Xu Hướng 2/2023 # Chính Phủ Bỏ Yêu Cầu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Từ 20/8, Thầy Cô Có Biết? # Top 9 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Chính Phủ Bỏ Yêu Cầu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Từ 20/8, Thầy Cô Có Biết? # Top 9 View

Bạn đang xem bài viết Chính Phủ Bỏ Yêu Cầu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Từ 20/8, Thầy Cô Có Biết? được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trước đây tại Nghị định số: 02/VBHN-BNV hợp nhất Nghị định 56 và Nghị định 88/NĐCP về đánh giá phân loại cán bộ, công chức, viên chức thì tiêu chuẩn cán bộ, công chức để đánh giá loại hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ đều phải “Có sáng kiến, giải pháp cụ thể được áp dụng, nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của các cơ quan, tổ chức hoặc của ngành, lĩnh vực được giao phụ trách và được cấp có thẩm quyền công nhận.” (sau đây gọi chung là sáng kiến kinh nghiệm).

Điều này cũng có rất nhiều ý kiến trái chiều, nhất là trong ngành giáo dục, việc biến tướng, sao chép sáng kiến kinh nghiệm không mang lại hiệu quả, nhiều sáng kiến sau khi chấm đạt giải không hề áp dụng nên khá bất cập, lãng phí.

Ngày 13/8/2020 Chính phủ đã ban hành Nghị định số: 90/2020/NĐ-CP về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức có hiệu lực thi hành kể từ ngày 20/8/2020.

Theo đó tiêu chuẩn về sáng kiến kinh nghiệm đã không còn trong đánh giá phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

Trong phạm vi bài viết, tác giả nêu ra các tiêu chuẩn xếp loại cán bộ, công chức, viên chức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ để thấy rõ việc đánh giá công chức, viên chức mới không còn yêu cầu về sáng kiến kinh nghiệm.

Đánh giá chung đánh giá chất lượng cán bộ, công chức, viên chức

Tại “Điều 3. Tiêu chí chung về đánh giá, xếp loại chất lượng cán bộ, công chức, viên chức”

1. Chính trị tư tưởng

a) Chấp hành chủ trương, đường lối, quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và các nguyên tắc tổ chức, kỷ luật của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ, tự phê bình và phê bình;

b) Có quan điểm, bản lĩnh chính trị vững vàng; kiên định lập trường; không dao động trước mọi khó khăn, thách thức;

c) Đặt lợi ích của Đảng, quốc gia – dân tộc, nhân dân, tập thể lên trên lợi ích cá nhân;

d) Có ý thức nghiên cứu, học tập, vận dụng chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, nghị quyết, chỉ thị, quyết định và các văn bản của Đảng.

2. Đạo đức, lối sống

a) Không tham ô, tham nhũng, tiêu cực, lãng phí, quan liêu, cơ hội, vụ lợi, hách dịch, cửa quyền; không có biểu hiện suy thoái về đạo đức, lối sống, tự diễn biến, tự chuyển hóa;

b) Có lối sống trung thực, khiêm tốn, chân thành, trong sáng, giản dị;

c) Có tinh thần đoàn kết, xây dựng cơ quan, tổ chức, đơn vị trong sạch, vững mạnh;

d) Không để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

3. Tác phong, lề lối làm việc

a) Có trách nhiệm với công việc; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, linh hoạt trong thực hiện nhiệm vụ;

b) Phương pháp làm việc khoa học, dân chủ, đúng nguyên tắc;

c) Có tinh thần trách nhiệm và phối hợp trong thực hiện nhiệm vụ;

d) Có thái độ đúng mực và phong cách ứng xử, lề lối làm việc chuẩn mực, đáp ứng yêu cầu của văn hóa công vụ.

4. Ý thức tổ chức kỷ luật

a) Chấp hành sự phân công của tổ chức;

b) Thực hiện các quy định, quy chế, nội quy của cơ quan, tổ chức, đơn vị nơi công tác;

c) Thực hiện việc kê khai và công khai tài sản, thu nhập theo quy định;

5. Kết quả thực hiện chức trách, nhiệm vụ được giao

a) Đối với cán bộ, công chức, viên chức lãnh đạo, quản lý:

Quán triệt, thể chế hóa và thực hiện chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Duy trì kỷ luật, kỷ cương trong cơ quan, tổ chức, đơn vị; không để xảy ra các vụ, việc vi phạm kỷ luật, vi phạm pháp luật phải xử lý, tình trạng khiếu nại, tố cáo kéo dài; phòng, chống tham nhũng, lãng phí trong phạm vi cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức kiểm tra, thanh tra, giám sát, giải quyết khiếu nại, tố cáo theo thẩm quyền; chỉ đạo, thực hiện công tác cải cách hành chính, cải cách chế độ công vụ, công chức tại cơ quan, tổ chức, đơn vị;

Xây dựng chương trình, kế hoạch hoạt động hàng năm của cơ quan, tổ chức, đơn vị được giao quản lý, phụ trách, trong đó xác định rõ kết quả thực hiện các chỉ tiêu, nhiệm vụ, lượng hóa bằng sản phẩm cụ thể.

b) Đối với công chức, viên chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý:

Kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao; khối lượng, tiến độ, chất lượng thực hiện nhiệm vụ;

Thái độ phục vụ nhân dân, doanh nghiệp đối với những vị trí tiếp xúc trực tiếp hoặc trực tiếp giải quyết công việc của người dân và doanh nghiệp.

Đánh giá xuất sắc đối với cán bộ

Tại “Điều 4. Tiêu chí xếp loại chất lượng cán bộ ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

Cán bộ đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

1. Thực hiện tốt các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều 3 Nghị định này.

2. Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao.

3. Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành vượt mức.

4. 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.”

Đánh giá xuất sắc đối với công chức

Tại “Điều 8. Tiêu chí xếp loại chất lượng công chức ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

1. Công chức không giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

a) Thực hiện tốt các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 3 Nghị định này;

b) Hoàn thành 100% nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả cao, trong đó ít nhất 50% nhiệm vụ hoàn thành vượt mức.

2. Công chức giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

a) Thực hiện tốt các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều 3 Nghị định này;

b) Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo quy định của pháp luật, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao;

c) Lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành các cơ quan, tổ chức, đơn vị hoặc ngành, lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành vượt mức;

d) 100% cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt hoặc hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.”

Đánh giá xuất sắc đối với viên chức

Tại “Điều 12. Tiêu chí xếp loại chất lượng viên chức ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ

1. Viên chức không giữ chức vụ quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

a) Thực hiện tốt các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3 và khoản 4 Điều 3 Nghị định này;

b) Hoàn thành 100% nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao bảo đảm đúng tiến độ, chất lượng, hiệu quả cao, trong đó ít nhất 50% nhiệm vụ hoàn thành vượt mức.

2. Viên chức quản lý đạt được tất cả các tiêu chí sau đây thì xếp loại chất lượng ở mức hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ:

a) Thực hiện tốt các quy định tại khoản 1, khoản 2, khoản 3, khoản 4 và điểm a khoản 5 Điều 3 Nghị định này;

b) Các tiêu chí về kết quả thực hiện nhiệm vụ theo hợp đồng làm việc đã ký kết, theo kế hoạch đề ra hoặc theo công việc cụ thể được giao đều hoàn thành đúng tiến độ, bảo đảm chất lượng, hiệu quả cao;

c) Đơn vị hoặc lĩnh vực công tác được giao phụ trách hoàn thành tất cả các chỉ tiêu, nhiệm vụ, trong đó ít nhất 50% chỉ tiêu, nhiệm vụ hoàn thành vượt mức;

d) 100% đơn vị thuộc thẩm quyền phụ trách, quản lý trực tiếp được đánh giá hoàn thành nhiệm vụ trở lên, trong đó ít nhất 70% hoàn thành tốt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ.”

Bên cạnh đó các tiêu chuẩn về đánh giá hoàn thành tốt nghiệm vụ, hoàn thành nhiệm vụ đối với cán bộ, công chức, viên chức cũng không có tiêu chuẩn sáng kiến kinh nghiệm.

Việc thực hiện sáng kiến hiệu quả nên được khen thưởng ở những hình thức khác như chiến sĩ thi đua cấp tỉnh, bộ, ngành trung ương.

Chính Thức Bỏ Tiêu Chí Thi Đua Sáng Kiến Kinh Nghiệm Cho Giáo Viên

– Quy định mới không phải có sáng kiến mới được xếp loại “hoàn thành nhiệm vụ” do Chính phủ vừa ban hành ngày 27/7 đã tạo hành lang pháp lý gỡ bỏ “vòng kim cô” sáng kiến kinh nghiệm cho giáo viên.

Nghị định 88/2017/NĐ-CP sửa đổi một số điều của Nghị định số 56/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 về đánh giá và phân loại cán bộ, công chức, viên chức.

Nghị định mới này đã sửa đổi, bổ sung thời gian, tiêu chí đánh giá nhân sự.

Theo đó, ở khoản 2 điều 5 thì thời điểm đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức được tiến hành trong tháng 12 hàng năm, trước khi thực hiện việc bình xét thi đua, khen thưởng hàng năm.

Ở các đơn vị sự nghiệp công lập hoạt động trong lĩnh vực giáo dục, đào tạo và một số lĩnh vực khác có thời điểm kết thúc năm công tác trước tháng 12 hàng năm, thời điểm đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, viên chức do người đứng đầu quyết định” (theo quy định hiện hành là trong tháng 12).

Đáng lưu ý nhất, Nghị định 88 đã bỏ tiêu chí “Có ít nhất 1 công trình khoa học, đề án, đề tài hoặc sáng kiến được áp dụng và mang lại hiệu quả trong việc thực hiện công tác chuyên môn, nghề nghiệp được cấp có thẩm quyền công nhận” khi phân loại đánh giá viên chức (không giữ chức vụ quản lý) ở mức hoàn thành tốt nhiệm vụ và phân loại đánh giá viên chức (không giữ chức vụ quản lý) ở mức hoàn thành nhiệm vụ.

Nghị định này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 15 tháng 9 năm 2017.

Thanh Hùng

Thầy giáo Tùng Sơn phân tích, về phấn đấu thi đua danh hiệu cao (Chiến sĩ thi đua), sáng kiến vẫn là điều kiện cần và đủ.

Theo Nghị định 88/2017, viên chức muốn được xếp loại mức Hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ vẫn phải có sáng kiến.

Và như vậy, thiếu sáng kiến thì sẽ không đạt viên chức xuất sắc, không đạt viên chức xuất sắc thì làm sao được công nhận danh hiệu Chiến sĩ thi đua.

Bởi vì, Luật Thi đua khen thưởng quy định Chiến sĩ thi đua phải có sáng kiến.

Nghị Luận Về Lòng Biết Ơn Thầy Cô Giáo

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo do Đọc Tài Liệu tổng hợp và biên soạn với mẫu dàn ý chi tiết kèm top 5 bài văn nghị luận hay nhất bàn về lòng biết ơn thầy cô giáo của học sinh ngày nay.

****

Dàn ý chi tiết bàn về lòng biết ơn thầy cô giáo

I. Mở bài:

– Dẫn dắt vấn đề: Biết ơn là truyền thống quý báu của dân tộc ta.

– Nêu vấn đề: Biết ơn thầy cô giáo là một thái độ, tình cảm trong sáng và cao đẹp.

II. Thân bài: 1. Giải thích

– Biết ơn thầy cô giáo là thái độ sống, tình cảm tốt đẹp, đó là thái độ trân trọng, nhớ ơn công lao dạy dỗ của thầy cô với học sinh.

2. Tại sao lại phải biết ơn thầy cô giáo

– Thầy cô giáo như những người cha, người mẹ thứ 2 của ta. Nếu như cha mẹ có công sinh thành, dưỡng dục thì thầy cô giáo cũng có công dạy dỗ, giáo dục ta, giúp ta trở thành một người hoàn thiện về cả nhân cách lẫn trí tuệ.

– Thầy cô giáo truyền dạy cho ta những kiến thức khoa học phong phú, bổ ích, mang lại cho ta những bài học đạo đức, đạo lí làm người sâu sắc. Công lao to lớn đó là không thể phủ nhận và chối bỏ được.

– Biểu hiện của người có lòng biết ơn thầy cô giáo:

+ Ngoan ngoãn, lễ phép với thầy cô

+ Luôn chăm chỉ học tập, nghe lời thầy cô

+ Có thái độ yêu qúy, trân trọng những người thầy cô đã từng dạy mình.

+ Những người biết quý trọng, biết ơn thầy cô giáo sẽ được mọi người xung quanh và thầy cô yêu quý, quý mến lại.

3. Chúng ta phải làm gì để thể hiện lòng biết ơn với thầy cô giáo?

– Lòng biết ơn với thầy cô giáo không chỉ được thể hiện qua lời nói mà còn được thể hiện qua hành động:

+ Nói lời cảm ơn thầy cô.

+ Tự có ý thức học tập, rèn luyện thật tốt, không để phụ công dạy dỗ của thầy cô.

+ Luôn có thái độ, hành động đúng đắn với thầy cô.

– Để ghi nhớ công ơn giáo dục to lớn của những người thầy, người cô đang công tác trên mọi miền đất nước, cả nước đã chọn ngày 20/11 làm ngày Nhà giáo Việt Nam – ngày để học sinh gửi những lời chúc, những món quà tri ân đến thầy cô.

4. Mở rộng vấn đề

– Phê phán những người vô ơn, có thái độ và hành động không đúng với thầy cô, thậm chí còn có trường hợp học sinh đánh, chửi thầy cô ngay trên bục giảng.

– Bên cạnh đó, phê phán những phụ huynh, học sinh lợi dụng ngày Nhà giáo Việt Nam để biếu xén, đút lót thầy cô nhằm gian lận trong học tập. Quan trọng hơn đó là nhân cách của một bộ phận giáo viên đang dần bị tha hóa, chạy theo đồng tiền, dẫn đến những đổ nát trong giáo dục.

III. Kết bài:

– Khẳng định lại vấn đề: Lòng biết ơn thầy cô là truyền thống của dân tộc, cần được giữ gìn và phát huy.

– Liên hệ bản thân: Tự nhủ với bản thân sẽ luôn cố gắng trong học tập và rèn luyện đạo đức để không phụ công lao của thầy cô, cha mẹ.

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo: Top 5 bài văn hay và ý nghĩa

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo- Bài văn mẫu 1:

Cả tuổi thơ con được đắp đầy bởi những câu hát à ơi dịu mát, những bài học làm người sâu sắc nhẹ nhàng của mẹ, của bà. Những câu hát ấy, những mẩu chuyện câu thơ, câu ca dao ấy dần nhen nhóm trong tâm hồn và trí óc non nớt của con bài học tình yêu thương con người, triết lý cuộc sống. Muốn sang thì bắc cầu kiều, muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy. Là người học trò, chúng ta phải biết ơn thầy cô giáo.

Có thể nói rằng, lòng biết ơn là một khái niệm được nhen nhói trong mỗi tâm hồn con người từ rất lâu, từ khi còn nhỏ. Lòng biết ơn là hiểu sâu sắc và ghi nhớ công lao của người khác đối với mình, bản thân phải bày tỏ lòng biết ơn người đã cứu giúp mình qua cơn nguy biến. Có lúc ta biết ơn cuộc sống:

“Cảm ơn đời mỗi sớm mai thức dậy. Ta có thêm ngày nữa để yêu thương”

Ta biết ơn cha mẹ, bạn bè:

“Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha…”

Nhưng đối với học sinh từng cắp sách tời trường, lòng biết ơn thầy cô sâu sắc, đậm đà hơn bao giờ hết. Chúng ta từng thể hiện lòng biết ơn ấy bằng cách ghi nhớ, khắc sâu công ơn người thầy dìu dắt, dạy bảo học trò trong công tác giáo dục. Ta khẳng định một điều rằng, lòng biết ơn thầy cô là đức tính mà mỗi con người cần phải có.

Vì sao chúng ta phải biết ơn thầy cô giáo? Đó là bởi thầy cô là người cho chúng ta nguồn ánh sáng của tri thức, văn hóa. Mặt trời mọc rồi lặn, mặt trăng tròn rồi khuyết nhưng ánh sáng mà người thầy rọi vào ta sẽ mãi trong cuộc đời. Quả thực, thầy cô nâng đỡ, dìu dắt học trò từng bước trên con đường tri thức. Những kiến thức thầy cô truyền thụ sẽ dày theo năm tháng, giúp ta thông thái, được khai phá để trở thành con người văn minh trong xã hội. Hơn thế, thầy cô là người cha, người mẹ thứ hai trong cuộc đời mỗi người. Trong khi cho ta tri thức, thầy cô còn thay cha mẹ dạy bảo ta, luyện cho ta những bài học làm người. Qua bài học tính nhân văn, cách ứng xử, triết lý cuộc đời, thầy cô ở bên ta giáo dục ta trở thành người có tri thức, có văn hóa đạo đức. Bên cạnh đó, thầy cô luôn dành tình cảm yêu thương, bồi đắp tâm hồn ta, thắp sáng ước mơ, vẽ ra cho học trò con đường đi tới tương lai. Người thầy, người cô không chỉ chỉ cho học trò con đường đi mà còn khích lệ ý chí phấn đấu để thực hiện hoài bão, mục đích, ước mơ. Nhờ vào những giáo dục của thầy cô mà ta thành công, trưởng thành trong cuộc sống. Nếu không có thầy cô chỉ bảo, dạy dỗ thì có rất nhiều người không thể thành công trong cuộc sống “Không thầy đố mày làm nên”. Không chỉ vậy, truyền thống tôn sư trọng đạo của con người Việt Nam là truyền thống có từ lâu đời, mỗi cá nhân là một mắt xích phát huy truyền thống ấy. Biết ơn thầy cô cũng chính là biểu hiện của người có văn hóa, văn minh, mọi người yêu quý, kính trọng.

Và học trò chúng ta đã và đang làm gì để bày tỏ lòng biết ơn thầy cô? Lòng biết ơn xưa biểu hiện ở thái độ tôn trọng với thầy. Một ví dụ điển hình là Phạm Sư Mạnh. Ông là một quan đầu triều, quan cao chức lớn. Nhưng khi đến nhà thăm cụ Chu Văn An, thầy giáo cũ. Ông chỉ đứng từ xa vái chào, vào trong nhà cũng không dám ngồi cùng sập với cụ, chỉ xin ngồi bậc dưới. Ông trả lời đầy đủ câu hỏi của thầy, hỏi thăm sức khỏe của thầy như một học trò bình thường. Thật đáng quý biết bao, trở lại thời nay. Lòng biết ơn được biểu hiện qua nhiều hình thức đa dạng, trở thành lễ tri ân mang tính chất rộng lớn toàn xã hội. Điều đó thể hiện trong ngày 20/11 hàng năm. Học sinh tham gia văn nghệ chào mừng ngày 20-11, thi đua dành nhiều hoa điểm tốt, đến thăm hỏi, chúc sức khỏe thầy cô. Dù mọi thời đại, biết ơn người đã dạy dỗ mình là một hành động đẹp nên làm. Đó chính là việc làm của một học sinh ngoan, biết phát huy truyền thống của dân tộc ta một cách đúng đắn.

Bởi vậy, chúng ta cần có những hành động phê phán, lên án những biểu hiện sai trái, vô lễ, hỗn láo với thầy cô của những học sinh vô ý thức vô văn hóa, chẳng coi thầy cô ra gì. Những học sinh đó đi học thì kém cỏi, về nhà hỗn xược với cha mẹ thật đáng trách thay. Và để tỏ lòng biết ơn thầy cô giáo chúng ta chỉ cần ngồi trong lớp nghe giảng không làm việc riêng, làm bài tập, ôn bài, thuộc bài đầy đủ để dành những điểm chín, điểm mười tặng thầy cô. Ngoài ra, vào ngày 20-11, 8-3, tết nguyên đán… học sinh có thể đến thăm gửi quà hỏi thăm sức khỏe thầy cô. Nhờ vậy thầy cô rất vui lòng.

Rõ ràng, thầy cô là một trong những con người quan trọng trong cuộc sống. Ánh sáng người thầy, người cô rọi vào ta sẽ còn mãi. Để mỗi chúng ta biết khắc sâu công ơn dạy dỗ để rồi trưởng thành vững bước trên con đường đời.

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo – Bài văn mẫu 2:

Biết ơn thầy cô hay còn gọi là truyền thống tôn sư trọng đạo là một trong những đức tính quý báu mà ông cha ta đã lưu truyền hàng ngàn năm qua. Nó cũng được ví như một kim chỉ nam xuyên suốt mấy ngàn năm lịch sử và trở thành một đạo lý để con cháu ngàn đời noi theo. Bởi “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” (một chữ cũng là thầy, nửa chữ cũng là thầy).

Truyền thống tôn sư trọng đạo đã tồn tại giữa lòng dân tộc cả ngàn năm qua và nó trở thành một trong những phẩm chất vô cùng quý báu. Bằng chứng có thể kể đến đó là những tấm gương đáng để chúng ta noi theo.

Xưa kia cụ Chu Văn An là một nhà giáo giỏi, danh tiếng của cụ được lưu truyền trong lịch sử dân gian. Cụ về quê mở lớp dạy học và trong số những học trò của cụ có rất nhiều người đã đỗ quan to, làm những chức vụ lớn của triều đình. Một trong số đó có thể kể đến như Phạm Sư Mạnh một trong những học trò thành danh nhất của cụ. Thế nhưng không vì thế mà ông tỏ ra thất thố với người thầy của mình. Mỗi lần có dịp về thăm thầy ông chỉ dám đứng từ ngoài vái chào, lúc vào nhà không bao giờ dám ngồi cùng sập với thầy mà xin phép ngồi xuống dưới. Trả lời lễ phép gọn ghẽ những câu hỏi của thầy… Đó mới thấy dù con người ta ở vị trí nào trong xã hội thì đạo làm trò cũng không bao giờ bị sai lệch.

Hay trong cuộc kháng chiến chống Pháp vĩ đại, người ta tìm thấy cuốn nhật kí của liệt sĩ Nguyễn Văn Thạc học sinh trường cấp 3 Từ Liêm Hà Nội. Trong những năm tháng khốc liệt mưa bom lửa đạn đấy thế nhưng trong đầu của anh chiến sĩ vẫn không nguôi nhớ đến những lời dạy của thầy Lưu. Hai tháng trước khi hi sinh ở chiến trường Quảng Trị, người chiến sĩ đó viết: “Lòng tin tưởng ở con người cũng chính là một nét riêng rất độc đáo của lòng nhân đạo – Điều này thầy Lưu đã nói rất nhiều lần với mình từ 3 năm trước, từ hơn 2 năm trước – Nhưng đến giờ mình mới hiểu một cách sâu xa và đầy đủ nhất”. Người học trò Nguyễn Văn Thạc hiểu và xác định đúng đắn lẽ sống của đời mình. “Có thể ngày mai, cuộc đời sẽ trả lời mình bằng luồng gió lạnh ngắt, nhưng có hề chi, khi mình đã cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả – Biết yêu và biết ghét – Biết lăn lộn trong cái bình dị của cuộc sống mà cảm hiểu hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Biết sống cao thượng, vươn lên trên tất cả những những gì tính toán cá nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải sống như vậy, phải cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn như thế – Đây là mơ ước, là nguyện vọng, quyết tâm và cũng là trách nhiệm mình phải làm. Phải làm”. Những lời dạy của thầy chính là hành trang tư tưởng lớn lao để anh vượt qua những năm tháng đầy đau thương khốc liệt đó.

Ngày nay, truyền thống tôn sư trọng đạo, uống nước nhớ nguồn vẫn được xã hội chúng ta tiếp nối và phát huy. Bằng chứng là cả nước dành một ngày 20/11 là hiến chương nhà giáo. Nhằm tôn vinh và ghi nhớ công lao của những thế hệ trồng người vĩ đại của dân tộc.

Bên cạnh những tấm gương học sinh tốt, thì cũng còn đâu đó những cá nhân chưa hoàn thiện. Vẫn còn những hành động tiêu cực như chưa chăm chú học tập, vi phạm ý thức kỉ luật nhà trường, chưa vâng lời thầy cô… Song nó chỉ như những tiêu cực nhỏ bé mà thôi.

Chúng ta những người đang ngồi trên ghế nhà trường vẫn còn được uốn nắn dạy bảo dưới bàn tay của các thầy cô hãy thể hiện mình là những người hiếu học, chăm ngoan về đạo đức. Bởi lẽ không có thầy thì đố mày làm nên. Nhớ về cội nguồn biết ơn người đã dìu dắt nâng đỡ mình cũng chính là thước đo của nhân cách con người.

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo – Bài văn mẫu 3:

” Không thầy đố mày làm nên “, một triết lí dân gian đã được lưu truyền từ bao đời nay. Điều này cho chúng ta thấy người thầy có vai trò to lớn đối với con đường học vấn của mỗi học trò. Dẫu là học trò bán tự, nhất tự (có câu “nhất tự vi sư, bán tự vi sư” – một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy), huống hồ chi, chúng ta, trong đời ai chẳng là học trò hơn một lần “nhất tự” hiểu theo nghĩa rộng của khái niệm này. Nhưng điều tôi muốn nói đến ở đây là một mặt khác nữa của câu tục ngữ – Đó cũng là lời nhắn nhủ, khuyên răn chúng ta phải nhớ ơn thầy cô.

Mỗi người có được công danh, sự nghiệp thành đạt đều nhờ công ơn dạy dỗ của thầy cô. Những người chiến sĩ trong cuộc chiến sinh tử với giặc ngoại xâm, trong hành trang tinh thần mang ra mặt trận cũng có lời thầy cô. Chúng ta, hẳn đã nhiều người đọc nhật kí của anh Nguyễn Văn Thạc (Nhà xuất bản Thanh niên xuất bản dưới nhan đề Mãi mãi tuổi hai mươi) học sinh trường cấp 3 (THPT) Yên Hòa B – Từ Liêm, Hà Nội. Trang nhật kí ngày 24/5/1972, ghi trước khi anh hi sinh tại chiến trường Quảng Trị hai tháng, bảy ngày sau đó, người học trò này đã nhớ lời dạy thầy giáo cũ – thầy Lưu, và nói rằng, cho đến lúc này, anh mới hiểu hết lời dạy của thầy. Xin được trích đoạn nguyên văn “Lòng tin tưởng ở con người cũng chính là một nét riêng rất độc đáo của lòng nhân đạo – Điều này thầy Lưu đã nói rất nhiều lần với mình từ 3 năm trước, từ hơn 2 năm trước – Nhưng đến giờ mình mới hiểu một cách sâu xa và đầy đủ nhất”. Người học trò Nguyễn Văn Thạc hiểu và xác định đúng đắn lẽ sống của đời mình. “Có thể ngày mai, cuộc đời sẽ trả lời mình bằng luồng gió lạnh ngắt, nhưng có hề chi, khi mình đã cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn chính trực và cao cả – Biết yêu và biết ghét – Biết lăn lộn trong cái bình dị của cuộc sống mà cảm hiểu hạnh phúc không có gì so sánh nổi. Biết sống cao thượng, vươn lên trên tất cả những những gì tính toán cá nhân mòn mỏi và cằn cỗi. Phải, mình phải sống như vậy, phải cống hiến cho cuộc đời một tâm hồn như thế – Đây là mơ ước, là nguyện vọng, quyết tâm và cũng là trách nhiệm mình phải làm. Phải làm”. Chính vì thế ta không thể quên được công ơn của thầy cô.

Thầy cô giáo là người hướng dẫn, bồi dưỡng, truyền đạt cho ta những kinh nghiệm mà nhân loại đã tích luỹ trong suốt quá trình lịch sử lâu dài về khoa học tự nhiên, khoa học xã hội và kinh nghiệm sống để mở rộng trí óc cho chúng ta. Thầy cô không chỉ cho chúng ta tri thức mà còn rèn luyện cho chúng ta bài học làm người. Lúc còn bé thơ thầy cô dạy ta từng chữ cái, từng con số, rồi theo năm tháng chúng ta dần lớn lên thầy cô dạy ta những điều hiểu biết cao hơn, rộng hơn để giáo dục ta thành người có tri thức, có đạo đức. Các thầy cô đã “Vì lợi ích trăm năm trồng người”, đào tạo chúng ta thành những người hữu ích. Tại sao danh họa Ý Lê-ô-na đơ Vanh xi (1452 – 1519) có thể trở thành đỉnh cao của thời Phục hưng và thế giới. Vì ông có người thầy là họa sĩ Vê-rô-ki-ô. Thoạt đầu thầy bắt cậu bé học trò vẽ quả trứng gà mấy chục ngày liền. Bởi ông muốn cho nhà họa sĩ thiên tài tương lai biết “trong một nghìn cái trứng, không bao giờ có hai cái hoàn toàn giống nhau… Do vậy nếu không cố công luyện tập thì không vẽ đúng được đâu…Đó còn là cách luyện mắt cho tinh, luyện tay cho dẻo”. Các thầy cô giáo là người “mài sắt nên kim”, công lao biết bao ! Thật đúng như nhà thơ Bùi Đăng Sinh, hiện nay đã là nhà giáo kì cựu, lúc còn ngồi trên ghế nhà trường đã viết:

“Đồi cao thắm sắc ti gôn Trồng hoa thầy đã trồng luôn cả người”

Các thầy, các cô đang làm một nghề cao quý nhất, nghề dạy học, nghề mà dân tộc ta vốn rất coi trọng, quan tâm và biết ơn. Ông cha ta thường nói:

“Muốn sang thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ phải yêu kính thầy”

Vì học sinh thân yêu, các thầy giáo, cô giáo đã luôn luôn quan tâm đến sự tiến bộ, vui sướng trước sự trưởng thành của chúng ta, trăn trở trước thiếu sót mà chúng ta mắc phải. Từ cái nôi là nhà trường, tình cảm gắn bó giữa chúng ta và các thầy cô là một tình cảm đặc biệt, sâu sắc. Tình cảm đó sẽ cùng đi suốt cuộc đời, động viên, nâng đỡ chúng ta trưởng thành. Mọi người chúng ta phải khắc ghi và biết ơn. Phải ghi nhớ trong lòng, đạo thầy trò là một trong những đạo lớn, giữ cho xã hội lành mạnh, vững chắc. Lại xin kể với các bạn một câu chuyện mà nhân vật học trò là một nhà thơ nổi tiếng của chúng ta. Chuyện của nhà thơ Hoàng Cầm, thi sĩ yêu thương của miền Kinh Bắc, cái nôi của văn hóa Việt Nam. Nhà thơ đã làm cho con sông Đuống thành dòng sông trữ tình, dòng sông thi ca. Năm học 1935 – 1936, Hoàng Cầm học với thầy Hoàng Ngọc Phách, cũng là một nhà văn (tác giả Tố Tâm, thiên tiểu thuyết lãng mạn vào loại mở đầu văn chương lãng mạn). Ai ngờ sau đó ít lâu, lại lấy chị gái họ thầy giáo mình. Một ngày tết ở thị xã Bắc Ninh, khi hai vợ chồng thi sĩ đi chúc tết họ hàng, vào nhà thầy, theo tôn ti trật tự, thầy cứ một điều “thưa bác”, hai điều “thưa bác”. Vợ nhà thơ cũng thản nhiên “cậu cậu, tôi tôi” mặc dù kém đến trên 20 tuổi. Song Hoàng Cầm thì không dám. Ông lễ phép xưng “con”, gọi “thầy”. Về nhà, bà vợ phàn nàn:

– Sao mình lại xưng “con” với cậu ấy ? Cậu ấy là em mình chứ !

Hoàng Cầm đã quả quyết trả lời:

– Anh phải tôn trọng cái điều có trước. Trước khi anh là chồng em, anh đã là học trò của ông Phách từ lâu rồi. Người thầy giáo ấy đã có công lớn đào tạo được ra anh hôm nay đấy em ạ !

Lòng biết ơn thầy cô là phải biết giữ đúng “Đạo”. Nhưng cao hơn, phải được thể hiện bằng hành động cụ thể. Muốn vậy chúng ta phải học tập tốt, đạt nhiều thành tích cao. Đây cũng chính là đạo lí làm người, là cách ứng xử của người có nhân cách. Đất nước ta có rất nhiều tấm gương đáng để noi theo như người học trò con vua Thủy Tề của thầy Chu Văn An. Biết là trái mệnh Ngọc Hoàng, tất bị chết chém, nhưng vẫn tuân theo lời dạy bảo nhân nghĩa của thầy.

Bác Hồ từng dạy: “Kẻ có tài mà không có đức là người vô dụng, người có đức mà không có tài thì làm việc gì cũng khó”. Nền tảng của con người vẫn là đạo đức, đạo đức kết hợp với tài năng thì làm chuyện gì cũng thành công. Xã hội hiện đại ngày nay, vấn đề đạo đức đang còn nhiều cái để quan tâm, đó là tình trạng học sinh vô lễ, vô ơn bạc nghĩa với thầy cô. Thậm chí có hành vi lăng mạ, côn đồ. Tất cả đều bị chê trách, lên án gay gắt.

Trong bối cảnh như thế, thiết nghĩ, lòng biết ơn là món quà giá trị nhất, là bông hoa tươi thắm nhất để các thế hệ học sinh dâng tặng thầy cô kính yêu. Đây không phải chỉ là bổn phận và nghĩa vụ mà còn là thứ tình cảm cao quí, thiêng liêng, ở đâu, lúc nào cũng cần gìn giữ, nêu cao.

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo – Bài văn mẫu 4:

Trong xã hội mà nền kinh tế tri thức phát triển mạnh mẽ như ngày nay thì việc học là rất quan trọng. Do đó chúng ta phải đến trường ở đó các thầy cô giáo sẽ truyền thụ cho ta những kiến thức vô cùng bổ ích và thành công của ta hôm nay chính là nhờ phần lớn công lao dạy dỗ của các thầy các cô. Chúng ta cần phải biết ơn họ.

Thời xưa cụ Chu Văn An đã mở lớp dạy học tại quê nhà. Và nhiều người trong số những học trò cũ đã làm đến những chức quan quan trọng trong triều đình. Phạm Sự Mạnh là một học trò như thế, tuy đã là quan đầu triều nhưng ông vẫn tỏ thái độ vô cùng kính trọng người thầy cũ của mình. Đến nhà thăm cụ, ông chỉ đứng từ xa vái chào, vào trong nhà cũng không dám ngồi cùng sập với cụ, chỉ xin ngồi bậc dưới. Ông trả lời đầy đủ những câu hỏi của thầy, hỏi thăm sức khỏe của thầy như một người học trò bình thường. Tấm lòng thật đáng quý biết bao! Thời nay học sinh chúng ta cũng có vô vàn cách để biểu lộ lòng biết ơn của mình đối với các thầy cô giáo: tham gia văn nghệ chào mừng 20-11; thi đua giành nhiều hoa điểm tốt, đến thăm, chúc sức khỏe các thầy cô. Biết ơn những người đã dạy dỗ mình là một hành động đẹp rất nên làm. Đó là việc làm của một người học sinh ngoan, biết phát huy tốt truyền thống tốt đẹp của dân tộc ta.

Ăn quả nhớ kẻ trồng cây Ăn khoai nhớ kẻ cho dây mà trồng.

Nếu không có các thầy các cô dạy dỗ chúng ta, truyền cho chúng ta những kiến thức bổ ích thì chắc gì chúng ta đã đạt được thành công như ngày hôm nay; chắc gì chúng ta đã thành đạt, kiếm nhiều tiền để nuôi sống gia đình và làm lợi cho đất nước. Do vậy ai ai cũng cần phải có lòng biết ơn thầy cô giáo.

Ấy thế mà lại có những học sinh vô ý thức, vô văn hóa, chẳng coi thầy cô ra gì. Những học sinh đó học thì kém lại hay nghịch dại, làm thầy cô và bố mẹ phiền lòng. Thậm chí còn mắng, chửi thầy cô khi bị điểm kém hay hạ hạnh kiểm. Đánh trách thay! Chúng ta có rất nhiều cách để tỏ lòng biết ơn những người đã có công dạy dỗ mình: ngồi trong lớp chỉ cần các bạn chú ý nghe giảng tức là đã tỏ lòng biết ơn rồi đấy. Học thật giỏi, giành được nhiều điểm chín, mười chính là cách đền ơn các thầy các cô tốt nhất của chúng ta. Ngoài ra vào ngày 20-11, 8-3, tết cổ truyền, học sinh có thể họp nhau lại cùng đến nhà thầy cô, thầy cô vui mà chúng ta cũng được coi là học sinh ngoan, có nghĩa biết đền ơn. Người ta nói:

Qua sông thì bắc cầu kiều Muốn con hay chữ thì yêu lấy thầy.

Thật vậy! Cứ giả sử xã hội này mà không có nghề dạy học thì không biết nó sẽ trì trệ và kém phát triển đến thế nào! Vậy thì ngay từ bây giờ, chúng ta hãy tỏ ra là những người học trò ngoan bằng cách tỏ lòng biết ơn các thầy, các cô của mình. Họ xứng đáng được chúng ta đời đời nhớ ơn và kính trọng!

Nghị luận về lòng biết ơn thầy cô giáo – Bài văn mẫu 5:

Từ xưa tới nay truyền thống tôn sư trọng đạo đã được lưu truyền qua biết bao thế hệ, đó là một đức tính vô cùng đẹp của dân ta, là cách thể hiện đạo đức của người học sinh với những người thầy, người cô có công ơn dạy dỗ ta nên người, từ đó mà câu nói “Học trò phải biết kính yêu và biết ơn thầy cô”.

Thật vậy, kính yêu và biết ơn thầy cô đã là những đức tính mà người học sinh phải có được, trước tiên là sự kính yêu. Học sinh cần biết kính yêu những người thầy, người cô của mình, những người đã dùng cả cuộc đời để dạy cho ta biết đâu là lẽ phải, người thầy người cô không phải cha mẹ sinh thành ra ta nhưng thầy cô được coi là cha mẹ thứ hai của bất kì người học sinh nào, cha mẹ cho ta cơm ăn áo mặc thì thầy cô mang đến cho ta tri thức, cho ta kinh nghiệm, lẽ sống, những bài học quý giá, cha mẹ dắt ta tập bước đi trên đôi chân nhỏ bé thì thầy cô dắt ta bước đi trên con đường vươn tới thành công trong tương lai. Những con người đó vẫn thầm lặng dạy dỗ, không phân biệt, đào tạo những con người dù giàu sang hay nghèo khó, những người nghịch ngợm phá phách đều từ đó mà nên người. Khi đã học được sự kính yêu thầy cô của mình thì mỗi người cần học cách biết ơn tới những gì mà thầy cô đã làm cho mình, những con người đó cứ thầm lặng với công việc của mình, truyền đạt kiến thức một cách tâm huyết nhất tới những người học trò, người thầy người cô đó cứ miệt mài chèo lái con đò, chở biết bao thế hệ học sinh tới với bến bờ của tri thức mà quên đi bản thân mình, quên đi những mệt mỏi, áp lực để cho thế hệ trẻ trang bị đầy đủ tri thức bước vào cuộc sống.

Kính yêu và biết ơn cần được thể hiện bằng hành động chứ không phải bằng lời nói. Những người thầy người cô tâm huyết với nghề, yêu thương học sinh của mình sẽ chẳng bao giờ nghĩ tới việc học sinh sẽ phải làm gì để trả ơn, chẳng bao giờ yêu cầu học sinh phải báo đáp công ơn của mình nhưng đối với những người học sinh cần phải nhận thức được công ơn to lớn đó. Hành động biết ơn đó chỉ cần thể hiện qua tình cảm thầy trò, chỉ là những ngày học sinh trở lại mái trường xưa, tới thăm thầy cô vào những ngày lễ biết ơn, chẳng cần vật chất xa hoa bởi vật chất không thể đo được thứ tình cảm thiêng liêng đó. Bông hoa trên tay, nụ cười trên môi, những lời hỏi thăm, những câu chuyện không bao giờ cũ, tất cả những thứ đó tuy giản dị nhưng vô cùng đắt giá, chỉ với bấy nhiêu đó cũng đủ thể hiện tình cảm của những người học sinh đối với thầy cô của mình.

Ngoài ra đối với những bạn học sinh còn đang ngồi trên ghế nhà trường có rất nhiều cách thể hiện sự kính yêu và biết ơn đến thầy cô của mình. Đơn giản cho vấn đề đó là tập trung lắng nghe thầy cô giảng bài trong các tiết học, điều đó giúp những người thầy người cô có một tiết dạy hiệu quả chỉ tập trung vào giảng dạy chứ không phải gào thét, nhắc nhở. Cố gắng thi đua học tập lao động thật tốt để không phụ công ơn thầy cô tin tưởng giảng dạy. Người xưa đã có câu “Một chữ là thầy, nửa chữ cũng là thầy” hay “Không thầy đố mày làm nên” qua đó cho thấy được vai trò to lớn mà thầy cô đem và giáo dục thế hệ học sinh cách biết ơn tới thầy cô của mình. Ấy thế mà bên cạnh những học sinh chăm ngoan đó thì còn một đại bộ phận những học sinh cảm thấy chán ghét một số bộ môn mà mình đang học, lười học và đổ lỗi cho việc thầy cô dạy không hiểu, không có hứng thú với những môn xã hội, đặc biệt là còn bỏ học, trốn học vì ham chơi đặc biệt hơn là những học sinh tỏ thái độ vô lễ với chính người thầy người cô của mình khi được nhắc nhở về những lỗi mà mình đã vi phạm, chống đối với những gì thầy cô đưa ra, đây là điều rất đáng buồn cho một số học sinh trong thời điểm hiện nay.

Để xã hội ngày càng phát triển, đất nước đi lên hơn nữa thì vai trò của thầy cô là vô cùng quan trọng, là những người tạo bàn đạp cho những búp măng non vươn cao hơn, vươn xa ra cả thế giới, là người học sinh cần biết kính yêu và biết hơn những người thầy người cô của mình dù sau này có thành đạt tới đâu.

-/-

Sáng Kiến Kinh Nghiệm Vài Biện Pháp Giúp Học Sinh Lớp 8 Học Tốt Kiểu Văn Bản Thuyết Minh

đáng kể khi học văn thuyết minh. - Năng lực thực hành còn hạn chế, chủ yếu bám SGK và những gì có sẵn trong SGK để vận dụng Những nhược điểm nêu trên lâu dần thành thói quen thụ động, đối phó, thậm chí "xa lạ" với những gì diễn ra xung quanh, trong đời sống hằng ngày mà ai cũng có thể bắt gặp. 2. Về phía người dạy: Văn bản thuyết minh vốn rất thông dụng, nhưng lần đầu tiên hệ thống thành phương pháp luận, giáo viên ít nhiều còn bỡ ngỡ trong việc định hướng các hoạt động dạy học để đạt hiệu quả cao nhất. Có trường hợp xem nhẹ vai trò của văn bản thuyết minh so với các kiểu văn bản khác đã được đưa vào chương trình từ ban đầu. Vì thế trong quá trình dạy văn bản thuyết minh, người dạy chưa thật sự chú ý tìm ra các biện pháp dạy học tốt nhất, còn chung chung, chủ yếu theo SGK và hướng dẫn trong sách giáo viên. Kết quả, khả năng viết một bài văn thuyết minh của các em chưa tốt, đôi khi không đúng kiến thức về đối tượng thuyết minh đó , thiếu thuyết phục người nghe, thậm chí có nhiều bài viết học sinh trình bày như một bài học của môn khoa học công nghệ . Từ cơ sở khoa học và thực tiễn ấy, chúng tôi nghĩ rằng việc rèn luyện kĩ năng thực hành, thực tế cho học sinh khi viết văn thuyết minh là điều đáng quan tâm. Giúp các em có thêm kiến thức thực tế từ nhiều đối tượng khác nhau để bài học được nhẹ nhàng, linh hoạt hơn. II. GIẢI QUYẾT VẤN ĐỀ: Cơ sở lí luận: - Văn bản thuyết minh rất thông dụng, từ lâu đã được nhiều nước trên thế giới đưa vào chương trình học cho học sinh. Nó trình bày tính chất, cấu tạo, cách dùng cùng lí do phát sinh, qui luật phát triển, biến hóa của sự vật, nhằm cung cấp tri thức, hướng dẫn cách sử dụng cho con người. Hai chữ thuyết minh bao gồm cả ý giải thích trình bày, giới thiệu cho được hiểu rõ. - Khác với các văn bản tự sự, miêu tả, biểu cảm, nghị luận, văn bản thuyết minh chủ yếu trình bày tri thức một cách khách quan, giúp con người hiểu được đặc trưng, tính chất của sự vật, hiện tượng và biết cách sử dụng chúng vào mục đích có lợi cho con người. Văn bản thuyết minh gắn liền với tư duy khoa học, đòi hỏi chính xác, rạch ròi. Muốn làm được bài thuyết minh, phải tiến hành đìều tra, nghiên cứu, học hỏi, tích lũy tri thức. - Tuy mới đưa vào chương trình, nhưng văn bản thuyết minh không xa lạ đối với học sinh, bởi bài giảng của các thầy cô trong tất cả các môn học chính là bài thị phạm tốt cho văn bản thuyết minh. Chỉ cần giáo viên có ý thức hướng dẫn là học sinh có thể làm được bài thuyết minh. - Trong chương Ngữ văn lớp 8, văn bản thuyết minh được học trong 13 tiết (chưa kể trả bài cũng như các văn bản phục vụ cho văn bản thuyết minh).Cụ thể: + Học kì I : 7 tiết ( 4 tiết lí thuyết, 1 tiết luyện nói, 2 tiết làm bài viết) + Học kì II: 6 tiết ( 2 tiết lí thuyết, 1 tiết thực hành viết đoạn, 1 tiết ôn tập, 2 tiết làm bài viết) - Ngoài kiến thức trong các văn bản đang học, tất cả các bài học về văn bản thuyết minh (chương trình Ngữ văn lớp 8) đều nhằm tích cực hóa, kích thích sự quan sát và ghi nhận của học sinh về một đối tượng thuyết minh. Qua đó, làm sáng tỏ một chân dung, một thắng cảnh, một đồ vật, một nét sinh hoạt văn hoá đã và đang gắn bó gần gũi với đời sống thực tại. Điều ấy nhằm nâng cao sự hiểu biết tri thức phổ thông của người học, giúp học sinh có thêm vốn sống và biết vận dụng những kiến thức ấy vào bài học, vào cuộc sống. 2. Quá trình thực hiện: - Năm học thứ 1: (2005-2006): Nghiên cứu thực trạng, hình thành ý tưởng cải tiến, vạch kế hoạch thực hiện. - Năm học thứ 2: (2006-2007): Chọn lớp thử nghiệm, thực nghiệm và lớp đối chiếu; từng bước bổ sung, rút kinh nghiệm. - Năm học thứ 3: (2007-2008): Tiếp tục chọn thực nghiệm ở mức độ cao hơn, triển khai thực hiện đại trà trên tất cả các lớp được phân công giảng dạy, tổng kết kinh nghiệm hoàn chỉnh đề tài. - Chúng tôi chỉ làm những việc trên đối với các lớp được thử nghiệm và thực nghiệm. - Riêng lớp đối chứng (không áp dụng đề tài) chúng tôi dạy bình thường, chỉ khơi gợi những điểm có trong đề tài để các em tự học. Từ cách học của các em, chúng tôi tự đúc rút, nhận xét, bổ sung cho việc thực hiện đề tài ở các lớp được áp dụng. - Đối với lớp được áp dụng, chúng tôi cũng chỉ thực hiện và áp dụng từng bước trong phạm vi đề tài, tuỳ theo nội dung bài mà chúng tôi đi nhiều hay ít các bước hoặc chọn lựa thế mạnh ở những nội dung nào mà thực hiện. 3. Các bước tiến hành: 3.1. Chuẩn bị của giáo viên: Để chuẩn bị cho việc thực hiện đề tài, tôi đã đầu tư từ năm học trước và lần lược tiến hành các bước sau: 3.1.1. Nghiên cứu, nắm đặc trưng kiểu văn bản thuyết minh, tìm hiểu nội dung chương trình giảng dạy và sách giáo khoa, sách tham khảo lớp 8, tùy thời lượng được phân bố, tùy nội dung kiến thức bài dạy, chú ý các thế mạnh của các phương pháp được áp dụng. 3.1.2. Tìm hiểu, nắm kĩ lại các phương pháp để tìm cách kết hợp vận dụng theo từng bài, từng lớp khác nhau, chú ý các thế mạnh của các phương pháp được áp dụng. 3.1.3. Ghi chép, lựa chọn nhiều cách làm, tìm cách đối chiếu, khắc phục và bổ sung. 3.1.4. Chọn lọc các đối tượng cần thể nghiệm, đối chứng. 3.2. Tổ chức dạy học trên lớp: Như đã trình bày, trên cơ sở xây dựng cách làm mới về phương pháp nhưng vẫn đảm bảo mục tiêu bài học, giúp các em bước đầu tìm hiểu đặc trưng của kiểu văn bản thuyết minh so với các loại văn bản khác, nhận diện văn bản thuyết minh, tích luỹ tri thức khách quan, nắm vững các phương pháp thuyết minh, cách viết "văn" trong văn bản thuyết minh. 3.2.1 MỘT SỐ BIỆN PHÁP ĐÃ THỰC HIỆN: 3.2.1.1. Biện pháp giúp HS hiểu rõ đặc điểm của văn bản thuyết minh so với loại văn bản khác: - Như đã biết, văn bản thuyết minh là kiểu văn bản thông dụng nhằm cung cấp tri thức (kiến thức) một cách khách quan, chính xác, về mọi hiện tượng sự vật trong đời sống xã hội. Đây là kiểu văn bản lần đầu tiên được đưa vào chương trình Tập làm văn bậc THCS ở Việt Nam, mặc dù nó là loại văn bản hết sức thông dụng và rất phổ biến từ lâu ở nhiều nước trên thế giới. Cũng chính vì tính chất phổ biến thông dụng ấy mà văn bản thuyết minh rất gần gũi với đời sống. con người, xã hội (Từ một vật dụng, đồ dùng quen thuộc cho đến một danh lam thắng cảnh, từ một lời giới thiệu xuất xứ của một đồ vật bình thường đến những chân dung con người và những kiến thức (tri thức) khoa học rộng lớn nhưng rất gần gũi, thân quen). - Hiểu được đặc điểm ấy để HS có thể rút ra được những kết luận về nhiệm vụ mà văn bản thuyết minh thường làm. Và do vậy, không phải ngẫu nhiên mà sách giáo khoa (SGK) Ngữ văn 8 (trong bài "Tìm hiểu chung về văn bản thuyết minh") đưa ra một tiêu đề: "Văn bản thuyết minh trong đời sống con người". Sau đó là những đoạn thuyết minh mẫu đã bộc lộ được "đời sống con người" mà các văn bản khác không thể thay thế được. Đó chính là một "kiểu riêng" của văn bản thuyết minh. - Để làm được nội dung trên (hình thành khái niệm, kết luận), chúng ta khai thác ý nghĩa thực tế và thông dụng từ các văn bản mẫu mà SGK đưa ra, đồng thời lấy thêm ví dụ từ các bài dạy của giáo viên ở các môn học minh họa thêm giúp học sinh nắm được đặc điểm của văn bản thuyết minh. Sau đó làm cho HS thấy được nội dung lợi ích, ý nghĩa của những sự vật, hiện tượng, một nét sinh hoạt văn hóa nào đó mà đôi khi đối với các em nó trở thành xa lạ, khó thực hiện, nếu chưa học văn thuyết minh. Thậm chí các em có thể cung cấp (cho lớp học) nhiều đề tài, vật dụng để thuyết minh và tập thuyết minh. Qua đó, HS có kĩ năng nhận biết và thực hành văn thuyết minh như một nhu cầu trong đời sống mà các em đã quan sát, tìm hiểu. 3.2.1.2. Biện pháp giúp HS nhận diện văn bản thuyết minh: - Việc thông hiểu và nhận diện văn bản thuyết minh với đặc điểm cơ bản của nó cũng là điều đáng lưu ý, bởi qua đó HS sẽ có điều kiện để tiếp nhận dễ dàng và dẫn đến làm tốt văn bản thuyết minh. Trên cơ sở phân biệt với các kiểu văn bản khác (như đã nói ở bước một), văn bản thuyết minh làm cho người ta "hiểu" bản chất của sự vật, hiện tượng chứ không phải nặng về diễn biến sự việc, lí lẽ, suy luận, hoặc dùng luận điểm, dẫn chứng như các văn bản khác. Nó hoàn toàn là một kiểu giải thích bằng lí tính, bằng tri thức khoa học khách quan và chính xác, bằng sự quan sát và nhận xét của người viết để phát hiện đặc điểm tiêu biểu, bản chất của sự vật. Có nghĩa là nó cung cấp một tri thức khách quan cho người đọc. - Với cách hiểu và phân biệt như trên, ngoài những câu hỏi tìm hiểu bài ở SGK, chúng tôi thường cung cấp và khai thác bằng những gợi ý như sau để trên cơ sở ấy HS dễ dàng nhận diện một văn bản thuyết minh (mà tự sự, miêu tả, nghị luận, biểu cảmđều không có). Ví dụ: Câu hỏi 1: Em hiểu được điều gì qua đối tượng của bài thuyết minh trên? Câu hỏi 2: Văn bản trên đã cung cấp cho em những kiến thức nào? Muốn có kiến thức ấy, em phải làm gì? Câu hỏi 3: Theo em, văn bản thuyết minh được sử dụng ở phạm vi rộng hay hẹp, vì sao? Câu hỏi 4: Theo em, tác dụng của văn bản thuyết minh đối với đời sống hằng ngày như thế nào? Câu hỏi 5: Vì sao em nhận ra văn bản trên (đã cung cấp) là văn bản thuyết minh? Câu hỏi 6: Thử đặt những đề tài, đối tượng thuyết minh mà em đã biết, muốn biết hoặc chưa biết? Với những gợi ý trên, giáo viên sẽ lần lượt chuyển tải để từng bước, HS nhận rõ văn bản thuyết minh một cách tương đối dễ dàng, gọn nhẹ hơn. Qua đó nhằm tăng thêm tính thực tế, thực dụng của loại văn bản này để bước đầu biết vận dụng thực hành một cách tích cực hơn. 3.2.1.3. Biện pháp giúp HS tích luỹ tri thức khách quan: Tất cả các sự vật, sự việc, hiện tượng trong đời sống (ở một khía cạnh, phạm vi, tác dụng nào đó) đều có thể thuyết minh được và nhờ văn thuyết minh mà người viết, người đọc đều tự cung cấp cho mình một kiến thức nhất định. Vì vậy yêu cầu đầu tiên của văn thuyết minh là phải có "tri thức" về đối tượng. Làm thế nào để có kiến thức ấy? Đối với HS yêu cầu này cũng không phải dễ. Ngoài những điều được SGK cung cấp, trong quá trình dạy văn thuyết minh, chúng tôi thường chú ý và nhấn mạnh những nội dung, việc làm sau đây: - HS phải tìm được những yếu tố thuyết minh có trong văn bản đã và đang học. Chỉ rõ đối tượng ấy được thuyết minh bằng những phương pháp nào? Trình bày những hiểu biết của em (HS) về đối tượng sau khi đọc văn bản thuyết minh ấy. - Tổ chức hoặc gợi ý cho HS quan sát, nhận xét về các sự vật, hiện tượng phổ biến xung quanh đời sống, từ mức độ thấp (đồ vật quen thuộc, cây cối, hoa lá) đến mức độ cao hơn (di tích, thắng cảnh, nét sinh hoạt văn hoá, lễ hội). Sau đó ghi chép những đặc điểm cơ bản rồi trình bày ở lớp. - Quan sát và ghi chép từ những đối tượng gần (trong địa phương hẹp- làng xóm, phố phường, huyện thị đến địa phương rộng- tỉnh thành đến ngoài địa phương (nếu có dịp đi tham quan, du lịch). - HS biết cách tìm và nêu những đối tượng thuyết minh mà mình hoặc người khác chưa biết (hoặc ngược lại) nhằm cung cấp qua lại kiến thức về đối tượng. Những biện pháp nhỏ nêu trên vừa gắn với thực tế đời sống, vừa cung cấp phổ biến được kiến thức vừa tăng tính thực hành một cách sinh động và phong phú hơn, tránh áp đặt nặng nề trong khi học văn thuyết minh, hướng đến tư duy tích cực nhạy bén hơn ở lứa tuổi HS. 3.2.1.4. Biện pháp giúp HS nắm được mô hình dàn ý cho từng đối tượng thuyết minh: Trong đời sống có rất nhiều đối tượng cần thuyết minh. Nếu không có một định hướng và định tính HS rất dễ lúng túng khi gặp một đối tượng cụ thể không có trong SGK. Để giúp các em chủ động xây dựng dàn ý chi tiết cho bài văn thuyết minh về bất kì một đối nào, chúng tôi cung cấp cho các em mô hình dàn ý cho từng nhóm đối tượng một cách ngắn gọn theo bảng sau: NHÓM ĐỐI TƯỢNG NỘI DUNG CHÍNH TỪNG PHẦN Mở bài Thân bài Kết bài Một đồ vật Giới thiệu chung về đồ vật ( nêu định nghĩa về đồ vật ) - Cấu tạo - Công dụng - Cách sử dụng, bảo quản Nhấn mạnh vai trò của đồ vật trong cuộc sống con người Một loài vật Giới thiệu chung về loài vật trong đời sống con người - Đặc điểm về giống, loài - Đặc điểm về tập tính, sinh trưởng - Lợi ích các mặt của loài vật - Cách nuôi dưỡng Nhấn mạnh vai trò của loài vật đối với đời sống con người Một loài cây Giới thiệu chung về loài cây trong đời sống con nguời - Đặc điểm về giống loài, hình dáng - Đặc điểm sinh trưởng (khí hậu, thổ nhưỡng, thời vụ) - Lợi ích các mặt đối với đời sống tự nhiên, đời sống con người - Cách trồng trọt, chăm sóc Nhấn mạnh vai trò của loài cây đối với con người Một phương pháp (cách làm) Giới thiệu chung về phương pháp (cách làm), nhu cầu phải có phương pháp (cách làm) - Nguyên vật liệu - Cách làm : trình tự các công việc - Yêu cầu thành phẩm Công dụng của phương pháp (cách làm) Một thể loại văn học Giới thiệu chung về thể loại ( nêu định nghĩa chung về thể loại văn học) - Đặc điểm về hình thức theo từng thể loại văn học cụ thể - Nội dung khái quát của thể loại Vai trò của thể loại văn học trong việc phản ánh đời sống, tâm tư, tình cảm Một danh lam thắng cảnh Giới thiệu chung về danh lam thắng cảnh (nhận định chung về danh lam thắng cảnh) - Vị trí địa lí -Quang cảnh chung - Các đặc điểm tiêu biểu - Lợi ích các mặt của danh lam, thắng cảnh Vị trí của danh lam thắng cảnh trong đời sống tình cảm của con người 3.2.1.5. Biện pháp giúp HS biết cách viết văn bản thuyết minh: Từ việc phân biệt văn thuyết minh và các loại văn bản khác (đã nói ở phần trên và trong nhiều tiết). GV cũng chú ý cách viết của HS với loại văn bản này. Dù quen thuộc, gần gũi nhưng văn thuyết minh vẫn là mới so với HS lần đầu tiên được đưa vào chương trình THCS. Nếu xét riêng về miêu tả, tự sự thì các em đã được làm quen từ bậc Tiểu học. Từ lớp 6 trở lên HS được tiếp tục nâng cao. (Riêng thuyết minh không được như vậy HS chỉ được học trong chương trình lớp 8,9). Do vậy, đã phân biệt được thể loại, cũng cần phân biệt được cách viết. Tựu trung lại, chúng tôi đã hướng cho HS chú ý những cách viết sau: - Biết dùng thuật ngữ về đối tượng thuyết minh (nếu có) (do xuất phát nhu cầu của tri thức khách quan, khoa học). - Cách hiểu của văn thuyết minh phải xuất phát từ tri thức về sự vật, hiện tượng được thuyết minh chứ không phải cách hiểu của người giải thích. Và do vậy, cách diễn đạt và từ ngữ của văn thuyết minh cần chính xác, gần gũi, khúc chiết, sáng tỏ, tránh mơ hồ, suy diễn. Thậm chí những đối tượng có tính khoa học thì khó tránh được sự khô khan. Song, không vì vậy mà văn bản thuyết minh kém hấp dẫn. Sự hấp dẫn ấy chính là tri thức nó cung cấp với một giọng văn gọn gàng, dễ hiểu, trong sáng và khách quan. 4. Kết quả thực hiện đề tài: Tất nhiên, khi chưa áp dụng đề tài các tiết dạy kiểu văn bản thuyết minh cũng phải đạt mục tiêu bài học đã được xác định, nhưng mức độ khắc sâu về kiểu văn bản thuyết minh thì chưa đạt được. Qua thực hiện đề tài, chúng tôi nhận thấy kết quả giờ dạy không dừng lại ở mức độ chung như các tiết dạy bình thường, mà đáng quan tâm hơn là nó đã giúp HS hứng thú hơn, biết cách làm một bài văn thuyết minh hơn. Chúng tôi xin nêu một số kết luận về kết quả cụ thể ở từng mặt như sau: 4.1. Về kiến thức, kĩ năng: - Học sinh nắm rõ, nắm sâu về kiểu văn bản thuyết minh mà các em đang học. Qua đó, các em mới có điều kiện tự trang bị cho mình để hiểu đúng, hiểu sâu về kiểu văn bản thuyết minh mà các em đang học hoặc được đọc, được nghe. - Tính hấp dẫn có được bởi bám sát thực tế hằng ngày mà các em thường bắt gặp, quan sát nhưng chưa có điều kiện bộc lộ, thể hiện. - Có được một số thông tin, kiến thức có tính chất phổ thông mà lứa tuổi các em thường bỏ qua hoặc thiếu quan tâm. - Tăng cường, nâng cao được kĩ năng làm bài văn thuyết minh. - Biết tìm, phân tích, đánh giá một bài văn thuyết minh hay. 4.2. Về thái độ: - HS ham thích và nhiệt tình, tích cực hơn khi học văn thuyết minh, dù đây là loại văn bản Tập làm văn lần đầu được đưa vào chương trình, dễ có sự khô khan, nhàm chán khi dạy và học văn bản này. - Có sự chăm chỉ, tích cực và nghiêm túc trong hoạt động xây dựng bài học, giờ học có hứng thú. - Thể hiện được kĩ năng thực hành, thực tế để có tri thức khách quan về một đối tượng thuyết minh nào đó. - Có cảm hứng thích thú, học sinh ham thích hoạt động yêu mến khi học kiểu văn bản thuyết minh. - Kết quả khảo sát: So với lớp đối chứng, ở các lớp thực hiện đề tài tỉ lệ HS nắm vững khái niệm, kiểu văn bản thuyết minh, có kĩ năng làm một bài văn thuyết minh tăng lên rõ rệt: Năm học Tỉ lệ tăng ( % ) Nắm vững kiểu văn bản Kĩ năng làm bài văn thuyết minh 2005 - 2006 35 25 2006 - 2007 40 36 2007- -2008 44 45 III. KẾT LUẬN: Xuất phát từ cơ sở khoa học và cơ sở thực tiễn như đã trình bày trên, chúng tôi thấy rằng việc hướng dẫn, xây dựng cho học sinh có được những kĩ năng thực hành, thực tế để thực hiện một bài văn thuyết minh hoàn chỉnh là không dễ. Trong khi nhiều năm, dù cố gắng hết sức, bản thân chúng tôi cũng chưa làm được nhiều, được tốt như yêu cầu mong muốn và thực tế giảng dạy đặt ra cho học sinh lớp 8 đối với văn thuyết minh nói riêng. Thêm nữa, khi lên lớp 9 HS sẽ được nâng cao hơn về văn thuyết minh biết kết hợp với một số biện pháp nghệ thuật giúp sự diễn đạt được sinh động, linh hoạt hấp dẫn hơn (nhưng vẫn không quên tính chất thuyết minh là chủ yếu). Thiết nghĩ, nếu học tốt văn thuyết minh, ngoài những yêu cầu cơ bản, còn giúp cho HS có thói quen quan sát và cảm nhận cuộc sống xung quanh một cách nhạy bén, tích cực hơn. Qua đó tự làm cho kiến thức của mình thêm phong phú, da dạng, nhất là trong giai đoạn hội nhập hiện nay và vấn đề bảo tồn, phát huy bản sắc dân tộc. Mặc dù việc làm trên không mới mẻ, tuy nhiên, nội dung lại phong phú. So với cách đi bình thường theo lí thuyết từ các bài học ở SGK (phần văn thuyết minh), vấn đề trên đã tạo được tình huống học tập, khơi gợi được sự động não tìm tòi của học sinh. Chúng tôi nhận thấy giờ học sôi nổi, sinh động và hứng thú, tránh được sự nặng nề, khô khan trong phân môn Tập làm văn. Qua việc giảng dạy và kiểm tra, chúng tôi đã khẳng định được tính khoa học và tính khả thi của nội dung vấn đề này. Bài học kinh nghiệm: Đạt được những kết quả trên là cả một quá trình nghiên cứu đúc rút kinh nghiệm, tôi xin được trình bày với các đồng nghiệp một số kinh nghiệm sau: - Ngoài việc nghiên cứu thật kĩ kiểu văn bản thuyết minh trong chương trình Ngữ văn 8, giáo viên còn phải có định hướng rõ ràng và cụ thể cho từng tiết dạy. Trên cơ sở định hướng, xác định yêu cầu khắc sâu kiến thức, rèn luyện kĩ năng, bồi dưỡng tình cảm, giáo dục thái độ cho HS một cách phù hợp. - Thiết kế giáo án hợp lí, khoa học, cụ thể, có định hướng nội dung, phương pháp, biện pháp, hình thức hoạt động tương ứng với từng loại đối tượng. - Tổ chức các hoạt động dạy học trên lớp sát với giáo án, xử lí linh hoạt các tình huống sư phạm nảy sinh trong giờ học. - Đề ra các yêu cầu kiểm tra, khảo sát kết quả cụ thể, sát hợp với từng loại đối tượng để đánh giá chính xác mức độ đáp ứng các yêu cầu đã xác định. - Rút kinh nghiệm kịp thời để điều chỉnh cho tiết dạy sau. - Tiếp tục nghiên cứu hoàn thiện đề tài, tiến tới triển khai đại trà cho tất cả các tiết dạy học kiểu văn bản thuyết minh. 2. Kiến nghị, đề nghị: Để đề tài đạt hiệu quả hơn, chúng tôi xin đề nghị với các đồng nghiệp một số điểm sau: - Cần nhiều thời gian hơn để cung cấp, gợi mở cho các em chuẩn bị những yêu cầu cần thiết trước khi tiến hành tiết dạy ( có thể bằng phiếu yêu cầu chuẩn bị tiết học). Chú ý tính hệ thống của chương trình, khả năng tích hợp kiến thức của các bài học cùng thuộc kiểu văn bản thuyết minh - Tăng cường các hoạt động ngoại khoá để giúp HS rèn luyện kĩ năng thực hành, thực tế khắc sâu thêm hiểu biết của các em . Những hoạt động này trên lớp không đủ thời gian và đáp ứng hết được, rất cần dành nhiều thời gian cho hoạt động ngoại khóa sẽ có hiệu quả cao hơn. Quá trình thực hiện đề tài dù đã được đầu tư kĩ, rút kinh nghiệm nhiều lần, nhưng chắc chắn sẽ không tránh khỏi những thiếu sót hoặc còn có chỗ chưa thoả đáng. Vì thế chúng tôi rất mong muốn nhận được sự góp ý của quý đồng nghiệp để việc thực hiện đế tài đạt hiệu quả cao hơn. Xin trân trọng cảm ơn mọi đóng góp của quý đồng nghiệp./. Đà Nẵng, ngày 06 tháng 02 năm 2009 Người thực hiện đề tài Nguyễn Thị Hồng Vân

Cập nhật thông tin chi tiết về Chính Phủ Bỏ Yêu Cầu Sáng Kiến Kinh Nghiệm Từ 20/8, Thầy Cô Có Biết? trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!