Xu Hướng 2/2024 # Các Loại Thuế Hiện Hành Tại Việt Nam # Top 4 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Các Loại Thuế Hiện Hành Tại Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Cho tôi hỏi luật sư hiện nay ở Việt Nam có những loại thuế nào? Xin cám ơn

Người gửi: Nguyễn Viết Thành ( Nam Định )

Luật sư tư vấn:

Xin chào bạn! cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình tới luật Việt Phong. Về câu hỏi của bạn, công ty luật Việt Phong xin tư vấn và hướng dẫn cho bạn như sau:

– – Thuế giá trị gia tăng: quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 : là 1 loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng. Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam. Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng Thuế tiêu thụ đặc biệt: Là thuế thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước được quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12: Là 1 loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng của xã hội, được nhiều nước trên thế giới áp dụng. Mục tiêu của loại thuế này là nhằm điều tiết mạnh vào các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp hay những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khỏe, góp phần hướng dẫn phát triển sản xuất kinh doanh, tiêu dùng xã hội theo định hướng của Nhà nước, qua đó góp phần đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước. Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ này phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt.

+ Đối tượng chịu thuế : kinh doanh dịch vụ, một số sản phẩm , mặt hàng nhập khẩu theo qui định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

+ Đối tượng nộp thuế : đối tượng kinh doanh dịch vụ, sản phẩm, hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Mối mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ chịu thuế 1 lần, đối với những mặt hàng nhập khẩu, khi nhập khẩu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt thì khi bán ra không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nữa.

VD: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; rượu; bia;…

– Chú ý: Đối với DN mới thành lập tạm thời áp dụng mức thuế suất thuế TNDN là 22%, đến khi kết thúc năm tài chính (hết ngày 31/12 ­ đối với các doanh nghiệp áp dụng năm tài chính theo năm dương lịch) nếu doanh thu bình quân của các tháng trong năm không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì doanh nghiệp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm tài chính theo thuế suất 20% Thuế thu nhập cá nhân: được quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12: Là thuế trực thu, thu trên thu nhập của những người có thu nhập cao. Đối tượng nộp thuế là công dân Việt Nam ở trong nước hoặc nước ngoài có thu nhập cao; người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.

– Biểu thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần: Bậc 1: 4 triệu đồng/tháng 0%; Bậc 2: Trên 4 – 6 triệu đồng/tháng: 5%; Bậc 3: Trên 6 – 9 triệu đồng: 10%; Bậc 4: Trên 9 – 14 triệu đồng/tháng: 15%; Bậc 5: trên 14 – 24 triệu đồng/tháng: 20%; Bậc 6: Trên 24 – 44 triệu đồng/tháng: 25%; Bậc 7: Trên 44 – 84 triệu đồng/tháng: 30%; Bậc 8: Trên 84 triệu đồng: 35%. Biểu thuế thu nhập cá nhân toàn phần: + Lãi cho vay, lợi tức cổ phần, lợi tức từ góp vốn kinh doanh, lãi tiết kiệm trên 5 triệu đồng/tháng là 5%; + Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: 25%; + Thu nhập từ chuyển đổi bất động sản: 25%.

– Các loại thuế khác : Thuế tài nguyên: Là loại thuế trực thu tính trên việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước qui định. Đối tượng chịu thuế là các loại khoáng sản kim loại, các loại than mỏ, than bùn, dầu khí, khí đốt, khoáng sản tự nhiên, thủy sảntự nhiên và các loại tài nguyên khác như vật liệu xây dựng tự nhiên. Đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên phục vụ cho hợp đồng sản xuất kinh doanh. Thuế nhà đất, tiền thuê đất là tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình đều phải nộp thuế nhà, đất. Tất cả các tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước đều phải nộp tiền thuê đất theo qui định. Căn cứ xác định thuế theo khung giá qui định của Nhà nước.

+ Thuế trước bạ: là mọi trường hợp chuyển dịch về quyền sở hữu hoặc sử dụng về nhà đất, phương tiện vận tải,… đều phải nộp thuế trước bạ. Thuế trước bạ phải nộp khi chuyển dịch về quyền sở hữu tài sản nào được ghi tăng nguyên giá tài sản đó.

+Thuế môn bài: được quy định tại Thông tư số 42/2003/TT-BTC là loại thuế doanh nghiệp đóng hàng năm Hàng năm Nhà nước tiến hành thu thuế môn bài vào đầu năm nhằm mục đích nắm và thống kê các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp, công ty tư nhân, Hợp tác xã, các tổ chức làm kinh tế khác. Thuế môn bài được ghi nhận vào chi phí Quản lý doanh nghiệp

Bậc 1: Vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, mức thuế môn bài của cả năm là 3.000.000 đồng. Bậc 2: Vốn đăng ký từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 2.000.000 đồng. Bậc 3: Vốn đăng ký từ 2 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 1.500.000 đồng. Bậc 4: Vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 1.000.000 đồng

Doanh nghiệp tư nhân, công ty liên danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần trả thuế môn bài căn cứ trên số vốn đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư

+ Thuế nhà đất quy định tại Thông tư 71/1002/TT-BTC

+ Thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12

Cá nhân, doanh nghiệp có tài sản là quyền sử dụng đất phải đóng thuế đất

+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, quy định tại Nghị quyết số 15/2003/QH 11

+ Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí, quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

+ Thuế từ dầu khí quy định tại Nghị định số 05/2009 NĐ-CP

Doanh Nghiệp Cần Biết: Các Loại Thuế Hiện Hành Tại Việt Nam

Ở Việt Nam hiện nay đang áp dụng các loại thuế như sau:

Thuế giá trị gia tăng

Quy định tại Luật Thuế giá trị gia tăng số 13/2008/QH12 : Là 1 loại thuế gián thu tính trên khoản giá trị tăng thêm của hàng hóa, dịch vụ phát sinh trong quá trình từ sản xuất, lưu thông đến tiêu dùng.

Đối tượng chịu thuế giá trị gia tăng là hàng hoá, dịch vụ dùng cho sản xuất, kinh doanh và tiêu dùng ở Việt Nam.

Đối tượng nộp thuế giá trị gia tăng là tất cả các tổ chức, cá nhân có hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hoá, dịch vụ chịu thuế giá trị gia tăng ở Việt Nam và các tổ chức, cá nhân khác có nhập khẩu hàng hoá chịu thuế giá trị gia tăng.

Thuế tiêu thụ đặc biệt

Là thuế thu từ hàng hóa, dịch vụ trong nước được quy định tại Luật thuế tiêu thụ đặc biệt số 27/2008/QH12: ” Là 1 loại thuế gián thu đánh vào tiêu dùng của xã hội, được nhiều nước trên thế giới áp dụng.

Mục tiêu của loại thuế này là nhằm điều tiết mạnh vào các loại hàng hóa, dịch vụ cao cấp hay những sản phẩm tiêu dùng không có lợi cho sức khỏe, góp phần hướng dẫn phát triển sản xuất kinh doanh, tiêu dùng xã hội theo định hướng của Nhà nước, qua đó góp phần đảm bảo nguồn thu ổn định cho ngân sách nhà nước.

Doanh nghiệp hoạt động kinh doanh hàng hóa, dịch vụ này phải đóng thuế tiêu thụ đặc biệt.”

►►► XEM NGAY: HƯỚNG DẪN NỘP THUẾ MÔN BÀI CHO CHI NHÁNH PHỤ THUỘC CÔNG TY CHUẨN NHẤT NĂM 2024

Đối tượng chịu thuế: kinh doanh dịch vụ, một số sản phẩm , mặt hàng nhập khẩu theo qui định của Luật Thuế tiêu thụ đặc biệt.

Đối tượng nộp thuế: đối tượng kinh doanh dịch vụ, sản phẩm, hàng hoá chịu thuế tiêu thụ đặc biệt. Mối mặt hàng chịu thuế tiêu thụ đặc biệt chỉ chịu thuế 1 lần, đối với những mặt hàng nhập khẩu, khi nhập khẩu đã nộp thuế tiêu thụ đặc biệt thì khi bán ra không phải nộp thuế tiêu thụ đặc biệt nữa.

VD: Thuốc lá điếu, xì gà và chế phẩm khác từ cây thuốc lá dùng để hút, hít, nhai, ngửi, ngậm; rượu; bia;…

Thuế Xuất nhập khẩu

►►► CÓ THỂ BẠN CHƯA BIẾT: 5 điều nhất định phải biết về thuế thu nhập doanh nghiệp. CLICK XEM NGAY!

Được quy định tại Luật thuế xuất nhập khẩu số 45/2005/QH 11 : “Là loại thuế trực thu, tính trực tiếp trên trị giá các mặt hàng xuất khẩu và nhập khẩu.

Đối tượng chịu thuế là các hàng hoá xuất nhập khẩu của các tổ chức kinh tế trong và ngoài nước xuất nhập khẩu qua biên giới Việt Nam.

Thuế thu nhập doanh nghiệp

Theo quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12 : “Là loại thuế trực thu, thu trên kết quả hợp đồng sản xuất kinh doanh cuối cùng của doanh nghiệp.

Đối tượng nộp thuế tất cả các tổ chức, cá nhân sản xuất kinh doanh hàng hoá dịch vụ có thu nhập đều phải nộp thuế.”

Theo quy định tại Điều 11 của Thông tư 78/2014/TTBTC theo đó: “Kể từ ngày 01/01/2014, thuế suất thuế thu nhập doanh nghiệp là 20% hoăc 22% tùy theo doanh thu năm trước liền kề của từng doanh nghiệp.”

Chú ý: Đối với DN mới thành lập tạm thời áp dụng mức thuế suất thuế TNDN là 22%, đến khi kết thúc năm tài chính (hết ngày 31/12 ­ đối với các doanh nghiệp áp dụng năm tài chính theo năm dương lịch) nếu doanh thu bình quân của các tháng trong năm không vượt quá 1,67 tỷ đồng thì doanh nghiệp quyết toán thuế thu nhập doanh nghiệp phải nộp của năm tài chính theo thuế suất 20%

Thuế thu nhập cá nhân

Được quy định tại Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12: “Là thuế trực thu, thu trên thu nhập của những người có thu nhập cao. Đối tượng nộp thuế là công dân Việt Nam ở trong nước hoặc nước ngoài có thu nhập cao; người nước ngoài có thu nhập tại Việt Nam.”

Biểu thuế thu nhập cá nhân lũy tiến từng phần

Bậc 1: 4 triệu đồng/tháng 0%; Bậc 2: Trên 4 – 6 triệu đồng/tháng: 5%; Bậc 3: Trên 6 – 9 triệu đồng: 10%; Bậc 4: Trên 9 – 14 triệu đồng/tháng: 15%; Bậc 5: trên 14 – 24 triệu đồng/tháng: 20%; Bậc 6: Trên 24 – 44 triệu đồng/tháng: 25%; Bậc 7: Trên 44 – 84 triệu đồng/tháng: 30%; Bậc 8: Trên 84 triệu đồng: 35%.

Biểu thuế thu nhập cá nhân toàn phần

+ Lãi cho vay, lợi tức cổ phần, lợi tức từ góp vốn kinh doanh, lãi tiết kiệm trên 5 triệu đồng/tháng là 5%; + Thu nhập từ chuyển nhượng vốn: 25%; + Thu nhập từ chuyển đổi bất động sản: 25%.

Thuế tài nguyên

“Là loại thuế trực thu tính trên việc sử dụng, khai thác tài nguyên thiên nhiên, tài nguyên thiên nhiên thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước qui định.

Đối tượng chịu thuế là các loại khoáng sản kim loại, các loại than mỏ, than bùn, dầu khí, khí đốt, khoáng sản tự nhiên, thủy sản tự nhiên và các loại tài nguyên khác như vật liệu xây dựng tự nhiên.

Đối tượng nộp thuế là tổ chức, cá nhân khai thác tài nguyên phục vụ cho hợp đồng sản xuất kinh doanh. Thuế nhà đất, tiền thuê đất là tất cả các tổ chức, cá nhân có quyền sử dụng đất ở, đất xây dựng công trình đều phải nộp thuế nhà, đất. Tất cả các tổ chức, cá nhân thuê quyền sử dụng đất của Nhà nước đều phải nộp tiền thuê đất theo qui định. Căn cứ xác định thuế theo khung giá qui định của Nhà nước.”

Các loại thuế khác Thuế trước bạ

Là mọi trường hợp chuyển dịch về quyền sở hữu hoặc sử dụng về nhà đất, phương tiện vận tải,… đều phải nộp thuế trước bạ. Thuế trước bạ phải nộp khi chuyển dịch về quyền sở hữu tài sản nào được ghi tăng nguyên giá tài sản đó.

Thuế môn bài

Được quy định tại Thông tư số 42/2003/TT-BTC là loại thuế doanh nghiệp đóng hàng năm Hàng năm Nhà nước tiến hành thu thuế môn bài vào đầu năm nhằm mục đích nắm và thống kê các hộ kinh doanh cá thể, các doanh nghiệp, công ty tư nhân, Hợp tác xã, các tổ chức làm kinh tế khác. Thuế môn bài được ghi nhận vào chi phí Quản lý doanh nghiệp

Bậc 1: Vốn đăng ký trên 10 tỷ đồng, mức thuế môn bài của cả năm là 3.000.000 đồng. Bậc 2: Vốn đăng ký từ 5 tỷ đến 10 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 2.000.000 đồng. Bậc 3: Vốn đăng ký từ 2 tỷ đến dưới 5 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 1.500.000 đồng. Bậc 4: Vốn đăng ký dưới 2 tỷ đồng, mức thuế Môn bài cả năm là 1.000.000 đồng

►​►​► XEM NGAY: Văn phòng đại diện có phải nộp thuế môn bài không?

Doanh nghiệp tư nhân, công ty liên danh, công ty trách nhiệm hữu hạn và công ty cổ phần trả thuế môn bài căn cứ trên số vốn đăng ký trong giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh hoặc giấy phép đầu tư

+ Thuế nhà đất quy định tại Thông tư 71/1002/TT-BTC

+ Thuế chuyển quyền sử dụng đất quy định Luật thuế thu nhập cá nhân số 04/2007/QH12

Cá nhân, doanh nghiệp có tài sản là quyền sử dụng đất phải đóng thuế đất

+ Thuế sử dụng đất nông nghiệp quy định tại Luật thuế sử dụng đất nông nghiệp, quy định tại Nghị quyết số 15/2003/QH 11

+ Thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài, không kể thuế chuyển lợi nhuận ra nước ngoài từ lĩnh vực dầu, khí, quy định tại Luật thuế thu nhập doanh nghiệp số 14/2008/QH12

+ Thuế từ dầu khí quy định tại Nghị định số 05/2009 NĐ-CP

Tổng Hợp Các Loại Hình Doanh Nghiệp Hợp Pháp Tại Việt Nam Hiện Nay

Theo quy định mới nhất của Luật Doanh nghiệp thì có các loại hình doanh nghiệp sau:

Đây là các loại hình doanh nghiệp phổ biến nhất hiện nay. Do các ưu điểm mà nó mang lại nên nhiều khách hàng đã lựa chọn nó làm mô hình cho doanh nghiệp mình! Với Luật Việt Tín chúng tôi luôn thấu hiểu những khó khăn của doanh nghiệp mới, nên chúng tôi có cung cấp dịch vụ thành lập công ty với nhiều ưu đãi nhằm mục đích có thể giúp quý khách hoàn thành thủ tục thành lập công ty một cách dễ dàng nhanh chóng và tiết kiệm thời gian nhất có thể.

Bài viết mới:

Công ty TNHH 1 thành viên Đặc điểm của công ty TNHH 1 thành viên:

Công ty TNHH 1 thành viên là loại hình doanh nghiệp do 1 tổ chức hoặc 1 cá nhân làm chủ sở hữu.

Chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi của số vốn đã góp vào công ty.

Công ty TNHH 1 thành viên có tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Công ty TNHH 1 thành viên sẽ không được quyền phát hành cổ phần.

Tùy thuộc vào ngành nghề kinh doanh, cơ cấu tổ chức quản lý nội bộ của Công ty TNHH 1 thành viên bao gồm: Hội đồng quản trị và Giám đốc hoặc Chủ tịch công ty và Giám đốc.

Ưu và nhược điểm của loại hình công ty TNHH 1 thành viên:

1. Ưu điểm:Do có tư cách pháp nhân nên chủ sở hữu chỉ có trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp vào công ty nên rất ít gây rủi ro cho người góp vốn. Cơ cấu tổ chức gọn nhẹ dễ dàng ra quyết định trong các vấn đề 2. Nhược điểm: Công ty TNHH 1 thành viên sẽ không được giảm vốn điều lệ.

Công ty TNHH 1 thành viên không được phát hành cổ phiếu.

Công ty TNHH hai thành viên trở lên: Công ty TNHH hai thành viên trở lên có đặc điểm sau:

Thành viên tham gia góp vốn thành lập có thể là cá nhân và tổ chức; đồng thời các cá nhân và tổ chức tham gia góp vốn thành lập công ty phải có tư cách pháp lý, là chủ thể có quyền tham gia góp vốn/thành lập/quản lý doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện nay.

Số lượng thành viên góp vốn không vượt quá 50 Thành viên tối thiểu là 2 người;

Thành viên góp vốn phải chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn cam kết góp vào doanh nghiệp của mình;

Phần vốn góp của thành viên chỉ được chuyển nhượng theo quy định của pháp luật về doanh nghiệp.

Công ty TNHH có tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Công ty TNHH sẽ không được quyền phát hành cổ phần.

Tuy nhiên, công ty TNHH sẽ không được quyền phát hành cổ phiếu để huy động vốn.

Ưu và nhược điểm của loại hình Công ty TNHH 2 thành viên trở lên:

Do có tư cách pháp nhân nên các thành viên công ty TNHH chỉ có trách nhiệm về các hoạt động của công ty trong phạm vi số vốn góp của mình vào công ty nên rất ít gây rủi ro cho người góp vốn.

Số lượng thành viên công ty TNHH không nhiều và các thành viên thường là người thân, quen biết, tin cậy nhau, nên việc quản lý, điều hành công ty không quá phức tạp.

Chế độ chuyển nhượng vốn được điều chỉnh chặt chẽ nên nhà đầu tư dễ dàng kiểm soát được việc thay đổi các thành viên.

2. Nhược điểm của công ty TNHH hai thành viên trở lên.

Dễ xây dựng uy tín đối với khách hàng và đối tác bởi là công ty trách nhiệm hữu hạn

Công ty TNHH chịu sự điều chỉnh chặt chẽ của pháp luật doanh nghiệp.

Việc huy động vốn của công ty TNHH bị hạn chế do không có quyền phát hành cổ phiếu.

Công ty Cổ Phần Đặc điểm của Công ty cổ phần gồm:

Các chủ thể tham gia góp vốn thành lập công ty cổ phần được gọi là Cổ đông. b. Cổ đông có thể là cá nhân hoặc tổ chức; đặc biệt các cổ đông phải có tư cách pháp luật, có quyền tham gia góp vốn thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp hiện nay.

Số lượng cổ đông tối thiểu là 3 thành viên và không giới hạn số lượng tối đa;

Cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ và nghĩa vụ tài sản khác của doanh nghiệp trong phạm vi số vốn đã góp vào doanh nghiệp;

Vốn điều lệ được chia thành các phần bằng nhau gọi là cổ phần;

Cổ đông có quyền tự do chuyển nhượng cổ phần của mình cho người khác theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Công ty cổ phần có tư cách pháp nhân bắt đầu từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Công ty cổ phần có quyền phát hành chứng khoán các loại để huy động vốn theo quy định của pháp luật về chứng khoán.

Cơ cấu của Công ty cổ phần phải có Đại hội đồng cổ đông, Hội đồng quản trị và Giám đốc (TGĐ), đối với công ty cổ phần có trên 11 cổ đông phải có Ban kiểm soát.

Ưu và nhược điểm của loại hình Công ty cổ phần.

Chế độ trách nhiệm của công ty cổ phần là trách nhiệm hữu hạn, các cổ đông chỉ chịu trách nhiệm về nợ và các nghĩa vụ tài sản khác của công ty trong phạm vi vốn góp nên mức độ rủi ro của các cổ đông không cao.

Khả năng hoạt động của công ty cổ phần rất rộng, trong hầu hết các lĩnh vực, ngành nghề.

Cơ cấu vốn của công ty cổ phần hết sức linh hoạt tạo điều kiện nhiều người cùng góp vốn vào công ty.

Khả năng huy động vốn của công ty cổ phần rất cao thông qua việc phát hành cổ phiếu ra công chúng, đây là đặc điểm riêng có của công ty cổ phần.

Việc chuyển nhượng vốn trong công ty cổ phần là tương đối dễ dàng, do vậy phạm vi đối tượng được tham gia công ty cổ phần là rất rộng, ngay cả các cán bộ công chức cũng có quyền mua cổ phiếu của công ty cổ phần.

Việc quản lý và điều hành công ty cổ phần rất phức tạp do số lượng các cổ đông rất nhiều, dễ bị phân chia và xảy ra xung đột lợi ích.

Việc thành lập và quản lý công ty cổ phần cũng khá phức tạp hơn các loại hình công ty khác do bị ràng buộc chặt chẽ bởi các quy định của pháp luật, đặc biệt về chế độ tài chính, kế toán….

Doanh nghiệp tư nhân

Doanh nghiệp tư nhân là doanh nghiệp do 1 cá nhân làm chủ và tự chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình về mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Doanh nghiệp tư nhân sẽ không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Mỗi cá nhân chỉ được quyền thành lập một doanh nghiệp tư nhân.

Doanh nghiệp tư nhân được đăng ký kinh doanh hoạt động theo đúng quy định của pháp, do một cá nhân làm chủ, có trụ sở giao dịch, tài sản, có toàn quyền quyết định đối với tất cả hoạt động kinh doanh của công ty.

Chủ Doanh nghiệp tư nhân là đại diện theo Pháp luật của doanh nghiệp, Doanh nghiệp tư nhân không có tư cách pháp nhân như các loại hình doanh nghiệp khác, chủ doanh nghiệp có thể tự mình hoặc thuê người khác điều hành, quản lý mọi hoạt động của doanh nghiệp.

Ưu điểm và nhược điểm của loại hình doanh nghiệp tư nhân

Chế độ trách nhiệm vô hạn của chủ Doanh nghiệp tư nhân tạo sự tin tưởng cho đối tác, khách hàng và giúp cho công ty ít chịu sự ràng buộc chặt chẽ bởi pháp luật như các loại hình công ty khác.

Bởi vì không có sự phân biệt giữa tài sản của doanh nghiệp với tài sản của cá nhân (chủ doanh nghiệp) nên doanh nghiệp tư nhân rất dễ để vay mượn tiền từ phía ngân hàng hoặc các tổ chức tín dụng khác.

Nhìn chung, đây là loại hình doanh nghiệp ít chịu sự ràng buộc của pháp luật nhất.

Do không có tư cách pháp nhân nên mức độ rủi ro của chủ Doanh nghiệp tư nhân khá cao.

Chủ Doanh nghiệp tư nhân phải chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của Doanh nghiệp và của chủ Doanh nghiệp chứ không giới hạn số vốn mà chủ Doanh nghiệp đã đầu tư do vậy nên rủi ro khá cao.

Doanh nghiệp tư nhân không được quyền phát hành chứng khoán (cổ phiếu, trái phiếu,…) nên khả năng huy động vốn của loại hình doanh nghiệp này không cao.

Công ty Hợp Danh Công ty hợp danh có những đặc điểm sau:

Phải có ít nhất là 2 thành viên là chủ sở hữu chung của công ty, cùng nhau kinh doanh dưới một tên chung; ngoài các thành viên hợp danh có thể có thành viên góp vốn;

Thành viên hợp danh phải là cá nhân, có đầy đủ tư cách pháp lý về chủ thể tham gia thành lập doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp.

Thành viên góp vốn chỉ chịu trách nhiệm về các khoản nợ của công ty trong phạm vi số vốn đã góp vào công ty.

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân kể từ ngày được cấp Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh.

Công ty hợp danh không được phát hành bất kỳ loại chứng khoán nào.

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân, các thành viên có quyền quản lý công ty và tiến hành các hoạt động kinh doanh thay công ty, cùng nhau chịu trách nhiệm và nghĩa vụ của Công ty.

Thành viên góp vốn được chia lợi nhuận theo tỷ lệ quy định điều lệ công ty, các thành viên hợp danh có quyền lợi ngang nhau khi quyết định các vấn đề quản lý công ty.

Ưu điểm và nhược điểm của loại hình công ty hợp danh.

Công ty hợp danh có tư cách pháp nhân cho nên có sự phân biệt giữa tài sản của doanh nghiệp với tài sản của cá nhân các thành viên tham gia góp vốn. Tuy nhiên trách nhiệm của các thành viên hợp danh đối với công ty là vô hạn.

Công ty hợp danh là sự kết hợp được uy tín của nhiều cá nhân nên dễ dàng tạo được niềm tin với đối tác và khách hàng. Do không bị giới hạn về số lượng thành viên nên đây là một trong những lợi thế để có thể kêu gọi vốn bằng hình thức thêm thành viên công ty.

Vai trò của thành viên hợp danh trong công ty rất lớn, hầu hết các quyền tập trung vào những thành viên hợp danh, do đó mô hình tổ chức công ty cũng đơn giản.

2. Nhược điểm:

Thành viên hợp danh muốn chuyển nhượng phần vốn góp của mình cho người khác thì cần được sự chấp thuận của các thành viên hợp danh khác theo quy định của pháp luật doanh nghiệp.

Hạn chế của công ty hợp danh là do chế độ liên đới chịu trách nhiệm vô hạn nên mức độ rủi ro của các thành viên hợp danh là rất cao…

Nếu như bạn đang có dự định thành lập doanh nghiệp và muốn được biết rõ hơn thì hãy liên hệ ngay với chúng tôi! Luật Việt Tín có cung cấp dịch vụ thành lập doanh nghiệp giá rẻ trọn gói với nhiều ưu đãi sẽ giúp cho quý khách thực hiện thủ tục một cách dễ dàng, tiết kiệm mọi chi phí và thời gian nhất có thể!

Các Loại Nguồn Của Pháp Luật Việt Nam Hiện Nay

“Nguồn của pháp luật là tất cả các căn cứ được các có thẩm quyền sử dụng làm cơ sở để xây dựng, ban hành, giải thích pháp luật cũng như để áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”[1].

Nguồn của pháp luật bao gồm: nguồn nội dung và nguồn hình thức; nguồn chủ yếu (nguồn cơ bản) và nguồn thứ yếu, tùy vào căn cứ phân biệt. Khi xem xét về nguồn của pháp luật Việt Nam hiện nay, cần phải quan tâm cả nguồn nội dung và nguồn hình thức của nó, trong đó, “nguồn nội dung của pháp luật là xuất xứ, là căn nguyên của pháp luật bởi vì nó được các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để xây dựng, ban hành và giải thích pháp luật”[2]; “nguồn hình thức của pháp luật được hiểu là phương thức tồn tại của các quy phạm pháp luật trong thực tế hay là nơi chứa đựng, nơi có thể cung cấp các pháp luật, tức là những căn cứ mà các chủ thể có thẩm quyền dựa vào đó để giải quyết các vụ việc pháp lý xảy ra trong thực tế”[3]. Tuy nhiên, sự phân chia này chỉ có tính chất tương đối.

1. Một số nguồn nội dung của pháp luật Việt Nam Đường lối, chính sách của Đảng

Đường lối, chính sách của Đảng được coi là nguồn nội dung của pháp luật bởi vì chúng định ra mục tiêu, phương hướng phát triển kinh tế – xã hội của đất nước trong một giai đoạn nhất định cũng như những phương pháp, cách thức cơ bản để thực hiện những mục tiêu, phương hướng này. Và những mục tiêu, phương hướng, phương pháp và cách thức đó sẽ được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật và tổ chức thực hiện trong thực tế. Nội dung các quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL), từ Hiến pháp, luật cho đến các văn bản dưới luật đều phải phù hợp, không được trái với đường lối, chính sách của Đảng. Về mặt lý luận, đường lối, chính sách của Đảng chỉ có thể là nguồn nội dung mà không thể là nguồn hình thức của pháp luật; song, trong thực tế có lúc nó cũng được coi là nguồn hình thức của pháp luật như việc áp dụng thẳng Nghị quyết 10 và Chỉ thị 100 của Đảng về khoán sản phẩm trong nông nghiệp ở một số địa phương trước đây. Nói chung, việc áp dụng thẳng đường lối, chính sách của Đảng vào các lĩnh vực của xã hội là một hạn chế cần khắc phục, vì về mặt nguyên tắc, đường lối, chính sách của Đảng chỉ có giá trị bắt buộc phải tôn trọng hoặc thực hiện nghiêm chỉnh đối với các đảng viên và các tổ chức đảng. Và dĩ nhiên, đường lối, chính sách đó chỉ có thể có giá trị bắt buộc phải tôn trọng và thực hiện đối với toàn xã hội khi nó được Nhà nước thể chế hoá thành pháp luật.

Nhu cầu quản lý kinh tế – xã hội của đất nước

Đây cũng là một trong những nguồn nội dung quan trọng của pháp luật, một trong những cơ sở để xây dựng, ban hành pháp luật. Để tổ chức, quản lý và điều hành nền kinh tế thị trường theo định hướng xã hội chủ nghĩa, phải ban hành các quy định pháp luật cụ thể nhằm xây dựng đồng bộ các loại thị trường (thị trường lao động, thị trường hàng hoá, thị trường bất động sản, thị trường tài chính…); cụ thể hoá các chính sách tài chính, thuế, tiền tệ, giá cả, đầu tư, thu nhập…; sắp xếp, cơ cấu lại các ngành kinh tế, điều chỉnh các quan hệ kinh tế theo chiều hướng mà Nhà nước mong muốn, chiều hướng vừa thúc đẩy sự tăng trưởng, vừa bảo đảm sự cân đối và ổn định của nền kinh tế – xã hội.

Các tư tưởng, học thuyết pháp lý

Các tư tưởng, học thuyết pháp lý cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Chẳng hạn, theo Điều 2 của Hiến pháp hiện hành của nước ta thì, “Nhà nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân. Tất cả quyền lực nhà nước thuộc về nhân dân mà nền tảng là liên minh giữa giai cấp công nhân với giai cấp nông dân và đội ngũ trí thức.

Quyền lực nhà nước là thống nhất, có sự phân công và phối hợp giữa các cơ quan nhà nước trong việc thực hiện các quyền lập pháp, hành pháp, tư pháp”.

Quy định này của Hiến pháp được xây dựng trên cơ sở sự kế thừa tư tưởng của chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh về nhà nước và pháp luật; tư tưởng chủ quyền nhân dân; tư tưởng nhà nước pháp quyền và tiếp nhận các yếu tố hợp lý của học thuyết phân chia quyền lực nhà nước.

2. Các loại nguồn hỗn hợp

Bên cạnh các nguồn nội dung kể trên, còn có các nguồn vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của . Đó là các nguồn cơ bản sau:

Các nguyên tắc chung của pháp luật

Đây là những nguyên lý, những tư tưởng cơ bản làm cơ sở cho toàn bộ quá trình xây dựng và thực hiện pháp luật trong thực tế. Có những nguyên tắc chỉ là nguồn nội dung của pháp luật. Chẳng hạn, theo Điều 8 của Bộ luật Hình sự năm 1999 thì, “tội phạm là hành vi nguy hiểm cho xã hội được quy định trong Bộ luật Hình sự …”. Quy định này xuất phát từ một nguyên tắc chung của pháp luật là không ai bị coi là có tội nếu tội đó không được quy định trong luật hình. Hoặc quy định của Điều 130 của Hiến pháp năm 1992 rằng, “khi xét xử, thẩm phán và hội thẩm độc lập và chỉ tuân theo pháp luật” là xuất phát từ nguyên tắc bảo đảm tính độc lập của toà án.

Song, có những nguyên tắc vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật. Ví dụ, nguyên tắc nhân đạo xã hội chủ nghĩa. Nguyên tắc này được coi là nguồn nội dung của pháp luật vì các quy định của pháp luật trong nhiều lĩnh vực được ban hành ra nhằm thực hiện các chính sách xã hội của Nhà nước phục vụ cho sự phát triển tự do, toàn diện của mỗi cá nhân, bảo đảm công bằng xã hội, xoá đói, giảm nghèo… Với tư cách là nguồn hình thức của pháp luật, nguyên tắc này đòi hỏi khi xác định mức bồi thường thiệt hại xảy ra trong thực tế phải tuỳ từng trường hợp cụ thể của nạn nhân và của người gây thiệt hại, có trường hợp chỉ yêu cầu bồi thường những thiệt hại trực tiếp; song, có trường hợp lại phải yêu cầu bồi thường cả những thiệt hại trực tiếp lẫn những thiệt hại gián tiếp.

Văn bản quy phạm pháp luật

Đây là loại nguồn hình thức chủ yếu, cơ bản và quan trọng nhất của pháp luật, bởi lẽ, các cơ quan nhà nước ở Việt Nam khi giải quyết các vụ việc pháp lý thực tế thuộc thẩm quyền của mình đều chủ yếu dựa vào các VBQPPL. VBQPPL là văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo thủ tục, trình tự luật định, trong đó có quy tắc xử sự chung được Nhà nước bảo đảm thực hiện, nhằm điều chỉnh các quan hệ xã hội theo định hướng xã hội chủ nghĩa.

VBQPPL ở nước ta bao gồm nhiều loại với giá trị pháp lý cao, thấp khác nhau. Đứng đầu thang bậc giá trị pháp lý trong hệ thống VBQPPL là Hiến pháp, đạo luật gốc, luật cơ bản của Nhà nước. Tiếp đó là các đạo luật và các nghị quyết của Quốc hội; pháp lệnh, nghị quyết của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội,…

VBQPPL được hình thành do kết quả của hoạt động xây dựng pháp luật, thể hiện trí tuệ của tập thể nên tính khoa học tương đối cao. Các quy định của nó được trình bày thành văn nên thường rõ ràng, cụ thể, bảo đảm có thể được hiểu và được thực hiện thống nhất ở phạm vi rộng; nhờ vậy, nó tạo điều kiện thuận lợi cho việc đáp ứng các yêu cầu cơ bản của nguyên tắc pháp chế. Hơn nữa, VBQPPL cũng có thể đáp ứng được kịp thời các yêu của cuộc sống nên nó được coi là loại nguồn hình thức cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất của pháp luật nước ta hiện nay. Tuy nhiên, VBQPPL không phải là loại nguồn hình thức duy nhất của pháp luật bởi VBQPPL vẫn có những điểm hạn chế nhất định cần được khắc phục như: các quy định của nó thường mang tính khái quát cao nên nhiều khi không dự kiến được hết các tình huống, điều kiện, hoàn cảnh có thể xảy ra trong cuộc sống để điều chỉnh, vì thế có thể dẫn đến tình trạng thiếu pháp luật hoặc tạo ra những lỗ hổng, khoảng trống trong pháp luật. VBQPPL có tính ổn định tương đối cao nên nhiều khi kém linh hoạt hơn các nguồn khác. Quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL cũng lâu dài và tốn kém hơn một số nguồn khác.

VBQPPL không chỉ là nguồn hình thức mà còn có thể là nguồn nội dung của pháp luật, bởi, nếu xét về nội dung thì các quy định trong các văn bản có giá trị pháp lý cao hơn lại có thể trở thành nguồn nội dung cho các văn bản có giá trị pháp lý thấp hơn. Chẳng hạn, các quy định của Hiến pháp là nguồn nội dung của tất cả các VBQPPL khác vì các quy định trong các văn bản ấy được xây dựng, ban hành dựa trên cơ sở các quy định của Hiến pháp, trong nhiều trường hợp là sự cụ thể hoá, chi tiết hoá nhằm thực hiện Hiến pháp trong thực tế… Hoặc một đạo luật nào đó có thể trở thành nguồn nội dung cho các nghị định hướng dẫn thi hành nó.

Các điều ước quốc tế

“Theo cách tiếp cận của Công ước Viên 1969 về Luật Điều ước quốc tế ký kết giữa các quốc gia và các quy định của luật quốc tế hiện hành thì điều ước quốc tế được xác định là thoả thuận quốc tế được ký kết bằng văn bản giữa các quốc gia và các chủ thể luật quốc tế và được luật quốc tế điều chỉnh, không phụ thuộc vào việc thoả thuận đó được ghi nhận trong một văn kiện duy nhất hay hai hoặc nhiều văn kiện có quan hệ với nhau, cũng như không phụ thuộc vào tên gọi cụ thể của những văn kiện đó”[4]. Nói chung, các điều ước quốc tế do Việt Nam ký kết, phê chuẩn hoặc gia nhập thực tế vừa là nguồn nội dung, vừa là nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Nó là nguồn nội dung trong trường hợp các quy định của nó được chuyển hóa thành các quy định trong các VBQPPL. Ví dụ, việc chúng ta gia nhập Công ước về xóa bỏ mọi hình thức phân biệt đối xử với phụ nữ ( ) đã dẫn đến việc ban hành Luật Bình đẳng giới trong đó có nhiều nội dung là sự cụ thể hóa các quy định của Công ước này. Nhiều quy định của các điều ước quốc tế khác đã được chuyển hóa thành các quy định trong các đạo luật của Việt Nam, nhất là khi chúng ta đã gia nhập WTO.

Điều ước quốc tế trở thành nguồn hình thức của pháp luật trong trường hợp nó được áp dụng trực tiếp toàn bộ hoặc một phần vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc áp dụng này đã được thừa nhận trong Luật Ký kết, gia nhập và thực hiện điều ước quốc tế năm 2005 của nước ta.

Nói chung, trong lĩnh vực luật quốc tế thì điều ước quốc tế là nguồn cơ bản, chủ yếu và quan trọng nhất. Còn đối với pháp luật quốc gia, vai trò của điều ước quốc tế ngày càng quan trọng và có vị thế ngày càng cao hơn, nhất là trong xu thế toàn cầu hóa hiện nay. Điều đó được thể hiện rõ trong các quy định được nêu trong nhiều VBQPPL hiện hành của nước ta là: “Trong trường hợp điều ước quốc tế mà CHXHCN Việt Nam ký kết hoặc gia nhập có quy định khác với quy định của văn bản này thì tuân theo các quy định của điều ước quốc tế đó”.

Phong tục tập quán

Có nhiều quan niệm khác nhau về phong tục tập quán, song dưới góc độ coi nó là một dạng quy phạm xã hội thì có thể hiểu phong tục tập quán là những cách ứng xử hay những thói quen ứng xử hoặc những quy tắc xử sự chung được hình thành một cách tự phát trong một cộng đồng dân cư nhất định, được bảo đảm thực hiện bằng thói quen, bằng sức thuyết phục của chúng, bằng dư luận xã hội và có thể bằng cả một số biện pháp cưỡng chế phi nhà nước.

Theo quan niệm trên thì tất cả các loại tập quán như tập quán thông thường, tập quán chung, tập quán pháp luật và tập quán địa phương đều có thể trở thành nguồn của pháp luật.

Phong tục tập quán vừa có thể là nguồn nội dung, vừa có thể là nguồn hình thức của pháp luật. Những phong tục tập quán tiến bộ, tốt đẹp, phù hợp với ý chí của Nhà nước, được Nhà nước thừa nhận sẽ trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Ví dụ, việc Nhà nước thừa nhận phong tục ăn Tết Nguyên đán, phong tục Giỗ tổ Hùng Vương ngày 10 tháng 3 âm lịch đã dẫn đến quy định cho phép người lao động, cán bộ, công chức, học sinh, sinh viên… được nghỉ làm việc, học tập trong những ngày này.

Ngoài ra, trong một số lĩnh vực, các quy tắc và quan niệm đạo đức chính thống, các truyền thống tốt đẹp của dân tộc cũng có thể trở thành nguồn nội dung của pháp luật. Các quy định về quyền, nghĩa vụ của cha mẹ và con cái, của ông bà và các cháu, của vợ và chồng, của các thành viên khác trong gia đình với nhau trong pháp luật hôn nhân và gia đình là sự thể chế hóa các quan niệm đạo đức truyền thống, là sự thừa nhận các quy tắc đạo đức thịnh hành trong xã hội;…

Ngược lại, có những phong tục tập quán cổ hủ, lạc hậu, phản tiến bộ khiến Nhà nước ban hành VBQPPL nhằm xóa bỏ, loại trừ dần chúng khỏi đời sống xã hội. Ví dụ, sự tồn tại của phong tục đốt pháo gây lãng phí tiền bạc, tai nạn thương tâm dẫn đến việc Nhà nước ban hành quy định cấm sản xuất và đốt pháo để loại trừ phong tục này.

Phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật trong những trường hợp nó được áp dụng vào việc giải quyết các vụ việc xảy ra trong thực tế. Việc thừa nhận phong tục tập quán là nguồn hình thức của pháp luật đã được thể hiện cụ thể trong một số đạo luật của nước ta. Ví dụ, Điều 3 Bộ luật Dân sự năm 2005 quy định: “Trong trường hợp pháp luật không quy định và các bên không có thoả thuận thì có thể áp dụng tập quán;… Tập quán… không được trái với những nguyên tắc quy định trong Bộ luật này”; hoặc theo Điều 6 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2000 thì, “trong quan hệ hôn nhân và gia đình, những phong tục, tập quán thể hiện bản sắc của mỗi dân tộc mà không trái với những nguyên tắc quy định tại Luật này thì được tôn trọng và phát huy”.

Trong loại nguồn này còn bao gồm cả các tập quán quốc tế đã được thừa nhận và áp dụng tại Việt Nam như các tập quán thương mại quốc tế.

Nói chung, phong tục tập quán chỉ được coi là nguồn thứ yếu của pháp luật Việt Nam bởi các quy định của nó chủ yếu tồn tại dưới dạng bất thành văn nên thường chỉ được hiểu một cách ước lệ, thiếu rõ ràng, cụ thể, khó bảo đảm cho việc hiểu và áp dụng thống nhất trong phạm vi rộng. Song, ưu điểm của phong tục tập quán là hình thành từ thực tiễn cuộc sống, từ những thói quen ứng xử hàng ngày nên rất gần gũi với nhân dân và thường được nhân dân tự giác thực hiện. Vì vậy, phong tục tập quán có thể góp phần bổ sung cho chỗ thiếu của pháp luật, khắc phục những lỗ hổng của pháp luật nên cần được tiếp tục sử dụng cùng với các VBQPPL. Điều cần thiết hiện nay là phải có hình thức xác định cụ thể những tập quán được Nhà nước thừa nhận để bảo đảm cho việc áp dụng pháp luật được thống nhất và bảo đảm công bằng xã hội.

Án lệ hay các quyết định, bản án của tòa án

Theo Từ điển Black’s Law thì, án lệ (precedent) có hai nghĩa:

Trong pháp luật, án lệ là một vụ việc đã được xét xử hoặc quyết định của toà án được xem như sự cung cấp quy định hoặc quyền lực cho quyết định của một vụ việc giống hoặc tương tự xảy ra về sau, hoặc cho một vấn đề tương tự của pháp luật, hoặc khi nếu các sự kiện là khác nhau thì nguyên tắc chi phối vụ việc đầu tiên có thể áp dụng được cho các sự kiện khác nhau chút ít.

Một án lệ là một quyết định của toà án chứa đựng trong nó một nguyên tắc. Nguyên lý cơ bản giống như mẫu mà phần có căn cứ đích xác của nó thường được gọi là nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể. Một quyết định cụ thể là bắt buộc đối với các bên, nhưng nó là bản tóm tắt của nguyên tắc pháp lý cho một phán quyết trong một trường hợp cụ thể mà chỉ có nó có hiệu lực pháp luật.

Cũng có thể nói một cách khái quát là, một vụ việc trở thành án lệ vì quy định chung như vậy là cần thiết đối với quyết định thực tế có thể được đưa ra là sự biến dạng trong những trường hợp phụ.

Thường cũng có thể chấp nhận, tôn trọng một án lệ không phải bởi nó bao quát một logic ổn định mà bởi từ các phần của nó có thể nảy sinh ra ý tưởng về mẫu mới của quyết định”[6].

Từ điển này còn giải thích: án lệ bắt buộc là án lệ mà toà án bắt buộc phải tuân theo, ví dụ, toà án cấp thấp hơn bị giới hạn bởi một cách áp dụng của một toà án cấp cao hơn trong một vụ xét xử tương tự. Án lệ để giải thích là án lệ chỉ có thể được áp dụng cho một quy định pháp luật hiện đã có rồi. Án lệ gốc là án lệ tạo ra và áp dụng một quy định mới của pháp luật. Án lệ có sức thuyết phục là một án lệ mà toà án có thể hoặc là tuân theo hoặc là từ chối, nhưng điều khoản của nó phải được tôn trọng và cân nhắc cẩn thận.

Từ quan niệm trên, có thể hiểu án lệ là quyết định hoặc lập luận, nguyên tắc hoặc sự giải thích pháp luật do toà án đưa ra khi giải quyết một vụ việc cụ thể được nhà nước thừa nhận làm mẫu hoặc làm cơ sở để toà án dựa vào đó đưa ra quyết định hoặc lập luận để giải quyết vụ việc khác xảy ra về sau có nội dung hoặc tình tiết tương tự. Án lệ được coi là nguồn của pháp luật cũng bao gồm nhiều loại như: án lệ bắt buộc, án lệ để giải thích, án lệ gốc.

Án lệ là loại nguồn rất quan trọng của pháp luật ở các nước thuộc hệ thống thông luật. Nó có một số ưu điểm sau: đề cập đến các vụ việc đã xảy ra trong thực tế mà không phải là những giả thuyết có tính lý luận về những tình huống có thể xảy ra trong tương lai, vì vậy, nó thường phong phú và đa dạng hơn pháp luật thành văn; góp phần bổ sung cho những thiếu sót, những lỗ hổng của pháp luật thành văn và khắc phục được tình trạng thiếu pháp luật; tạo điều kiện cho việc áp dụng pháp luật được dễ dàng, thuân lợi hơn. Tuy nhiên, ở Việt Nam hiện nay, án lệ vẫn chưa được thừa nhận một cách chính thức; song, nếu theo tinh thần của Nghị quyết số 48 thì trong tương lai gần, án lệ có thể được coi là một trong các nguồn hình thức của pháp luật nước ta. Vấn đề cần phải nghiên cứu ở nước ta hiện nay là những bản án loại nào và của toà nào có thể trở thành án lệ? Chủ thể, nguyên tắc, trình tự, thủ tục thừa nhận nó ra sao? Nếu một bản án được thừa nhận là án lệ thì phần nào trong bản án sẽ bị bắt buộc phải tuân theo hoặc phải tôn trọng? Đây là những câu hỏi mà các nhà chuyên môn, các nhà hoạt động thực tiễn phải trả lời. Theo chúng tôi, đó nên là các bản án của Toà án nhân dân tối cao.

Quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp

Loại nguồn dự kiến này mới chỉ được đề cập đến trong Nghị quyết số 48 nói trên mà dường như chưa có tiền lệ ở Việt Nam và cũng chưa được thừa nhận chính thức về mặt Nhà nước. Chỉ mới có quy định của các tổ chức chính trị – xã hội là đã được thừa nhận một cách gián tiếp trong một số văn bản. Ví dụ, Pháp lệnh Cán bộ, công chức năm 1998 (được sửa đổi, bổ sung năm 2003) đã thừa nhận một cách gián tiếp rằng quy định của các tổ chức chính trị – xã hội cũng có thể được thừa nhận là một trong các nguồn hình thức của pháp luật thông qua việc thừa nhận những người do bầu cử để đảm nhiệm chức vụ theo nhiệm kỳ trong các tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, Bí thư, Phó bí thư Đảng uỷ, người đứng đầu tổ chức chính trị – xã hội cấp xã… cũng là cán bộ, công chức. Theo đó, những cán bộ, công chức thuộc loại này nếu vi phạm kỷ luật của các tổ chức đó thì khi xử lý họ, quy định của các tổ chức đó cũng sẽ được viện dẫn và áp dụng.

Đối với các quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp thì vấn đề cần làm sáng tỏ cả về mặt lý luận và thực tiễn là quy tắc của các hiệp hội nghề nghiệp nào có thể được thừa nhận là một trong các loại nguồn của pháp luật? Đó là những quy tắc điều chỉnh những quan hệ xã hội nào, về những vấn đề gì? Nói chung, đây là vấn đề khá mới mẻ, cần phải được cân nhắc cẩn thận trước khi quyết định thừa nhận nó là một trong các loại nguồn của pháp luật nước ta.

Luật Chơi Cờ Tướng Hiện Hành Tại Việt Nam

Luật chơi cờ tướng hiện hành tại Việt Nam

Sau khi tìm hiểu về cờ tướng cơ bản: bàn cờ và quân cờ tướng, chúng ta cần nắm rõ luật chơi cờ

tướng để không bị sai luật trong mỗi bước di chuyễn quân cờ. Luật cờ tướng gồm 4 phần: 1- Luật cơ bản: cho biết mỗi nước đi cờ tướng cơ bản của quân cờ 2-Thuật ngữ: chuyên dùng trong cờ tướng 3- Luật cao cấp: giới hạn một số nước đi của quân cờ nhằm đảm bảo trận đấu công bằng 4- Luật xử hòa: hạn chế thời gian một ván cờ kéo dài không cần thiết. LUẬT CƠ BẢN Luật di chuyển các quân cờ như sau: 1. Tướng: Mỗi nước đi một ô, đi ngang hoặc dọc. Tướng luôn ở trong phạm vi cung.”Cung” gồm 4 hình vuông nhỏ được gạch đường chéo. 2. Sĩ: Đi chéo, mỗi nước một ô. Sĩ luôn ở trong “Cung” giống như Tướng. 3. Tượng: Đi chéo 2 ô mỗi nước, đi ngang hoặc dọc. Tượng không được phép qua sông sang bàn cờ của đối phương.Nước đi của Tượng không hợp lệ khi có quân cờ chặn giữa đường. 4. Xe: Đi ngang hoặc dọc khắp bàn cờ miễn không có quân khác cản trên đường đi. 5. Mã: Đi ngang 2 ô và đi dọc 1 ô ( hoặc đi dọc 2 ô và đi ngang 1 ô) cho mỗi nước đi.Nếu có quân khác nằm cạnh mã và cản đường ngang 2 hoặc cản đường dọc 2, thì mã không được đi đường đó. 6. Pháo: Đi ngang hoặc dọc giống như Xe. Điểm khác là khi Pháo muốn ăn quân của đối phương thì giữa Pháo và quân muốn ăn phải có quân cản ở giữa. 7. Tốt: Đi mỗi nước một ô. Nếu Tốt chưa qua sông thì chỉ được đi thẳng tiến. Khi đã vượt qua sông có thể đi ngang hoặc đi thẳng tiến, mỗi nước một ô. 8. Ăn quân: Khi quân di chuyển đến một vị trí đang đứng của quân đối phương, quân đối phương bị ăn và bị lấy ra khỏi bàn cờ. 9. Chống tướng: 2 tướng trên bàn không được nằm trên cùng một cột dọc mà không có quân cản ở giữa.Nước đi để 2 quân tướng ở vị trí chống tướng là không hợp lệ. Kết thúc trận đấu:

– Chiếu bí: Nếu một bên chiếu (bắt Tướng) và đối phương không còn khả năng đỡ. Bên chiếu tướng thắng.

– Hết nước đi: Nếu một bến tới lượt đi nhưng không có nước hợp lệ để đi, bên đó sẽ bị thua.

– Khi một hoặc 2 bên vi phạm luật cao cấp.

THUẬT NGỮ : những từ được dùng trong cờ tướng

1. Chiếu Tướng: Bất kỳ nước đi nào làm cho Tướng của đối phương bị ăn ở nước tiếp theo.

2. Thí Quân: Một quân sẽ đi chuyển đến vị trí mà có thể bắt quân cùng loại của đối phương và sau đó quân đó cũng có thể bị bắt lại nếu đối phương muốn.

3. Đuổi Quân: Một quân di chuyển đến vị trí mà nó có thể bắt quân nào đó của đối phương (trừ Tướng) trong nước tiếp. Hoặc một nước đi làm cho Pháo chiếu quân đối phương.Loại trừ các ngoại lệ sau:

+ Khi nước đi của Tướng hoặc Tốt chiếu quân đối phương. Nước đi này không gọi là nước đuổi quân.

+ Nước đi hăm dọa Tốt chưa sang sông không được cho là nước đuổi quân.

+ Nước thí quân không được gọi là nước đuổi quân.

4. Quân được bảo vệ: Một quân bị đuổi được gọi là bảo vệ nếu quân đuổi của đối phương nếu ăn nó có thể bị ăn lại ngay trong nước tiếp. Ngoại trừ trường hợp là Xe không bao giờ được gọi là được bảo vệ khi nó bị đuổi bởi Pháo hay Mã của quân đối phương.

LUẬT CAO CẤP

Tất cả nước đi theo luật cơ bản là hợp lệ ngoại trừ các tình huống sau:

1. Chiếu dai: Chiếu liên tục đối phương bằng 1 hoặc nhiều quân của mình là không hợp lệ

2. Đuổi dai: Liên tục đuổi một quân của đối phương bằng một hoặc nhiều quân của mình là không hợp lệ.

+ Khi một bên vi phạm luật cao cấp và bên kia không vi phạm, bên vi phạm bị xử thua.

+ Khi cả hai cùng vi phạm luật cao cấp, ván cờ được xử hòa.

+ Khi một bên vi phạm luật chiếu dai, một bên vi phạm luật đuổi dai, bên chiếu dai bị xử thua.

Luật Cờ Tướng cho phép giới hạn một bên chiếu hoặc đuổi 6 nước liên tục với 1 quân, 12 nước liên tục với 2 quân và 18 nước liên tục với 3 quân. Nếu quá giới hạn sẽ áp dụng luật cao cấp.

LUẬT XỬ HÒA

Khi cả hai bên không có khả năng thắng, người chơi nên quyết định hòa ván chơi. Để tránh ván cờ kéo dài quá lâu, Luật cờ tướng đưa ra 3 trường hợp để xử hòa:

1. Effective Rule( Luật nước đi có hiệu lực): Khi tổng số nước đi bằng 120 nước (không tính những nước đuổi và chiếu, cũng như nước đối phó với nước đuổi và chiếu).

2. Progress Rule (Luật tiến triển): Khi tổng số nước đi kể từ lần cuối cùng ván cờ có tiến triển là 30. Ván cờ có tiến triển là khi có quân bị bắt hoặc khi Tốt đã sang sông và tiến lên một bước.

3. Moves Rule (Luật nước đi): Khi tổng số nước đi của ván cờ là 300.

Các Hạng Bằng Lái Xe Ô Tô Theo Luật Hiện Hành Tại Việt Nam

Hiện nay ở Việt Nam, ngoài 2 loại bằng lái rất quen thuộc được nhiều người biết đến là A1 và B2 thì còn có các hạng bằng lái xe ô tô khác như B1, C, D, E, F, FC, v.v…. mà thậm chí kể cả những người có nhu cầu học thi bằng lái ô tô cũng chưa hẳn đã nắm được hết thông tin của các hạng bằng lái xe ô tô này, cũng như là quy định độ tuổi được phép học thi và thời hạn sử dụng của các loại bằng là bao lâu. Do đó mời các bạn đón đọc tiếp phần sau đây để hiểu rõ hơn.

THAM KHẢO KHOÁ HỌC GẦN NHẤT: TỪ 18/11/2024 ĐẾN 18/02/2024 CỦA TRUNG TÂM TIẾN THÀNH

CÁC HẠNG BẰNG LÁI XE ÔTÔ TẠI VIỆT NAM HIỆN NAY

Theo quy định tại Điều 21 Thông tư số 07/2009/TT – BGTVT ngày 19-6-2009 quy định về đào tạo, sát hạch, cấp giấy phép lái xe cơ giới đường bộ thì giấy phép lái xe được phân ra những hạng sau đây:

Các loại bằng lái xe đang được sử dụng trong luật giao thông đường bộ Việt Nam gồm có bằng lái xe ô tô B, hạng C, hạng D, hạng E, hạng F, FB, FC, FD.

GPLX hạng B1 cấp cho người không hành nghề lái xe để điều khiển các loại xe sau đây: a) Ô tô chở người đến 9 chỗ ngồi, kể cả chỗ ngồi cho người lái xe. b) Ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg. c) Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg.

GPLX hạng B2 cấp cho người hành nghề lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế dưới 3500 kg. b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1.

GPLX hạng C cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô tải, kể cả ô tô tải chuyên dùng, ô tô chuyên dùng có trọng tải thiết kế từ 3500 kg trở lên. b) Máy kéo kéo một rơ moóc có trọng tải thiết kế từ 3500 kg trở lên. c) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2.

Hạng D cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây:

a) Ô tô chở người từ 10 đến 30 chỗ ngồi, kể cả chỗ ngồi cho người lái xe. b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2 và C

Hạng E cấp cho người lái xe để điều khiển các loại xe sau đây: a) Ô tô chở người trên 30 chỗ ngồi. b) Các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C và D.

Bằng lái xe ô tô hạng B1, B2, C, D và E

Người có giấy phép lái xe các hạng B1, B2, C, D và E khi điều khiển các loại xe tương ứng được kéo thêm một rơ moóc có trọng tải thiết kế không quá 750 kg.

GPLX hạng F cấp cho người đã có giấy phép lái xe các hạng B2, C, D và E để điều khiển các loại xe ô tô tương ứng kéo rơ moóc có trọng tải thiết kế lớn hơn 750 kg, sơ mi rơ moóc, ô tô khách nối toa, được quy định cụ thể như sau:

a) Hạng FB2 cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại bằng lái xe hạng B2 có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1 và hạng B2.

b) Hạng FC cấp cho người lái xe ôtô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng C có kéo rơ moóc, ô tô đầu kéo kéo sơ mi rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C và hạng FB2.

c) Hạng FD cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại bằng lái xe ô tô hạng D có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D và FB2.

d) Hạng FE cấp cho người lái xe ô tô để lái các loại xe quy định tại giấy phép lái xe hạng E có kéo rơ moóc và được điều khiển các loại xe: ô tô chở khách nối toa và các loại xe quy định cho giấy phép lái xe hạng B1, B2, C, D, E, FB2, FD

THỜI HẠN SỬ DỤNG CỦA CÁC HẠNG BẰNG LÁI XE ÔTÔ LÀ BAO LÂU?

Chắn chắn có rất nhiều người trong chúng ta không hề biết thởi hạn của 1 số giấy phép lái xe, bằng lái xe ô tô phổ biến nhất hiện nay, nhiều người tự hỏi?

Thông tư mới cũng sửa đổi tăng thời hạn của một loại giấy phép lái xe khác như: giấy phép lái xe hạng A4, B2 có thời hạn 10 năm (quy định hiện hành là 5 năm); giấy phép lái xe hạng C, D, E, FB2, FC, FD, FE có thời hạn 5 năm (quy định hiện hành là 3 năm).

Sau khi giấy phép lái xe hết hạn, những người đã về hưu nếu có nhu cầu lái xe vẫn được cơ quan cấp phép cấp có thời hạn 10 năm/lần, nếu người đó đáp ứng điều kiện có giấy chứng nhận sức khỏe đủ điều kiện lái ô tô như lâu nay.

Những người đang sử dụng trong thời hạn ba tháng trước khi giấy phép lái xe hết hạn, nếu có nhu cầu tiếp tục sử dụng giấy phép lái xe sẽ được xét đổi giấy phép lái xe mới có thời hạn sử dụng mới theo quy định tại thông tư 15.

THỦ TỤC ĐỔI BẰNG LÁI XE Ô TÔ HẾT HẠN NHƯ THẾ NÀO?

Đối với mỗi loại giấy phép lái xe khác nhau thì thủ tục đổi bằng lái xe cũng khác nhau. Hầu hết các trường hợp, bạn cần chuẩn bị hồ sơ gốc, bằng lái xe cũ. Ảnh 3×4 và CMND photo. Bản photo giấy phép lái xe muốn đổi

– Đơn đề nghị đổi GPLX (Theo mẫu quy định)

– Giấy chứng nhận sức khỏe do cơ sở y tế có thẩm quyền cấp theo quy định (mẫu quy định hiện hành của Bộ Y tế);

– Bản sao chụp GPLX;

– 02 ảnh màu cỡ 3×4 kiểu chứng minh thư, nền ảnh màu xanh;

– Chụp ảnh trực tiếp tại nơi tiếp nhận hồ sơ.

– Khi nộp hồ sơ thủ tục đề nghị đổi GPLX, phải xuất trình GPLX, giấy chứng minh nhân dân hoặc hộ chiếu để đối chiếu

các hạng bằng lái xe ô tô

các hạng bằng lái xe oto

đổi bằng lái xe ô tô cần những gì

bằng lái xe ô tô quá hạn

các loại giấy phép lái xe ô tô

Cac hang bang lai xe o to hien nay tai viet nam

Phan loai bang lai xe o to o viet nam

Bang lai xe o to co nhung hang nao

Các Hạng Bằng Lái Xe Ô Tô Theo Luật Hiện Hành Tại Việt Nam

Cập nhật thông tin chi tiết về Các Loại Thuế Hiện Hành Tại Việt Nam trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!