Xu Hướng 4/2023 # Cách Thức Đóng Dấu Trên Các Văn Bản Của Doanh Nghiệp # Top 12 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 4/2023 # Cách Thức Đóng Dấu Trên Các Văn Bản Của Doanh Nghiệp # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Cách Thức Đóng Dấu Trên Các Văn Bản Của Doanh Nghiệp được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Một đồ vật không thể thiếu đối với cơ quan, doanh nghiệp là con dấu. Mặc dù được sử dụng rất nhiều, đặc biệt với công ty hay đơn vị cơ quan lớn, nhưng không phải doanh nghiệp nào cũng hiểu được cách quản lí va sử dụng con dấu hay phương pháp đóng dấu văn bản sao cho đúng và chính xác nhất.

Con dấu là gì?

Con dấu là phương tiện đặc biệt do cơ quan nhà nước có thẩm quyền đăng ký, quản lý, được sử dụng để đóng trên văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức, chức danh nhà nước.

Con dấu thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản của cơ quan, tổ chức. Việc đóng dấu vào các loại văn bản giấy tờ phải theo đúng quy định của pháp luật.

Sử dụng con dấu trong những văn bản của doanh nghiệp

Trong một doanh nghiệp có rất nhiều các con dấu như dấu pháp nhân hay còn gọi là dấu tròn doanh nghiệp, dấu chức danh, dấu ngày tháng năm, … Nhưng bài viết này chỉ hướng dẫn sử dụng con dấu tròn doanh nghiệp, đây là con dấu xác nhận giá trị pháp lý của văn bản. Còn các con dấu khác như dấu chức danh thì có thể đóng dấu hoặc viết tay, hoặc đánh máy in sẵn trên văn bản.

Đối với việc đóng dấu vào các văn bản, giấy tờ cần phải tuân thủ theo quy định của pháp luật cũng như tuân thủ theo quy định tại các văn bản pháp luật chuyên ngành.

Các hình thức đóng dấu trong doanh nghiệp

Trong doanh nghiệp có 4 cách đóng dấu ( hình thức đóng dấu) mỗi hình thức có cách sử dụng khác nhau:

*Đóng dấu tròn của cơ quan, tổ chức:

Dấu đóng bên trái chữ ký, đóng dấu lên 1/3 chữ ký

*Đóng dấu treo:

Đóng dấu lên các tài liệu, văn bản nội bộ của đơn vị, vị trí đóng ở góc trên cùng, bên trái, đóng lên dòng ghi tên cơ quan, đơn vị (Bạn là kế toán bạn có thể gặp trường hợp này khi xuất hóa đơn mà người ký hóa đơn là người được thủ trưởng đơn vị ủy quyền cho ký hóa đơn).

*Đóng dấu trên chữ ký trong văn bản

Đóng dấu trên chữ ký của văn bản nhằm khẳng định giá trị pháp lý của văn bản. Dấu đóng trên chữ ký sẽ ở phần xác nhận nội dung của văn bản, đóng dấu lên chữ ký của người đại diện theo pháp luật, hoặc người đại diện theo ủy quyền trong phạm vi ban hành văn bản đó. Dấu  đóng trên chữ ký sẽ trùm lên 1/3 chữ ký của người có thẩm quyền và lệch về phía bên trái của chữ ký.

*Đóng dấu giáp lai:

Đóng dấu giáp lai là việc dùng con dấu của doanh nghiệp đóng lên văn bản gồm nhiều tờ vào lề bên trái hoặc bên phải để trên tất cả các tờ giấy của một văn bản đều có dấu, để đảm bảo tính chính xác của từng tờ trong văn bản, tránh trường hợp cố tình làm thay đổi nội dung của văn bản nhằm làm giả mạo văn bản.

Thông thường khi các doanh nghiệp giao kết hợp đồng mà hợp đồng bao gồm nhiều trang, ngoài chữ ký và đóng dấu trên chữ ký của các bên trong phần cuối cùng của hợp đồng thì cần đóng dấu giáp lai của các bên ký kết hợp đồng. Đối với hợp đồng có nhiều trang mà một lần không thể đóng dấu giáp lai hết thì có thể chia ra, đóng dấu giáp lai trên các trang liên tiếp cho đến khi đã đóng dấu giáp lai lên hết các trang của hợp đồng đó và phải đảm bảo rằng khi ráp các trang lại với nhau thì dấu giáp lai phải khớp với con dấu của doanh nghiệp. Cụ thể việc đóng dấu giáp lai áp dụng như sau:

Áp dụng dấu giáp lai với các văn bản có từ 02 trang trở lên đối với bản in 01 mặt hoặc từ 03 trang trở lên đối với bản in 02 mặt.

Dấu giáp lai sẽ được đóng vào phần giữa mép phải hoặc mép trái của văn bản, trùm lên một phần của tất cả các tờ giấy trong văn bản.

Mỗi lần đóng dấu tối đa không quá 05 trang in 01 mặt, 09 trang in 02 mặt  của văn bản.

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN BRAVOLAW

Đ/C: P.3013, Tòa nhà RIVESIDE GARDEN, 349 Vũ Tông Phan, Phường Khương Đình, Quận Thanh Xuân, TP Hà Nội

Hotline: 19006296

Mọi chi tiết về CÁCH THỨC ĐÓNG DẤU TRÊN CÁC VĂN BẢN CỦA DOANH NGHIỆP xin vui lòng liên hệ :

CÔNG TY CỔ PHẦN TƯ VẤN BRAVOLAW

Địa chỉ : 349 Vũ Tông Phan, phường Khương Đình, quận Thanh Xuân, thành phố Hà Nội, Việt Nam.

Hotline : 1900 6296

Email : ceo@bravolaw.vn

Nhân Bản, Đóng Dấu Cơ Quan Và Dấu Mức Độ Khẩn, Mật Của Văn Bản Đi

Nhân bản, đóng dấu cơ quan và dấu mức độ khẩn, mật của văn bản đi được quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập Thư Ký Luật, tôi là Thuỳ Giang là một nhân viên của phòng Hành chính nhân sự của một công ty tại tỉnh Tiền Giang, tôi có thắc mắc muốn nhờ Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp giúp như sau: Nhân bản, đóng dấu cơ quan và dấu mức độ khẩn, mật của văn bản đi quy định như thế nào? Tôi có thể tìm hiểu vấn đề này tại văn bản pháp luật nào? Mong sớm nhận được phản hồi từ Ban biên tập, chân thành cảm ơn!

Nhân bản, đóng dấu cơ quan và dấu mức độ khẩn, mật của văn bản đi được quy định tại Điều 10 Thông tư 07/2012/TT-BNV hướng dẫn quản lý văn bản, lập hồ sơ và nộp lưu hồ sơ, tài liệu vào Lưu trữ cơ quan do Bộ trưởng Bộ Nội vụ ban hành như sau:

1. Nhân bản

Văn bản đi được nhân bản theo đúng số lượng được xác định ở phần Nơi nhận của văn bản và đúng thời gian quy định.

Việc nhân bản văn bản mật đi được thực hiện theo quy định tại Khoản 1, Điều 8 Nghị định số 33/2002/NĐ-CP.

2. Đóng dấu cơ quan

a) Việc đóng dấu lên chữ ký và các phụ lục kèm theo văn bản chính phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu quy định. Khi đóng dấu lên chữ ký thì dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái.

b) Việc đóng dấu giáp lai, đóng dấu nổi trên văn bản, tài liệu chuyên ngành và phụ lục kèm theo được thực hiện theo quy định của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan quản lý ngành.

c) Dấu giáp lai được đóng vào khoảng giữa mép phải của văn bản hoặc phụ lục văn bản, trùm lên một phần các tờ giấy; mỗi dấu đóng tối đa 05 trang văn bản.

3. Đóng dấu chỉ các mức độ khẩn, mật

a) Việc đóng dấu chỉ các mức độ khẩn (“Hỏa tốc”, “Hỏa tốc hẹn giờ”, “Thượng khẩn” và “Khẩn”) trên văn bản được thực hiện theo quy định tại Điểm b, Khoản 2, Điều 15 Thông tư số 01/2011/TT-BNV.

b) Việc đóng dấu chi các mức độ mật (“Tuyệt mật”, “Tối mật” và “Mật”), dấu “Tài liệu thu hồi” trên văn bản được thực hiện theo quy định tại Khoản 2 Thông tư số 12/2002/TT-BCA(A11).

Trân trọng!

Cách Dùng Các Dấu Câu Trong Văn Bản Tiếng Trung

Cách dùng các dấu câu trong văn bản tiếng Trung

1. Các loại dấu ngắt câu (点号 Diǎn hào)

a. Dấu chấm (句号 Jùhào) – ký hiệu 。 – Cách dùng : dùng ở cuối câu trần thuật, biểu thị sự kết thúc câu. – Cách gõ: bấm phím dấu chấm ( ) trên bàn phím. VD: 北京是中华人民共和国的首都。 Běijīng shì zhōnghuá rénmín gònghéguó de shǒudū. (Bắc Kinh là thủ đô của nước Cộng hòa Nhân dân Trung Hoa.)

c. Dấu chấm than (叹号 Tànhào) – ký hiệu !

b. Dấu hỏi (问号 Wènhào) – ký hiệu ? – Cách dùng: dùng ở cuối câu nghi vấn. – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ( )

VD: 他叫什么名字?Tā jiào shénme míngzì? (Cậu ấy tên là gì?)

d. Dấu phẩy (逗号 Dòuhào) – ký hiệu ,

– Cách dùng: dùng ở cuối câu cảm thán – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ( )

VD: 我哪里比得上他呀! Wǒ nǎlǐ bǐ dé shàng tā ya! (Tôi sao mà so được với hắn!)

– Cách dùng: biểu thị sự ngắt nghỉ trong một câu hoặc phân tách giữa cách thành phần trong câu. – Cách gõ: bấm phím ()

VD: 他说,明天去旅行。 Tā shuō, míngtiān qù lǚxíng. (Anh ta nói rằng ngày mai sẽ đi du lịch.)

f. Dấu chấm phẩy (分号 Fēn hào) – ký hiệu ;

– Cách dùng: liệt kê và ngăn cách giữa các từ, cụm từ có chức năng hoặc quan hệ ngữ pháp ngang bằng nhau. – Cách gõ: bấm phím ( )

VD: 妈妈去市场买蔬菜、鸡蛋、牛肉 Māmā qù shìchǎng mǎi shūcài, jīdàn, niúròu (Mẹ đi chợ mua rau, trứng gà, thịt bò)

g. Dấu hai chấm (冒号 Màohào) – ký hiệu :

– Cách dùng: ngăn cách giữa các thành phần có mối quan hệ đẳng lập trong câu. – Cách gõ: bấm phím ( )

VD: 人不犯我,我不犯人;人若犯我,我必犯人。Rén bùfàn wǒ, wǒ bù fànrén; rén ruò fàn wǒ, wǒ bì fànrén. Người không đụng đến ta thì ta không đụng đến người

– Cách dùng: biểu thị ý liệt kê, hoặc dùng sau các động từ “说、想、是、证明、宣布、指出、透露、例如、如下” – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ()

a. Dấu móc (引号 Yǐnhào) – ký hiệu “”hoặc”

VD: 他十分惊讶地说:”啊,原来是你!” Tā shífēn jīngyà de shuō:”A, yuánlái shì nǐ!” (Anh ta rất ngạc nhiên nói rằng: Thì ra là cậu!)

2. Các dấu ký hiệu (标号 Biāohào)

– Cách dùng: * Trích dẫn, lời thoại * Biểu thị cách gọi được định sẵn * Nhấn mạnh một nội dung * Biểu thị ý mỉa mai

b. Dấu chấm lửng (省略号 Shěnglüèhào) – ký hiệu ……

– Cách gõ: bấm phím ( ) để ra ‘ ‘ hoặc tổ hợp phím SHIFT + ( ) để ra ” “

VD: 他站起来问:”老师,这件事怎么办呢?” Tā zhàn qǐlái wèn:”Lǎoshī, zhè jiàn shì zěnme bàn ne?” (Cậu ta đứng lên hỏi: Thầy ơi, việc này phải làm như thế nào ạ?)

c. Dấu gạch ngang (破折号) – ký hiệu ¬– (gạch kéo dài chiếm vị trí hai ô chữ)

– Cách dùng: biểu thị phần bị lược bớt, trong tiếng Trung thay vì dùng dấu ba chấm thì người ta dùng dấu sáu chấm. – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ()

VD: “我……对不起……大家,我……没有……完成……任务。” “Wǒ……duìbùqǐ……dàjiā, wǒ……méiyǒu……wánchéng……rènwù.”

d. Dấu tên sách (书名号 Pòzhéhào) – ký hiệu 《》

– Cách dùng: biểu thị phần được giải thích, sự chuyển ngoặt ý. – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ( )

VD: “今天好热啊!──你什么时候去上海?”张强对刚刚进门的小王说。

– Cách dùng: được sử dụng cho tiêu đề sách, tiêu đề bài viết, tên báo, … – Cách gõ: bấm tổ hợp phím SHIFT + ( ) và ( )

VD: 《红楼梦》的作者是曹雪芹。课文里有一篇鲁迅的《从百草园到三味书屋》。他的文章在《人民日报》上发表了。桌上放着一本《中国语文》。《〈中国工人〉发刊词》发表于1940年2月7日。 “Hónglóumèng” de zuòzhě shì cáoxuěqín. Kèwén li yǒuyī piān lǔxùn de “cóng bǎicǎo yuán dào sānwèi shūwū”. Tā de wénzhāng zài “rénmín rìbào” shàng fābiǎole. Zhuō shàng fàngzhe yī běn “zhōngguó yǔwén”.”〈Zhōngguó gōngrén〉 fākāncí” fābiǎo yú 1940 nián 2 yuè 7 rì.

Bàn Về Con Dấu Của Doanh Nghiệp Theo Luật Doanh Nghiệp 2014

Tác giả: Võ Trung Tín*, Kiều Anh Vũ**

Nguồn: Tạp chí Khoa học pháp lý Việt Nam số 02(96)/2016 – 2016, Trang 33-42

TÓM TẮT

ABSTRACT:

The 2014 Law on Enterprises has many new improvements compared with the 2005 Law on Enterprises, including a significant reform of regulations on the seal of enterprises. This article studies provisions on the seal of enterprises according to the 2014 Law on Enterprises and other relevant laws. Thereby, the authors offer several recommendations to improve the provisions of the current legislation related to the seal of enterprises.

Với những hạn chế đó, trong quá trình xây dựng và thông qua Luật Doanh nghiệp năm 2014 (LDN năm 2014), các nhà làm luật, chuyên gia đã có nhiều ý kiến góp ý nhằm “cởi trói” cho con dấu của doanh nghiệp. LDN năm 2014 đã có những thay đổi đáng kể đối với con dấu của doanh nghiệp nhằm tạo sự thuận lợi hơn, trao quyền nhiều hơn cho doanh nghiệp đối với việc khắc dấu và sử dụng, quản lý con dấu, Ttừ đó nhằm cải thiện môi trường kinh doanh. Tuy vậy, các doanh nghiệp được trao quyền đến đâu đối với con dấu, quyền của doanh nghiệp đối với con dấu theo quy định của LDN năm 2014 cụ thể ra sao, các quy định khác của pháp luật hiện hành đối với con dấu trong mối tương quan với quy định của LDN năm 2014 như thế nào (có tương thích, thống nhất, đồng bộ hay không) là những vấn đề cần phải nghiên cứu.

1. Con dấu doanh nghiệp theo quy định của Luật Doanh nghiệp 2014

Tuy con dấu đã được sử dụng từ rất lâu trong hoạt động doanh thương, nhưng con dấu của doanh nghiệp chỉ được ghi nhận chính thức trong Luật Doanh nghiệp năm 1999 (LDN năm 1999). Tuy vậy, LDN năm 1999 không quy định cụ thể về con dấu mà chỉ quy định chung doanh nghiệp có con dấu riêng theo quy định của Chính phủ (khoản 3 Điều 24). Đến khi Luật Doanh nghiệp năm 2005 (LDN năm 2005) ra đời thì con dấu doanh nghiệp mới được quy định cụ thể hơn tại Điều 36. Theo đó, doanh nghiệp có con dấu riêng, con dấu là tài sản của doanh nghiệp và mỗi doanh nghiệp chỉ được có một con dấu. Trong trường hợp cần thiết, được sự đồng ý của cơ quan cấp dấu, doanh nghiệp mới có thể có con dấu thứ hai. Con dấu của doanh nghiệp phải được lưu giữ và bảo quản tại trụ sở chính của doanh nghiệp, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp phải chịu trách nhiệm quản lý sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật.

LDN năm 2014 đã có sự thay đổi đáng kể đối với quy định về con dấu so với quy định trên của LDN năm 1999 và LDN năm 2005. Điều 44 LDN năm 2014 quy định:

“1. Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, số lượng và nội dung con dấu của doanh nghiệp. Nội dung con dấu phải thể hiện những thông tin sau đây:

a) Tên doanh nghiệp;

b) Mã số doanh nghiệp.

Trước khi sử dụng, doanh nghiệp có nghĩa vụ thông báo mẫu con dấu với cơ quan đăng ký kinh doanh để đăng tải công khai trên Cổng Thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp.

Việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu thực hiện theo quy định của Điều lệ công ty.

Con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật hoặc các bên giao dịch có thỏa thuận về việc sử dụng dấu.

Chính phủ quy định chi tiết Điều này”.

Với quy định này, các nhà làm luật đã trao quyền tự chủ rất lớn cho các doanh nghiệp đối với con dấu. Theo đó, doanh nghiệp được quyền tự quyết về hình thức, số lượng con dấu. Doanh nghiệp cũng được quyền tự quyết về nội dung con dấu với điều kiện nội dung con dấu phải có hai thông tin bắt buộc là tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp. Doanh nghiệp cũng được quyền tự quyết trong việc quản lý, sử dụng và lưu giữ con dấu theo quy định của Điều lệ. Như vậy, quyền của doanh nghiệp đối với con dấu đã được mở rộng rất nhiều so với quy định trước đây.

Sự thay đổi về quyền của doanh nghiệp đối với con dấu như nêu trên là phù hợp với xu hướng chung của thế giới, nhằm tạo ra một môi trường kinh doanh cởi mở, thông thoáng hơn. Theo Báo cáo Doing Business 2015của Ngân hàng Thế giới, hiện nay chỉ còn 75/189 quốc gia và vùng lãnh thổ quy định, yêu cầu về con dấu doanh nghiệp trong thủ tục thành lập doanh nghiệp. Trong đó, chủ yếu là các nước ở khu vực Đông, Nam và Trung Á, các nước có thu nhập thấp. Các nước Tây Âu và Bắc Mỹ hầu như không quy định con dấu doanh nghiệp như một thủ tục bắt buộc. Đa số các quốc gia trên thế giới không quy định doanh nghiệp bắt buộc phải có con dấu và sử dụng con dấu, đặc biệt là các nước thuộc hệ thống pháp luật thông luật (common law) như Anh, Mỹ, Úc…[2] Các nước thuộc hệ thống pháp luật dân luật (civil law) cũng trao quyền cho doanh nghiệp đối với con dấu ở những mức độ khác nhau.[3] . Trong khi đó, các nước thuộc hệ thống pháp luật xã hội chủ nghĩa như Việt Nam, Lào, Trung Quốc, Bắc Triều Tiên đều quy định các doanh nghiệp khi thành lập phải làm và đăng ký dấu. Ở các nước thuộc hệ thống pháp luật Hồi giáo như Ả-rập Xê-út, Iran, Nigeria… thì doanh nghiệp không không bắt buộc sử dụng con dấu nhưng có những nước như Oman, Qatar thì con dấu công ty lại là yêu cầu bắt buộc.[4] Ngoài ra, trên thế giới, chỉ rất ít quốc gia còn quy định doanh nghiệp bắt buộc sử dụng con dấu như: Bahamas,[5] Barbados,[6] Bhutan,[7] Ireland,[8] Lào,[9] Maldives,[10] Myanmar.[11] Gần đây, nhiều quốc gia cũng đã tiến hành cải cách, sửa đổi các quy định của Luật Công ty theo hướng không bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu như: Nga vừa ban hành luật sửa đổi từ tháng 4/2015, Myanmar đang xây dựng dự thảo luật sửa đổi (2015). Một số quốc gia khác như Armania quy định không bắt buộc sử dụng con dấu từ năm 2010, Hy Lạp từ năm 2013, Hồng Kông từ tháng 3/2014.[12] Như vậy, xu hướng chung của thế giới là doanh nghiệp được quyền tùy chọn đối với con dấu, pháp luật không bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu. Quy định về quyền của doanh nghiệp đối với con dấu theo LDN năm 2014 cũng đã tiệm cận xu hướng này khi cho phép doanh nghiệp được tự quyết định và tùy chọn nội dung, hình thức, số lượng, quản lý, lưu giữ, sử dụng con dấu.

Tuy quyền của doanh nghiệp đối với con dấu đã mở rộng so với LDN năm 2005 và tiếp thu xu thế chung của thế giới, nhưng nội tại quy định tại Điều 44 LDN năm 2014 vẫn còn những điểm chưa rõ ràng, có thể làm hạn chế mục tiêu của việc cải cách về con dấu của doanh nghiệp. Cụ thể, Điều 44 LDN năm 2014 chưa minh thị doanh nghiệp có bắt buộc phải có con dấu hay không, làm cho quá trình thực thi quy định về con dấu của doanh nghiệp còn nhiều trở ngại trong thời gian đầu thực hiện.

Hiện nay, Chính phủ đã ban hành ban hành Nghị định số 78/2015/NĐ-CP ngày 14/9/2015 về đăng ký doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 01/11/2015) và Nghị định số 96/2015/NĐ-CP ngày 19/10/2015 quy định chi tiết một số Điều của Luật Doanh nghiệp (có hiệu lực từ ngày 08/12/2015). Theo đó, các nghị định này cũng không quy định rõ các doanh nghiệp có bắt buộc phải có con dấu hay không mà chỉ quy định giống như quy định tại khoản 1 Điều 44 LDN năm 2014. Điều 34 của Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định:”Doanh nghiệp có quyền quyết định về hình thức, nội dung và số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện. Doanh nghiệp có thể có nhiều con dấu với hình thức và nội dung như nhau”. Khoản 1 Điều 12 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP cũng quy định: “Chủ doanh nghiệp tư nhân đối với doanh nghiệp tư nhân, Hội đồng thành viên đối với công ty hợp doanh, Hội đồng thành viên hoặc Chủ tịch công ty đối với công ty trách nhiệm hữu hạn, Hội đồng quản trị đối với công ty cổ phần quyết định số lượng, hình thức, nội dung và mẫu con dấu, việc quản lý và sử dụng con dấu, trừ trường hợp Điều lệ công ty có quy định khác”.

Chúng tôi cho rằng quyền của doanh nghiệp được tự quyết về số lượng con dấu không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp được quyền không có con dấu. Ngay quy định tại khoản 4 Điều 44 LDN năm 2014 nêu trên cũng đã bao hàm nội dung doanh nghiệp phải có con dấu (để đóng dấu theo các quy định khác của pháp luật). Khoản 9 Điều 97 LDN năm 2014 cũng quy định: “Hội đồng thành viên sử dụng bộ máy điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện nhiệm vụ của mình”. Khoản 4 Điều 98 Luật này cũng quy định: “Chủ tịch công ty sử dụng bộ máy quản lý, điều hành, bộ phận giúp việc (nếu có) và con dấu của công ty để thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình”. Những quy định này không quy định con dấu là một sự tùy chọn (nếu có) mà như là một quy định bắt buộc. Như vậy, chúng tôi cho rằng doanh nghiệp vẫn phải có con dấu nhưng được tự quyết về số lượng (một hoặc nhiều) chứ không phải được quyền không có con dấu.

Về quyền tự quyết của doanh nghiệp đối với nội dung, hình thức của con dấu, tuy doanh nghiệp được quyền chủ động quyết định nhưng vẫn có những giới hạn nhất định. Trước hết, nội dung của con dấu phải có hai thông tin bắt buộc là tên doanh nghiệp và mã số doanh nghiệp. Ngoài ra, hình thức, nội dung con dấu nói chung không được trái pháp luật, vi phạm đạo đức, thuần phong, mỹ tục. Cụ thể, theo khoản 1 Điều 14 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, doanh nghiệp không được sử dụng những hình ảnh, từ ngữ, ký hiệu sau đây trong nội dung hoặc làm hình thức mẫu con dấu: Quốc kỳ, Quốc huy, Đảng kỳ nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; từ ngữ, ký hiệu và hình ảnh vi phạm truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức và thuần phong, mỹ tục của dân tộc Việt Nam.

Như vậy, theo quy định của LDN năm 2014 và một số hướng dẫn hiện hành như đã nêu trên, quyền của doanh nghiệp đối với con dấu theo quy định mới đã được tự do, thông thoáng hơn nhiều so với các quy định trước đây.

2. Các quy định khác của pháp luật về quản lý và sử dụng con dấu doanh nghiệp

Quyền của doanh nghiệp đối với con dấu theo quy định mới của LDN năm 2014 bước đầu cũng đã phát huy được hiệu quả. Nhiều doanh nghiệp đã thông báo sử dụng, thay đổi mẫu dấu theo quy định mới, nhất là đối với các doanh nghiệp được thành lập mới theo LDN năm 2014. Tuy vậy, những quy định mới của LDN năm 2014 về con dấu và một số quy định tại các nghị định hướng dẫn luật này vẫn còn những hạn chế nội tại. Bên cạnh đó, hệ thống văn bản pháp luật quy định về con dấu của doanh nghiệp vẫn còn chồng chéo, chưa được sửa đổi, bổ sung đồng bộ với quy định của LDN năm 2014.

Trước hết, thủ tục thông báo sử dụng, thay đổi, hủy mẫu con dấu vẫn còn phức tạp, tốn nhiều thời gian của doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 34 Nghị định số 78/2015/NĐ-CP quy định: “Trước khi sử dụng, thay đổi, hủy mẫu con dấu, thay đổi số lượng con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, doanh nghiệp gửi thông báo đến Phòng Đăng ký kinh doanh nơi doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện đặt trụ sở để đăng tải thông báo về mẫu con dấu trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”. Khoản 3 Điều này cũng quy định: “Khi nhận thông báo mẫu con dấu của doanh nghiệp, chi nhánh, văn phòng đại diện, Phòng Đăng ký kinh doanh trao Giấy biên nhận cho doanh nghiệp, thực hiện đăng tải mẫu con dấu trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp”. Thực tế tại Sở Kế hoạch và Đầu tư Tp. Hồ Chí Minh cho thấy doanh nghiệp phải mất khoảng 3 – 4 ngày cho thủ tục này, 01 ngày doanh nghiệp nộp Thông báo sử dụng mẫu con dấu, 03 ngày sau mới đến nhận kết quả về việc đã đăng tải mẫu dấu lên Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp.

Thủ tục thông báo sử dụng mẫu dấu mới (thay đổi mẫu dấu) của các doanh nghiệp được thành lập trước ngày 01/7/2015 lại càng phức tạp hơn. Theo khoản 2, khoản 3 Điều 15 Nghị định số 96/2015/NĐ-CP, trường hợp doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01/7/2015 muốn làm con dấu mới thì phải nộp lại con dấu cũ và Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu đã được cấp cho cơ quan công an nơi đã cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu và phải được cơ quan công an cấp giấy biên nhận đã nhận lại con dấu. Như vậy, đối với các doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01/7/2015, muốn đổi dấu mới thì phải tiến hành hai thủ tục hành chính, vừa tại cơ quan công an, vừa thông báo mẫu dấu mới tại cơ quan đăng ký kinh doanh.

Đối với các doanh nghiệp đã đăng ký theo Luật Đầu tư trước ngày 01/7/2015, Giấy chứng nhận đầu tư đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (khoản 1 Điều 50 Luật Đầu tư năm 2005), con dấu được khắc theo Giấy chứng nhận đầu tư nên cũng có sự khác biệt đối với con dấu của doanh nghiệp đăng ký theo Luật Doanh nghiệp.[14] Hiện nay, theo LDN năm 2014 và Luật Đầu tư năm 2014, Giấy chứng nhận đầu tư không còn đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh (Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp), nhà đầu tư phải đăng ký dự án đầu tư để được cấp Giấy chứng nhận đầu tư theo Luật Đầu tư và phải đăng ký kinh doanh để được cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp. Con dấu của doanh nghiệp sẽ được khắc và thông báo sử dụng theo Luật Doanh nghiệp. Như vậy, đối với các doanh nghiệp này, muốn khắc dấu, thông báo sử dụng mẫu dấu thì phải tiến hành thủ tục tách nội dung đăng ký kinh doanh để đăng ký theo thủ tục mới rồi mới có thể làm con dấu. Các doanh nghiệp này vẫn phải tiến hành thủ tục trả dấu, trả Giấy chứng nhận mẫu dấu tại cơ quan công an rồi mới thực hiện thủ tục thông báo sử dụng mẫu dấu tại cơ quan đăng ký kinh doanh như quy định tại Nghị định số 96/2015/NĐ-CP. Như vậy, các thủ tục hành chính đối với con dấu của doanh nghiệp thành lập trước ngày 01/7/2015 vẫn còn rườm rà, phức tạp.

Về quản lý và sử dụng con dấu trong công tác văn thư, khoản 2 Điều 25 Nghị định số 110/2004/NĐ-CP ngày 08/04/2004 của Chính phủ về công tác văn thư (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định số 09/2010/NĐ-CP ngày 08/2/2010) quy định rằng con dấu phải được giao cho nhân viên văn thư giữ và đóng dấu tại cơ quan, tổ chức. Nhân viên văn thư có trách nhiệm không giao con dấu cho người khác khi chưa được phép bằng văn bản của người có thẩm quyền; phải tự tay đóng dấu vào các văn bản, giấy tờ của cơ quan, tổ chức; chỉ được đóng dấu vào những văn bản, giấy tờ sau khi đã có chữ ký của người có thẩm quyền; không được đóng dấu khống chỉ. Điều 26 Nghị định này cũng quy định chi tiết về cách thức đóng dấu vào văn bản như: Dấu đóng phải rõ ràng, ngay ngắn, đúng chiều và dùng đúng mực dấu quy định. Khi đóng dấu lên chữ ký thì dấu đóng phải trùm lên khoảng 1/3 chữ ký về phía bên trái, việc đóng dấu lên các phụ lục kèm theo văn bản chính do người ký văn bản quyết định và dấu được đóng lên trang đầu, trùm lên một phần tên cơ quan, tổ chức hoặc tên của phụ lục.

Theo Điều 19Luật Kế toán năm 2003, chứng từ kế toán khi lập để giao dịch với tổ chức, cá nhân bên ngoài đơn vị kế toán thì liên gửi cho bên ngoài phải có dấu của đơn vị kế toán, nghĩa là phải có dấu của doanh nghiệp. Khoản 2 Điều 25 Luật Kế toán cũng quy định về sổ kế toán như sau: “Sổ kế toán phải ghi rõ tên đơn vị kế toán; tên sổ; ngày, tháng, năm lập sổ; ngày, tháng, năm khóa sổ; chữ ký của người lập sổ, kế toán trưởng và người đại diện theo pháp luật của đơn vị kế toán; số trang; đóng dấu giáp lai”. Điều 124 Thông tư số 200/2014/TT-BTC ngày 22/12/2014 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn hướng dẫn Chế độ kế toán Doanh nghiệp cũng quy định sổ kế toán dạng quyển phải “đánh số trang từ trang đầu đến trang cuối, giữa hai trang sổ phải đóng dấu giáp lai của đơn vị kế toán”, đối với sổ tờ rời thì “các tờ rời trước khi dùng phải được giám đốc doanh nghiệp hoặc người được ủy quyền ký xác nhận, đóng dấu và ghi vào sổ đăng ký sử dụng sổ tờ rời”.

Trong lĩnh vực thuế, theo mẫu Tờ khai đăng ký thuế được ban hành theo Thông tư số 80/2012/TT-BTC ngày 22/5/2012 của Bộ Tài chính về việc hướng dẫn Luật Quản lý thuế, doanh nghiệp phải đóng dấu vào mẫu Tờ khai này. Khoản 2 Điều 5 Thông tư số 156/2013/TT-BTC hướng dẫn một số điều của Luật Quản lý thuế cũng quy định: “Văn bản giao dịch với cơ quan thuế phải ký, ban hành đúng thẩm quyền; thể thức văn bản, chữ ký, con dấu trên văn bản phải thực hiện theo quy định của pháp luật về công tác văn thư”. Khoản 4 Điều này cũng quy định đối với văn bản là tiếng nước ngoài thì phải được dịch ra tiếng Việt và doanh nghiệp (người nộp thuế) phải “ký tên, đóng dấu trên bản dịch”.

Đối với nội dung của hóa đơn, theo mẫu hóa đơn giá trị gia tăng, hóa đơn bán hàng được ban hành kèm theo Thông tư số 39/2014/TT-BTC ngày 31/3/2014 của Bộ Tài chính hướng dẫn thi hành Nghị định số 51/2010/NĐ-CP thì tiêu thức “người bán hàng (ký, đóng dấu, ghi rõ họ tên)”là một trong những tiêu thức bắt buộc thể hiện trên hóa đơn. Điểm d khoản 2 Điều 16 Thông tư này cũng hướng dẫn như sau: “Trường hợp thủ trưởng đơn vị không ký vào tiêu thức người bán hàng thì phải có giấy ủy quyền của thủ trưởng đơn vị cho người trực tiếp bán ký, ghi rõ họ tên trên hóa đơn và đóng dấu của tổ chức vào phía trên bên trái của tờ hóa đơn”.Như vậy, hóa đơn phải được đóng dấu vào phần chữ ký của “thủ trưởng đơn vị” bên bán hoặc đóng “dấu treo” nếu ký theo ủy quyền.[16]

Trong lĩnh vực hải quan, điểm c khoản 4 Điều 25 Nghị định số 08/2015/NĐ-CP quy định chi tiết và biện pháp thi hành Luật Hải quan về thủ tục hải quan, kiểm tra, giám sát, kiểm soát hải quan quy định: “Đối với khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, người khai hải quan khai đầy đủ các tiêu chí trên tờ khai hải quan, ký tên, đóng dấu (trừ trường hợp người khai hải quan là cá nhân) trên tờ khai để nộp cho cơ quan hải quan”. Khoản 3 Điều 3 Thông tư số 38/2015/TT-BTC ngày 25/3/2015 của Bộ Tài chính quy định về thủ tục hải quan; kiểm tra, giám sát hải quan; thuế xuất khẩu, thuế nhập khẩu và quản lý thuế đối với hàng hoá xuất khẩu, nhập khẩu cũng quy định: “Trường hợp khai hải quan trên tờ khai hải quan giấy, hồ sơ hải quan theo quy định là bản chụp thì người khai hải quan, người nộp thuế có thể nộp bản chính hoặc bản chụp. Trường hợp bản chụp hoặc các chứng từ do người nước ngoài phát hành bằng hình thức điện tử, fax, telex hoặc các chứng từ, tài liệu do người khai hải quan, người nộp thuế phát hành thì người khai hải quan, người nộp thuế phải xác nhận, ký tên, đóng dấu và chịu trách nhiệm trước pháp luật về tính chính xác, trung thực và hợp pháp của các chứng từ đó. Trường hợp bản chụp có nhiều trang thì người khai hải quan, người nộp thuế xác nhận, ký tên, đóng dấu lên trang đầu và đóng dấu giáp lai toàn bộ văn bản”.

Trong việc giao kết hợp đồng, nhiều trường hợp doanh nghiệp vẫn phải có con dấu, đóng dấu. Chẳng hạn đối với hợp đồng chuyển giao công nghệ, theo quy định tại Nghị định số 133/2008/NĐ-CP quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Chuyển giao công nghệ (đã được sửa đổi, bổ sung theo Nghị định 103/2011/NĐ-CP) thì “Hợp đồng phải được các bên ký kết, đóng dấu và có chữ ký tắt của các bên, đóng dấu giáp lai vào các trang của hợp đồng và phụ lục nếu một trong các bên tham gia hợp đồng là tổ chức”(điểm b khoản 1 Điều 7). Đối với hợp đồng xây dựng, theo quy định tại điểm c khoản 1 Điều 6 Nghị định số 37/2015/NĐ-CP ngày 22/4/2015 của Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng, “Trường hợp một bên tham gia hợp đồng là tổ chức thì bên đó phải ký tên, đóng dấu theo quy định của pháp luật”. Khoản 2 Điều 6 Nghị định này cũng xác định thời điểm đóng dấu là một trong những căn cứ xác định thời điểm có hiệu lực của hợp đồng:”Thời điểm có hiệu lực của hợp đồng xây dựng là thời điểm ký kết hợp đồng (đóng dấu nếu có) hoặc thời điểm cụ thể khác do các bên thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng và bên giao thầu đã nhận được bảo đảm thực hiện hợp đồng của bên nhận thầu (đối với hợp đồng có quy định về bảo đảm thực hiện hợp đồng)”. Đối với hợp đồng về nhà ở, theo Luật Nhà ở năm 2014 (có hiệu lực từ ngày 1/7/2015) thì hợp đồng về nhà ở phải có “Chữ ký và ghi rõ họ, tên của các bên, nếu là tổ chức thì phải đóng dấu (nếu có) và ghi rõ chức vụ của người ký”(khoản 11 Điều 121)…

Trong lĩnh vực tố tụng, khoản 2 Điều 105 Luật Tố tụng hành chính năm 2010 cũng quy định: “Người khởi kiện là cơ quan, tổ chức thì người đại diện theo pháp luật của cơ quan, tổ chức đó phải ký tên và đóng dấu vào phần cuối đơn”. Trong thực tế, nếu đơn khởi kiện của doanh nghiệp không có đóng dấu, Tòa án có thể không nhận đơn hoặc nhận nhưng sẽ yêu cầu sửa đổi, bổ sung theo đúng quy định (có đóng dấu).

Như vậy, trong khi LDN năm 2014 đã cho doanh nghiệp quyền tự quyết định đối với việc quản lý, sử dụng con dấu nhưng hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành lại có sự bắt buộc doanh nghiệp phải có con dấu và đóng dấu trong nhiều trường hợp. Điều đó cho thấy sự phức tạp đối với việc sử dụng con dấu theo quy định của pháp luật hiện hành. Sự phức tạp này sẽ gây không ít khó khăn cho các doanh nghiệp và quy định tại khoản 4 Điều 44 LDN năm 2014, con dấu được sử dụng trong các trường hợp theo quy định của pháp luật, chẳng khác nào là một sự “đánh đố” đối với các doanh nghiệp. Làm thế nào để các doanh nghiệp có thể biết rằng quy định pháp luật nào, trường hợp nào bắt buộc phải đóng dấu, quy định nào, trường hợp nào không bắt buộc đóng dấu là điều không đơn giản bởi hệ thống pháp luật Việt Nam thuộc loại “phức tạp nhất thế giới”.[17]

3. Kết luận và kiến nghị

Tuy vậy, quy định về con dấu của LDN năm 2014 và các nghị định hướng dẫn thi hành vẫn còn những hạn chế, thiếu sót. Bên cạnh đó, hệ thống pháp luật Việt Nam với những phức tạp vốn có, cùng với sự chậm cập nhật, sửa đổi đã dẫn đến sự bất cập, thiếu thống nhất trong các quy định điều chỉnh đối với con dấu doanh nghiệp. Trong khi LDN năm 2014 đã “mở” đối với con dấu doanh nghiệp thì các văn bản quy phạm pháp luật khác vẫn “buộc” doanh nghiệp với con dấu. Do vậy, chúng tôi có một số kiến nghị sau đây:

– Kiến nghị chung:Cần tiến tới cải cách triệt để về con dấu doanh nghiệp

Như trên đã phân tích, LDN năm 2014 không minh thị doanh nghiệp có bắt buộc có con dấu hay không nhưng những quy định không rõ ràng của LDN năm 2014 và hàng loạt các văn bản quy phạm pháp luật hiện hành vẫn bắt buộc doanh nghiệp phải đóng dấu trong nhiều trường hợp đã dẫn đến cách hiểu doanh nghiệp vẫn phải cần có con dấu, bắt buộc phải có con dấu. Điều này làm cho cải cách về con dấu doanh nghiệp tại LDN năm 2014 chỉ mang tính “nửa vời” và vô tình tạo ra sự phức tạp không cần thiết trong việc quản lý và sử dụng con dấu. Do vậy, chúng tôi cho rằng trong thời gian tới, nhà làm luật cần xây dựng lộ trình phù hợp để tiến tới cải cách triệt để về con dấu doanh nghiệp. Trước hết là “cải cách tư duy quản lý” của các cơ quan, cán bộ công quyền để thống nhất không yêu cầu doanh nghiệp bắt buộc phải đóng dấu trong các văn bản, giấy tờ, biểu mẫu hành chính khi doanh nghiệp thực hiện các thủ tục hành chính, làm việc với các cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, cần quy định rõ có con dấu hay không sẽ là quyền tùy chọn của doanh nghiệp. Đồng thời, cần có quy định khẳng định rõ giá trị pháp lý của con dấu, theo hướng con dấu không phải là căn cứ thể hiện vị trí pháp lý và khẳng định giá trị pháp lý đối với các văn bản, giấy tờ của doanh nghiệp hay nói cách khác đóng dấu hay không đóng dấu không làm ảnh hưởng đến hiệu lực pháp lý của các văn bản, giấy tờ của doanh nghiệp. Khi đó, con dấu chỉ có giá trị “tượng trưng”, giá trị “biểu tượng” như logo của doanh nghiệp, là dấu hiệu nhận biết về mặt hình thức văn bản của doanh nghiệp này so với doanh nghiệp khác. Cải cách triệt để về con dấu của doanh nghiệp như vậy cũng phù hợp với xu thế chung của thế giới.

– Một số kiến nghị cụ thể: Cần sửa đổi, bổ sung một số văn bản quy phạm pháp luật có điều chỉnh về con dấu doanh nghiệp theo hướng phù hợp với quy định của LDN năm 2014 về con dấu cũng như tinh thần cải cách của LDN năm 2014, tạo sự thông thoáng, thuận lợi hơn đối với doanh nghiệp

+ Đối với quy định về quản lý con dấu tại Nghị định Hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp: cần quy định thủ tục thông báo thay đổi mẫu dấu, mẫu dấu mới của doanh nghiệp đã có con dấu trước ngày 01/7/2015 theo hướng đơn giản hơn, không cần phải quy định thủ tục trả dấu, nhận biên nhận thu hồi dấu tại cơ quan công an. Cần chấm dứt hẳn sự quản lý của cơ quan công an đối với con dấu mà thống nhất quy về thủ tục thông báo tại cơ quan đăng ký kinh doanh. Chẳng hạn, có thể quy định:

“1. Các doanh nghiệp đã thành lập trước ngày 01 tháng 7 năm 2015 tiếp tục được sử dụng con dấu đã cấp cho doanh nghiệp mà không phải thực hiện thông báo mẫu dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh. Trường hợp doanh nghiệp làm thêm số lượng con dấu, thay đổi màu mực dấu; thay đổi mẫu dấu, làm con dấu mới thì thực hiện thủ tục thông báo mẫu dấu theo quy định về đăng ký doanh nghiệp.

2.Trường hợp doanh nghiệp đã được cấp thông báo về việc đăng tải thông tin về mẫu con dấu mới của doanh nghiệp do thay đổi mẫu dấu, làm con dấu mới trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp thì mẫu con dấu của doanh nghiệp trước đó không còn hiệu lực, kể cả mẫu dấu đã đăng ký và đã được cấp Giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu tại cơ quan Công an”.

CHÚ THÍCH

*NCS, Khoa Luật thương tại, Trường ĐH Luật Tp. Hồ Chí Minh.

** Luật gia, Văn phòng Luật sư Lê Nguyễn.

[1] .http://www.doingbusiness.org/data/exploreeconomies/vietnam/.

[2] Tại Vương quốc Anh, pháp luật bãi bỏ quy định doanh nghiệp bắt buộc phải có con dấu từ năm 1989 theo Luật Công ty năm 1989 (Companies Act1989). Theo Luật Công ty năm 2006 (Companies Act2006), công ty có thể có con dấu chứ không bắt buộc phải có. Khoản 1 Điều 17 Luật Công ty năm 2006 của Vương quốc Anh quy định: “Một công ty có thể có một con dấu chung, nhưng không bắt buộc” (A company may have a common seal, but need not have one).Tại Hoa Kỳ, con dấu công ty được quy định phụ thuộc vào pháp luật công ty của từng bang. Đa số luật công ty của các bang tại Hoa Kỳ dựa trên Luật mẫu về Công ty kinh doanh (Model Business Corporation Act) do Liên đoàn Luật sư Hoa Kỳ (American Bar Association) phát hành và các công ty không bắt buộc phải có con dấu. Các công ty tại Úc có thể có con dấu nhưng không bắt buộc, họ có thể thiết lập hợp đồng, thực thi các văn bản mà không cần con dấu.

[3] Theo Báo cáo sơ bộ về con dấu của doanh nghiệp của tác giả Nguyễn Hưng Quang tại Hội thảo “Con dấu doanh nghiệp và những thay đổi cần thiết” do Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương (CIEM) phối hợp với Công ty Tài chính quốc tế (IFC) tổ chức ngày 09/10/2014 tại Hà Nội thì Pháp, Đức, Brazin là những nước thuộc hệ thống pháp luật thành văn không sử dụng con dấu. Pháp luật Thái Lan không quy định một công ty buộc phải có dấu trừ trường hợp phát hành giấy chứng nhận cổ phần của công ty. Tuy nhiên, các công ty ở Thái Lan thường sử dụng con dấu để đóng vào các văn bản giao dịch của công ty. Campuchia, Nhật Bản quy định các doanh nghiệp phải đăng ký con dấu với cơ quan nhà nước khi thành lập công ty.

[4] Theo Nguyễn Hưng Quang, tlđd.

[5] Khoản 1 Điều 26 Luật Công ty Bahamas quy định mỗi công ty phải có con dấu chung với tên công ty được khắc trên đó bằng chữ dễ đọc (Every company shall have a common seal with its name engraved thereon in legible characters).

[6] Khoản 1 Điều 25 Luật Công ty Barbados quy định: Một công ty phải có một con dấu chung với tên công ty được khắc trên đó bằng chữ dễ đọc; trừ trường hợp pháp luật có yêu cầu khác về việc sử dụng con dấu chung, công ty có thể, để đóng dấu trên bất kỳ văn bản nào, dùng con dấu chung hoặc hình thức khác của con dấu (A company must have a common seal with its name engraved thereon in legible characters; but except when required by any enactment to use its common seal, the company may, for the purpose of sealing any document, use its common seal or any other form of seal).

[7] Theo Luật Công ty Bhutan, công ty cũng có con dấu chung với tên công ty được khắc trên đó. Ban Giám đốc Công ty quy định về việc lưu giữ con dấu. Con dấu bắt buộc phải đóng trên chứng nhận phần vốn góp (cổ phần).

[8] Theo khoản 1 Điều 43 Luật Công ty Ireland, một công ty phải có một con dấu chung hoặc nhiều con dấu ghi rõ tên công ty, được khắc bằng chữ đọc được (A company shall have a common seal or seals that shall state the company’s name, engraved in legible characters).

[9] Theo Điều 101 và Điều 184 Luật Doanh nghiệp của Lào, giấy chứng nhận phần vốn góp, chứng nhận cổ phần bắt buộc phải có dấu của công ty.

[10] Theo Điều 42 Luật Công ty Maldives, mỗi công ty bắt buộc phải có một con dấu được đăng ký và nếu luật yêu cầu hợp đồng được lập bằng văn bản thì hợp đồng của công ty phải lập bằng văn bản có đóng dấu của công ty (a) Every company shall have a registered seal; b) Any contract which is required by law to be in writing, if made by a company, shall be in writing under its seal).

[11] Theo Luật Công ty Myanmar hiện hành (có hiệu lực từ năm 1914) thì con dấu công ty được xem là yêu cầu bắt buộc. Tuy nhiên, hiện nay Myanmar cũng đã hoàn thiện Luật Công ty mới (2015) và quy định theo hướng công ty có thể có con dấu chứ không bắt buộc.

[12] Dẫn theo Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia, https://dangkykinhdoanh.gov.vn/NewsandUpdates/tabid/91/ArticleID/1113/V%E1%BA%A5n-%C4%91%E1%BB%81-v%E1%BB%81-qu%E1%BA%A3n-l%C3%BD-v%C3%A0-s%E1%BB%AD-d%E1%BB%A5ng-con-d%E1%BA%A5u-doanh-nghi%E1%BB%87p.aspx (truy cập 19 giờ ngày 13/12/2015).

[13] Khoản 1 Điều 12 Dự thảo lần thứ 5 Nghị định hướng dẫn chi tiết thi hành một số điều của Luật Doanh nghiệp.

[14] Theo Điều 10 Thông tư liên tịch số 21/2012/TT-BCA ngày 13/4/2012 của Bộ Công an về việc quy định con dấu của các cơ quan tổ chức, chức danh nhà nước, con dấu của doanh nghiệp đăng ký theo Luật Đầu tư phải có thông tin về số Giấy chứng nhận đầu tư (không phải mã số doanh nghiệp) và hình thức đầu tư của doanh nghiệp như: Doanh nghiệp 100% vốn nước ngoài (thể hiện trên con dấu là: Đ.T.N.NG), doanh nghiệp liên doanh nước ngoài (L.D.N.NG). Trong khi con dấu của doanh nghiệp thành lập theo Luật Doanh nghiệp thì thể hiện thông tin về mã số doanh nghiệp và loại hình doanh nghiệp.

[15] Văn bản này được ban hành kèm theo Công văn số 4211//BKHĐT-ĐKKD ngày 26/6/2015 của Bộ Kế hoạch và Đầu tư hướng dẫn áp dụng quy định về đăng ký doanh nghiệp. Hiện nay, Bộ Kế hoạch và Đầu tư cũng đang xây dựng Dự thảo Thông tư ban hành các biểu mẫu về đăng ký doanh nghiệp, hộ kinh doanh, Thông báo về việc đăng tải thông tin về mẫu con dấu của doanh nghiệp trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có thể sẽ được thay thế bằng văn bản Xác nhận về mẫu con dấu của doanh nghiệp theo Phu lục số V-16 ban hành kèm theo Dự thảo Thông tư.

[16] Chỉ có một số trường hợp không bắt buộc có tiêu thức “dấu của người bán” trên hóa đơn theo quy định tại khoản 3 Điều 4 Thông tư số 39/2014/TT-BTC (đã được sửa đổi, bổ sung theo Thông tư số 119/2014/TT-BTC) như: hóa đơn điện; hóa đơn nước; hóa đơn dịch vụ viễn thông; hóa đơn dịch vụ ngân hàng đáp ứng đủ điều kiện tự in; hóa đơn tự in của tổ chức kinh doanh siêu thị, trung tâm thương mại được thành lập theo quy định của pháp luật; tem, vé mệnh giá in sẵn; doanh nghiệp sử dụng hóa đơn với số lượng lớn, chấp hành tốt pháp luật thuế, căn cứ đặc điểm hoạt động kinh doanh, phương thức tổ chức bán hàng, cách thức lập hóa đơn của doanh nghiệp và trên cơ sở đề nghị của doanh nghiệp, Cục thuế xem xét và có văn bản hướng dẫn hóa đơn không nhất thiết phải có tiêu thức “dấu của người bán”.

[17] Lời của Bộ trưởng Bộ Tư pháp Hà Hùng Cường trong phiên trả lời chất vấn trước Quốc hội ngày 11/6/2014. Dẫn theo: http://vnexpress.net/tin-tuc/thoi-su/bo-truong-tu-phap-he-thong-luat-nuoc-ta-phuc-tap-nhat-the-gioi-3003081.html(truy cập 19 giờ ngày 10 tháng 12 năm 2015).

Cập nhật thông tin chi tiết về Cách Thức Đóng Dấu Trên Các Văn Bản Của Doanh Nghiệp trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!