc sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

Việc chuyển giao tài sản từ người bị hại sang người phạm tội xuất phát từ một đồng hợp pháp như vay, mượn, thuê tài sản.

Ý định chiếm đoạt tài sản nảy sinh sau khi nhận được tài sản, sau đó người phạm tội có hành vi chiếm đoạt tài sản do mình quản lý với những thủ đoạn như: lừa dối, bỏ trốn khồn thanh toán, không trả lại tài sản…

– Xét trong hành vi của K, ta thấy:

Việc chuyển giao ma túy từ C sang K là một hợp đồng thuê vận chuyển, như vậy nếu không tính đối tượng của hợp đồng là vật cấm thì có thể coi đây là một hợp đồng hợp pháp.

Sau khi nhận được tài sản, do nhận thấy giá trị của ma túy nên K đã nảy sinh ý định chiếm đoạt ma túy của C.

K đã thực hiện hành vi chiếm đoạt ma túy của C: K lấy khoảng 50g côcain rồi đánh tráo bằng 50g bột trắng (ma túy giả).

K chiếm đoạt được của C 50g Côcain. Theo Thông tư …thì chiếm đoạt … thì coi là phạm tội chiếm đoạt ma túy của người khác. Ở đây K chiếm đoạt 50g Côcain, như vậy đã thỏa mãn dấu hiệu định lượng của CTTP tội chiếm đoạt chất ma tuý.

Từ sự phân tích trên có thể khẳng định hành vi của K đã cấu thành tội chiếm đoạt ma túy của người khác với thủ đoạn lạm dụng tín nhiệm. K phải chịu trách nhiệm về hành vi của mình theo điều 252 BLHS với tình tiết tăng nặng thuộc điểm c khoản 3 Điều 252 BLHS 2023.

3. Số ma túy lấy được K đã dùng để thanh toán tiền công sửa chữa nhà vệ sinh cho thợ xây là anh S thì K có phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi này không? Tại sao?

Nếu K dùng số ma túy lấy được để thanh toán tiền công sửa chữa nhà vệ sinh cho thợ xây là anh S thì K phải chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

Mua bán trái phép chất ma túy là hành vi trao đổi trái phép chất ma túy dưới bất cứ hình thức nào. Chất ma túy của người có được để bán không phụ thuộc vào chất ma túy đó từ đâu mà có, thật hay giả, số lượng nhiều hay ít…

Các dấu hiệu cấu thành tội phạm của tội này:

– Khách thể: Người phạm tội xâm phạm đến chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước ở tất cả các khâu của quá trình quản lý.

– Mặt khách quan: Đó là hành vi mua bán được thể hiện dưới những hình thức như mua bán theo nghĩa thông thường, tàng trữ để bán, vận chuyển để bán, xin để bán, mua để bán, dùng chất ma túy đổi lấy tài sản khác, dùng tài sản khác đổi lấy ma túy để bán…

– Mặt chủ quan: Lỗi cố ý trực tiếp

Đạt độ tuổi luật định và có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình.

Như vậy, xét về:

Đối chiếu với trường hợp này ta nhận thấy dù thực tế số ma túy mà K chiếm đoạt được là ma túy giả nhưng K vẫn tin chắc rằng đó là ma túy thật và ý thức được sự nguy hiểm của hành vi đó.

– Mặt khách quan: K dùng chất ma túy mà K tin chắc là ma túy thật để thanh toán cho một công việc mà K đã yêu cầu người khác thực hiện mà cụ thể là tiền công xây dựng nhà vệ sinh của anh S. Như vậy K có hành vi mua bán chất ma túy

– Mặt chủ quan: Vì tin chắc chất mà mình trao đổi là ma túy nên K biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn cố ý thực hiện. Do vậy lỗi của K ở đây là lỗi cố ý trực tiếp

– Khách thể: Căn cứ vào những hành vi trên của K thì K đã xâm phạm chế độ quản lý chất ma túy của Nhà nước.

K được mặc định là có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự

Như vậy, K phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi của mình mà cụ thể ở đây chịu trách nhiệm hình sự về tội mua bán trái phép chất ma túy.

Tình huống 10:

Về vụ án này có các quan điểm sau:

Vì muốn có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đạp của B, A đến gặp B ( là người quen) ngỏ ý mượn xe để đèo người thân ra bến xe ô tô. B tin tưởng và giao xe đạp cho A ( chiếc xe đạp trị giá 700.000 đồng). A đạp xe ra chợ để bán nhưng không được liền đem về nhà. Đợi mãi không thấy A trả xe, 2 ngày sau, B đến nhà A để đòi xe. Đến ngõ nhà A, B thấy A dắt xe đạp của mình từ trong nhà đi ra, B chạy đến đưa tay ngăn lại và nói: ” trả tao xe đây, mượn gì mà mãi không trả”. A không Lời giải mà lên xe định đạp xe đi, B liền giữ lại và tiếp tục đòi trả xe, A liền rút con dao găm giấu trong người ra, gí sát vào mặt B quát: “Tao vừa giết người trên phố về đây. Biết điều buông ngay xe ra, không tao đâm chết”. B sợ, rời tay khỏi ghi đông xe đạp. A nhảy lên xe phóng đi. Sau đó B tố cáo với cơ quan công an về hành vi của A. Một thời gian sau, A bị bắt.”

Anh (chị ) hãy cho biết:

A phạm tội cướp tài sản.

A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát”.

A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp.

Các quan điểm trên có quan điểm nào đúng không? Tại sao?

Nếu các quan điểm trên đều sai thì quan điểm của nhóm anh ( chị ) cho rằng A phạm tội gì? Hãy phân tích rõ?

Đó là: tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139) và tội cướp tài sản (điều 133)

Để làm rõ quan điểm này trước tiên phải hiểu rõ dấu hiệu pháp lý của 2 tội này:

1. Tội cướp tài sản ( điều 133)

Điều 133-BLHS 1999 chỉ rõ tội cướp tài sản là hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hoặc có hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được nhằm chiếm đọat tài sản”.

Ngay trong điều luật đã quy định rõ hành vi khách quan của tội này bao gồm 3 hành vi, đó là: hành vi dùng vũ lực (dùng sức mạnh đè bẹp sự phản kháng của nạn nhân như bóp cổ, xô ngã…), đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc (gí sát dao vào cổ dọa giết…đặc biệt phải chứng minh được sự đe dọa này khiến cho nạn nhân tin rằng nếu không tin vào sự đe dọa của người phạm tội thì sự đe dọa đó sẽ trở thành hiện thực) hoặc có hành vi khác làm cho người tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được (cho nạn nhân uống thuốc ngủ hay là đánh thuốc mê nạn nhân hoặc các hành vi khác.) nhằm chiếm đoạt tài sản. Những hành vi này đều có khả năng đè bẹp hoặc làm tê liệt sự kháng cự của nạn nhân nên đó là những hành vi không thể thiếu trong cấu thành tội cướp tài sản. Chỉ cần người phạm tội có 1 trong 3 hành vi kể trên thì tội cướp tài sản đã hoàn thành chứ không cần quan tâm tới người phạm tội có chiếm đoạt được tài sản hay không.

Tội cướp tài sản xâm hại cùng một lúc 2 quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Đó là quan hệ sở hữu và quan hệ nhân thân. Chủ thể của tội phạm là người từ 14 tuổi trở lên (vì tội này là tội rất nghiêm trọng và đặc biệt nghiêm trọng) và có năng lực TNHS.

Người phạm tội cướp tài sản thực hiện tội phạm với lỗi cố ý trực tiếp. Nghĩa là người phạm tội biết rõ hành vi của mình nguy hiểm cho xã hội nhưng vẫn mong muốn chiếm đoạt được tài sản. Trong cấu thành tội cướp tài sản, mục đích là dấu hiệu bắt buộc. Mục đích của tội này có thể là nhằm chiếm đoạt được tài sản hoặc nhằm giữ lại tài sản. Nếu người phạm tội “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hay các hành vi khác làm cho người bị tấn công lâm vào tình trạng không thể chống cự được” mà không nhằm 1 trong 2 mục đích nêu trên thì không thuộc trường hợp quy định tại điều 133-BLHS

2. Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139)

Điều 139-BLHS 1999 quy định tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản là hành vi “bằng thủ đoạn gian dối chiếm đọat tài sản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng hoặc dưới 500.000 đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị…”

Hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản chỉ cấu thành tội này khi thỏa mãn 1 trong các dấu hiệu sau:

– Tài sản chiếm đoạt có giá trị từ 500.000 đồng trở lên

– Nếu dưới 500.000 đồng thì:

+ Phải gây hậu quả nghiêm trọng

+ Hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt mà còn vi phạm

+ Hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản chưa được xóa án tích mà còn vi phạm

Dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này là hành vi chiếm đoạt bằng thủ đoạn gian dối. Ý định chiếm đoạt tài sản có trước khi người phạm tội thực hiện hành vi phạm tội. Thủ đoạn gian dối trong trường hợp này được hiểu là người phạm tội đưa ra những thông tin giả mong muốn người chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tin đó là sự thật mà giao tài sản cho mình. Thủ đoạn gian dối là cơ sở để người phạm tội thực hiện hành vi chiếm đoạt. Nếu người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối mà không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phạm tội này.

Tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản hoàn thành khi người phạm tội chiếm đoạt được tài sản.

Có 2 trường hợp được gọi là “chiếm đoạt được”. Thứ nhất, nếu tài sản bị chiếm đoạt đang trong sự chiếm hữu của chủ sở hữu hoặc người có trách nhiệm quản lý tài sản thì chỉ “chiếm đoạt được” khi tài sản đã nằm trong tay người phạm tội nghĩa là người phạm tội đang trực tiếp chiếm hữu, quản lý tài sản. Thứ hai, nếu tài sản đang trong sự chiếm hữu của người phạm tội thì chỉ “chiếm đoạt được” khi người phạm tội dùng thủ đoạn gian dối ( thông báo sai, giao nhầm, giao thiếu tài sản…) để giữ lại tài sản mình đang chiếm giữ và người chủ sở hữu đã tin vào hành vi gian dối đó nên đã nhận nhầm tài sản hoặc không nhận tài sản.

Quay trở lại tình huống việc định tội A là lừa đảo chiếm đọat tài sản theo quy định tại điều 139-BLHS là có cơ sở.

Thứ nhất, về hành vi khách quan, A đã dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản là chiếc xe đạp của B trị giá 700.000 đồng. Hành vi của A đã thỏa mãn hành vi cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối mà A sử dụng ở đây là A giả vờ mượn xe của B đề chở người quen ra bến ôtô. Nhưng kì thực không phải vậy, A chỉ lợi dụng lòng tốt của B để chiếm đoạt tài sản của B mà thôi: “vì muốn có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định chiếm đoạt chiếc xe đạp của B”. Còn B là người quen của A nên đã tin A, không một chút nghi ngờ B đã tự nguyện giao tài sản của mình là chiếc xe đạp cho A trị giá 700.000đ. Như vậy mục đích hành động của A là nhằm để B tin và giao tài sản đã trở thành hiện thực. Căn cứ vào khoản 1 Điều 139, hành vi của A đã thỏa mãn cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản và thực tế đã hoàn thành khi B giao tài sản cho A.

Về mặt chủ quan, A thực hiện tội phạm với lỗi cố ý, nghĩa là A biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội, đặc biệt nhất là A mong muốn thực hiện được hành vi chiếm đoạt tài sản. Mục đích của A là chiếm đoạt được tài sản của B và mục đích này có trước khi A thực hiện tội phạm. Động cơ thúc đẩy ở đây là “vì muốn có tiền tiêu xài”. Tuy nhiên, nó không phải là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành này. Bài tập tình huống này không quy định độ tuổi hay năng lực trách nhiệm hình sự nhưng chúng ta có thể mặc nhiên thừa nhận khi A thực hiện tội phạm A đã đạt dộ tuổi luật định và đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Hành vi phạm tội của A đã xâm phạm đến quan hệ sở hữu của B đối với chiếc xe đạp – một quan hệ sở hữu được luật hình sự bảo vệ.

Các yếu tố về khách thể, chủ thể, mặt khách quan, mặt chủ quan đều thoả mãn cấu thành của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 139 BLHS, nên việc định tội cho A là có cơ sở.

Vừa phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản thì 2 ngày sau A lại phạm tội “cướp tài sản” theo quy định tại Điều 133.

Việc định tội cho A dựa trên một số căn cứ pháp lý sau đây:

– Hành vi của A đã thỏa mãn hành vi khách quan của tội cướp tài sản. Đó là hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc”. Ở đây A “rút dao găm giấu trong người gí sát vào mặt và quát tao vừa giết người trên phố về đây…”. Hành vi “lấy dao gí sát vào mặt” ta có thể hiểu là hành vi đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc vì nếu B không buông tay ra khỏi chiếc xe đạp để A đi thì việc dùng dao đâm chết B có nhiều nguy cơ xảy ra liền ngay sau đó.

– Hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” của A không nhằm chiếm đoạt tài sản (vì chiếc xe đạp đã nằm trong sự chiếm hữu của A) mà nhằm giữ lại chiếc xe đạp đã chiếm đoạt được. Mặc dù điều luật không quy định mục đích của hành vi “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc…” nhằm giữ lại tài sản nhưng thực tiễn xét xử thừa nhận rằng mục đích giữ lại tài sản cũng được coi là mục đích của tội cướp tài sản. Như vây, chỉ cần người phạm tội “dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc…” nhằm chiếm đoạt tài sản hoặc giữ lại tài sản cũng thuộc Điều 133. A có hành vi “đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc” để giữ lại tài sản do đó hành vi của A đã thoả mãn dấu hiệu khách quan của tội cướp tài sản.

Hành vi phạm tội cùng một lúc xâm hại đến hai quan hệ: quan hệ nhân thân và quan hệ sở hữu của B. A thực hiện với lỗi cố ý, A thỏa mãn dấu hiệu chủ thể của tội cướp tài sản. Như vậy việc định tội cướp tài sản cho A là có cơ sở pháp lý.

Xung quanh tình huống trên còn nhiều quan điểm gây tranh cãi:

Quan điểm thứ nhất cho rằng A chỉ phạm tội cướp tài sản (điều 133). Quan điểm này cho rằng chỉ hành vi thực hiện sau mới cấu thành tội phạm, đó là tội cướp tài sản; còn hành vi thực hiện trước không cấu thành tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản (điều 139) vì A mượn xe B đi tiêu thụ nhưng không tiêu thụ được nên không có cơ sở để chứng minh A có ý định chiếm đoạt tài sản. Quan điểm này không hợp lý, bởi lẽ theo tình tiết của bài tập tình tiết của bài tập thì ý định phạm tội của A đã quá rõ ràng “vì muốn có tiền tiêu xài, A nảy sinh ý định chiếm đoạt xe đạp của B” còn việc A có tiêu thụ được hay không không quan trọng. Việc A không tiêu thụ được đó là do nguyên nhân khách quan chứ không phải là mong muốn chủ quan của A. Nếu chỉ căn cứ vào thực tế xảy ra mà không căn cứ vào mong muốn chủ quan của người phạm tội và từ đó không định tội cho hành vi phạm tội của họ là đã “bỏ lọt tội phạm”. Ở đây A mong muốn chiếm đoạt được tài sản của B, mong muốn tiêu thụ được tài sản đó. Điều đó đã chứng tỏ ý định phạm tội của A đã rõ ràng nên việc không định tội cho hành vi của A là đã bỏ lọt tội phạm, vi phạm nguyên tắc pháp chế.

Quan điểm thứ hai thì cho rằng: A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát”. Việc đánh giá như thế này cũng không chính xác. Thứ nhất, trong các điều khoản quy định tại điều 139 thì không có tình tiết nào có tên là “hành hung để tẩu thoát”, nên việc định tội cho A là phạm tội chiếm đoạt tài sản với tình tiết tăng nặng định khung là ” hành hung để tẩu thoát” không có căn cứ pháp lý.

Giả sử, điều luật có quy định “hành hung để tẩu thoát” là một tình tiết định khung thì trong trường hợp này A cũng không phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung “hành hung để tẩu thoát”. Bởi lẽ: Theo hướng dẫn tại tiểu mục 6.1 Thông tư liên tịch số 02/2001/TTLT TANDTC- VKSNDTC- BCA- BTP thì “hành hung để tẩu thoát” là “trường hợp mà người phạm tội chưa chiếm đoạt được tài sản hoặc đã chiếm đọat được tài sản nhưng chưa bị phát hiện và bị bắt giữ thì đã có những hành vi chống trả lại người bắt giữ hoặc người bao vây bắt giữ như đánh, chém, xô, ngã…nhằm tẩu thoát”. Dù thực tế trong trường hợp người phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản thì chỉ coi là “hành hung để tẩu thoát” khi ngay sau việc chiếm đoạt họ bị phát hiện và họ đã chống lại nhằm tẩu thoát. Hay nói cách khác ở đây tội phạm tuy đã hoàn thành nhưng hành vi đó chưa kết thúc về mặt thực tế. Trong bài tập tình huống A đã chiếm đoạt được xe đạp của B, 2 ngày sau B mới phát hiện ra và A đã đe dọa dùng ngay vũ lực. Ở đây hành vi phạm tội của A đã kết thúc về mặt pháp lý (tội phạm đã hoàn thành) và mặt thực tế (tội phạm kết thúc) nên không thể có việc “hành hung để tẩu thoát” được. Với lại mục đích của A ở đây là dùng vũ lực không chỉ nhằm mục đích tẩu thoát mà còn giữ bằng được tài sản đã chiếm đoạt. Thể hiện ở việc khi B chạy đến đòi xe, A còn thời gian rút dao ra và gí sát vào mặt B đe dọa…sau đó lên xe đạp đi. Điều đó càng làm rõ thêm quan điểm cho rằng A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung hình phạt “hành hung để tẩu thoát” là không có cơ sở.

Quan điểm khác cho rằng A phạm tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp. Việc định tội này cũng chưa chính xác. Đầu tiên chúng ta phải hiểu thế nào là trường hợp chuyển hóa từ tội có tính chất chiếm đoạt sang cướp?

a) Nếu là trường hợp do chưa chiếm đoạt được tài sản mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hay đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc hòng để chiếm đoạt bằng được tài sản thì cần định tội cướp tài sản. b) Nếu là trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản nhưng chủ tài sản hoặc người khác đã lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật tài sản trong tay kẻ phạm tội mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc thì cần định tội cướp. c) Nếu việc dùng vũ lực (hoặc đe dọa dùng vũ lực) là nhằm để tẩu thoát (kể cả tẩu thoát cùng tài sản đã chiếm đoạt được), thì không kết án kẻ phạm tội về tội cướp tài sản…

Theo hướng dẫn tại Nghị quyết số 01/1989 Hội đồng thẩm phán ngày 19/04/1989 hướng dẫn áp dụng một số quy định của BLHS về việc chuyển hóa từ một số hình thức chiếm đoạt thành cướp tài sản quy định: “Thực tiễn xét xử cho thấy các Tòa án đã định tội không thống nhất đối với các trường hợp kẻ phạm các tội chiếm đoạt như cướp giật, công nhiên chiếm đoạt, trộm cắp…đã dùng vũ lực để chiếm đoạt bằng được tài sản hoặc để tẩu thoát. Nhiều Tòa án coi trường hợp trên là cướp tài sản. Ngược lại, nhiều Tòa án lại cho rằng việc dùng vũ lực chỉ là tình tiết tăng nặng của việc chiếm đoạt chứ không kết tội kẻ phạm tội về tội cướp tài sản…Nay cần thống nhất:

Theo tình thần của Nghị quyết 01/1989 của HĐTP nêu trên trong trường hợp kẻ phạm tội đã chiếm đoạt được tài sản (trong tội phạm trước) thì chỉ định tội cướp khi chủ tài sản hoặc người khác lấy lại được tài sản đó hoặc đang giành giật mà kẻ phạm tội dùng vũ lực hoặc đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc…Để chủ sở hữu hoặc người khác “lấy lại được” hay “đang giành giật” thì đòi hỏi hành vi “lấy lại được hoặc đang giành giật” phải xảy ngay sau khi tội phạm hoàn thành. Nghĩa là mặc dù tội phạm thực hiện trước đó đã hoàn thành nhưng hành vi phạm tội đó chưa kết thúc trên thực tế. Hay nói cách khác tội phạm hoàn thành nhưng chưa kết thúc. Có như vậy việc định tội cướp mới có cơ sở.

Ở đây tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản đã hoàn thành được 2 ngày chủ sở hữu B mới giành giật lại tài sản và người phạm tội A đã đe dọa dùng vũ lực ngay tức khắc cũng không thể coi là trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp được.

Theo phân tích ở trên thì việc định tội cho A là tội cướp tài sản hay tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản với tình tiết định khung là “hành hung để tẩu thoát” hay là tội cướp tài sản thuộc trường hợp chuyển hóa từ lừa đảo thành cướp đều chưa thuyết phục.

Tình huống 11:

Hỏi

Chị A đi xe máy thăm người quen, dọc đường bị chết máy. Đang loay hoay khời động lại xe thì thấy H đi qua. Chị A nhờ H sửa chữa xe máy. Sau một hồi sửa chữa H ngồi lên yên, khởi động xe và phóng đi mất. Chị A hô mọi người giữ lại nhưng không được. H đem xe máy đến nhà B (là người quen của H) gửi và sau đó đem đi bán được 12.000.000 đồng, H chia cho B 1.500.000 đồng

1. Hành vi của H cấu thành tội gì? Tại sao?

2. B có phải chịu trách nhiệm hình sự không? Tại sao?

1. Hành vi cùa H cấu thành tội cướp giật tài sản theo Điều 136 BLHS 1999.

Cướp giật tài sản là hành vi công khai chiếm đoạt tài sản một cách nhanh chóng để tránh sự phản kháng của chủ tài sản. Cướp giật tài sản là một trong bốn tội phạm của nhóm tội chiếm đoạt có tính chất công khai về hành vi khách quan của chủ thể. Trong đó cướp giật tài sản là hành vi lợi dụng sơ hở của chủ tài sản (sơ hở sẵn có hoặc do chính người cướp giật tạo ra) nhanh chóng chiếm đoạt tài sản và nhanh chóng lẩn tránh. Thủ đoạn nhanh chóng lẩn tránh trong thực tế thường là nhanh chóng tẩu thoát.

H không cưỡng đoạt tài sản hay cướp tài sản vì H không dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hay dùng các thủ đoạn uy hiếp tinh thần của chị A…Hành vi của H công khai, không lén lút nên không thể là tội trộm cắp tài sản. Hành vi của H không thuộc các hành vi được quy định tại tội lợi dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản. H không dùng thủ đoạn gian dối để chiếm đoạt tài sản của chị A vì nếu sau khi đã có tài sản một cách hợp pháp rồi mới có ý định chiếm đoạt tài sản thì không phải hành vi chiếm đoạt tài sản. Thủ đoạn gian dối của người phạm tội bao giờ cũng phải có trước khi có việc giao tài sản giữa người bị hại với người phạm tội thì mới là hành vi lừa đảo chiếm đoạt tài sản, nếu thủ đoạn gian dối lại có sau khi người phạm tội nhận được tài sản thì không phải là lừa đảo chiếm đoạt tài sản. H không thể có mục đích lừa dối chị A từ trước được vì việc chị A bất ngờ hỏng xe giữa đường và nhờ H sửa là hoàn toàn ngẫu nhiên. H không phạm tội công nhiên chiếm đoạt tài sản vì công nhiên chiếm đoạt tài sản là công khai chiếm đoạt tài sản, lợi dụng hoàn cảnh chủ tài sản không có điều kiện ngăn cản, ở đây thì chị A vẫn có điều kiện ngăn cản H.

Như vậy, hành vi cùa H chỉ cấu thành tội cướp giật tài sản vì:

Thứ nhất, H đã có hành vi công khai chiếm đoạt tài sản của chị A, cụ thể là hành vi “Sau một hồi sửa chữa H ngồi lên yên, khởi động xe và phóng đi mất”. H lợi dụng sơ hở của chị A là tin tưởng vào người lạ sẽ giúp mình sửa xe nên chị không đề phòng. Lúc H chiếm mất xe do quá bất ngờ nên chị A không giữ lại được chiếc xe mặc dù chị có khả năng giữ lại và chị biết là H đang chiếm đoạt chiếc xe của chị. Chị A hô hào nhờ người dân giúp đỡ nhưng không kịp.

Thứ hai, khi chiếm được chiếc xe của chị A, H đã có hành vi nhanh chóng tẩu thoát và tẩu tán tài sản. Thể hiện ở hành vi H khởi động xe và phóng vọt đi, sau đó H gửi xe tại nhà người quen là B rồi ngay sau đó mang đi tiêu thụ.

Cả hai hành vi công khai chiếm đoạt và nhanh chóng tẩu thoát đều là hành vi về mặt khách quan của tội cướp giật tài sản.

Về mặt chủ quan, lỗi của H là lỗi cố ý trực tiếp.

Về mặt chủ thể, xét theo tình huống H là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự và đúng quy định về độ tuổi chịu trách nhiệm hình sự.

2. Việc B có phải chịu trách nhiệm hình sự hay không cần phải chia ra hai trường hợp như sau:

* Trường hợp thứ nhất: B không biết chiếc xe máy mà H mang đến là xe mà H chiếm đoạt được. B sẽ không phải chịu trách nhiệm hình sự. Vì ví dụ H nói rằng đây là chiếc xe mà H trúng thưởng được, H rất vui, nhưng vì không cần xe nên H mang bán và tặng cho B 1.500.000 đồng cho vui vẻ…. Mặc dù tình huống này có vẻ phi lí và hiếm khi xảy ra nhưng không phải là không có.

* Trường hợp thứ hai: Ta cần chia ra trong trường hợp này 2 trường hợp nhỏ:

Thứ nhất, B không hề tham gia hay biết trước những kế hoạch và hành vi chiếm đoạt tài sản của H nhưng B biết chiếc xe máy mà H mang đến là xe mà H chiếm đoạt. B sẽ bị khép vào tội chiếm giữ trái phép tài sản quy định tại Điều 250 BLHS 1999: “1. Người nào không hứa hẹn trước mà chứa chấp, tiêu thụ tài sản biết rõ là do người khác phạm tội mà có, thì bị phạt tiền từ năm triệu đồng đến năm mươi triệu đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm.”. B không thể là đồng phạm của H vì B không hề tham gia hay biết trước những kế hoạch và hành vi chiếm đoạt tài sản của H.

Thứ hai, B là đồng phạm của H. B và H cùng ý chí là sẽ chiếm đoạt chiếc xe của chị A và cùng nhau mang đi tẩu tán. Tuy nhiên, theo em, việc B và H có dự tính trước là sẽ chiếm đoạt chiếc xe là vô lý. Vì việc chị A đi thăm người quen và xe của chị A hỏng giữa đường nên chị nhờ H sửa là vô tình nên H và B không thể bàn bạc trước việc sẽ cướp xe của chị.

Tình huống 12:

A trộm cắp tài sản của B trị giá 100 triệu đồng. Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 Bộ luật hình sự và bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù. Anh (chị) hãy xác định:

a. Căn cứ vào khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự, loại tội mà A thực hiện thuộc loại tội gì? Tại sao?(4 điểm)b. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp cấu thành tội phạm cơ bản, cấu thành tội phạm tăng nặng hay cấu thành tội phạm giảm nhẹ? Tại sao? (3 điểm)

a. Loại tội mà A đã thực hiện thuộc loại tội nghiêm trọng

Giải thích:

Khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự (BLHS) quy định:3. Tội phạm ít nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại không lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến ba năm tù; tội phạm nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến bảy năm tù; tội phạm rất nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại rất lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là đến mười lăm năm tù; tội phạm đặc biệt nghiêm trọng là tội phạm gây nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội mà mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội ấy là trên mười lăm năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Theo đó, các nhóm tội phạm được phân biệt với nhau bởi dấu hiệu về mặt nội dung chính trị, xã hội ( tính nguy hiểm cho xã hội) và dấu hiệu về mặt hậu quả pháp lí (tính phải chịu phạt).

Xét về mặt nội dung chính trị, xã hội:

Xét về mặt nội dung chính trị, xã hội là xét về tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm. Nguy hiểm cho xã hội nghĩa là gây ra hoặc đe dọa gây ra thiệt hại cho các quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ. Tính nguy hiểm cho xã hội của tội phạm có tính khách quan, không phụ thuộc vào ý muốn chủ quan của nhà làm luật.

A trộm cắp tài sản của B trị giá 100 triệu đồng. Hành vi của a cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS và bị Tòa án tuyên phạt 3 năm tù. “Trộm cắp tài sản là hành vi lén lút chiếm đoạt tài sản của người khác”. Khi nói đến trộm cắp tài sản thì không thể không đi kèm với hành vi chiếm đoạt tài sản, nếu lén lút mà không nhằm chiếm đoạt tài sản thì không phải là trộm cắp tài sản. Vì thế trộm cắp tài sản là chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút.

Hành vi của A đã gây nguy hại lớn cho xã hội, có tính chất chiếm đoạt, xâm phạm đến quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ được xác định tại khoản 1 Điều 8 BLHS, mà cụ thể là xâm hại quyền sở hữu tài sản của B trị giá lên tới 100 triệu đồng.

Xét về mặt hậu quả pháp lí:

Điều 138:

…. 2) Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ hai năm đến bảy năm: a) Có tổ chức; b) Có tính chất chuyên nghiệp; c) Tái phạm nguy hiểm; d) Dùng thủ đoạn xảo quyệt, nguy hiểm; đ) Hành hung để tẩu thoát; e) Chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng; …

Tài sản mà A trộm cắp của B có trị giá 100 triệu đồng. Do vậy A phạm vào tội quy định tại điểm e khoản 2 Điều 138, đó là: “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đồng đến dưới hai trăm triệu đồng”. Điều 138 BLHS cũng quy định rõ về hình phạt đối với hành vi phạm tội thuộc các trường hợp được nêu trong khoản 2 đó là “phạt tù từ hai năm đến bảy năm”. Ta có thể thấy được mức cao nhất của khung hình phạt đối với tội trộm cắp tài sản của A là bảy năm tù. Như vậy, căn cứ vào khoản 3 Điều 8 BLHS thì ta xác định được loại tội mà A thực hiện thuộc loại tội phạm nghiêm trọng.

b. Hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp cấu thành tội phạm (CTTP) tăng nặng

Giải thích:

Trước hết, CTTP là tổng hợp các dấu hiệu chung có tính đặc trưng cho một loại tội phạm được quy định trong luật hình sự. Dựa theo tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm, luật hình sự phân CTTP thành: CTTP cơ bản ( là CTTP chỉ bao gồm những dấu hiệu định tội); CTTP giảm nhẹ (là CTTP chứa những tình tiết làm tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm giảm đi đáng kể); CTTP tăng nặng (là CTTP ngoài dấu hiệu định tội còn chứa dấu hiệu khác làm tính chất và mức độ nguy hiểm của tội phạm tăng lên). Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự (TNHS) được quy định trong Điều 48 BLHS 1999 (sửa đổi, bổ sung năm 2009). Như vậy, dấu hiệu bắt buộc để phân loại CTTP cơ bản, tăng nặng hay giảm nhẹ là các dấu hiệu định khung, vì khi thỏa mãn những dấu hiệu đó sẽ cho phép chuyển khung hình phạt được áp dụng từ khung bình thường lên khung tăng nặng hoặc xuống khung giảm nhẹ. Xét trường hợp của A: A trộm cắp tài sản của B trị giá 100 triệu đồng. Hành vi của A cấu thành tội trộm cắp theo khoản 2 Điều 138 BLHS và bị Tòa án tuyên phạt ba năm tù.

Khoản 1 Điều 138 là CTTP cơ bản (vì chỉ bao gồm dấu hiệu định tội): “người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ hai triệu đồng đến dưới năm mươi triệu đồng hoặc dưới hai triệu đồng nhưng gây hậu quả nghiêm trọng hoặc đã bị xử phạt hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội chiếm đoạt tài sản, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến ba năm hoặc phạt tù từ sáu tháng đến ba năm”. Tức là, nếu A trộm cắp tài sản của B trị giá từ hai triệu đến dưới năm mươi triệu thì hành vi của A sẽ thuộc trường hợp CTTP cơ bản. Tuy nhiên, hành vi của A lại cấu thành tội trộm cắp tài sản theo điểm e khoản 2 Điều 138 BLHS, ngoài các tình tiết để định tội là trộm cắp tài sản, A còn có thêm tình tiết tăng nặng là “chiếm đoạt tài sản có giá trị từ năm mươi triệu đông đến dưới hai trăm triệu đồng” (cụ thể là 100 triệu đồng). Điều này phản ánh mức độ của tính nguy hiểm tăng lên rõ rệt so với các trường hợp trộm cắp tài sản quy định tại khoản 1.

Những dấu hiệu có thêm trong trường hợp CTTP tăng nặng đối với hành vi của A cho phép chuyển khung hình phạt được áp dụng từ khung bình thường (mức cao nhất là ba năm – theo khoản 1 Điều 138 BLHS) lên khung tăng nặng (mức cao nhất là bảy năm – theo khoản 2 Điều 138 BLHS).

Tóm lại, từ những phân tích ở trên, ta có thể khẳng định: loại tội mà A thực hiện thuộc loại tội phạm nghiêm trọng và hành vi phạm tội của A thuộc trường hợp CTTP tăng nặng.

Tình huống 13:

Hỏi:

Ngày 23/1/2009 A đã thực hiện hành vi hiếp dâm chị H. Do quá uất ức, chị H đã treo cổ tự sát. Ngày 7/7/2009, Tòa án nhân dân tỉnh H. xét xử A về tội hiếp dâm theo điểm c khoản 3 Điều 111 BLHS.

1. Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm ( Điều 111 BLHS) là cấu thành tội phạm hình thức?2. Theo phân loại tội phạm tại Điều 8 BLHS, hãy xác định tội hiếp dâm mà A đã thực hiện và bi xét xử thuộc loại tội phạm gì? Giải thích rõ tại sao?

1. Cấu thành tội phạm của tội hiếp dâm là cấu thành tội phạm hình thức.

Trước hết, cần hiểu cấu thành tội phạm hình thức là cấu thành tội phạm có một dấu hiệu của mặt khách quan là hành vi nguy hiểm cho xã hội.

Từ định nghĩa này có thể nhận thấy, tội hiếp dâm thuộc loại cấu thành tội phạm hình thức, vì theo định nghĩa tội hiếp dâm đã được miêu tả trong BLHS tại Điều 111 ở tội này là có 2 hành vi khách quan:

– Hành vi dùng vũ lực, đe dọa dùng vũ lực hoặc lợi dụng tình trạng ko thể chống cự của nạn nhân.

– Hành vi giao cấu.

Tội phạm có cấu thành hình thức sẽ hoàn thành khi người phạm tội đã thực hiện tất cả các hành vi khách quan được mô tả trong CTTP. Như vậy tội hiếp dâm chỉ có thể được xác lập khi có hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân đã được thực hiện, tức là hành vi nguy hiểm cho xã hội xâm hại tới quan hệ xã hội được luật hình sự bảo vệ đã xảy ra, hậu quả từ hành vi phạm tội đã phát sinh. Hậu quả ở đây có thể là sức khỏe của nạn nhân, danh dự, nhân phẩm của nạn nhân bị ảnh hưởng, thậm chí có thể là tính mạng của nạn nhân bị đe dọa gây thiệt hại. Có mối quan hệ nhân quả giữa hành vi và hậu quả. Hậu quả của hành vi hiếp dâm không thể phát sinh khi hành vi giao cấu chưa được thực hiện và ngược lại, khi hành vi giao cấu trái với ý muốn được thực hiện thì hậu quả cũng phát sinh.

Dấu hiệu hành vi và hậu quả trong tội hiếp dâm luôn là các yếu tố đi kèm với nhau, không thể thiếu một trong hai yếu tố đó. Nếu thiếu một trong hai yếu tố đó thì tội hiếp dâm không thể xác lập.

Trong trường hợp trên, A đã có hành vi dùng vũ lực để hiếp dâm chị H, dẫn đến hậu quả nghiêm trọng là chị H uất ức mà tự sát.

2. Xác định tội hiếp dâm mà anh A thực hiện và bị xét xử thuộc loại tội phạm gì?

Tội phạm, hiểu theo nghĩa khái quát nhất là những hành vi nguy hiểm cho xã hội, có lỗi, trái pháp luật hình sự và phải chịu hình phạt.

Tội phạm tuy có chung các dấu hiệu như trên, nhưng những hành vi phạm tội cụ thể có tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội rất khác nhau. Do vậy, tại khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự, tội phạm đã được phân thành bốn nhóm khác nhau: Tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, tội phạm rất nghiêm trọng và tội phạm đặc biệt nghiêm trọng. Sự phân thành bốn nhóm tội như vậy vừa là biểu hiện cơ bản, vừa là cơ sở thống nhất nhất cho sự phân hóa trách nhiệm hình sự trong Bộ luật hình sự. Đồng thời là cơ sở thống nhất cho việc xây dựng các khung hình phạt cụ thể để áp dụng cho từng loại tội phạm xảy ra.

Căn cứ để phân loại tội phạm được thể hiện trong Khoản 3, Điều 8 BLHS năm 1999, là căn cứ phân loại tội phạm dựa vào mức độ của tính nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội.

Tội hiếp dâm được các nhà làm luật ấn định tại Điều 111 của BLHS, thực tiễn đã thừa nhận tất cả các hành vi hiếp dâm khi xảy ra đều có chung đặc điểm đó là hành vi giao cấu trái với ý muốn của nạn nhân. Tuy nhiên, để thực hiện được hành vi phạm tội trong thực tế rất đa dạng và phức tạp. Đối với mỗi trường hợp phạm tội khác nhau thì tính chất của hành vi, phương pháp, thủ đoạn, và hậu quả xảy ra cũng rất khác nhau. Do vậy đòi hỏi phải phân loại tội phạm đối với hành vi hiếp dâm để có thể cá thể hóa trách nhiệm hình sự, sự phân biệt và cá thể hóa được chính xác sao cho xét xử đúng người, đúng tội và trách nhiệm hình sự phải phù hợp với hành vi phạm tội mà họ đã gây ra. Để đáp ứng đòi hỏi đó, Điều 111 BLHS đã tiến hành phân loại đối với những hành vi hiếp dâm có tính chất và mức độ khác nhau thường xảy ra trong thực tế và ấn định khung hình phạt cụ thể đối với các hành vi phạm tội có cùng tính chất.

Dựa vào cơ sở đó và khoản 3 Điều 8 BLHS, tội hiếp dâm được phân loại khá cụ thể.

Đối với trường hợp trên, hành vi của A thuộc loại tội phạm nghiêm trọng. Theo khoản 3, điều 111-BLDS: Phạm tội hiếp dâm được quy định tại khoản 3 Điều 111 BLHS thuộc loại tội đặc biệt nghiêm trọng vì có tính nguy hại đặc biệt lớn cho xã hội và có khung hình phạt tương ứng cao nhất trên 15 năm tù, tù chung thân hoặc tử hình.

Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây thì, bị phạt tù từ mười hai năm đến hai mươi năm, tù chung thân hoặc tử hình:

a) Gây tổn hại cho sức khỏe của nạn nhân mà tỷ lệ thương tật từ 61% trở lên;b) Biết mình bị nhiễm HIV mà vẫn phạm tội;c) Làm nạn nhân chết hoặc tự sát.

Như vậy, hậu quả chị H tự sát nằm trong mục c, khoản 3, điều 111 quy định, đồng thời đối chiếu với điều 8, Vì vậy có thể kết luận, tội của A thuộc loại tội nghiêm trọng. Từ đó có thể căn cứ để định rõ mức khung và hình phạt cho A theo pháp luật quy định, đó là phạt tù từ 12 năm đến 20 năm, mức cao nhất là tù chung thân hoặc tử hình.

Vậy trong trường hợp này B phạm tội gì? Đồng phạm tội trộm xe hay tội che dấu tội phạm?

Một tên A ăn trộm chiếc sh sau đó mang tới gửi nhà B ( bạn thân) . B hỏi A xe ở đâu mà ko mang về nhà. A bảo xe ăn trộm sau đó bảo B giữ hộ mai có người mua rồi sẽ cho B tiền. Nói xong A đi về . tới trưa ngày hôm sau A tới lấy xe sau đó đến chiều mang cho B 5 triệu, .

Tội phạm tại Điều 250 BLHS là một tội ghép, nó quy định hai hành vi khác nhau là ” chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có” và “tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Hành vi chứa chấp là những hành vi như cất giữ, bảo quản… Hành vi tiêu thụ là những hành vi như mua để dùng, nhận để bán lại, giới thiệu người khác mua, chuyển tài sản đo cho người khác theo yeu cầu của người phạm tội…

Vì vậy khi xác định tội danh, nếu người phạm tội thực hiện hành vi chứa chấp thì định tội là ” Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có “; nếu người phạm tội thực hiện hành vi tiêu thụ thì định tội là “Tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có” chứ không định tội như tên gọi của điều luật là “Chứa chấp hoặc tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”. Trường hợp người phạm tội thực hiện cả hai hành vi chứa chấp và tiêu thụ thì định tội là “Chứa chấp và tiêu thụ tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Ở trường hợp trên, B chỉ thực hiện hành vi cất giữ mà không thực hiện hành vi tiêu thụ. Vì vậy tội danh của B là “Chứa chấp tài sản do người khác phạm tội mà có”.

Tình tiết “không hứa hẹn trước” chỉ có giá trị để xác định B không đồng phạm với A về tội “Trộm cắp tài sản”. Còn nó cũng là dấu hiệu đặc trưng của cả tội ” Che giấu tội phạm”, chứ không chỉ riêng tội “Chứa chấp hoặc tiêu thụ…”. Và hành vi cất giữ tang vật ( vật chứng) của tội phạm cũng là một trong những hành vi khách quan của tội “Che giấu tội phạm”.

Việc phân biệt hai tội danh này là dựa vào mục đích của người phạm tội. Nếu mục đích là che giấu tội phạm mà người khác đã thực hiện thì cấu thành tội “Che giấu tội phạm”. Còn nếu mục đích chỉ là trục lợi bất chính thì cấu thành tội “Chứa chấp…”.

B thực hiện hành vi cất giữ xe cho A với mục đích trục lợi, nên tội phạm mà B phải chịu là “Chứa chấp…”.

B, C, D với động cơ chống chính quyền nhân dân đã lên vùng núi tập hợp một số thành phần bất mãn với chế độ XHCN đồng thời mua chuộc một số đối tượng thanh niên nhẹ dạ cả tin với số lượng trên 50 người lập nên tổ chức “”. B, C, D trong tổ chức này đã có các hoạt động:

– Liên hệ với nước ngoài qua mạng Internet để xin vũ khí, tiền bạc nhưng chưa quan hệ được;

– Đặt mìn phá trụ sở UBND xã để gây niềm tin với nước ngoài;

Hỏi:

– Bao vây UBND xã, huyện và bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện.

Hành vi của nhóm B, C, D có dấu hiệu của các tội phạm nào?

Theo quan điểm của anh, chị, hãy xác định tội danh của nhóm B, C, D và phân tích rõ cơ sở để định tội cho nhóm B, C, D.

1. Hành vi của nhóm B, C, D có dấu hiệu của các tội phạm nào?

* Một, Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân (Điều 79 BLHS), bởi những lẽ sau:

Căn cứ vào những chứng cứ đã được cung cấp trong đề bài và những căn cứ khác, có thể chỉ ra hành vi của nhóm B, C, D có các dấu hiệu của các tội phạm sau:

– Về khách thể của tội phạm: hành vi của nhóm B, C, D xâm phạm trực tiếp sự tồn tại của chính quyền nhân dân. Đối tượng tác động ở đây là chính quyền nhân dân xã, huyện mà tổ chức của B, C, D đã có những hoạt động đặt mìn phá trụ sở UBND xã, bao vây UBND xã, huyện, bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện.

– Về mặt khách quan của tội phạm: “hành vi khách quan của tội phạm được đặc trưng bởi hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân”(1). Trong tình huống này, B, C, D đã có những hành động cụ thể như sau để có thể khẳng định hành vi của nhóm B, C, D có dấu hiệu của tội phạm này:

Thứ nhất, hoạt động thành lập tổ chức để lật đổ chính quyền nhân dân, thể hiện bằng một số hành vi cụ thể: B, C, D đã lôi kéo, tập hợp người vào tổ chức với động cơ chống chính quyền nhân dân;

Thứ hai, đề ra chủ trương, đường lối hoạt động của tổ chức: trước hết B, C, D sẽ liên hệ với nước ngoài để lấy vũ khí, sau đó có vũ khí trong tay tiến hành đặt mìn phá trụ sở UBND xã; bao vây UBND xã, huyện và có hành vi xâm phạm trực tiếp đến tính mạng của một số cán bộ công an xã, huyện mà tổ chức của B, C, D bao vây.

* Hai, Tội bạo loạn (Điều 82 BLHS). Bởi lẽ:

– Về mặt chủ quan của tội phạm: nhóm B, C, D đã cố ý thành lập tổ chức “Vì Dân Chủ và Nhân Quyền” vì đã có động cơ từ trước là chống chính quyền và đã có những hoạt động cụ thể để thực hiện hành vi của mình.

– Về khách thể của tội phạm: hành vi của B, C, D và tổ chức Vì Dân Chủ và Nhân Quyền đã xâm phạm đến sự an toàn(sự vững mạnh) của chính quyền nhân dân và lực lượng vũ trang nhân dân.

– Về mặt khách quan của tội phạm: trong tình huống trên, nhóm B, C, D đã có những hoạt động cụ thể: tiến hành hoạt động vũ trang với việc tập hợp đông người( là những thành phần bất mãn với chế độ và một số đối tượng khác) bao vây trụ sở CQNN, lực lượng vũ trang nhân dân để đốt phá, gây nổ, tấn công các CQNN(ở đây là trụ sở UBND xã, huyện), bắn giết cán bộ(giết một số cán bộ công an xã, huyện).

* Ba, Tội phá hoại cơ sở vật chất – kĩ thuật của nước Cộng hòa XHCN Việt Nam (Điều 83 BLHS). Bởi những biểu hiện sau:

– Về mặt chủ quan của tội phạm: nhóm B, C, D thực hiện hành vi với lỗi cố ý trực tiếp: nhận thức được hành vi bao vây UBND xã và bắn giết một số cán bộ; đặt mìn phá trụ sở UBND xã của mình có thể gây nguy hại đến sự vững mạnh, đe dọa đến sự tồn tại của chính quyền nhân dân nhưng vẫn thực hiện. Mục đích phạm tội là dấu hiệu bắt buộc thể hiện ở việc gây khó khăn cho chính quyền trong việc giữ vững an ninh chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, làm suy yếu chính quyền.

– Về khách thể của tội phạm: hành vi của nhóm B, C, D xâm phạm đến sự hoạt động bình thường của cơ quan nhà nước, làm hủy hoại cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH: trụ sở cơ quan nhà nước(thông qua việc đặt mìn để phá trụ sở UBND xã, huyện);

– Về mặt chủ quan: lỗi của nhóm B, C, D là lỗi cố ý trực tiếp nhằm chống chính quyền nhân dân. Khi thực hiện hành vi phá hoại B, C, D nhận thức rõ hành vi đó có thể gây thiệt hại cho cơ sở vật chất, ảnh hưởng đến hoạt động của CQNN nhưng vẫn thực hiện và mong muốn cho thiệt hại đó xảy ra để đặt được mục đích chống chính quyền nhân dân;

* Bốn, Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân (Điều 84 BLHS), bởi vì:

– Về chủ thể: là nhóm B, C, D có đủ năng lực chịu TNHS và độ tuổi, do vậy mới có khả năng thực hiện những hành vi đặc thù này.

– Về khách thể của tội phạm: hành vi của nhóm B, C, D đã xâm phạm sự vững mạnh của chính quyền nhân dân thông qua việc đã trực tiếp bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện(trực tiếp xâm phạm tính mạng của con người).

– Về mặt khách quan của tội phạm: nhóm B, C, D có hành vi xâm phạm đến tính mạng của cán bộ, công chức(giết một số cán bộ, công chức khi bao vây UBND xã, huyện). Đối tượng của hành vi giết cán bộ nhà nước của nhóm B, C, D là những cán bộ công an xã, huyện, là những người tham gia trực tiếp vào các hoạt động quản lý nhà nước, quản lý xã hội, hoạt động này của nhóm B, C, D có mục đích là nhằm chống chính quyền nhân dân, có thể nói đây là những hoạt động để phục vụ cho động cơ trực tiếp và chủ yếu là nhằm chống chính quyền nhân dân, là những hoạt động tạo điều kiện thuận lợi cho việc chống chính quyền được diễn ra mà không có sự cản trở bởi bất cứ yếu tố nào.

– Về mặt chủ quan của tội phạm: hành vi này của B, C, D được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, có nghĩa là B, C, D nhận thức được hành vi giết cán bộ công an xã, huyện của mình có thể làm cho hoạt động của chính quyền lâm vào bế tắc vì cán bộ cán cốt, nhân lực không đủ để thực hiện nhiệm vụ quản lý nhà nước, quản lý xã hội nhưng vẫn mong muốn cho hậu quả xảy ra(vẫn tiến hành bao vây trụ sở ủy ban, bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện).

2. Theo quan điểm của anh, chị, hãy xác định tội danh của nhóm B, C, D và phân tích rõ cơ sở để định tội cho nhóm B, C, D.

Căn cứ vào những tình tiết mà đề bài đưa ra cũng như đối chiếu với BLHS, thì có thể khẳng định nhóm B, C, D đã phạm Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân theo quy định tại Điều 79 BLHS. Bởi những lẽ sau đây:

– Về mặt khách quan của tội phạm:

B, C, D đã có hành vi thành lập tổ chức chống chính quyền nhân dân theo quy định của BLHS “người nào hoạt động thành lập hoặc tham gia tổ chức nhằm lật đổ chính quyền nhân dân, thì…” cụ thể là: B, C, D đã lên vùng núi tập hợp một số thành phần bất mãn với chế độ XHCN đồng thời mua chuộc một số đối tượng thanh niên nhẹ dạ cả tin để lập nên tổ chức Vì Dân Chủ và Nhân Quyền. Ở đây, nhóm B, C, D đã có “những chủ trương, đường lối hoạt động cho tổ chức chống chính quyền nhân dân chuẩn bị được thành lập đó là: có các hành vi tuyên truyền, rủ rê người khác cùng đứng ra thành lập tổ chức”(2) Vì Dân Chủ và Nhân Quyền( là hành vi đã tập hợp được một số thành phần bất mãn với chế độ và mua chuộc được một số đối tượng nhẹ dạ cả tin).

Hoạt động thành lập tổ chức chống chính quyền nhân dân mà B, C, D đã thực hiện là việc do B, C, D cùng thống nhất ý chí, cùng chung mục đích với một số đối tượng khác đứng ra thành lập tổ chức.

B, C, D trong tổ chức đã có những hoạt động: liên hệ với nước ngoài qua mạng Internet để xin vũ khí, tiền bạc tuy nhiên chưa quan hệ được; đặt mìn phá trụ sở UBND xã để gây niềm tin với nước ngoài; bao vây UBND xã, huyện và bắn chết một số cán bộ công an xã, huyện, những hành động này tuy có dấu hiệu của một số tội phạm cụ thể khác nhưng khi xem xét mục đích của những hoạt động này thì không cấu thành những tội độc lập khác mà những hoạt động này là nhằm phục vụ cho mục đích lật đổ chính quyền nhân dân. Bởi lẽ ở đây, hoạt động thứ nhất của B, C, D “không phải là hành vi câu kết với nước ngoài như ở Tội phản bội tổ quốc chỉ là hành vi bàn bạc với nhau tìm cách liên hệ, xin nước ngoài giúp đỡ để hoạt động nhưng chưa thực hiện được, chưa có sự câu kết với nước ngoài”(3) do vậy, đã thỏa mãn CTTP của Tội hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân. Ở hoạt động thứ hai, B, C, D không phạm Tội bạo loạn, Tội phá hoại cơ sở vật chất kĩ thuật của CNXH, Tội khủng bố nhằm chống chính quyền nhân dân, bởi vì chính hoạt động này không có mục đích là chống chính quyền nhân dân mà hoạt động cụ thể này là do B, C, D thực hiện nhằm mục đích tạo dựng sự tin tưởng đối với nước ngoài để từ đó có thể được các tổ chức nước ngoài tin tưởng mà đồng ý cung cấp vũ khí, tiền bạc cho nhóm B, C, D sử dụng để tiến hành các hoạt động nhằm lật đổ chính quyền nhân dân mà mình đã có động cơ từ trước, cũng là sự phù hợp với ý chí của các đối tượng bất mãn với chế độ XHCN mà B, C, D lôi kéo. Ở hoạt động thứ ba, hành vi của B, C, D trong ý chí của mình không nhằm thông qua đó để chống lại chính quyền mà thông qua đó để tạo điều kiện thuận lợi cho các hoạt động cụ thể làm thay đổi chế độ chính trị, kinh tế xã hội(lật đổ chính quyền nhân dân).

– Về mặt chủ quan của tội phạm:

Lỗi của nhóm B, C, D là lỗi cố ý trực tiếp, B, C, D và những đối tượng khác cố ý cùng tham gia với nhau để thành lập nên tổ chức Vì Dân Chủ và Nhân Quyền với mục đích nhằm lật đổ chính quyền nhân dân thể hiện cụ thể ở chỗ: B, C, D đã có động cơ từ trước, thành lập nên một tổ chức với số lượng thành viên trên 50 người(có tổ chức chặt chẽ) và chính hành vi gây niềm tin với nước ngoài đã chứng minh tổ chức này không chỉ dừng lại ở việc nhằm làm suy yếu chính quyền nhân dân mà cao hơn thế nữa là nhằm lật đổ chính quyền hay nói cách khác nhờ nước ngoài cung cấp cơ sở vật chất để có đủ sức mạnh, tiềm lực làm thay đổi chế độ chính trị, kinh tế xã hội của đất nước. Hơn nữa việc chống lại chính quyền nhân dân chỉ là động cơ còn mục đích rõ ràng ở đây phải là nhằm lật đổ chính quyền nhân dân hay nói cách khác cái cuối cùng mà tổ chức của B, C, D hướng tới ở đây là lật đổ được chính quyền nhân dân.

– Về khách thể của tội phạm:

Hành vi của nhóm B, C, D đã trực tiếp xâm phạm tới sự tồn tại của chính quyền nhân dân (bao vây UBND và bắn chết một số cán bộ nhằm làm cho BMNN không còn đủ cơ sở để duy trì hoạt động được).

Trong tình huống trên chủ thể là B, C, D- là những người đã đủ độ tuổi chịu TNHS và không bị mắc các bệnh làm mất khả năng nhận thức hoặc điều khiển hành vi thì mới có thể có khả năng thực hiện các hoạt động: lôi kéo các thành phần bất mãn với chế độ; đặt mìn phá trụ sở; liên hệ qua Internet với nước ngoài; bao vây trụ sở ủy ban và giết một số cán bộ nhà nước./.

Câu hỏi:

V là người buôn bán ma túy chuyên nghiệp đã thuê G với số tiền 500 nghìn đồng để G (15 tuổi) giúp vận chuyển số Heroin từ chợ về nhà V. Số Heroin được gói trong bọc quà sinh nhật. G đang mang từ chợ về nhà V thì bị công an bắt giữ. Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 194 BLHS.

Ông H là Bố của G đến hỏi: hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không? (2 điểm)

Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà? (2 điểm)

Thứ nhất, theo Điều 12 Bộ luật hình sự 2023 (sửa đổi, bổ sung 2023):

1. Hành vi vận chuyển ma túy của G cho V có bị coi là tội phạm hay không?

Thứ hai, theo căn cứ tại Điều 253 BLHS về Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy:

Điều 12. Tuổi chịu trách nhiệm hình sự1. Người từ đủ 16 tuổi trở lên phải chịu trách nhiệm hình sự về mọi tội phạm, trừ những tội phạm mà Bộ luật này có quy định khác. 2.6 Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội phạm rất nghiêm trọng, tội phạm đặc biệt nghiêm trọng quy định tại một trong các điều 123, 134, 141, 142, 143, 144, 150, 151, 168, 169, 170, 171, 173, 178, 248, 249, 250, 251, 252, 265, 266, 286, 287, 289, 290, 299, 303 và 304 của Bộ luật này.

Lượng Heroin mà G vận chuyển nếu bị coi là tội phạm có thể được xử lí theo khoản 2 Điều 253 BLHS?

Điều 253. Tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy 1. Người nào tàng trữ, vận chuyển, mua bán hoặc chiếm đoạt tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 01 năm đến 06 năm: b) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 50 gam đến dưới 200 gam; c) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 75 mililít đến dưới 300 mililít. 2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 06 năm đến 13 năm: c) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn; d) Lợi dụng danh nghĩa Cơ quan, tổ chức; đ) Tiền chất ở thể rắn có khối lượng từ 200 gam đến dưới 500 gam; e) Tiền chất ở thể lỏng có thể tích từ 300 mililít đến dưới 750 mililít; g) Sử dụng người dưới 16 tuổi vào việc phạm tội; h) Vận chuyển, mua bán qua biên giới;

– Người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự về tội tàng trữ, vận chuyển, mua bán trái phép hoặc chiếm đoạt chất ma túy quy định khoản 2 Điều 253 Bộ luật hình sự, vì khoản 2 Điều 253 Bộ luật hình sự là tội phạm rất nghiêm trọng. Theo khoản 2, Điều 12 thì người từ đủ 14 tuổi đến dưới 16 tuổi phải chịu trách nhiệm hình sự tội phạm rất nghiêm trọng quy định tại điều 253 này.

2. Hiện tại con tôi đang bị cơ quan Công an tạm giữ, vậy tôi phải làm gì để giúp con tôi sớm được về nhà?

Bạn có thể bảo lĩnh cho G để được về nhà. Tuy nhiên, phải thực hiện đúng những quy định về bảo lĩnh tại Điều 121 Bộ luật tố tụng hình sự 2023 về điều kiện và thủ tục bảo lãnh, cụ thể như sau:

– Về thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh: tùy vào giai đoạn điều tra, truy tố hoặc xét xử mà Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án có thể quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh.

– Người nhận bảo lĩnh có thể là:

+) Cá nhân: là người đủ 18 tuổi trở lên, nhân thân tốt, nghiêm chỉnh chấp hành pháp luật, thu nhập ổn định và có điều kiện quản lý người được bảo lĩnh thì có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là người thân thích của họ và trong trường hợp này thì ít nhất phải có 02 người đều là người thân thích của bị can, bị cáo. Người thân thích bao gồm: vợ, chồng, cha đẻ, mẹ đẻ, cha nuôi, mẹ nuôi, con đẻ, con nuôi; ông nội, bà nội, ông ngoại, bà ngoại, anh ruột, chị ruột, em ruột; cụ nội, cụ ngoại; bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột; cháu ruột mà họ là bác ruột, chú ruột, cậu ruột, cô ruột, dì ruột của bị can bị cáo.

+) Tổ chức: tổ chức có thể nhận bảo lĩnh cho bị can, bị cáo là thành viên của tổ chức mình.

– Thủ tục bảo lĩnh:

+) Người bảo lĩnh nộp đơn xin bảo lĩnh tới cơ quan có thẩm quyền quyết định cho bị can, bị cáo được bảo lĩnh. Nếu là cá nhân bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của chính quyền địa phương nơi người đó cư trú hoặc cơ quan, tổ chức nơi người đó làm việc. Nếu là tổ chức nhạn bảo lĩnh thì đơn xin bảo lĩnh phải có xác nhận của người đứng đầu tổ chức.

+) Cá nhân, tổ chức làm giấy cam đoan không để bị can, bị cáo tiếp tục phạm tội và bảo đảm sự có mặt của bị can, bị cáo theo giấy triệu tập của Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát hoặc Tòa án.

– Trách nhiệm của người nhận bảo lĩnh khi vi phạm nghĩa vụ cam đoan: Cá nhân hoặc tổ chức nhận bảo lĩnh vi phạm nghĩa vụ đã cam đoan phải chịu trách nhiệm về nghĩa vụ đã cam đoan và trong trường hợp này bị can, bị cáo được nhận bảo lĩnh sẽ bị áp dụng biện pháp ngăn chặn khác.

Theo hướng dẫn tại tiểu mục 1.4 mục 1 phần I Thông tư liên tịch số 17/2007/TTLT-BCA-VKSNDTC-TANDTC-BTP hướng dẫn áp dụng một số quy định tại chương XVIII “Các tội phạm về ma túy” của Bộ luật hình sự năm 1999 thì: “Trong mọi trường hợp, khi thu giữ được các chất nghi là chất ma túy hoặc tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy thì đều phải trưmg cầu giám định để xác định loại, hàm lượng, trọng lượng chất ma túy, tiền chất. Nếu chất được giám định không phải là chất ma túy hoặc không phải là tiền chất dùng vào việc sản xuất trải phép chất ma túy nhưng người thực hiện hành vi ý thức rằng chất đó là chất ma túy hoặc chất đó là tiền chất dùng vào việc sản xuất trái phép chất ma túy, thì tùy hành vi phạm tội cụ thể mà trưy cứu trách nhiệm hình sự người đó theo tội danh quy định tại khoản 1 của điều luật tương ứng đối với các tội phạm về ma túy…”

Tình huống 17:

Lê Thị L, 28 tuổi, lấy chồng là Phạm Văn K (sĩ quan quân đội). Trong những năm đầu họ chung sống với nhau rất hạnh phúc và đã có 2 con. Thế nhưng, kể từ đầu năm 2003 K bị đám bạn xấu lôi kéo vào cuộc sống xa đọa. Lương và tiền làm thêm K không đưa về nuôi gia đình mà mang đi bao một cô tiếp viên nhà hàng tên là Q. Mỗi khi về nhà K còn thường xuyên nhiếc mắng, đánh đập, hắt hủi L. L nhiều lần khuyên nhủ nhưng K vẫn không nghe. L rất ghen tức nên có ý định giết K và Q.

Hỏi: Anh (Chị) hãy xác định tội danh do L thực hiện ?

Ngày 24/4/2003, biết đôi tình nhân hẹn gặp nhau ở nhà trọ của Q, L lấy khẩu súng K54 K để ở nhà (khẩu súng này K được giao khi làm nhiệm vụ) đến đó phục. 23 giờ cùng ngày, thấy K đi cùng với Q và một tiếp viên khác về nhà trọ, L dùng súng bắn K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn Q, không ngờ Q lại không việc gì, mà cô tiếp viên đi bên cạnh là H bị trúng đạn chết.

1. Tóm tắt và phân tích hành vi của Lê Thị L

Với ý định giết K và Q, 23 giờ ngày 24/4/2003, L lấy khẩu súng K54 của K đến phục trước nhà trọ của Q (nơi K và Q hẹn nhau). Khi thấy K đi cùng với Q và một tiếp viên khác về, L dùng súng bắn K nhưng K chỉ bị thương, L lại dùng súng bắn Q, nhưng Q không việc gì, mà H đi bên cạnh bị trúng đạn chết.

Hành vi bắn K, Q, H xâm phạm vào quyền nhân thân của con người. Quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra là khoản 1, 2 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự.

* Khoản 1 và 2 Điều 93 Bộ luật hình sự

3. Kiểm tra quy phạm pháp luật hình sự đã lựa chọn

Khoản 2 Điều 93 BLHS quy dịnh cấu thành cơ bản của tội giết người.

Mặc dù điều luật này không có mô tả các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội giết người, nhưng từ thực tiễn xét xử đã được thừa nhận có thể đưa ra định nghĩa: giết người là hành vi cố ý tước đoạt sự sống của rngười khác một cách trái pháp luật.

– Khách thể của tội giết người là quyền sống của con người. Đối tượng tác động của nó là con người đang sống đang tồn tại.

Hành vi của L đã xâm hại tới quyền sống của K, Q, H. Đối tượng tác động của hành vi phạm tội của L chính là K, Q, H.

– Mặt khách quan của tội phạm này thể hiện ở hành vi khách quan tước đoạt quyền sống của người khác, tức là hành vi có khả năng trực tiếp gây ra cái chết của nạn nhân, chấm dứt sự sống của họ. Hành vi tước đoạt tính mạng (quyền sống) của người khác trong mặt khách quan của tội giết người phải là hành vi trái pháp luật.

Hậu quả chết người không phải là dấu hiệu bắt buộc (dấu hiệu định tội) của tội này, mà nó chỉ là dấu hiệu để xác định tội phạm hoàn thành. Nếu hậu quả chết người không xảy ra vì do nguyên nhân chủ quan thì hành vi phạm tội được coi là giết người chưa đạt.

Trong trường hợp hậu quả chết người xảy ra người định tội danh cần phải kiểm tra mối quan hệ nhân quả giữa hành vi phạm tội và hậu quả đó để từ đó xác định mức độ trách nhiệm hình sự của người phạm tội.

Trong thực tiễn xét xử, nhiều trường hợp việc xác định mối quan hệ nhân quả này hết sức phức tạp, nên theo hướng dẫn của Toà án tối cao cần thiết phải có kết luận của Hội đồng giám định pháp y.

Căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy hành vi dùng súng K54 bắn vào K và Q là hành vi nguy hiểm cho xã hội trực tiếp xâm hại đến quyền sống của K và Q. Đây là hành vi tước đoạt sự sống của K và Q một cách trái phép, bị pháp luật cấm. Tuy nhiên, nó chưa gây ra cái chết cho nạn nhân nên theo Điều 18 BLHS thì đây là trường hợp giết người chưa đạt. Còn cái chết của chị H được coi là hậu quả của hành vi giết người chưa đạt này gây ra.

– Chủ thể của tội giết người là bất cứ ai có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ đủ 14 tuỏi trở lên. Theo sự mô tả trong vụ án, L đã xây dựng gia đình với K được nhiều năm và không có biểu hiện gì của người mất hoặc hạn chế năng lực trách nhiệm hình sự. Như vậy, L là người đã thoả mãn đầy đủ các điều kiện của chủ thể tội giết người

– Mặt chủ quan của tội giết người thể hiện ở dấu hiệu lỗi cố ý trực tiếp hoặc gián tiếp. Dấu hiệu mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc.

Các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q. Biết hai người này hẹn hò nhau tại nhà trọ của Q nên L đã lấy súng K54 phục trước nhà trọ của Q, sau đó bắn hai người này. Với các tình tiết của sự việc cho thấy L thực hiện hành vi phạm tội bằng lỗi cố ý trực tiếp, L biết hành vi của mình là nguy hiểm cho xã hội bị pháp luật cấm nhưng vẫn cứ thực hiện, bởi L mong muốn tước đoạt tính mạng của K và Q nhằm thoả mãn sự ghen tuông của cá nhân.

So sánh, đối chiếu với các dấu hiệu pháp lý của tội giết người theo khoản 2 Điều 93 và Điều 18 Bộ luật hình sự cho thấy L phạm tội giết người chưa đạt.

Tuy nhiên, căn cứ vào các tình tiết của vụ án cho thấy L có ý định giết K và Q. Do vậy, L phạm tội trong trường hợp giết nhiều người được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 93 Bộ luật hìhn sự với tư cách là một tình tiết tăng nặng định khung.

* Khoản 1 và 2 Điều 230 Bộ luật hình sự

Chú ý: Khi giải quyết vụ án này có thể có quan điểm cho rằng cần phải truy cứu trách nhiệm hình sự đối với L thêm tội vô ý làm chết người. Nhưng theo chúng tôi việc can phạm làm chết chị H không phải là kết quả của một hành vi vô ý thông thường, hay nói cách khác nó không phải là hành vi vô ý độc lập mà là kết quả của hành vi cố ý giết người. Nếu định tội là vô ý làm chết người thì sẽ đánh giá sai tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi đó. Cho nên không cần định thêm tội vô ý làm chết người, chỉ cần định một tội là tội giết người (chưa đạt) và coi việc làm chết chị H là một hậu quả của hành vi giết người (chưa đạt) nói trên. Về tính chất và mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi giết người chưa đạt mà gây ra hậu quả làm chết người khác này có thể coi không khác gì trường hợp giết người đã hoàn thành.

– Mặt khách quan của tội phạm được thể hiện ở hành vi sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Đây là tội có cấu thành hình thức. Tội phạm được coi là hoàn thành khi người phạm tội thực hiện hành vi khách quan sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Hậu quả phạm tội không có ý nghĩa cho việc định tội danh.

– Mặt chủ quan của tội phạm thể hiện bằng dấu hiệu lỗi cố ý (cố ý trực tiếp hoặc cố ý gián tiếp). Mục đích và động cơ phạm tội không phải là dấu hiệu bắt buộc trong mặt chủ quan của tội phạm này.

– Chủ thể của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng là những người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ 16 tuổi trở lên nếu phạm tội theo ở khoản 1 và từ đủ 14 tuổi trở lên nếu phạm tội theo khoản 2, 3 và 4 Điều 230 Bộ luật hình sự.

Hành vi phạm tội này của L đã thoả mãn đầy đủ các dấu hiệu của tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng quy định tại điểm a khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự.

Lê Thị L phạm tội giết người chưa đạt và tội sử dụng trái phép vũ khí quân dụng. Tội danh và hình phạt được quy định tại điểm a khoản 1 Điều 93 và Điều 18; điểm a khoản 2 Điều 230 Bộ luật hình sự.

Chiều ngày 11/6/2001 Phạm Văn D đi lang thang thấy một người đang sửa xe Cub 70 đời 82-89 ở ven đường nên đứng lại xem. Người chủ xe máy chữa xe mãi không được nên nhờ D chữa giúp. D nhận lời. Sau khi chữa xe xong, D ngồi lên xe khởi động máy, máy nổ. Lợi dụng chủ xe đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe D đã cài số phóng xe đi thẳng. Ngày hôm sau D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công an hình sự bắt giữ. Chiếc xe máy được Cơ quan công an giao trả cho người chủ xe tên là Trần Quang B.

Hỏi: Hãy xác định trách nhiệm hình sự của D? Lời giải

Qua đấu tranh khai thác, Cơ quan công an còn được biết đêm ngày 14/7/1995, lợi dụng mọi người trong gia đình nhà ông Lê Quốc L (ở làng lân cận) đi vắng, D đã dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấy chiếc xe Dream II ông L mới mua với giá 5 lượng vàng mang lên thành phố Hồ Chí Minh bán tiêu sài. Nhưng trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trong thời gian từ đó cho đến khi bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ở nhà.

1. Tóm tắt và phân tích hành vi phạm tội của D

– Đêm ngày 14/7/1995 lợi dụng gia đình ông L đi vắng D đã dùng kìm cộng lực cắt khoá vào nhà lấy chiếc xe Dream II giá trị 5 cây vàng. Trong quá trình điều tra, Cơ quan điều tra không phát hiện ra D là thủ phạm và trong thời gian từ đó cho đến khi bị bắt về vụ án ngày 11/6/2001 D vẫn làm ăn sinh sống bình thường ở nhà.

– 11/6/2001 B nhờ D chữa xe. Sau khi chữa xe xong D ngồi lên xe khởi động máy nổ. Lợi dụng B đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe D đã cài số phóng xe đi thẳng. Ngày hôm sau khi D đem xe đến một cửa hàng cầm đồ để bán thì bị Công an hình sự bắt giữ.

2. Hướng xâm hại của hành vi và lựa chọn quy phạm pháp luật cần kiểm tra

– Hành vi D thực hiện đêm ngày 14/7/1995 đã xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản của công dân. Các qui phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1, 2 Điều 155, khoản 2 Điều 8, khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự 1985 và khoản 1 Điều 138; khoản 3 Điều 7; khoản 2, 3 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999.

– Hành vi D thực hiện ngày 11/6/2001 đã xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản của công dân. Quy phạm pháp luật hình sự cần kiểm tra: Khoản 1 Điều 136, Bộ luật hình sự năm 1999.

Khoản 1 Điều 155 quy định cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản của công dân.

– Khách thể bị tội phạm xâm hại là quan hệ sở hữu tài sản của công dân. Đối tượng tác động của nó là tài sản của công dân.

Hành vi lấy chiếc xe máy Dream II của D đã trực tiếp xâm hại tới quan hệ sở hữu tài sản của anh L. Ông L đã mất quyền chiếm hữu, sử dụng và định đoạt chiếc xe máy của mình

Các dấu hiệu thuộc mặt khách quan của tội trộm cắp tài sản của công dân gồm có hành vi chiếm đoạt tài sản bằng thủ đoạn lén lút, bí mật; hậu quả nguy hiểm cho xã hội và mối quan hệ nhân quả giữa hành vi chiếm đoạt tài sản và hậu quả nguy hiểm cho xã hội. Tội phạm hoàn thành khi hậu quả phạm tội xảy ra.

Các tình tiết của vụ án cho thấy D lợi dụng mọi người trong gia đình nhà Ông Lê Quốc L (ở làng lân cận) đi vắng, đã dùng kìm cộng lực cắt khoá cửa vào nhà lấy chiếc xe Dream II. Như vậy, D đã thực hiện hành vi chiếm đoạt chiếc xe Dream II của ông L bằng thủ đoạn lén lút, bí mật che giấu tính chất phạm pháp của hành vi của mình đối với ông L- chủ sở hữu tài sản. Tội phạm hoàn thành kể từ khi D chiếm đoạt được chiếc xe Dream II trị giá 5 lượng vàng.

– Mặt chủ quan của tội phạm bao gồm lỗi cố ý trực tiếp, động cơ tư lợi.

Các tình tiết của vụ án cho thấy D đã nhận thức được đầy đủ tính chất nguy hiểm cho xã hội của hành vi của mình, biết được việc thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của ông L là hành vi bị pháp luật cấm. Tuy nhận thức được rất rõ như vậy nhưng D vẫn thực hiện hành vi phạm tội với động cơ tư lợi.

Chủ thể của tội phạm đòi hỏi người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt từ đủ 16 tuổi trở lên ở khoản 1 và từ đủ 14 tuổi trở lên ở khoản 2 và 3 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985. D đã thoả mãn các điều kiện của chủ thể của tội phạm này.

Đối chiếu với các dấu hiệu đặc trưng pháp lý của tội trộm cắp tài sản của công dân theo khoản 1 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 thì hành vi của D đã thoả mãn các dấu hiệu của tội phạm này. Tuy nhiên, tài sản của ông L là chiếc xe Dream II với giá trị 5 lượng vàng. Theo Nghị quyết số 01/89/HĐTP ngày 19/4/1989 của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao thì “khoảng 5 tấn gạo, 5 tấn xăng dầu, phân đạm, 5 tạ mỳ chính, 2 tấn đường trắng loại 1, hai lượng vàng, đối với tiền hoặc các loại tài sản hàng hoá, vật tư khác quy ra trị giá tương đương với 5 tấn gạo- được coi là số lượng tài sản, hàng hoá, vật tư có giá trị lớn hoặc thu lợi bất chính lớn. Khi trị giá gấp 3 lần các mức nêu trên thì được coi là giá trị rất lớn hoặc có số lượng rất lớn, thu lợi bất chính rất lớn”.

* Khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985

Như vậy, Phạm Văn D đã phạm tội trộm cắp tài sản của công dân trong trường hợp chiếm đoạt tài sản có giá trị lớn theo điểm c khoản 2 Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985.

Do hành vi trộm cắp tài sản của công dân xảy ra từ ngày 14/7/1995, nhưng cho đến ngày 11/6/2001 Cơ quan công an mới phát hiện ra nên cần phải kiểm tra để xác định hành vi phạm tội này đã hết thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự chưa và D có được hưởng thời hiệu không.

Theo khoản 2 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1985, tội trộm cắp tài sản của công dân theo khoản 2 Điều 155 là tội nghiêm trọng (khung hình phạt từ 2 đến 10 năm tù). Điểm c khoản 1 Điều 45 Bộ luật hình sự năm 1985 quy định thời hiệu truy cứu trách nhiệm hình sự đối với tội này là 15 năm. Kể từ khi D phạm tội trộm cắp tài sản của công dân (14/7/1995) đến ngày phạm tội mới (11/6/2001) chưa đến 6 năm cho nên D vẫn phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi trộm cắp tài sản của mình.

Nhưng do hành vi phạm tội này lại được phát hiện và xử lý sau khi Bộ luật hình sự năm 1999 có hiệu lực pháp luật, nên cần phải vận dụng những điều luật có lợi cho D theo quy định khoản 3 Điều 7 Bộ luật này.

Hai tội trộm cắp tài sản được quy định tại Điều 132 và Điều 155 Bộ luật hình sự năm 1985 được Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 sáp nhập thành một tội.

Khoản 1 Điều 138 Bộ luật hình sự năm 1999 quy định “Người nào trộm cắp tài sản của người khác có giá trị từ 500.000 đồng đến dưới 50 triệu đồng… thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 3 năm hoặc bị phạt tù từ 6 tháng đến 3 năm”. Như vậy, so với quy định về tội trộm cắp tài sản trong Bộ luật hình sự năm 1985 cho thấy nhà làm luật không chỉ phi tội phạm hoá mà còn phi hình sự hoá một phần loại tội phạm này.

Đối chiếu với hành vi trộm cắp chiếc xe máy Dream II (giá trị 5 lượng vàng – dưới 50 triệu đồng) của D chúng ta thấy nó chỉ thoả mãn các dấu hiệu cấu thành cơ bản của tội trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 138. Theo khoản 3 Điều 7 Bộ luật hình sự năm 1999 thì khoản 1 Điều 138 của Bộ luật này được áp dụng với hành vi phạm tội trên của D (áp dụng theo hướng có lợi cho D). Cũng theo khoản 3 Điều 8 Bộ luật hình sự năm 1999, tội trộm cắp tài sản do D thực hiện là tội ít nghiêm trọng và căn cứ vào điểm a khoản 2 Điều 23 Bộ luật hình sự năm 1999 thì thời hiệu truy cứu trách nhiệm đối với loại tội này là 5 năm.

Khoản 1 Điều 136 quy định cấu thành tội cướp giật tài sản

Các dấu hiệu pháp lý đặc trưng của tội này thể hiện ở chỗ tội phạm xâm phạm tới quan hệ sở hữu tài sản. Mặt khách quan của tội phạm thể hiện ở hành vi nhanh chóng chiếm đoạt tài sản của nạn nhân rồi nhanh chóng tẩu thoát. Tội phạm hoàn thành khi chiếm đoạt được tài sản. Tội cướp giật tài sản được người có năng lực trách nhiệm hình sự và đạt đủ tuỏi chịu trách nhiệm hình sự thực hiện bằng lỗi cố ý trực tiếp với động cơ tư lợi

So sánh, đối chiếu các dấu hiệu cấu thành của tội cướp giật tài sản quy định tại khoản 1 Điều 136 như đã trình bày ở trên với các tình tiết khách quan và chủ quan của vụ án cho thấy hành vi của D đã xâm phạm trực tiếp quyền sở hữu tài sản của công dân được pháp luật hình sự bảo vệ. D đã có hành vi lợi dụng chủ xe đang lúi húi buộc hành lý vào sau xe đã nhanh chóng nổ máy cài số phóng xe đi thẳng. Sau đó mang xe đến hiệu cầm đồ để bán. Hành vi này rõ ràng là hành vi cố ý chiếm đoạt tài sản của công dân bằng thủ đoạn nhanh chóng chiếm đoạt rồi tẩu thoát. Đây là dấu hiệu của tội cưopứp giật chứ không phải là dấu hiệu đặc trưng của tội công nhiên chiếm đoạt tài sản được quy định tại Điều 137 Bộ luật hình sự. D có đủ năng lực trách nhiệm hình sự và tuổi chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi của rmình là nguy hiểm cho xã hội nhận thực được hậu quả của hành vi đó những vẫn có ý thức chiếm đoạt bằng được tài sản của nạn nhân để thoả mãn động cơ tư lợi.

Phạm Văn D chỉ chịu trách nhiệm hình sự về tội cướp giật tài sản của công dân. Tội danh và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 136 Bộ luật hình sự.

Tình huống 19:

Câu hỏi: 1. Các tội phạm mà H đã thực hiện thuộc loại tội phạm nào theo cách phân loại tội phạm tại khoản 3 Điều 8 BLHS. 2. Giả định H thực hiện cả hai tội nêu trên khi mới 17 tuổi thì hình phạt của H có thể phải chịu là bao nhiêu năm tù? 3. Giả định H bị xét xử 2 tội phạm nêu trên. Tội trộm cắp tài sản bị Tòa án tuyên phạt 3 năm cải tạo không giam giữ; tội cướp giật tài sản bị Tòa án tuyên phạt 15 năm tù thì hình phạt mà H còn phải chấp hành cho cả 2 tội này là bao nhiêu? Biết rằng H đã bị tạm giam 4 tháng về tội cướp giật tài sản. 4. Giả định H phạm tội cướp giật tài sản bị truy tố theo khoản 1 Điều 136 BLHS và tội trộm cắp như tình huống nêu trên thì H có khả năng được hưởng án treo không? hãy giải thích rõ vì sao?

Ngày 2/10/2011, Nguyễn Văn H trộm cắp tài sản của người không quen biết (tài sản trị giá 49 triệu đồng – thuộc khoản 1 Điều 138 BLHS) nhưng không bị phát hiện. Ngày 5/10/2012, H lại phạm tội cướp giật tài sản (thuộc khoản 4 Điều 136 BLHS) bị phát hiện và Công an bắt giữ H.

Bài Tập Tình Huống Luật Hình Sự

Bài tập tình huống Luật hình sự. Bài tập nhóm Luật hình sự 8 điểm.

Hiếu và Hòa kết hôn đã được 15 năm. Hiếu thường xuyên uống rượu say thì về đập phá đồ đạc trong gia đình và đánh vợ rất dã man. Mỗi khi không lo được tiền cho chồng mua rượu, chị Hoa lại phải gánh chịu những lời lăng mạ tồi tệ cùng trận đòn quái ác của chồng. Có lần chưa hả dạ, Hiếu còn kéo chị Hoa ra đầu làng và làm nhục chị. Do quá uất ức và tủi nhục, chị Hoa đã nhảy sông để tự sát. Thấy vậy, Hiếu nhảy xuống nhảy xuống sông dìm đầu vợ xuống nước và nói: “Muốn chết tao cho chết luôn”. Mấy phút sau chị Hoa tắt thở.

1. Xác định tội danh của Hiếu (2 điểm)

2. Giả sử Hiếu không có hành vi dìm đầu vợ xuống nước thì tội danh của Hiếu là gì?(2 điểm)

3. Giả sử Hoa nhảy xuống sông tự sát nhưng được hàng xóm cứu, không chết thì TNHS của Hiếu được giải quyết như thế nào? (2 điểm)

4. Giả sử Hiếu vừa chấp hành xong bản án 7 năm tù về tội cố ý gây thương tích và đã có các hành vi nêu trên thì trường hợp phạm tội của Hiếu được coi là tái phạm hay tái phạm nguy hiểm. (1 điểm)

Hành vi của Hiếu trong trường hợp này đã cấu thành tội giết người có tình tiết tăng nặng được quy định tại Điểm n Khoản 1 Điều 93 BLHS 1999 sửa đổi bổ sung năm 2009

* Chủ thể của tội phạm trong vụ án này là Hiếu, Hiếu đã có hành động dìm đầu chị Hoa xuống nước làm mấy phút sau chị Hoa tắt thở. Hiếu là người có năng lực trách nhiệm hình sự và đã đạt độ tuổi nhất định do Hiếu đã kết hôn được 15 năm

* Mặt khách quan của tội phạm:

– Mặt khách quan của tội giết người thể hiện ở hành vi tước đoạt quyền sống của người khác một cách trái pháp luật. Hành vi tước đoạt tính mạng người khác được hiểu là hành vi có khả năng gây ra cái chết cho con người, chấm dứt sự sống của họ. Trong trường hợp này, Hiếu đã có hành động dìm đầu chị Hoa xuống nước- một hành vi nguy hiểm, có khả năng gây ra cái chết nhanh chóng cho nạn nhân. Thực tế cho thấy hậu quả chết người đã xảy ra khi chị Hoa tắt thở chỉ vài phút sau khi bị dìm xuống nước. Đối tượng của hành vi tước đoạt tính mạng chỉ có thể là con người còn đang sống, ở tình huống này chị Hoa là người còn đang sống, được pháp luật bảo vệ về tính mạng, sức khỏe,…Vì vậy có thể khẳng định hành vi của Hiếu là hành vi tước đoạt trái pháp luật tính mạng của người khác. Cụ thể ở đây là chị Hoa vợ của Hiếu.

– Hậu quả của tội phạm là dấu hiệu bắt buộc trong cấu thành tội phạm tội giết người là hậu quả chết người. Trong trường hợp này, hành vi của Hiếu đã gây ra hậu quả nghiêm trọng là cái chết của chị Hoa.

Cập nhật thông tin chi tiết về Bài Tập Tình Huống Luật Thương Mại 1, 2 (Có Đáp Án) trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!