Xu Hướng 8/2022 ❤️ Báo Cáo Chính Trị Của Ban Chấp Hành Huyện Đảng Bộ Khoá Vi Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Vii (Phần 1) ❣️ Top View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 8/2022 ❤️ Báo Cáo Chính Trị Của Ban Chấp Hành Huyện Đảng Bộ Khoá Vi Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Vii (Phần 1) ❣️ Top View

Xem 990

Bạn đang xem bài viết Báo Cáo Chính Trị Của Ban Chấp Hành Huyện Đảng Bộ Khoá Vi Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Vii (Phần 1) được cập nhật mới nhất ngày 18/08/2022 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 990 lượt xem.

Hoằng Hóa: Triển Khai, Quán Triệt Nghị Quyết Số 05, 06

Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Huyện Về Phát Triển Giáo Dục Đào Tạo Giai Đoạn 2011

Nghị Quyết Ban Chấp Hành Đảng Bộ Thường Kỳ Tháng 7 Năm 2022

Kế Hoạch Tuyên Truyền Thực Hiện Nghị Quyết 05

Thực Hiện Nghị Quyết 05 Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Nhìn Từ Công Ty Tnhh Mtv Bình Minh

Nhiệm kỳ 5 năm qua, cả nước có những thời cơ mới, đồng thời những khó khăn, phức tạp rất lớn, vẫn còn diễn ra gay gắt. Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần VI, 5 năm qua, toàn huyện đã nỗ lực ra sức phấn đấu, kiên trì sự nghiệp đổi mới, từng bước không ngừng đưa huyện vươn lên theo hướng “Dân giàu nước mạnh – Xã hội công bằng văn minh”.

Đại hội Đại biểu huyện Hóc môn nhiệm kỳ VII lần này có nhiệm vụ tổng kết việc thực hiện nghị quyết Đại hội Đại biểu nhiệm kỳ qua, đề ra phương hướng nhiệm vụ 5 năm tới 1996-2000, tạo thêm điều kiện cho huyện bước vào thời kỳ phát triển mới của đất nước ở đầu thế kỷ 21.

PHẦN THỨ NHẤT

NHỮNG CHUYỂN BIẾN TRONG THỰC HIỆN NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU NHIỆM KỲ VI

I. TRÊN LĨNH VỰC KINH TẾ:

Theo quá trình đô thị hoá, 5 năm qua, huyện tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế từ “Nông công nghiệp” sang “Công nông – thương nghiệp – dịch vụ”. Cùng sự phát triển chung, kinh tế xã hội huyện có những chuyển biến tích cực, đi dần vào ổn định, đạt và vượt một số mục tiêu, chỉ tiêu chủ yếu theo nghị quyết Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện lần VI.

-Đã xác định chuyển dịch cơ cấu kinh tế đúng đắn, đạt được một số kết quả. Năm 1991: giá trị tổng sản lượng 2 ngành sản xuất chính công – nông nghiệp đạt trên 96 tỉ đồng, trong đó tỉ trọng công nghiệp 53,6%, nông nghiệp 46,4%. Cơ cấu này chuyển dịch theo từng năm. Đến năm 1995: giá trị tổng sản lượng công nghiệp nông nghiệp ước đạt trên 156 tỉ đồng, trong đó công nghiệp đạt 60%, nông nghiệp đạt 40%. Năng lực dịch vụ, xuất nhập khẩu tăng khá nhanh, những năm gần đây, chiếm một tỷ lệ nhất định trong cơ cấu nền kinh tế.

Sản xuất ngoài quốc doanh chiếm trên 90% giá trị tổng sản lượng toàn ngành và có số lượng lao động trên 90% so tổng số lao động toàn ngành.

Khu vực quốc doanh có nhiều cố gắng. Sau khi sắp xếp theo NĐ 388/HĐBT, các xí nghiệp quốc doanh của huyện tuy không đủ điều kiện cạnh tranh vượt lên mạnh so các thành phần kinh tế, nhưng một số cơ sở quốc doanh vẫn duy trì sản xuất kinh doanh, tạo ra giá trị tổng sản lượng toàn ngành, một số cơ sở hoạt động khá, tạo được hiệu quả và tham gia giải quyết lao động như xí nghiệp may trực thuộc Công ty Xuất nhập khẩu – Đầu tư huyện, Xí nghiệp may Việt Hưng thuộc Công ty Đông Hưng. Riêng năm 1995, tỉ trọng này còn 5,8%.

Hoạt động ngoại thương (Công ty Xuất nhập khẩu – Đầu tư) các năm qua gặp nhiều khó khăn do thị trường xuất nhập bất ổn định, nhưng đã cố gắng đứng vững, từng bước nâng lên chức năng đầu tư, sản xuất gia công may mặc, nhận xuất nhập uỷ thác một số mặt hàng để đảm bảo hiệu quả.

Công tác kiểm tra, quản lý thị trường, chống buôn lậu, chống hàng gian hàng giả được tiến hành thường xuyên, mang lại một số kết quả, phát hiện xử lý một số lượng khá lớn các vụ vi phạm.

Thu thuế công thương nghiệp, nông nghiệp, hàng năm đều phấn đấu đạt vượt chỉ tiêu. Đã giải quyết xong tồn tại các HTX tín dụng.

– Thu chi ngân sách: đảm bảo cân đối, đáp ứng kịp thời các nhu cầu thường xuyên, trên tinh thần tiết kiệm và kịp thời phục vụ nhiệm vụ chính trị của huyện. Ngân hàng nông nghiệp huyện có gắn bó địa phương, phục vụ khá tốt yêu cầu phát triển kinh tế, trong đó nguồn vốn huy động năm 1995, tăng gấp 9 lần so năm 1991, từng bước mở rộng qui mô tín dụng và tăng qui mô cho vay khu vực sản xuất nông nghiệp.

Đã xây dựng nhiều công trình trọng tâm như tư sửa, mở rộng cầu đường, đã và đang tập trung bê tông hoá cầu khỉ, điện nông thôn, điện khí hoá một số xã (Xuấn Thới Thượng, Đông Thạnh, Thới Tam Thôn), đầu tư cho cơ sở y tế, giáo dục, thông tin liên lạc, trụ sở làm việc, các cơ sở sản xuất, các công trình văn hoá, truyền thống, các công trình trọng điểm chào mừng 20 năm giải phóng… Công tác quản lý xây dựng cơ bản với chủ trương mới đấu thầu, chọn thầu, đã tiết kiệm cho Nhà nước nhiều tỉ đồng. Về nhà ở, đã hoàn thành chỉ tiêu 90 nhà bán trả góp theo NQ.ĐH. Gắn theo quá trình đô thị hoá, huyện đã và đang xây dựng một số khu dân cư đô thị ở Tân Thới Nhứt, Bà Điểm, Thạnh Lộc.

Từ đó, bộ mặt huyện có nhiều thay đổi, đời sống của nhân dân trong huyện được nâng cao và cải thiện, kinh tế có điều kiện phát triển tốt hơn nhiều so 5 năm trước.

Tồn tại, yếu kém:

Qui mô, năng lực sản xuất CN-TTCN còn nhỏ, trình độ công nghệ, thiếu bị hầu hết lạc hậu. Công nghiệp trực tiếp phục vụ sản xuất nông nghiệp còn ít (cơ sở chế biến sữa bò mới ở giai đoạn khởi đầu). Thông tin khoa học chậm, kinh tế QD có nhiều yếu kém so ngoài QD. Đội ngũ quản lý giỏi chưa nhiều, lao động kỹ thuật còn thiếu. Chất lượng hàng hoá chưa tốt, giá thành cao, khả năng tiêu thụ sản phẩm chưa mạnh. Công nghiệp ngoài quốc doanh phát triển nhanh, nhưng do cơ chế phân cấp chưa hoàn thiện, nên công tác quản lý còn lỏng lẻo, nhiều s hở. Do thủ tục quá phức tạp, đến nay, nhiều đề án đầu tư còn kéo dài nhiều năm chưa giải quyết. Một số chủ trương, chính sách về thuế, lãi suất, tín dụng, đất đai… thường thay đổi, chưa thật tác động cho sản xuất phát triển.

II. VỀ VĂN HOÁ XÃ HỘI:

Năm năm qua, mọi hoạt động lĩnh vực văn hoá xã hội của huyện đều luôn hướng theo mục tiêu duy nhất là phát huy cao nhân tố con người.

Tồn tại, yếu kém:

– Do tăng dân số cơ học, tỉ lệ phát triển dân số cao 1,8% (so NQ 1,5%), đời sống chung trên địa bàn còn thấp so nội thành. Đời sống khu vực HCSN, giáo dục còn khó khăn. Chương trình XĐGN cần mở chiều rộng, đưa vào chiều sâu hơn. Trên 80% lao động là lao động phổ thông, đã giải quyết được khối lượng laođ ộng lớn, nhưng thu nhập người lao động còn thấp. Ở khu vực ngoài QD, đã xảy ra những vụ đình công, trong đó có những vụ mâu thuẫn khá gay gắt trong mối quan hệ chủ thợ.

– Công tác giáo dục – đào tạo, y tế, VHTT – TDTT cần nâng cao hơn mức hiện nay để cân đối nhịp phát triển kinh tế, trong đó mặt bằng dân trí của huyện vẫn còn thấp. Xây dựng sửa chữa trường lớp nhiều, nhưng vẫn chưa đáp ứng nhu cầu, còn tình trạng học ca 3. Một số nơi còn thiếu phòng học phải dồn học sinh học một phòng số lượng quá đông. Chất lượng giáo dục còn hạn chế, nhất là ở xã vùng xa, sâu như Nhị Bình, Xuân Thới Thượng nhưng chưa được quan tâm thoả đáng. Việc đào tạo học sinh giỏi chưa nhiều.

– Việc phòng chống bệnh AIDS cần được tăng cường biện pháp. Môi trường một số nơi bị ô nhiễm nặng. Chất lượng điều trị, phong cách y bác sĩ bệnh viện huyện tiếp xúc bệnh nhân, việc sử dụng thẻ bảo hiểm y tế, chữa bệnh cho dân nghèo, hoạt động chữ thập đỏ… là những vấn đề cần được quan tâm làm tốt hơn hiện nay.

– Yêu cầu chống và xây lãnh vực VHXH đều còn thấp do nhu cầu phát triển xã hội ngày càng cao. Truy quét, xử lý nhiều nhưng tệ nạn xã hội, văn hoá phẩm độc hại, tệ đánh đề, cờ bạc, mê tín dị đoan… vẫn đang có chiều hướng phát triển. Các công trình di tích lịch sử của huyện còn quá sơ khai, chưa ngang tầm huyện truyền thống. Các tụ điểm sinh hoạt văn hoá TDTT ở cơ sở ngày càng có khuynh hướng thu hẹp, xuống cấp. Xây dựng gia đình văn hoá mới chưa được xem trọng. Lượng thông tin đến dân thông qua Đài truyền thanh các xã – thị trấn còn ít, chưa đều.

III. AN NINH, QUỐC PHÒNG, NỘI CHÍNH:

Suốt nhiệm kỳ, toàn huyện luôn đảm bảo giữ vững ANCT, trật tự an toàn xã hội trong mọi tình huống, góp phần giữ vững thế ổn định chính trị, tạo nền tảng kh1 vững chắc cho huyện liên tục phát triển.

Theo yêu cu thực hiện nhiệm vụ quốc phòng và bảo vệ an ninh quốc gia trong tình hình mới, huyện đã xây dựng và thực hiện các chuyên đề bảo vệ an ninh nội bộ, an ninh văn hoá tư tưởng, an ninh kinh tế, xây dựng an ninh cơ sở theo nội dung NQ3/TW, NQ6/TU, không ngừng nâng cao cảnh giác cách mạng trong toàn Huyện Đảng bộ. Đã tăng cường công tác nắm tình hình trong các lĩnh vực, các loại đối tượng, kịp thời thu giữ các tài liệu phản động, các loại văn hoá phẩm xấu. Huyện cũng quan tâm thực hiện chính sách tôn giáo, hạn chế dần các hoạt động tôn giáo chưa đúng qui định, quản lý khá tốt về mặt hành chánh diện người nước ngoài đến huyện, có chủ trương giải quyết kịp thời các vụ mâu thuẫn, khiếu kiện, tranh chấp quyền lợi kinh tế trong nhân dân, các doanh nghiệp có đầu tư nước ngoài.

Phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc có chuyển biến tốt hơn so nhiệm kỳ trước, kết quả có 59,6% địa bàn vững mạnh. Mạng lưới an ninh cơ sở được củng cố từ 70-80% địa bàn vững mạnh, đạt chỉ tiêu NQ.ĐH. Lực lượng công an được đào tạo bồi dưỡng về chính trị, nghiệp vụ, trang bị khá hơn, có nhiều cố gắng vận dụng các biện pháp trong phòng ngừa và đấu tranh chống các loại tội phạm.

Công tác Quân sự địa phương có nhiều tiến bộ, đảm bảo bảo vệ huyện trong mọi tình huống. Hàng năm, huyện chú trọng xây dựng, bổ sung kế hoạch phòng thủ, tổ chức tốt diễn tập phòng thủ, hiệp đồng tác chiến chặt chẽ giữa huyện và các đơn vị bạn, không ngừng nâng cao nhận thức, khả năng sẵn sàng chiến đấu. Đã tổ chức các lớp huấn luyện, hội thao, kiểm tra trực sẵn sàng chiến đấu cơ sở. Lực lượng dự bị động viên được biên chế đạt 90,15%, xếp đúng chuyên nghiệp quân sư 95%. Công tác tuyển quân hàng năm hoàn thành thành tốt.

Tồn tại, yếu kém:

IV. XÂY DỰNG HỆ THỐNG CHÍNH TRỊ:

1. Thành tựu:

– Tình hình quần chúng và công tác vận động quần chúng:

– Về đổi mới tổ chức và hoạt động Mặt trận, các đoàn thể:

2. Hoạt động quản lý Nhà nước:

Về bộ máy, huyện đã sắp xếp kiện toàn, tinh gọn bộ máy theo QĐ 442/UBND-TP, QĐ 1852/UBND-TP, gắn bầu cử HĐND huyện, xã nhiệm kỳ mới, nhân sự UBND huyện, xã, đã có một bước củng cố. Năm năm qua, hệ thống quản lý Nhà nước của huyện đã đóng góp tích cực vào những thành tựu chung của địa phương, tăng cường nhiều biện pháp quản lý, tổ chức thực hiện, thúc đẩy kinh tế xã hội huyện phát triển, chăm lo đời sống nhân dân theo NQ Đảng.

3. Về xây dựng Đảng:

Năm năm qua, toàn Huyện Đảng bộ đã tập trung thực hiện NQ3/TW, không ngừng “tự đổi mới, tự chỉnh đốn để nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng” trên 3 mặt chính trị, tư tưởng, tổ chức.

Xác định xây dựng Đảng về Chính trị là vấn đề trọng yếu, xuyên suốt 20 năm qua, nhất là trong nhiệm kỳ VI, Huyện Đảng bộ luôn chú trọng xây dựng định hướng đúng đắn, trong đó đã tiếp tục khẳng định cùng cả nước kiên trì sự nghiệp đổi mới, mục tiêu CNXH, tiếp tục chuyển mạnh cơ cấu kinh tế từ nông công nghiệp sang công nông nghiệp (như đã xác định từ Đại hội Đảng bộ huyện lần V).

Xuất phát từ những định hướng đúng đắn, huyện đã từng bước vươn lên, thế đổn định chính trị luôn giữ vững, kinh tế xã hội có bước phát triển khởi sắc hơn so trước.

Về tình hình đảng viên và tổ chức cơ sở Đảng:

Qua xét chi đảng bộ cơ sở vững mạnh năm 1994 toàn huyện có 35% cơ sở Đảng vững mạnh, 45% cơ sở khá, 13,33% cơ sở trung bình và 6,67% cơ sở yếu. Nhiều chi đảng bộ đã phấn đấu vươn lên, thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, trong đó có 3 đơn vị cơ sở phấn đấu vững mạnh toàn diện. Huyện uỷ đã đề nghị và được Thành uỷ khen. Chất lượng đảng viên qua thực hiện NQ3/TW tăng hơn so khi thực hiện NQ11/TU, đảng viên loại 1: 33,23%, loại 2: 61,82%, loại 3: 4,44%, loại 4: 0,49%.

Phát triển Đảng đầu nhiệm kỳ chậm và ít, chỉ hơn 1/3 tổ chức cơ sở Đảng làm nhiệm vụ phát triển Đảng. Qua tập trung lãnh đạo, công tác phát triển Đảng có những tiến bộ mới (đã phát triển 245 đảng viên mới, so nhiệm kỳ trước 149 đảng viên).

Công tác bồi dưỡng, đào tạo được quan tâm đúng đắn. Huyện đã chi ưu tiên kinh phí đưa trên 2.000 lượt cán bộ học tập, bồi dưỡng các loại lớp. Chính sách cán bộ thực hiện tốt hơn so trước. Huyện uỷ đã cố gắng làm kinh tế Đảng, tuy hiệu quả ít nhưng từng bước có chăm lo trợ cấp thêm cho cán bộ xã, ấp hàng tháng. Huyện đã tổ chức nhiều đợt cho cán bộ tham quan trong nước, tổ chức một số cán bộ tham quan nước ngoài.

Qui hoạch cán bộ dự bị theo Chỉ thị 19/TU được thực hiện cơ bản, trong đó đã thống nhất lập danh sách cán bộ dự bị cấp huyện cho 13 chức danh trong chúng tôi được Thành uỷ duyệt. Sau qui hạoch, huyện tiếp tục đưa số cán bộ qui hoạch dự học các lớp theo kế hoạch. Gắn công tác qui hoạch cán bộ, công tác cán bộ nữ cũng luôn được chú trọng. Đặc biệt từ khi có CT44/BBT về công tác cán bộ nữ, huyện có chủ trương đánh giá lại lực lượng cán bộ nữ để tiếp tục đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, đề bạt cán bộ nữ vào những vị trí quan trọng, tạo điều kiện cho cán bộ nữ đóng góp công sức vào sự nghiệp cách mạng chung. Hiện nay, CBCNV nữ chiếm tỷ lệ 62,08% trong tổng số CBCNV, trong đó cán bộ nữ lãnh đạo, quản lý, chiếm 19,02% trong tổng số cán bộ lãnh đạo quản lý chung toàn huyện.

Đã xử lý nghiêm minh các đảng viên sai phạm, được nội bộ Đảng và nhân dân đồng tình, có tác dụng giáo dục trong Đảng. Đã xử lý 73 đảng viên, trong đó đảng viên bị khai trừ chiếm 21,9%, đảng viên nữ bị kỷ luật 16,43%. Nội dung sai phạm chủ yếu bao gồm sai phạm về nguyên tắc tổ chức sinh hoạt Đảng, sai phạm về pháp luật Nhà nước, phẩm chất đạo đức. So nhiệm kỳ trước, đảng viên bị kỷ luật giảm 23,2%. Song song xem xét công nhận 47 đảng viên bị kỷ luật, đã sửa chữa khuyết điểm.

Cải tiến đổi mới trong cách lãnh đạo: Có nhiều tiến bộ. Đầu nhiệm kỳ, Huyện uỷ xây dựng qui chế làm việc và phân công BCH thực hiện qui chế, trong đó luôn giữ nghiêm nguyên tắc “Tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách”. Tinh thần đoàn kết thống nhất trong nội bộ BCH trong Đảng bộ huyện, luôn được gìn giữ. Mối quan hệ giữa chúng tôi – chúng tôi huyện – HĐND huyện, giữa chúng tôi với các ban Đảng, các đoàn thể cũng từng bước cải tiến hơn, trong đó đã giữ thường xuyên được lịch làm việc định kỳ để cùng bàn thống nhất, tập trung chỉ đạo những vấn đề trọng tâm của huyện. Trong chỉ đạo, theo chúng tôi chúng tôi – chúng tôi có chú ý sơ tổng kết, hội thảo một số chuyên đề để nắm và chỉ đạo sâu những yêu cầu cần thiết. Việc họp giao ban định kỳ giữa chúng tôi và bí thư xã – TT thường xuyên, không buông lỏng. Đối với những kiến nghị thông qua Đại hội cơ sở, Huyện uỷ đã cùng chúng tôi huyện thống nhất chỉ đạo giải quyết, giúp cơ sở có thêm điều kiện hoạt động tốt hơn. Hai năm gần đây, Huyện uỷ cùng HĐND huyện – UB huyện chủ trì tổ chức một số cuộc họp mặt cuối năm đối với các đồng chí chúng tôi các khoá trước, đảng viên 40-50 năm tuổi Đảng, cán bộ cấp ấp, giáo viên tiêu biểu… tạo thêm sự gắn bó chiều sâu về mặt chính trị. Theo chủ trương huyện uỷ hầu hết các cấp uỷ xã – TT và một số cấp uỷ ban ngành đã xây dựng được qui chế làm việc cả nhiệm kỳ và sau thực hiện NQ3/TW, một số đã xây dựng thêm qui chế hoạt động theo Qui định 50/TW về mô hình sinh hoạt chi đảng bộ nông thôn. Hầu hết các đồng chí lãnh đạo ở cơ sở có tinh thần trách nhiệm cao, về dự họp khá đông đủ trong các cuộc họp Huyện uỷ triệu tập. Những cuộc họp chuyên đề, hội thảo, nhiều đồng chí đào sâu suy nghĩ, chuẩn bị ý kiến phát biểu chất lựng, tham gia tốt vào sự lãnh đạo chung của Huyện Đảng bộ.

Tồn tại, yếu kém:

– Công tác xây dựng Đảng còn nhiều mặt cần quan tâm đúng mức:

– Tuy Đảng đã có chủ trương, định hướng đúng nhưng việc cụ thể hoá NQ Đảng để thực hiện ở cấp huyện và cơ sở chưa đồng bộ, dẫn đến một số mặt đạt kết quả thấp. Ngoài nguyên nhân khách quan, về chủ quan, ý thức chấp hành NQ ở một số CBĐV không nghiêm. Trong chỉ đạo có việc thiếu cụ thể (cả nhiệm kỳ, BCH Huyện Đảng bộ chưa có NQ chuyên đề về kinh tế), thiếu kiểm tra kịp thời. Một vài đơn vị do cục bộ tư lợi địa phương, làm điều sai trái (mua bán đất nhà, phân chia nội bộ…) làm mất cán bộ, ảnh hưởng chủ trương, NQ Đảng, ảnh hưởng lòng tin nhân dân.

Đại bộ phận CBĐV tin vào khả năng thực hiện “Dân giàu nước mạnh”, nhưng còn băn khoăn thực hiện “Xã hội công bằng văn minh”, lo ngại qua phân hoá giàu nghèo trong nền kinh tế thị trường, tính giai cấp trong Đảng bị ảnh hưởng, lo trong bước chuyển nền kinh tế thị trường, tồn tại xã hội còn nhiều, ảnh hưởng văn hoá phẩm độc hại dễ làm xoáy mòn nền tảng đạo đức xã hội, làm hư hỏng một bộ phận thanh thiếu niên. Trong băn khoăn này, tư tưởng một bộ phận CBĐV rất lo âu trong nền kinh tế nhiều thành phần hiện nay, kinh tế tư nhân phát triển mạnh nhưng Nhà nước không quản lý chặt được, trong khi kinh tế quốc doanh, HTX ngày càng thu hẹp, như vậy, khó bảo đảm phát triển đất nước theo định hướng XHCN. Một số CBĐV cũng rất quan tâm đến lực lượng kế thừa, lo lớp trẻ chạy theo lối sống thực dụng, quên lý tưởng, đặc biệt lo điều kiện học hành, việc làm… của con em ngoại thành, khi kinh tế đời sống còn nhiều khó khăn…

Gần đây, có biểu hiện một bộ phận đảng viên còn năng về cá nhân hơn phục vụ lợi ích chung, một số cán bộ chính quyền rất ngại chuyển sang công tác Đảng, một bộ phận CBĐV đi làm chỉ vì sinh kế, xem vào Đảng là biện pháp để ổn định công việc lâu dài, một bộ phận đảng viên khối kinh tế ít quan tâm học tập chính trị, ý chí vươn lên vì lý tưởng Đảng chưa thể hiện rõ nét. Đáng quan tâm, tính giai cấp trong một bộ phận CBĐV bị giảm sút do tác động kinh tế, đời sống, chủ nghĩa cá nhân chi phối, thiếu tu dưỡng rèn luyện nên bỏ Đảng, xin ra Đảng hoặc buông mỉnh vào sai phạm, phải bị kỷ luật. Một số ít đảng viên tự ý bỏ hoặc ít tham gia sinh hoạt Đảng, kể cả một vài đảng viên có quá trình tham gia cách mạng khá lâu. Gia đình có truyền thống cách mạng, đời sống kinh tế khá.

– Công tác tổ chức cán bộ chuyển động chưa đồng đều. Một số đơn vị phát sinh có vấn đề phải mất nhiều thời gian củng cố, kiện toàn. Một số chi bộ yếu, vai trò lãnh đạo lu mờ, hình thức. Tổ chức bộ máy từng bước có củng cố, kiện toàn tinh giảm nhưng một số đơn vị chưa thật phù hợp thực tiễn, hiệu quả thực tế ở một số đơn vị , phòng ban còn kém. Do tiêu chuẩn đặt ra trong phân loại cơ sở Đảng cao hơn các lần trước, nên cơ sở Đảng vững mạnh năm 1994 chỉ đạt 50% (35/70 đơn vị) so chỉ tiêu NQ.ĐH cả nhiệm kỳ.

Công tác cán bộ so nhiệm kỳ trước có tiến bộ hơn nhưng vẫn còn tình trạng bố trí chấp vá, hụt hẫng, một số trường hợp còn chậm. Năng lực hoạt động một số cán bộ chưa ngang tầm nhiệm vụ. Một số cán bộ chưa năng động, chưa toàn tâm toàn ý chăm lo việc hung. Một số bí thư ngành còn hạn chế trình độ, chưa ngang tầm với thủ trưởng đơn vị. Khi đặt vấn đề điều động, bó trí một số cán bộ theo qui hoạch còn khó khăn, còn biểu hiện thích được bố trí công việc theo ý muốn. Việc giải quyết số cán bộ nằm chờ còn chậm.

Phát triển số lượng, chất lượng đảng viên cần quan tâm hơn. Cả nhiệm kỳ, phải xoá tên khỏi Đảng 114 đảng viên do những đảng viên này không còn thiết tha với Đảng và không đủ tư cách đảng viên. Phát triển Đảng trong lực lượng công nhân còn ít.

V. NHẬN ĐỊNH TỔNG QUÁT – NGUYÊN NHÂN – BÀI HỌC THỰC TIỄN:

Năm năm qua, cùng sự phát triển chung đất nước, huyện Hóc Môn đã có những chuyển biến đáng kể, đạt thêm một số thành tựu mới. Về cơ bản, huyện luôn giữ vững thế ổn định chính trị, từng bước tiếp tục chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng tích cực. Nhu cầu ăn ở, học hành, đi lại trên địa bàn huyện tiến bộ rõ so nhiệm kỳ trước. Nhiều công trình mới xây dựng, làm thay đổi hẳn bộ mặt nông thôn. Nền kinh tế hàng hoá nhiều thành phần đang phát triển sinh động, trong đó huyện luôn có chủ trương phát huy các thành phần kinh tế để mọi người làm ăn, làm giàu chính đáng, tập trung chăm lo thực hiện chương trình XĐGN, góp phần quan trọng làm giảm bớt khoảng cách giữa giàu – nghèo trong xã hội. Từ đó đời sống xã hội toàn huyện được cải thiện, khởi sắc hẳn lên, tạo thêm được lòng tin của nhân dân Hóc Môn với Đảng, với chế độ.

Từ những thành tựu, tồn tại cả nhiệm kỳ, huyện rút ra những nguyên nhân cũng là bài học kinh nghiệm thực tiễn là:

2. Có chủ trương chiến lược đúng vẫn chưa đủ, cần phải có những giải pháp tương ứng để nghị quyết Đảng luôn mang tính khả thi. Suốt nhiệm kỳ, thực hiện định hướng chung, giải pháp cơ bản bao trùm nhất là huyện luôn đặt yêu cầu phát triển kinh tế ở vị trí trung tâm và xem việc xây dựng cả hệ thống chính trị – xây dựng Đảng là yêu cầu then chốt (để từ thế ổn định chính trị sẽ phát triển mạnh kinh tế và từ phát triển kinh tế – xã hội sẽ tạo nền tảng giữ vững thế ổn định chính trị). Việc đầu tư lãnh đạo cũng phải đúng trọng tâm trọng điểm, có nghị quyết chuyên đề, không tản mạn, tràn lan. Phải nắm bắt được lượng thông tin nhiều chiều để có giải pháp phù hợp. Thường xuyên sơ tổng kết chuyên đề để trong bước quá độ nền kinh tế thị trường, qua tổn gkết thực tiễn, sẽ ngày càng nâng lý luận gắn thực tiễn, nắm chắc thực tế, bổ sung yêu cầu lãnh đạo. Suốt nhiệm kỳ, Huyện Đảng bộ chú trọng thực hiện khá tốt những giải pháp cơ bản nêu trên, nên tình hình huyện đã phát triển khá, có mặt đi vào chiều sâu.

Sơ Kết 2 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 02

Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Hà Tĩnh Họp Bàn 3 Nghị Quyết Quan Trọng

Báo Cáo Kiểm Điểm Vai Trò Lãnh Đạo Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Trong 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Viii

Mẫu Đơn Xin Thôi Ban Chấp Hành Đảng Bộ Xã

Nghị Quyết Của Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Về Nhiệm Vụ Phát Triển Kinh Tế

Cập nhật thông tin chi tiết về Báo Cáo Chính Trị Của Ban Chấp Hành Huyện Đảng Bộ Khoá Vi Trình Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Vii (Phần 1) trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!

Yêu thích 2126 / Xu hướng 2206 / Tổng 2286 thumb