Xu Hướng 3/2024 # Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lạng Giang Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2024 # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lạng Giang Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2024 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

DNHN – Sau 2 ngày làm việc, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển”, sáng ngày 5/8, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang khóa XXII, nhiệm kỳ 2024-2025 đã bế mạc và thành công tốt đẹp.

Với kết quả biểu quyết, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lạng Giang đề ra mục tiêu tổng quát đó là: Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; cải thiện mạnh mẽ môi trường sống; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Củng cố vững chắc quốc phòng- an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đưa huyện Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững. Và 12 chỉ tiêu cụ thể với các nhóm giải pháp chủ yếu và 3 nhiệm vụ trọng tâm.

Sau khi thông qua Nghị quyết Đại hội, đồng chí Ngô Thanh Linh, Phó Bí thư Huyện ủy thay mặt Đoàn Chủ tịch đã thông qua Chương trình phát động thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII. Trong đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, đồng chí nhấn mạnh tới các giải pháp đó là: Tập trung tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIX, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tích cực, khẩn trương xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống. Xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Hàng năm xây dựng chương trình thi đua gắn với thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế phát triển. Mỗi cơ quan, đơn vị phải đề ra những biện pháp cụ thể, sáng tạo, trong đó cần chú trọng đổi mới nội dung, hình thức thi đua; xây dựng phong trào thi đua phát triển đều khắp trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng để khơi dậy khát vọng, ý chí vươn lên và sự sáng tạo không ngừng của cán bộ, chiến sỹ và đông đảo quần chúng Nhân dân. Trong chỉ đạo, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân; quan tâm bồi dưỡng, phát hiện, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới trong các ngành, các lĩnh vực, tôn vinh những tập thể, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp xây dựng quê hương Lạng Giang giàu mạnh. Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước chào mừng các sự kiện lớn của đất nước, địa phương. Từ đó nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của công tác thi đua trong giai đoạn cách mạng hiện nay.Thực hiện tốt công tác khen thưởng, chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân ở cơ sở, các tập thể, cá nhân trực tiếp lao động, sản xuất nhằm phát huy tác dụng thực chất trong công tác thi đua, khen thưởng. Để động viên phong trào thi đua cần đảm bảo tính toàn diện khi xét khen thưởng, gắn việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, chuyên môn với thực hiện tốt đoàn kết nội bộ, lãnh đạo gương mẫu chấp hành kỷ cương, kỷ luật; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, hội họp đầy đủ, kịp thời. Tiếp tục củng cố về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thi đua Khen thưởng từ huyện tới cơ sở; bố trí, phân công hợp lý công việc cho cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng ở các xã, thị trấn để nâng cao chất lượng tham mưu chỉ đạo và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Sau 2 ngày làm việc, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang khóa XXII, nhiệm kỳ 2024-2025 đã bế mạc và thành công tốt đẹp. Thành công của Đại hội đã tạo không khí phấn khởi và một niềm tin vững chắc để Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong huyện quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tiếp tục đưa Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững.

Trước đó, tại phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXII, nhiệm kỳ 2024-2025, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tín nhiệm cao bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 13 đồng chí, Bầu chức danh Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy. Kết quả:

– Đồng chí Tạ Huy Cần, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy khóa XXI tái cử chức danh Bí thư Huyện ủy khóa XXII.

– Đồng chí Đặng Đình Hoan và Ngô Thanh Linh tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy.

BCH Đảng bộ cũng đã bầu bầu 7 ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, đồng chí Trần Xuân Cường, Ủy viên BTV Huyện ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Huyện Lạng Giang: Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2024

Quang cảnh Đại hội

Trước đó, tại phiên họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa XXII, nhiệm kỳ 2024-2025, Ban Chấp hành Đảng bộ huyện đã tín nhiệm cao bầu Ban Thường vụ Huyện ủy gồm 13 đồng chí, Bầu chức danh Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy. Kết quả đồng chí Tạ Huy Cần, Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy khóa XXI tái cử chức danh Bí thư Huyện ủy khóa XXII. Đồng chí Đặng Đình Hoan và Ngô Thanh Linh tiếp tục được bầu giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy. BCH Đảng bộ cũng đã bầu bầu 7 ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy và Chủ nhiệm Ủy ban kiểm tra Huyện ủy, đồng chí Trần Xuân Cường, Ủy viên BTV Huyện ủy được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Với kết quả biểu quyết, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện Lạng Giang đề ra mục tiêu tổng quát đó là: Tăng cường xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, nhất là hạ tầng giao thông, đô thị, công nghiệp. Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ; tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; cải thiện mạnh mẽ môi trường sống; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho Nhân dân. Củng cố vững chắc quốc phòng- an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đưa huyện Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững. Và 12 chỉ tiêu cụ thể với các nhóm giải pháp chủ yếu và 3 nhiệm vụ trọng tâm.

Sau khi thông qua Nghị quyết Đại hội, đồng chí Ngô Thanh Linh, Phó Bí thư Huyện ủy thay mặt Đoàn Chủ tịch đã thông qua Chương trình phát động thi đua thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ huyện lần thứ XXII. Trong đó, để thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, đồng chí nhấn mạnh tới các giải pháp đó là: Tập trung tuyên truyền, phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bắc Giang lần thứ XIX, Nghị quyết Đại hội toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Tích cực, khẩn trương xây dựng kế hoạch, đề án cụ thể để triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ các cấp, đưa Nghị quyết của Đảng sớm đi vào cuộc sống. Xây dựng cơ chế hỗ trợ phù hợp, hiệu quả. Hàng năm xây dựng chương trình thi đua gắn với thực hiện các chỉ tiêu kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội theo hướng tích cực, phù hợp với xu thế phát triển.

Bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2024-2025

Mỗi cơ quan, đơn vị phải đề ra những biện pháp cụ thể, sáng tạo, trong đó cần chú trọng đổi mới nội dung, hình thức thi đua; xây dựng phong trào thi đua phát triển đều khắp trên các lĩnh vực sản xuất, kinh doanh, văn hoá- xã hội, an ninh, quốc phòng để khơi dậy khát vọng, ý chí vươn lên và sự sáng tạo không ngừng của cán bộ, chiến sỹ và đông đảo quần chúng Nhân dân. Trong chỉ đạo, cần chú trọng kiểm tra, đánh giá, sơ kết, tổng kết phong trào thi đua, biểu dương, khen thưởng kịp thời các tập thể, cá nhân; quan tâm bồi dưỡng, phát hiện, xây dựng và nhân rộng các điển hình tiên tiến, các nhân tố mới trong các ngành, các lĩnh vực, tôn vinh những tập thể, cá nhân có thành tích trong sự nghiệp xây dựng quê hương Lạng Giang giàu mạnh.

Tiếp tục quán triệt, tuyên truyền đường lối, chủ trương của Đảng, tư tưởng về thi đua yêu nước của Chủ tịch Hồ Chí Minh; Chỉ thị số 34-CT/TW ngày 07/4/2014 của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đổi mới công tác thi đua, khen thưởng”, Chỉ thị số 35/CT-TTg ngày 19/12/2014 của Thủ tướng Chính phủ về việc đẩy mạnh các phong trào thi đua yêu nước chào mừng các sự kiện lớn của đất nước, địa phương. Từ đó nâng cao nhận thức của các cấp uỷ Đảng, chính quyền, MTTQ, các tổ chức đoàn thể, của cán bộ, đảng viên và nhân dân về vị trí, vai trò của công tác thi đua trong giai đoạn cách mạng hiện nay.

Thực hiện tốt công tác khen thưởng, chú trọng khen thưởng các tập thể, cá nhân ở cơ sở, các tập thể, cá nhân trực tiếp lao động, sản xuất nhằm phát huy tác dụng thực chất trong công tác thi đua, khen thưởng. Để động viên phong trào thi đua cần đảm bảo tính toàn diện khi xét khen thưởng, gắn việc hoàn thành nhiệm vụ chính trị, chuyên môn với thực hiện tốt đoàn kết nội bộ, lãnh đạo gương mẫu chấp hành kỷ cương, kỷ luật; thực hiện chế độ thông tin, báo cáo, hội họp đầy đủ, kịp thời. Tiếp tục củng cố về tổ chức và hoạt động của Hội đồng Thi đua Khen thưởng từ huyện tới cơ sở; bố trí, phân công hợp lý công việc cho cán bộ làm công tác thi đua khen thưởng ở các xã, thị trấn để nâng cao chất lượng tham mưu chỉ đạo và tổ chức thực hiện các phong trào thi đua yêu nước.

Các đại biểu chụp ảnh lưu niệm tại Đại hội

Sau 2 ngày làm việc, với phương châm “Đoàn kết – Dân chủ – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội Đại biểu Đảng bộ huyện Lạng Giang khóa XXII, nhiệm kỳ 2024-2025 đã bế mạc và thành công tốt đẹp. Thành công của Đại hội đã tạo không khí phấn khởi và một niềm tin vững chắc để Đảng bộ, quân và dân các dân tộc trong huyện quyết tâm thực hiện thắng lợi các chỉ tiêu, nhiệm vụ đã đề ra, tiếp tục đưa Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững.

Diệp Bắc

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lạng Giang Lần Thứ Xxii

Sáng ngày 4/8, Ban chấp hành Đảng bộ huyện Lạng Giang khai mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện lần thứ XXII, nhiệm kỳ 2024- 2025. Về phía tỉnh, dự và chỉ đạo Đại hội có đồng chí Lê Thị Thu Hồng Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Trưởng Đoàn ĐBQH tỉnh. Cùng dự có nguyên Ủy viên T.Ư Đảng, nguyên Chủ tịch Liên minh HTX Việt Nam, đồng chí Đào Xuân Cần nguyên Bí thư Tỉnh ủy; Ủy viên BTV Tỉnh ủy, Chủ tịch Ủy ban MTTQ tỉnh Trần Công Thắng; đồng chí Từ Minh Hải Phó Chủ tịch HĐND tỉnh; đồng chí Nguyễn Văn Nghĩa PGĐ Sở xây dựng, nguyên chủ tịch huyện Lạng Giang; đại diện lãnh đạo một số sở, ban, ngành tỉnh. Về phía huyện, có đồng chí Tạ Huy Cần-  Tỉnh ủy viên, Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch HĐND huyện; đồng chí Đặng Đình Hoan- Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện; các đồng chí Thường trực Huyện ủy, HĐND, lãnh đạo UBND huyện; Chủ tịch Ủy ban MTTQ; đại biểu lãnh đạo các phòng, ban cơ quan của huyện ; các đồng chí nguyên Bí thư, Phó Bí thư Huyện ủy, Chủ tịch UBND huyện qua các thời kỳ và 284 đại biểu chính thức đại diện cho hơn 8.300 đảng viên của toàn Đảng bộ.

 Quang cảnh Đại hội 

  Nhiệm kỳ qua, mặc dù còn nhiều khó khăn nhưng Đảng bộ, chính quyền, nhân dân huyện Lạng Giang đã đoàn kết, nêu cao quyết tâm, phát huy tối đa sức mạnh nội lực để lãnh đạo tổ chức thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội lần thứ XXI đề chúng tôi mặt Đoàn Chủ tịch Đại hội, Bí thư Huyện ủy Tạ Huy Cần trình bày Báo cáo chính trị của BCH Đảng bộ huyện khóa XXI,đồng chí khẳng định: Kế thừa những thành quả của các nhiệm kỳ trước, 5 năm qua, Đảng bộ, Chính quyền và Nhân dân huyện Lạng Giang đã phát huy truyền thống đơn vị Anh hùng, thực sự đoàn kết, thống nhất, nỗ lực phấn đấu, triển khai thực hiện quyết liệt, đồng bộ, hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước; sáng tạo, linh hoạt và có nhiều đột phá.

Về kinh tế, tăng trưởng nhanh, giá trị sản xuất các ngành kinh tế tăng bình quân 17,4%/năm; giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ năm 2024 đạt 7.600 tỷ đồng. Thu ngân sách Nhà nước có tiến bộ vượt bậc. Tổng nguồn vốn huy động đầu tư phát triển toàn xã hội đạt 32.950 tỷ đồng, vượt 10.950 tỷ đồng so với mục tiêu đại hội. Lạng Giang là huyện có đột phá mạnh mẽ trong phát triển kết cấu hạ tầng giao thông với việc xây dựng mới 4 tuyến đường trọng điểm, kinh phí gần 800 tỷ đồng. Là đơn vị khởi nguồn của cơ chế hỗ trợ 100% xi măng làm đường giao thông nông thôn của tỉnh, trong nhiệm kỳ đã cứng hóa gần 800km. 

 Về lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa – xã hội tiếp tục phát triển tích cực. Lạng Giang là huyện đầu tiên của tỉnh có 100% trường học đạt chuẩn quốc gia. Đời sống vật chất, tinh thần của người dân được cải thiện rõ rệt và thực chất hơn. Thu nhập bình quân đầu người năm 2024 ước đạt 69,5 triệu đồng/năm. Diện mạo nông thôn, đô thị ngày càng khang trang, khởi sắc. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững, ổn định.

 Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị được chú trọng cả về chính trị, tư tưởng, tổ chức và đạo đức. Đảng bộ huyện có nhiều cách làm sáng tạo trong thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị (khóa XII) về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh. Hệ thống Đảng, chính quyền, MTTQ và các đoàn thể có sự phối hợp thống nhất, bảo đảm giữ vững vai trò hạt nhân lãnh đạo của Đảng. Lòng tin của nhân dân vào sự lãnh đạo, chỉ đạo của Đảng bộ ngày càng được nâng lên, khối đại đoàn kết toàn dân được củng cố vững chắc.Với sự quyết tâm cao của cả hệ thống chính trị, huyện Lạng Giang được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới năm 2024, sớm trước hơn 1 năm so với kế hoạch.

Đẩy mạnh phát triển công nghiệp, dịch vụ. Tiếp tục phát triển sản xuất nông nghiệp hàng hóa tập trung, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển toàn diện các lĩnh vực giáo dục, y tế, văn hóa, xã hội; cải thiện mạnh mẽ môi trường sống; nâng cao đời sống vật chất và tinh thần cho nhân dân. Củng cố vững chắc quốc phòng- an ninh; giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội. Đưa huyện Lạng Giang phát triển nhanh, bền vững. 

Huyện đã đề ra một số nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu. Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch, vững mạnh, nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu; xây dựng bộ máy hành chính trong huyện tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp trong huyện có đủ trình độ, năng lực, phẩm chất chính trị và uy tín để lãnh đạo, thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị của địa phương trong tình hình mới.

Tập trung rà soát, cập nhật, điều chỉnh các quy hoạch của huyện để phù hợp với quy hoạch tỉnh Bắc Giang thời kỳ 2024-2030, tầm nhìn đến năm 2050. Đẩy mạnh đầu tư xây dựng mới, cải tạo, nâng cấp hệ thống hạ tầng giao thông tạo tiền đề phát triển KT-XH của huyện. Tăng cường kêu gọi đầu tư xây dựng các khu, cụm công nghiệp. Hoàn thiện hạ tầng cụm công nghiệp Hương Sơn và Tân Hưng để thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào địa bàn. Đẩy nhanh tiến độ thực hiện các dự án đầu tư phát triển đô thị theo quy hoạch; phát triển các khu dân cư tập trung có tính chất đô thị ở nông thôn; xây dựng thị trấn Vôi đủ tiêu chí đô thị loại IV; thị trấn Kép tiệm cận tiêu chí đô thị loại IV; xã Tân Dĩnh đủ tiêu chí đô thị loại V; các xã: Thái Đào, Nghĩa Hòa, Tiên Lục, Tân Hưng, Mỹ Thái, Xương Lâm tiệm cận tiêu chí đô thị loại V. 

Tiếp tục đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, công nghệ sạch; thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp. Huy động và sử dụng hiệu quả các nguồn lực đầu tư nâng cao chất lượng các tiêu chí nông thôn mới; xây dựng 50% số xã đạt xã nông thôn mới nâng cao, 10% số xã đạt xã nông thôn mới kiểu mẫu; 35% số thôn đạt thôn nông thôn mới kiểu mẫu.

Thay mặt Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Lê Thị Thu Hồng, nhấn mạnh: Đại hội Đảng bộ huyện Lạng Giang là sự kiện chính trị đặc biệt quan trọng để đi đến những quyết định căn bản đối với sự phát triển của huyện trong 5 năm tới. Những kết quả của Đảng bộ huyện đạt được trong nhiệm kỳ qua là rất đáng tự hào, tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để địa phương có những bước phát triển mạnh mẽ hơn.

Đồng chí nhấn mạnh thêm một số vấn đề cần tập trung cao trong nhiệm kỳ 2024-2025, đó là huyện phải tập trung cao trí tuệ và thực hiện thật tốt công tác lập quy hoạch 10 năm giai đoạn 2024-2030, tầm nhìn đến năm 2050 gắn với kế hoạch phát triển KT-XH 5 năm của địa phương giai đoạn 2024-2025, luôn phải xác định rõ mục tiêu xây dựng địa phương phát triển theo mô hình nào trong ngắn hạn và tầm nhìn dài hạn. Hiện tại trong gaii đoạn ngắn hạn huyện đang  tập trung phát triển nông nghiệp là chính. 

Về dài hạn, khi tích lũy đủ các điều kiện sẽ từng bước chuyển dịch cơ cấu sang phát triển công nghiệp với mục tiêu phấn đấu Lạng Giang trở thành thị xã sau năm 2030. Tập trung quy hoạch, đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng KT-XH căn bản, trọng tâm là hạ tầng giao thông.

Trong phát triển công nghiệp cần quy hoạch mở rộng không gian phát triển công nghiệp trên cơ sở gắn với quy hoạch hệ thống đường giao thông, bảo đảm đến năm 2030 huyện có khoảng 1.500-2.000 ha đất hình thành khu, cụm công nghiệp. Tập trung cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh. Đối với nông nghiệp, quan tâm đầu tư nâng cao các tiêu chí nông thôn mới đã đạt, xây dựng xã nông thôn mới nâng cao, xã nông thôn mới kiểu mẫu và thôn nông thôn mới kiểu mẫu. Trong phát triển dịch vụ quan tâm phát triển thế mạnh dịch vụ vận tải, thu hút đầu tư các siêu thị, thương mại. Với đặc điểm của huyện Lạng Giang, xu hướng đô thị hóa ở các vùng nông thôn diễn ra rất nhanh nên huyện cần nghiên cứu quy hoạch xây dựng các vùng nông thôn mới gắn với quá trình đô thị hóa. 

Tập trung cao thực hiện “nhiệm vụ kép” vừa phòng, chống dịch, vừa bảo đảm các mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Cùng với đó, đẩy mạnh phát triển toàn diện lĩnh vực văn hóa – xã hội và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Giữ vững ổn định an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội trên địa bàn.

Tập trung xây dựng Đảng bộ thật sự trong sạch, vững mạnh. Kiên quyết đấu tranh chống suy thoái trong Đảng. Tăng cường công tác vận động quần chúng, nâng cao hiệu quả hoạt động của MTTQ và các tổ chức chính trị – xã hội; phát huy vai trò nòng cốt trong tập hợp, đoàn kết nhân dân; giám sát, phản biện xã hội; tham gia xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền. 

Đồng chí Lê Thị Thu Hồng Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy trao tặng Cờ và hoa cho Đảng bộ huyện Lạng Giang 

Ghi nhận những thành tích, kết quả mà Đảng bộ huyện đã đạt được, Ban Thường vụ Tỉnh ủy đã Quyết định tặng Cờ cho Đảng bộ huyện Lạng Giang vì đã có thành xuất xuất sắc, tiêu biểu trong nhiệm kỳ 2024- 2024. Đây là phần thưởng cao quý, thể hiện sự tin tưởng, ghi nhận và đánh giá cao của Ban Thường vụ Tỉnh ủy đối với Đảng bộ huyện trong thời gian qua; là động lực để Đảng bộ tiếp tục nỗ lực, phấn đấu trong nhiệm kỳ tiếp theo.

 Dương Hằng

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xvi, Nhiệm Kỳ 2024

Ngày đăng: 25/09/2024 13:21

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVI và Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII ra mắt Đại hội

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết tại Đại hội

Đại hội đã thông qua Nghị quyết với mục tiêu tổng quát: Tiếp tục xây dựng Đảng bộ, hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ và hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; tăng cường đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị-xã hội; củng cố niềm tin của Nhân dân và phát huy sức mạnh của khối đại đoàn kết các dân tộc; tăng cường ứng dụng khoa học, công nghệ và đẩy mạnh đổi mới sáng tạo; huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực, tiềm năng, lợi thế của tỉnh; tập trung phát triển dược liệu, nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao; đầu tư phát triển đô thị, du lịch, dịch vụ và tăng cườngcải cách hành chính; bảo đảm duy trì tốc độ tăng trưởng kinh tế ở mức cao. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực và mức sống của Nhân dân; bảo tồn và phát huy giá trị bản sắc văn hóa truyền thống của các dân tộc thiểu số trên địa bàn. Giữ vững ổn định quốc phòng, an ninh trong mọi tình huống, không để bị động bất ngờ. Đưa tỉnh Kon Tum phát triển nhanh và bền vững.

Các chỉ tiêu chủ yếu: Tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2024-2025 từ 10%/năm trở lên. Đến năm 2025, tỷ trọng nông-lâm-thuỷ sản 19-20%, công nghiệp-xây dựng 32-33%, thương mại-dịch vụ 42-43%; Tổng vốn đầu tư phát triển toàn xã hội cả giai đoạn 2024-2025 đạt 118.000 tỷ đồng; GRDP bình quân đầu người 70 triệu đồng trở lên (tương đương trên 3.000 USD); Thu ngân sách Nhà nước tại địa bàn tăng bình quân 8,2%/năm và đạt trên 5.000 tỷ đồng vào năm 2025.

Đến năm 2025: Quy mô dân số khoảng 620.000 người; trên 60% lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân 3-4%/năm; có 60 xã (70,5% số xã) trở lên đạt chuẩn nông thôn mới,04 huyện và thành phố Kon Tum đạt chuẩn nông thôn mới hoặc hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; Tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường 85%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt 64%; Tỷ lệ giải quyết tố giác, tin báo về tội phạm, kiến nghị khởi tố hằng năm đạt trên 90%. Đến năm 2025, có trên 80% xã, phường, thị trấn mạnh về phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc; Đến năm 2025, kết nạp trên 5.000 đảng viên mới. Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên hằng năm đạt trên 75%.Trên 76% quần chúng được tập hợp vào các đoàn thể chính trị – xã hội.

Đồng chí Dương Văn Trang – Ủy viên Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Kon Tum phát biểu bế mạc Đại hội

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ X, Nhiệm Kỳ 2024

(AGO) – Sau 3 ngày làm việc khẩn trương, nghiêm túc, với tinh thần đoàn kết, dân chủ, trí tuệ và đổi mới, chiều 22-10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần X, nhiệm kỳ 2024- 2024 đã kết thúc thành công tốt đẹp.

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2024- 2024, bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các chức danh: Bí thư Tỉnh ủy, Phó Bí thư Tỉnh ủy; Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy và các thành viên Ủy ban Kiểm tra đúng quy định điều lệ Đảng và nội quy, quy chế Đại hội. Đồng thời, biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ X, nhiệm kỳ 2024- 2024.

Thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X, đồng chí Vương Bình Thạnh, Phó Bí thư Tỉnh ủy trình bày báo cáo kết quả kỳ họp thứ nhất Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X, nhiệm kỳ 2024-2024. Theo đó, đã có 15 đồng chí được bầu vào Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa X, với số phiếu tập trung cao.

Ra mắt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Khóa X, nhiệm kỳ 2024-2024

Đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Bí thư Tỉnh ủy Khóa IX tiếp tục được các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X tín nhiệm bầu giữ chức Bí thư Tỉnh ủy.

Các đồng chí: Vương Bình Thạnh, Võ Anh Kiệt, được các đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X tín nhiệm bầu giữ chức Phó Bí thư Tỉnh ủy.

Đại hội cũng đã bầu Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy Khóa X, nhiệm kỳ 2024- 2024 gồm 11 đồng chí; đồng chí Hồ Văn Răng được bầu giữ chức Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Đại hội cũng đã bầu đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh gồm 18 đại biểu chính thức và 1 đại biểu dự khuyết đại diện Đảng bộ và Nhân dân tỉnh dự Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Tổng vốn đầu tư xã hội 5 năm đạt khoảng 148.000 tỷ đồng; tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,05 tỷ USD; thu ngân sách 5 năm đạt 31.985 tỷ đồng; giảm tỷ lệ hộ nghèo bình quân 1,5%/năm; có 60 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới; bình quân mỗi năm kết nạp 3.000 đảng viên, đạt tỷ lệ 3,13% dân số…

Đại hội cũng đề ra các nhiệm vụ, giải pháp nhằm đổi mới các mô hình tăng trưởng nâng cao năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh gắn với cơ cấu lại nông nghiệp, công nghiệp; đẩy mạnh tiến độ xây dựng nông thôn mới. Xây dựng chiến lược thị trường cho sản phẩm lúa gạo, cá tra và rau màu của tỉnh.

Đa dạng hóa các loại hình thương mại và sản phẩm phù hợp thị trường nội địa và xuất khẩu, khai thác có hiệu quả thị trường nông thôn. Đẩy mạnh ứng dụng các thành tựu khoa học- công nghệ vào mọi lĩnh vực đời sống xã hội, để khoa học- công nghệ thực sự là động lực quan trọng phát triển lực lượng sản xuất hiện đại.

Ưu tiên đẩy mạnh ứng dụng công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Chú trọng phát triển sản xuất sản phẩm nông nghiệp sạch với quy mô công nghiệp. Tăng hàm lượng khoa học- công nghệ trong các sản phẩm chủ lực của tỉnh, tạo nhiều sản phẩm mới, sản phẩm có giá trị gia tăng cao.

Huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực của xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đô thị, trong đó, tập trung phát triển cơ sở hạ tầng giao thông để tạo liên kết vùng, miền khu vực biên giới, vùng khó khăn và kết hợp với xây dựng nông thôn mới; chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu…v..v.

Phát biểu bế mạc đại hội, đồng chí Võ Thị Ánh Xuân, Bí thư Tỉnh ủy Khóa X thay mặt Đại hội kêu gọi toàn Đảng bộ và Nhân dân tỉnh nhà tiếp tục phát huy sức mạnh khối đại đoàn kết toàn dân, cả hệ thống chính trị, gắn kết chặt chẽ giữa nhiệm vụ phát triển kinh tế với đảm bảo quốc phòng- an ninh, giữ vững sự ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị vững mạnh.

Mỗi dơn vị, địa phương cần cụ thể hóa Nghị quyết của Đại hội thành chương trình hành động, với các giải pháp cụ thể, thiết thực có tính khả thi cao, tại khi thế thi đua sôi nổi trong các tầng lớp Nhân dân nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết, do Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần X, nhiệm kỳ 2024- 2024.

1- Danh sách Ban Chấp hành Đảng bộ khóa X nhiệm kỳ 2024 – 2024 (xếp theo ABC):

2- Danh sách Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa X nhiệm kỳ 2024 – 2024 (xếp theo ABC):

3- Danh sách Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy nhiệm kỳ 2024 – 2024 (xếp theo ABC):

NGHỊ QUYẾT

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X (nhiệm kỳ 2024 – 2024)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh An Giang lần thứ X được tiến hành từ ngày 20-10-2024 đến ngày 22-10-2024 tại TP. Long Xuyên, tỉnh An Giang.

QUYẾT NGHỊ

Tán thành những nội dung cơ bản đánh giá tình hình thực hiện nhiệm vụ chính trị 5 năm 2010 – 2024 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2024 – 2024 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội:

I- VỀ ĐÁNH GIÁ TÌNH HÌNH 5 NĂM 2010 – 2024

Đại hội khẳng định:

5 năm qua, bên cạnh những thuận lợi, An Giang cũng gặp nhiều khó khăn, thách thức từ tình hình thế giới và trong nước, nhưng với truyền thống đoàn kết, năng động, sáng tạo, Đảng bộ, chính quyền và nhân dân tỉnh nhà đã nỗ lực giành được nhiều thành tựu quan trọng và khá toàn diện trong thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, nhiệm kỳ 2010 – 2024.

1- Kinh tế tiếp tục tăng trưởng ổn định. Tăng trưởng GRDP bình quân 05 năm đạt 8,63%; cơ cấu kinh tế chuyển dịch tích cực; thu nhập bình quân đầu người đến năm 2024 đạt 39,274 triệu đồng (tăng 1,32 lần so với năm 2010). Tổng vốn đầu tư toàn xã hội 05 năm đạt 147.276 tỷ đồng (gấp 1,69 lần so giai đoạn 2006 – 2010). Tổng thu ngân sách nhà nước đạt 26.163 tỷ đồng. Kim ngạch xuất khẩu đạt 4,65 tỷ USD (tăng 1,65 tỷ USD so giai đoạn 2005 – 2010).

Nông nghiệp tiếp tục khẳng định vai trò nền tảng của nền kinh tế, từng bước phát triển theo chiều sâu. Nhiều mô hình liên kết sản xuất được nhân rộng; ứng dụng công nghệ cao trong nông nghiệp được đẩy mạnh, tạo tiền đề cơ cấu lại nền nông nghiệp theo hướng bền vững. Chương trình xây dựng nông thôn mới được chú trọng, đời sống người dân và bộ mặt nông thôn có nhiều khởi sắc.

Thương mại – dịch vụ, công nghiệp phục vụ nông nghiệp và xuất khẩu tăng trưởng khá. Thế mạnh về du lịch được phát huy. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội được đầu tư, nâng cấp. Môi trường đầu tư được cải thiện.

2- Văn hóa – xã hội tiến bộ trên nhiều mặt, an sinh xã hội được đảm bảo, đời sống nhân dân không ngừng cải thiện.

Giáo dục – đào tạo phát triển về quy mô và chất lượng; mạng lưới trường, lớp học được đầu tư rộng khắp. Đào tạo nghề cho lao động nông thôn được tăng cường; số lao động được giải quyết việc làm ổn định hằng năm; cơ cấu lao động chuyển dịch tích cực.

Các chính sách an sinh xã hội huy động được sự tham gia của cộng đồng, đạt nhiều thành tựu quan trọng; đời sống của các đối tượng chính sách trong xã hội được cải thiện; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh.

Công tác bảo vệ, chăm sóc sức khỏe nhân dân, phòng, chống dịch bệnh được quan tâm. Mạng lưới cơ sở y tế được đầu tư, nâng cấp, chất lượng khám, chữa bệnh có chuyển biến; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế được nâng lên.

Công tác bảo vệ tài nguyên, môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu được coi trọng. Nguồn lực về đất đai được phát huy tốt.

Vai trò của khoa học – công nghệ thể hiện rõ nét trong sản xuất và đời sống. Hoạt động thông tin, truyền thông, văn hóa, thể thao phát triển sâu rộng; phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa” gắn với xây dựng nông thôn mới đi vào chiều sâu.

3- Tiềm lực quân sự, quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ được tăng cường, nâng cao sức mạnh tổng hợp của các lực lượng vũ trang. Phong trào toàn dân tham gia bảo vệ Tổ quốc được nâng chất, góp phần xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận an ninh nhân dân vững chắc. An ninh – chính trị, trật tự – an toàn xã hội ổn định. Quan hệ đối ngoại mở rộng cả về quốc phòng, an ninh, kinh tế, văn hóa, xã hội.

4- Hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp có nhiều cải tiến; bộ máy hành chính được củng cố, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường. Cải cách thủ tục hành chính, cải cách tư pháp được đẩy mạnh.

5- Công tác dân vận chuyển biến rõ nét; các phong trào hành động cách mạng được nhân dân tích cực tham gia. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội đổi mới nội dung, phương thức hoạt động hướng về cơ sở, làm nòng cốt xây dựng khối đại đoàn kết, thực hiện tốt quy chế dân chủ cơ sở. Các chính sách về dân tộc, tôn giáo được thực hiện đồng bộ.

6- Công tác xây dựng Đảng được chú trọng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh được các cấp, các ngành thực hiện nghiêm túc, góp phần giữ vững khối đoàn kết trong Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống trong cán bộ, đảng viên. Việc quy hoạch, đào tạo, bố trí cán bộ được đẩy mạnh. Công tác kiểm tra, giám sát, công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng có nhiều chuyển biến. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy không ngừng đổi mới, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình, chất vấn trong Đảng.

Nguyên nhân kết quả đạt được:

– Đảng bộ đã giữ vững truyền thống đoàn kết, phát huy dân chủ, sáng tạo trong lãnh đạo, điều hành, khơi dậy tiềm lực trong xã hội; quan tâm xây dựng Đảng trong sạch, vững mạnh, coi trọng công tác vận động quần chúng, xây dựng khối đại đoàn kết trong xã hội.

– Được sự quan tâm lãnh đạo sâu sắc, thường xuyên của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Chính phủ; sự giúp đỡ trách nhiệm, hiệu quả của các bộ, ban, ngành Trung ương và Ban Chỉ đạo Tây Nam Bộ, các tỉnh, thành bạn.

Tuy nhiên, trong quá trình thực hiện Nghị quyết Đại hội IX Đảng bộ tỉnh, vẫn còn những hạn chế, yếu kém như:

1- Kinh tế phát triển chưa bền vững, nhiều chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội không đạt. Việc đổi mới mô hình tăng trưởng, nhất là trong nông nghiệp còn chậm, thiếu chính sách, nguồn lực để nhân rộng các mô hình có hiệu quả. Lợi thế về dịch vụ, du lịch phát triển chưa tương xứng. Công nghiệp chậm phát triển. Kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội chưa đồng bộ. Môi trường đầu tư kém hấp dẫn, chưa huy động được nhiều nguồn vốn đầu tư so với nhu cầu phát triển.

2- Chất lượng nguồn nhân lực còn hạn chế. Đào tạo nghề chưa gắn với nhu cầu thị trường; thiếu nguồn nhân lực có tay nghề, chuyên môn cao trong các ngành then chốt. Đổi mới giáo dục – đào tạo gặp nhiều lúng túng; số trường chuẩn quốc gia đạt thấp. Nguy cơ tái nghèo cao. Đời sống một bộ phận người lao động, người nghèo, đồng bào dân tộc còn khó khăn. Tình trạng ô nhiễm môi trường đang gây nhiều bức xúc.

3- Tình hình an ninh – chính trị, nhất là tuyến biên giới, vùng dân tộc tiềm ẩn nhiều phức tạp. Tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông có xu hướng gia tăng.

4- Hoạt động của hội đồng nhân dân và bộ máy hành chính các cấp chưa theo kịp yêu cầu. Cải cách thủ tục hành chính chưa mang lại hiệu quả cao, chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) sụt giảm. Tình trạng khiếu kiện vượt cấp, kéo dài diễn biến phức tạp.

5- Nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội một số nơi chậm cải tiến; chất lượng đoàn viên, hội viên chưa được quan tâm đúng mức.

6- Việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW chưa đi vào chiều sâu. Công tác tuyên truyền, phản tuyên truyền chưa kịp thời, thiếu sắc bén. Công tác tổ chức cán bộ, việc nâng cao chất lượng tổ chức đảng và đảng viên một số nơi chưa theo kịp yêu cầu. Hiệu quả kiểm tra, giám sát, xử lý vi phạm chưa cao. Một số cấp ủy, chính quyền chưa chú trọng công tác nội chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng. Phương thức lãnh đạo, lối làm việc của một số tổ chức đảng chậm cải tiến, thiếu chủ động, sáng tạo trong thực hiện nhiệm vụ.

Ngoài những nguyên nhân khách quan thì những hạn chế nêu trên về chủ quan là do: năng lực dự báo, khả năng ứng phó chưa theo kịp tình hình thực tiễn. Năng lực lãnh đạo, điều hành của Ban Chấp hành, Ban Thường vụ Tỉnh ủy có mặt hạn chế, chưa tập trung nguồn lực cho các lĩnh vực then chốt; việc cụ thể hóa chủ trương của Trung ương, của tỉnh chưa kịp thời hoặc thiếu kiểm tra, giám sát. Hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước còn hạn chế. Trách nhiệm, tính chủ động và năng lực tổ chức thực hiện chủ trương ở một số ngành, địa phương chưa tốt; sự phối hợp giữa các sở, ngành tỉnh và địa phương còn yếu kém.

Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ IX, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Thứ nhất, giữ vững đoàn kết nội bộ, tạo sự thống nhất ý chí và hành động có ý nghĩa quyết định trong thực hiện nhiệm vụ chính trị.

Thứ hai, chú trọng việc nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý, khoa học – kỹ thuật và đội ngũ doanh nhân phục vụ yêu cầu phát triển trong tình hình mới.

Thứ ba, phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội phải gắn chặt với quốc phòng – an ninh, đặc biệt là an ninh biên giới.

Thứ tư, phát huy sức mạnh tổng hợp để phát triển kinh tế – xã hội, coi trọng nội lực, nhất là nguồn lực xã hội và tranh thủ tối đa ngoại lực.

II- MỤC TIÊU, PHƯƠNG HƯỚNG CHỦ YẾU 5 NĂM 2024 – 2024

Trên cơ sở dự báo tình hình thế giới và trong nước, nhận định thời cơ, thách thức, xác định quan điểm phát triển, Đại hội nhất trí đề ra mục tiêu, chỉ tiêu và nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu trong nhiệm kỳ tới như sau:

1- Mục tiêu chung: Nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng bộ, hiệu quả quản lý của chính quyền, phát huy dân chủ, kỷ cương, khai thác mạnh mẽ lợi thế trong liên kết vùng và lợi thế so sánh của địa phương, huy động nguồn lực xã hội và tranh thủ ngoại lực tập trung phát triển nông nghiệp theo chiều sâu tạo nền tảng phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch và công nghiệp nhằm nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của người dân. Phấn đấu đưa tốc độ tăng trưởng kinh tế của An Giang bằng mức trung bình của cả nước, đến năm 2024, quy mô nền kinh tế nằm trong nhóm khá của khu vực đồng bằng Sông Cửu Long.

2- Các khâu đột phá: (1) Đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực đáp ứng yêu cầu hội nhập; (2) Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải thiện môi trường thu hút đầu tư; (3) Đầu tư và ứng dụng mạnh mẽ khoa học – công nghệ, tập trung cho lĩnh vực nông nghiệp và công nghiệp chế biến.

3- Chỉ tiêu phát triển chủ yếu: Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 05 năm đạt 7%. GRDP bình quân đầu người (giá thực tế) đến năm 2024 đạt 48,3 triệu đồng/người. Tổng vốn đầu tư xã hội 05 năm đạt khoảng 148.000 tỷ đồng. Tổng kim ngạch xuất khẩu đạt 6,05 tỷ USD. Thu ngân sách 05 năm đạt 31.985 tỷ đồng.

Tỷ lệ học sinh đi học trong độ tuổi đến năm 2024: mẫu giáo đạt 70%, tiểu học đạt 100%; trung học cơ sở đạt 80%; trung học phổ thông và tương đương đạt 50%. Trường học đạt chuẩn quốc gia đến năm 2024 đạt 50%. Tỷ lệ lao động qua đào tạo so với tổng số lao động đang làm việc trong nền kinh tế quốc dân đến năm 2024 đạt 65%. Mức giảm tỷ lệ hộ nghèo (theo chuẩn 2024 – 2024) bình quân 1,5%/năm. Quy mô dân số đến năm 2024 khoảng 2.175.000 người. Số bác sĩ trên 01 vạn dân đến năm 2024 đạt 08 bác sĩ/vạn dân. Tỷ lệ bảo hiểm y tế toàn dân đến năm 2024 đạt 80%. Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước sạch, nước hợp vệ sinh 90%. Có 60 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới. Bình quân mỗi năm kết nạp 3.000 đảng viên, đạt tỷ lệ 3,13% dân số.

4- Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

4.1- Đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao năng suất, hiệu quả, năng lực cạnh tranh gắn với cơ cấu lại nông nghiệp, công nghiệp; đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới

Đổi mới mô hình tăng trưởng nông nghiệp theo phương châm “lấy tổ chức lại sản xuất làm cơ sở, lấy ứng dụng thành tựu khoa học – kỹ thuật, công nghệ làm khâu đột phá, lấy thị trường làm tiền đề và mục tiêu”. Cơ cấu lại các sản phẩm nông nghiệp theo Nghị quyết số 09-NQ/TU và Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp của tỉnh; thực hiện có hiệu quả Đề án “Liên kết vùng đồng bằng Sông Cửu Long phát triển sản xuất và tiêu thụ lúa gạo, trái cây, thủy sản và nâng cao năng lực nông dân”.

Tổ chức lại sản xuất trong nông nghiệp. Khuyến khích thành lập các doanh nghiệp nông nghiệp, phát triển đa dạng các loại hình kinh tế hợp tác theo hướng quy mô lớn gắn với ứng dụng công nghệ cao. Chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn gắn với chuyển dịch cơ cấu lao động, xây dựng nông thôn mới và quá trình đô thị hóa, thu hẹp khoảng cách phát triển giữa thành thị và nông thôn.

Phát triển mạnh công nghiệp bảo quản, chế biến sâu nông sản, các loại hình công nghiệp chế biến có hàm lượng khoa học – công nghệ và tạo giá trị gia tăng cao. Phấn đấu đến năm 2024 phần lớn các sản phẩm nông nghiệp đều qua chế biến trước khi ra thị trường.

Rà soát, bổ sung cơ chế, chính sách phát triển doanh nghiệp tư nhân, nhất là doanh nghiệp vừa và nhỏ. Tăng nguồn lực cho Quỹ đầu tư phát triển hỗ trợ doanh nghiệp. Khuyến khích phát triển lực lượng doanh nhân, doanh nghiệp theo tiêu chuẩn toàn cầu để dẫn dắt, đặt hàng cho sản xuất nông sản, thủy sản vươn ra thị trường thế giới. Hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu công nghiệp, thu hút mạnh doanh nghiệp đầu tư. Hỗ trợ doanh nghiệp hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng thương hiệu cạnh tranh khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).

Có giải pháp đột phá nhằm huy động các nguồn lực tổng hợp đi đôi với phát huy vai trò, trách nhiệm của cấp ủy, chính quyền và người đứng đầu các cấp, các ngành đẩy nhanh tiến độ xây dựng nông thôn mới.

4.2- Phát triển thương mại, dịch vụ và du lịch. Xây dựng chiến lược thị trường cho lúa gạo, cá tra, rau màu. Đa dạng hóa các loại hình thương mại, loại hình sản phẩm đáp ứng thị trường trong và ngoài nước; khai thác có hiệu quả thị trường nông thôn. Chuẩn bị các điều kiện sản xuất, mở rộng thị trường xuất khẩu cũng như thu hút vốn đầu tư khi Việt Nam tham gia Hiệp định thương mại xuyên Thái Bình Dương (TPP), Cộng đồng kinh tế ASEAN (AEC).

Quy hoạch ngành bán lẻ, bán buôn phù hợp với xu thế phát triển; hỗ trợ, kêu gọi đầu tư hạ tầng thương mại theo hướng văn minh, hiện đại. Khuyến khích doanh nghiệp liên kết phát triển hệ thống phân phối hiện đại. Phát triển các loại hình dịch vụ có giá trị gia tăng cao (như: viễn thông, tài chính, ngân hàng), nâng cao chất lượng dịch vụ vận tải, tiến tới xây dựng dịch vụ hậu cần (logistics), gắn kết với Dự án “Luồng cho tàu vận tải biển có trọng tải lớn vào sông Hậu” để đẩy mạnh giao thương hàng hóa và dịch vụ. Phát huy vai trò trung tâm kết nối đồng bằng Sông Cửu Long và PhnômPênh (Campuchia) để đẩy mạnh giao thương, phát triển dịch vụ và công nghiệp khu vực biên giới.

Xác định du lịch là ngành kinh tế mũi nhọn. Hoàn chỉnh quy hoạch tổng thể về du lịch. Kiện toàn bộ máy, tiến tới đề nghị thành lập Sở Du lịch. Tăng cường liên kết trong và ngoài nước để khai thác tốt tiềm năng du lịch. Phát triển các dịch vụ khách sạn, nhà hàng. Chú trọng đào tạo, bồi dưỡng nhân lực phát triển du lịch. Xây dựng khu vực Núi Sam, Núi Cấm và Cù lao Ông Hổ (Mỹ Hòa Hưng) trở thành khu, điểm du lịch quốc gia, của vùng; xây dựng các khu vui chơi, giải trí hiện đại ở thành phố Long Xuyên và thành phố Châu Đốc; kết nối bốn khu du lịch trọng điểm Châu Đốc – Long Xuyên – Núi Cấm – Óc Eo.

4.3- Đầu tư và ứng dụng khoa học – công nghệ vào sản xuất, ưu tiên cho công nghệ sinh học, công nghệ bảo quản và chế biến sau thu hoạch. Phát triển sản phẩm nông nghiệp sạch với quy mô công nghiệp. Tăng hàm lượng khoa học – công nghệ trong các sản phẩm chủ lực của tỉnh, tạo nhiều sản phẩm mới, có giá trị gia tăng cao. Đào tạo, tuyển dụng nhân lực nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ. Đẩy mạnh xã hội hóa hoạt động khoa học – công nghệ.

4.4- Chủ động hội nhập quốc tế, tập trung hội nhập kinh tế quốc tế

Thực hiện có hiệu quả các chủ trương về hội nhập quốc tế. Đẩy mạnh tuyên truyền về thời cơ, thách thức, các cam kết của Việt Nam khi hội nhập quốc tế, nâng cao nhận thức, hành động của doanh nghiệp và người dân. Nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ có trình độ, đáp ứng yêu cầu hội nhập.

Xây dựng kế hoạch triển khai chiến lược hội nhập kinh tế quốc tế đến năm 2024. Đẩy mạnh phát triển thị trường, tăng cường xúc tiến thương mại, thu hút đầu tư, nâng cao chất lượng dự báo thị trường, năng lực cạnh tranh của doanh nghiệp. Coi trọng hợp tác chính trị, quốc phòng, an ninh, văn hóa, khoa học – công nghệ với các nước, nhất là các tỉnh giáp biên giới Campuchia. Phấn đấu hoàn thành công tác phân giới cắm mốc đúng tiến độ.

4.5- Huy động các nguồn lực, nhất là nguồn lực của xã hội đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đô thị. Hoàn thiện, nâng cao chất lượng quy hoạch kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, đô thị; đa dạng hóa hình thức đầu tư, huy động mạnh mẽ các nguồn lực xã hội tham gia đầu tư, kinh doanh. Đầu tư hạ tầng giao thông có trọng tâm, tạo liên kết vùng gắn với xây dựng nông thôn mới; kiến nghị Trung ương sớm đầu tư xây dựng tuyến đường cao tốc Cần Thơ – Châu Đốc; tuyến N1 từ Châu Đốc đến Tân Châu, Hồng Ngự; tuyến đường nối từ thị trấn Núi Sập (huyện Thoại Sơn) đến thành phố Rạch Giá (tỉnh Kiên Giang). Đẩy nhanh tiến trình đô thị hóa thành thị, nông thôn. Đầu tư hạ tầng sản xuất nông nghiệp, ứng dụng công nghệ cao và thích ứng với biến đổi khí hậu.

4.6- Tiếp tục đổi mới tổ chức và hoạt động của chính quyền địa phương; thực hiện chủ trương hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa. Đổi mới, nâng chất hoạt động của hội đồng nhân dân và hiệu lực, hiệu quả của bộ máy quản lý nhà nước các cấp; sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn; xây dựng chính quyền cơ sở đáp ứng yêu cầu tình hình mới. Đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI); đề cao trách nhiệm xây dựng phong cách, thái độ phục vụ của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; thiết lập kỷ cương hành chính nhà nước. Thực hiện tốt chủ trương của Trung ương về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2024”.

Rà soát, bổ sung những chủ trương, chính sách tạo môi trường công bằng, minh bạch trong cạnh tranh giữa các thành phần kinh tế, tạo đột phá trong phát huy nội lực và thu hút, tranh thủ ngoại lực. Đổi mới cơ chế hoạt động các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng giao quyền tự chủ, quản trị theo cơ chế doanh nghiệp. Khuyến khích doanh nghiệp tham gia cung cấp dịch vụ công, nhất là hình thức cổ phần hóa, hợp tác công – tư (PPP). Bảo đảm công bằng giữa đơn vị sự nghiệp công lập và ngoài công lập.

4.7- Đổi mới mạnh mẽ giáo dục – đào tạo. Thực hiện tốt nhiệm vụ đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục – đào tạo, phát triển toàn diện năng lực, phẩm chất, thể chất và kỹ năng sống của người học. Nâng cao tay nghề chuyên sâu và tác phong công nghiệp trong đào tạo nghề; phát huy tư duy sáng tạo, năng lực nghiên cứu ở bậc đại học.

Tập trung xây dựng cơ sở vật chất, nhất là các trường đại học, cao đẳng, trung cấp, trường đạt chuẩn quốc gia; đầu tư để tăng nhanh tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia, ưu tiên vùng dân tộc, vùng khó khăn. Nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo, cán bộ quản lý. Đổi mới công tác quản lý, giao quyền tự chủ về tổ chức, tài chính, chuyên môn cho các trường học gắn với tăng cường thanh tra, kiểm tra, kiểm định chất lượng; đẩy mạnh giáo dục hướng nghiệp, phân luồng đào tạo nghề. Trường Đại học An Giang tăng cường liên kết đào tạo nguồn nhân lực phục vụ yêu cầu phát triển.

4.8- Phát triển văn hóa, xây dựng con người phát triển toàn diện theo Nghị quyết số 33-NQ/TW, ngày 09-6-2014 của Trung ương. Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng nếp sống văn minh đô thị, xây dựng nông thôn mới; xây dựng các thiết chế văn hóa góp phần nâng cao chất lượng đời sống văn hóa, nhất là ở cơ sở. Đẩy mạnh xã hội hoá, khuyến khích đầu tư phát triển văn hóa, thể thao. Xây dựng và hoàn thiện các trung tâm đào tạo vận động viên trẻ, năng khiếu, nâng cao chất lượng thể thao thành tích cao, phát triển phong trào thể dục, thể thao quần chúng.

4.9- Quản lý phát triển xã hội; thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân

Giải quyết hài hòa các quan hệ xã hội. Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu lao động, tạo thêm nhiều việc làm. Nâng chất lượng dạy nghề, giải quyết việc làm, giảm nghèo bền vững; nâng cao tỷ lệ xuất khẩu lao động chất lượng cao. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội, chăm sóc người có công, công tác bình đẳng giới và các quyền trẻ em.

Đầu tư, nâng chất các cơ sở y tế, mạng lưới y tế dự phòng trong tỉnh và năng lực quản lý ngành; phát triển nguồn nhân lực y tế có chất lượng. Tuyên truyền, vận động, hỗ trợ người dân tham gia bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế. Thực hiện tốt chính sách dân số, kế hoạch hóa gia đình.

4.10- Nâng cao hiệu quả quản lý, khai thác, sử dụng và bảo vệ tài nguyên, môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, thích ứng với biến đổi khí hậu. Nâng cao chất lượng quy hoạch, bảo vệ, khai thác tài nguyên khoáng sản, đất đai. Thanh tra, kiểm tra, ngăn chặn hoạt động khai thác khoáng sản trái phép, đánh bắt hủy diệt nguồn lợi thủy sản. Xử lý triệt để các cơ sở gây ô nhiễm môi trường. Chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, hạn chế tác động do xâm nhập mặn, khan hiếm nguồn nước.

4.11- Đảm bảo quốc phòng, an ninh, trật tự, an toàn xã hội. Xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân, an ninh nhân dân vững chắc; củng cố quốc phòng – an ninh kết hợp với phát triển kinh tế – xã hội. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các khu vực phòng thủ. Chủ động, sẵn sàng xử lý các tình huống trên tuyến biên giới.

Nâng cao chất lượng tổng hợp lực lượng vũ trang, xây dựng lực lượng dân quân tự vệ. Đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi các hoạt động tội phạm, phòng ngừa tệ nạn ma túy, buôn bán người, buôn lậu và gian lận thương mại; giữ vững trật tự – an toàn xã hội, an toàn giao thông, an ninh biên giới.

4.12- Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác dân vận trong tình hình mới. Phát huy dân chủ ở cơ sở, vai trò giám sát, phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội

Nâng cao nhận thức, trách nhiệm của các cấp, các ngành, cán bộ, đảng viên về công tác dân vận; nắm chắc tâm tư, nguyện vọng của nhân dân, giải quyết kịp thời những bức xúc ngay từ cơ sở; xây dựng thế trận lòng dân vững chắc, ngăn chặn âm mưu, hoạt động chống phá, chia rẽ khối đại đoàn kết. Phát động các phong trào thi đua yêu nước; thực hiện tốt các chính sách xã hội, đền ơn đáp nghĩa, giảm nghèo…

Kiện toàn bộ máy, nâng cao năng lực cán bộ dân vận; quy hoạch, đào tạo, luân chuyển cán bộ khối vận, nhất là vùng dân tộc, tôn giáo. Thực hiện tốt dân chủ ở cơ sở; phát huy vai trò Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và nhân dân tham gia giám sát, phản biện xã hội, góp ý xây dựng Đảng, chính quyền.

4.13- Xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ

Nâng cao năng lực lãnh đạo của các tổ chức đảng từ tỉnh đến cơ sở gắn với xây dựng văn hóa trong Đảng, văn hóa chính trị. Tập trung nâng chất đội ngũ đảng viên vững mạnh về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và phong cách.

Làm tốt công tác quán triệt, học tập nghị quyết; đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh; phát huy vai trò gương mẫu của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo các cấp, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị; ngăn chặn, đẩy lùi tình trạng suy thoái trong cán bộ, đảng viên. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) về xây dựng Đảng. Chú trọng công tác tự phê bình, phê bình, chất vấn trong sinh hoạt cấp ủy các cấp. Tổ chức lấy phiếu tín nhiệm đối với thành viên lãnh đạo cấp ủy và cán bộ lãnh đạo trong các cơ quan đảng, nhà nước, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội theo quy định.

Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ. Có cơ chế tuyển chọn, đào tạo, đánh giá cán bộ, trọng dụng những người có đức, có tài. Triển khai Đề án vị trí việc làm và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức; Đề án thi tuyển các chức danh cán bộ lãnh đạo, quản lý chủ chốt các cấp. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ xã, phường, thị trấn.

Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, nội dung trọng tâm là việc thực hiện nhiệm vụ chính trị được giao, việc khắc phục hạn chế, khuyết điểm theo Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI). Củng cố, kiện toàn bộ máy ủy ban kiểm tra các cấp. Nâng cao vai trò, trách nhiệm của cấp ủy trong công tác nội chính, cải cách tư pháp, phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Làm tốt công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại, tố cáo.

Đẩy mạnh cải cách hành chính trong Đảng; đổi mới phương thức, nâng cao năng lực lãnh đạo của các cấp ủy đảng gắn với phát huy tốt vai trò, năng lực, trách nhiệm của các tổ chức trong hệ thống chính trị. Nâng cao chất lượng xây dựng các chủ trương, nghị quyết của Tỉnh ủy, đảm bảo thiết thực, khả thi; phân công rõ trách nhiệm, chấn chỉnh khâu tổ chức thực hiện nhằm đưa chủ trương, nghị quyết thật sự đi vào cuộc sống.

III- ĐẠI HỘI THÔNG QUA CÁC NỘI DUNG SAU

1- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá IX. Từ kinh nghiệm của khóa trước, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá X cần tiếp tục phát huy ưu điểm, tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác cho nhiệm kỳ tới.

IV- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa X xây dựng Chương trình làm việc, Quy chế làm việc, các chương trình, đề án cụ thể hóa và thường xuyên đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội; ưu tiên xây dựng các nghị quyết chuyên đề về nông nghiệp, nông thôn, công nghiệp chế biến, thương mại – dịch vụ và du lịch, xây dựng hệ thống chính trị… để huy động và tập trung nguồn lực thực hiện thắng lợi Nghị quyết.

2- Các huyện, thị, thành ủy, đảng ủy, ban cán sự, đảng đoàn trực thuộc Tỉnh ủy xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện Nghị quyết phù hợp với tình hình thực tế của địa phương, đơn vị. Định kỳ sơ kết, tổng kết báo cáo kết quả thực hiện Nghị quyết cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh.

3- Ban Thường vụ Tỉnh ủy tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết Đại hội đến các cấp ủy, tổ chức đảng, đảng viên và nhân dân. Toàn hệ thống chính trị đoàn kết một lòng, năng động, sáng tạo, vượt qua mọi khó khăn, thử thách nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội, xây dựng quê hương Chủ tịch Tôn Đức Thắng ngày càng văn minh, giàu đẹp.

Nhóm PV AGO thực hiện

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Đăk Hà Lần Thứ Vi, Nhiệm Kỳ 2024

Sau 3 ngày làm việc với tinh thần nghiêm túc, trách nhiệm cao, chiều 17/7, Đại hội đại biểu Đảng bộ huyện Đăk Hà lần thứ VI, nhiệm kỳ 2024 – 2025 đã hoàn thành toàn bộ chương trình đề ra.

Theo đó, trong nhiệm kỳ mới, tiếp tục xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; hiệu lực, hiệu quả quản lý, điều hành của chính quyền; đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Phát huy dân chủ, sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, danh hiệu Anh hùng Lao động trong thời kỳ đổi mới; tập trung huy động, khai thác và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao gắn với chế biến và thị trường tiêu thụ, phát triển thương hiệu cà phê Đăk Hà vươn tầm quốc tế; phát triển thương mại, dịch vụ, du lịch tương xứng với tiềm năng của huyện.

Các chỉ tiêu chủ yếu phấn đấu đến năm 2025: Tổng giá trị sản xuất theo giá so sánh đạt 6.652 tỷ đồng, theo giá hiện hành đạt 7.835 tỷ đồng; cơ cấu kinh tế: Nông – lâm – thủy sản chiếm 34-35%, công nghiệp – xây dựng chiếm 34-35%, thương mại – dịch vụ chiếm 30-31%; thu nhập bình quân đầu người đạt trên 58 triệu đồng/năm; tổng thu ngân sách đạt trên 219 tỷ đồng; quy mô dân số khoảng 83.000 người, trên 42% lao động qua đào tạo; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân từ 3-4%/năm; phấn đấu xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới, đến năm 2025 huyện có 03 xã đạt chuẩn xã nông thôn mới nâng cao; tỷ lệ cơ sở sản xuất kinh doanh đạt tiêu chuẩn về môi trường trên 85%; tỷ lệ độ che phủ rừng đạt trên 50%; trên 50% diện tích gieo trồng ứng dụng công nghệ cao vào sản xuất, trong đó có trên 15% diện tích được cấp có thẩm quyền công nhận; kết nạp mới 300 đảng viên trở lên; có 80% tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên; phấn đấu có 75% chi bộ khu dân cư có chi uỷ; trên 80% quần chúng được tập hợp vào các tổ chức chính trị-xã hội.

Đại hội đã kêu gọi toàn Đảng, toàn quân, toàn dân huyện Đăk Hà phát huy truyền thống anh hùng, nêu cao tinh thần tự lực, tự cường, đoàn kết, ra sức thi đua, lao động, sản xuất thực hiện thắng lợi mục tiêu Đại hội đề ra, trong đó nội dung cốt lõi là “Xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; phát huy sức mạnh đoàn kết các dân tộc; bảo đảm an ninh chính trị, trật tự xã hội; tập trung huy động, khai thác và sử dụng hiệu quả các nguồn lực; phát triển nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, thương hiệu Cà phê Đăk Hà vươn tầm quốc tế; phấn đấu xây dựng huyện đạt chuẩn nông thôn mới”.

Các đại biểu bỏ phiếu bầu cử tại Đại hội. Ảnh: HT

Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa VI gồm 38 đồng chí. Tại Hội nghị lần thứ I Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa VI, các Ủy viên Ban Chấp hành đã bầu 10 Ủy viên Ban Thường vụ Huyện ủy. Đồng chí Ka Ba Thành được tín nhiệm bầu giữ chức Bí thư Huyện ủy, đồng chí Hà Tiến giữ chức Phó Bí thư Huyện ủy. Hội nghị cũng đã bầu 7 Ủy viên Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy, đồng chí Nguyễn Thế Quyền giữ chức vụ Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Huyện ủy.

Ban Chấp hành Đảng bộ huyện khóa mới và đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh ra mắt Đại hội. Ảnh: HT

Đại hội đã bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVI, nhiệm kỳ 2024 – 2025 gồm 24 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết.

Hoài Tiến

Cập nhật thông tin chi tiết về Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Huyện Lạng Giang Lần Thứ Xxii, Nhiệm Kỳ 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!