Xu Hướng 12/2022 # Chuẩn Bị Trước Khi Đi Học Tiếng Anh Ở Philippines / 2023 # Top 21 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Chuẩn Bị Trước Khi Đi Học Tiếng Anh Ở Philippines / 2023 # Top 21 View

Bạn đang xem bài viết Chuẩn Bị Trước Khi Đi Học Tiếng Anh Ở Philippines / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Hey hey !!!!

# Lý do chọn học tiếng Anh ở Philippine.

Tháng 09/2016 mình có một chuyến du lịch 7 ngày tại Manila thủ đô của Philippine và mình thấy đây cũng là một thành phố khá hiện đại và giống với Sài Gòn của Việt Nam về khí hậu và con người đồ ăn thì hơi khác tí thôi. Mình bắt đầu có ý định về một chuyến du học tiếng anh tại đất nước Philippine mới mẻ này.

Sau quãng thời gian tìm hiểu cũng khá dài hơi và đưa đến quyết định mình đã tìm hiểu kỹ lưỡng và có một số điều khiến mình chọn Philippine để tới học tiếng Anh :

Đất nước nói tiếng Anh khá tốt, giáo viên được đánh giá là chuyên môn cao.

Chi phí không đắt so với đi học tại các nước khác – nếu đi học ở Singapore thì đắt cực.

Thời gian học linh hoạt – có thể chọn khoá 4 tuần – 24 tuần, mình chọn 8 tuần.

Mô hình dạy tiếng anh khá là hiện đại mà Việt Nam chưa thấy – dạy 1:1, học nhóm rồi các hoạt động khác của từng trường.

Cuộc sống tách biệt, học trong trường phải bắt buộc nói tiếng anh để giao tiếp vì đăng kí học trường nội trú và toàn học sinh quốc tế.

Khí hậu ở đây khá phù hợp – Philippine là một nước khi hậu nhiệt đới và Manila thì có khí hậu giống Sài Gòn.

#Tìm hiểu những điều cần thiết để học tiếng anh tại Philippine tốt nhất.

Trước hết là việc lựa chọn trường, thời gian học bao lâu, thành phố nào sẽ là điểm đến của bạn.

Mình đã đi du lịch tại Manila 7 ngày trong tháng 9/2016 và cũng thấy Manila khá là thích thành phố này + mình có một người bạn làm việc tại Manila nên cũng muốn học ở đây rồi lâu rảnh rỗi bạn bè gặp nhau đi chơi ăn uống cho tiện. Còn theo tìm hiểu thì mình thấy là nên tới một số thành phố học tiếng anh chẳng hạn như Cebu, Clark, Baguio,… mà điển hình là rất nhiều người chọn Cebu và Clark vì thành phố cũng đẹp, vừa đi học kết hợp du lịch.

Về việc quyết định chọn 8 tuần mình đã tìm hiểu và giải thích như sau:

Ở các trường của Philippin mình có thể lựa chọn các khóa từ 4 tuần – 24 tuần. Và mình thì chắc chắn rằng học 4 tuần cũng chưa có thể thay đổi gì nhiều khả năng tiếng Anh hiện tại của mình nên mình sẽ không chọn khóa 4 tuần. Mình cũng không chọn khóa 24 tuần vì như vậy chi phí sẽ rất cao, mà có thể sẽ phải học quá lâu.

Mình chọn khóa 8 tuần trước mắt là vậy, sau khi sang đó học tới gần hết 8 tuần thì mình sẽ có 2 lựa chọn :

Về nước – nếu cảm thấy đã tiếng bộ và hài lòng hoặc chỉ muốn học bấy nhiêu thôi.

Tiếp tục ở lại học bằng cách đề nghị trường gia hạn thời gian học và làm thủ tục gia hạn VISA để tiếp tục học.

Việc gia hạn theo lựa chọn 2 thì đơn giản và không tốn nhiều chi phí. Bạn chỉ phải trả thêm học phí theo thời lượng muốn tiếp tục học thôi.

Đây cũng là một phương án khá hợp lý và cũng không bất tiện gì lắm, mình cũng chọn phương án này sau khi học 2 tháng ở bên Philippine nếu tiếng Anh chưa tốt mình sẽ tiếp tục đăng kí học như vậy bạn vừa nắm được tình hình học thực tế và có muốn thay đổi quyết định cũng dễ dàng hơn.

# Chuẩn bị những gì để sang học tiếng anh tại Philippine ?

Tất cả quần áo mình có.

Laptop cá nhân – mình còn phải viết lách, làm việc online.

Máy chụp hình Sony A6000 – mình mê khoản chụp hình không thể không đem.

Hơn một chục cuốn sách – để đọc lúc rảnh rỗi.

Tiền mặt và thẻ VISA – mình làm thẻ tín dụng ANZ nữa nên tiêu xài cũng dễ dàng.

Passport + hình 4×6 lỡ cần gia hạn hay gì đó.

Đồ dùng cá nhân : Bàn chải, kem đánh răng, khăn tay, khăn tắm, dao cạo râu, nước hoa, giày dép, nón, …..

Một số đồ ăn có thể đem được ăn cho đỡ nhớ – nếu muốn.

Một số thuốc hay dùng như : Thuốc đau bụng, thuốc cảm, …

Chỉ vậy thôi, qua đó nếu thiếu gì thì mình ra ngoài mua – một tuần mình được nghỉ vào cuối tuần nên thoải mái mua sắm hay đi chơi gì đó lúc đó cần gì thì mua hoặc cũng có thể nhờ trường mua giùm cho bạn được.

# Học tiếng anh tại Philippine hết bao nhiêu tiền ?

Mình lựa chọn hình thức du học cũng là một khoản đầu tư và mình muốn đó là một cái gì đó cam kết với bản thân, không học nửa vời như thời gian suốt từ thời cấp 2 cho tới tận bây giờ nữa – không đem lại kết quả gì khả quan cả 🙂

Thời gian 8 tuần mình học tiếng Anh tại Phillipine chi phí khoảng 60 triệu với các chi phí :

Vé máy bay khứ hồi : 4triệu ( book trước khoảng 1 tháng và tránh dịp lễ, ngày nghỉ).

Học phí : 50tr/ 8 tuần trong đó bao gồm tiền ăn uống, ở tại trường, tài liệu giáo trình, học phí, giặt ủi, điện nước,….

Chi phí địa phương : Chi phí xin giấy tờ và thủ tục tại trường hết khoảng 6triệu.

Các chi phí lặt vặt trong khi ở bên Philippine tuỳ nhu cầu cá nhân.

Điểm khác biệt về số tiền học tiếng Anh tại Phillippine nó sẽ phụ thuộc vào 2 yếu tố khác nữa :

Khoá học bạn chọn – Toiec, IELTS, ESL mỗi khoá sẽ có học phí khác nhau.

Loại phòng bạn ở : Phòng 1 người, 2 người, 3 người sẽ có giá khác nhau.

Để biết rõ về học phí bạn có thể liên hệ qua trung tâm tư vấn để có được bản giá học tốt nhất.

# Chất lượng học tiếng Anh tại Phillippine có tốt không ?

Thời lượng học 8 tiếng/ ngày thì bạn sẽ nhanh chóng làm quen với việc phản xạ bằng tiếng Anh.

Sống tách biệt với người Việt nên buộc phải nâng cao khả năng giao tiếp thông qua tự học và hỗ trợ của giáo viên người Philippine và của trường.

Có giáo viên Anh, Úc, Mỹ nên việc phát âm chuẩn là điều quan trọng và yên tâm.

Yên tâm học vì trường lo hết ăn, ở, giặt giũ, vệ sinh,….

Mô hình 1 kèm 1 nên sẽ có giáo viên kèm cặp và hỗ trợ theo trình độ của mình.

Những thông tin mình tìm hiểu được thì học tiếng Anh tại Philippine khá tốt và cũng chưa thấy thông tin nào phàn nàn về việc học tiếng anh tại Philippine nên khá là yên tâm và dễ dàng quyết định đi học bên này.

# Hỏi đáp du học tiếng Anh tại Philippine.

Học Anh Văn Trực Tuyến 1 Kèm 1 Hiệu Quả Với Giáo Viên Philippines Trường Học Tiếng Anh E / 2023

Học tiếng Anh trực tuyến với giáo viên nước ngoài qua Skype

Phương thức học tiếng Anh hoàn toàn mới

Hình thức học tiếng Anh online 1 thầy – 1 trò hoàn toàn bằng tiếng Anh mang đến cho bạn sự tương tác cao với giáo viên nước ngoài trong suốt buổi học. Bài học không còn chìm trong sách vở, ngữ pháp, từ vựng. Học là dùng được ngay. Với E-talk, học tiếng anh là để nói, để sử dụng chứ không chỉ để thi!

Với lịch học linh hoạt cùng phương thức học tiếng Anh online 1 thầy – 1 trò qua Skype với giáo viên nước ngoài, bạn chỉ cần một chiếc máy tính hay một chiếc máy tính bảng hay đơn giản hơn là một chiếc điện thoại thông minh có kết nối mạng là bạn có thể học tiếng Anh online tại bất kỳ nơi nào.

Đội ngũ giáo viên

“Hi! My name is Monique, but you can call me teacher Nik. I am 24 years old and I live in the Philippines. I have been an Online English teacher for 2 years now. Learning the English language is very crucial. It could help us in numerous ways…”

“I’m Teacher Cris. I graduated with a degree in Bachelor of Arts Major in English in 2003. I have been teaching English for over 10 years. I have students from the Philippines, South Korea, Japan, China, Vietnam, India, Brazil, Russia, Italy, Spain, France,…”

“Hi! Do you want to learn English but you’re losing all your confidence??? You’ve come to the right place! I am teacher Raiza, 25 years old, from the Philippines. I have a degree of Bachelor of Science in Nursing and Bachelor in Secondary Education…”

100% giáo viên nước ngoài

100% giáo viên tại E-talk được lựa chọn từ Philippines, đất nước dùng tiếng Anh như tiếng mẹ đẻ. Được đào tạo trình độ cao, trình độ tiếng Anh của giáo viên Philippines đã được các nước yêu cầu khắt khe như Mỹ, Nhật Bản thừa nhận. Qua đó đội ngũ giáo viên tại E-talk cam kết không chỉ giúp bạn tiến bộ mà còn giúp bạn sử dụng tiếng Anh như người bản xứ.

Đội ngũ giáo viên giàu kinh nghiệm

Đội ngũ giáo viên tại E-talk được lựa chọn giỏi về chuyên môn và có nhiều năm kinh nghiệm trong việc giảng dạy tiếng Anh online với những chứng chỉ quốc tế về giảng dạy tiếng Anh TESOL, CELTA để nhằm đảm bảo chất lượng giảng dạy. Giáo viên tại E-talk cam kết giúp bạn vượt qua rào cản ngại giao tiếp bằng tiếng Anh một cách nhanh chóng và hiệu quả nhất.

Ý kiến học viên

“Giờ học hiệu quả, chất lượng tốt, giáo viên nhiệt tình. Mong muốn cô giáo sẽ giúp mình sửa lỗi sai nhiều hơn nữa”

Nguyễn Thị Thuỳ Liên – Giảng Viên, Hà Nội

“Giáo viên và trung tâm rất nhiệt tình giúp đỡ. Tư vấn cho học viên rất nhiệt tình.”

Nguyễn Xuân Trưởng – Kỹ Sư, Hà Nam

“Giáo viên rất nhiệt tình, sửa lỗi ngữ âm và ngữ pháp tiếng Anh cho mình rất nhiều. Mình nhận thấy thoải mái và tự tin hơn trong giao tiếp.”

Lưu Thị Hương Giang – Sinh Viên, Tp.HCM

Hãy để E-talk giúp bạn vượt qua rào cản tiếng Anh!

Phần 17: Ngày Quyết Định Đi Học Tiếng Anh / 2023

Từ ngày và đại học cho đến khi ra trường, ba đều lo lắng không biết lấy tiền đâu để ra trường xin việc cho mình vì ở quê mình là vậy, đã thành lệ trong nếp nghĩ của phụ huynh. Mình nói với ba: Con ra trường đi xin việc, chổ nào lấy tiền xin việc của con, con sẽ không làm cho chỗ đó.

Mình tốt nghiệp loại giỏi, điểm cao nhất lớp được Sở Nông nghiệp Hà Tĩnh nhận vào làm theo chính sách thu hút nhân tài của tỉnh. Quê nội mình ở Lộc Hà, ba mình là tộc trưởng. Mình có người yêu là bạn cùng lớp đại học nên xin việc về đó để ổn định. Đó cũng là ước mơ và mục tiêu trong những năm học đại học của mình: có được một công việc ổn định sau khi tốt nghiệp.

Ngày mình nhận được giấy đi làm, mình vừa mừng vừa vui. Mình hình dung được viễn cảnh tương lai khi đi làm, cưới chồng và có con và các công việc hàng ngày mình sẽ làm. Mình cảm thấy không hài lòng với nó và tự hỏi: cuộc sống tương lai của mình nó sẽ như thế này sao? Buổi sáng sẽ đưa con đến trường rồi đi làm, trưa sẽ tạt vào chợ và về nấu ăn để chiều đi làm. Tối về sẽ dạy con học hoặc xem phim. Mình cảm thấy có gì đó bên trong mình nói: không, Hằng, đó không phải là cái mình muốn. Trong khi ước mơ đi du học từ thời đại học và sử dụng tốt tiếng Anh còn dang dở. Mình gặp chú giám đốc Sở và cám ơn chú đã nhận vào làm và từ chối công việc đó. Mình bắt xe đò quay trở lại Hà Tĩnh và cảm thấy một chặng đường dài chưa rỏ ràng đang chờ trước mặt mình.

Ba mình phản đối ngay lập tức với quyết định đi học tiếng Anh của mình. Ba nói sau con còn 6 đứa em đang tuổi ăn tuổi học, chừ con không phụ ba mạ thì làm răng ba mạ kham nổi. Nhưng mình hiểu trong tâm ba sợ, ba sợ sự không chắc chắn, ba sợ con cái sẽ ảo tưởng mà theo đuổi ước mơ du học vốn rất xa vời với một đứa sinh ra và lớn lên từ làng chài như mình.

Miềng ngồi gần Mạ. Mạ đang xắt chuối cho bò. Nhà mới mua con bò nợ 3 triệu từ Dì Thanh. Chuối mạ mới xin nhà Dì Thảnh. Miềng lân la thỏ thẻ xin Mạ. Có lẽ chỉ với Mạ, miềng mới có đủ can đảm để bộc bạch suy nghĩ của mình. Mạ nờ chừ con ưng đi học tiếng Anh, con muốn làm một cái chi đó khác. Chừ con đi làm thì với mức lương nhà nước chừng đó, sau khi chi tiêu xong con chỉ cho em mỗi đứa thêm hai trăm ngàn mỗi tháng, không thấm vô mô hết. Mà em cứ lớn dần lên, con không giúp đỡ định hướng chi cho mấy đứa được. Rồi hắn cứ truột qua tay con.

Mạ cũng không nói chi, tay mạ cứ đều xắt chuối từng khúc, từng khúc đều đặn. Những lát chuối trắng ngần, chảy nước như mật, cứ rứa tuôn trào ra ướt cái bao ni lông mạ lót bên dưới. Miềng cũng ngồi, mặt gác trên hai đầu gối, cúi gầm, tay cầm que vẽ hình ngôi sao xuống đất, đầu trống rỗng, chẳng nghĩ được chi. Bế tắc.

Mạ trở cơn chuối, nói: Thôi mi đi học đi, ba mi không cho tiền thì tau cho. Mỗi ngày tau nạp hụi mười ngàn, mỗi tháng tau gửi cho ba trăm ngàn. Mi gắng mà học, tau cũng chỉ giúp mi được chừng nớ thôi chơ không biết lấy mô hơn.

Miềng chỉ cần nghe đến đó là lòng vui sướng như một cánh cửa lớn mở ra, dù chỉ là he hé. Hắn khẽ dạ rồi nhổm dậy vô nhà bếp dọn tất cả các sách có chứ tiếng Anh bỏ vào một bao tạ. Chà, bao nhiêu năm tích lũy sách giờ hắn có cả một kho tàng sách như ri đây. Cứ một lần nhận học bổng cuối kỳ, hắn lại đạp xe qua bờ Nam có mấy tiệm sách củ, hắn lật lật chọn chọn lựa lựa ra được mớ sách tiếng Anh, toàn ngữ pháp với ngữ pháp, rồi hồ hởi cong khu đạp xe về, như kiểu những quyển sách nớ mới mua xong là chữ đã tự động nạp vào đầu, khỏi cần học hihi. Vừa đạp xe qua cầu Tràng Tiền, hắn nghĩ bụng ước chi mấy quyển sách ni đốt xong, hòa nước uống mà chữ chạy vô đầu thì khỏe hè, khỏi học, sướng. Mới nghĩ tới đó hắn đã thấy rộn ràng sung sướng để tiếp tục dong xe về Ký túc xá Tây Lộc.

Mẹt đóng một bao tạ sách, lấy dây cước làm lưới của ba chằng qua chằng lại cẩn thận rồi dắt xe đạp băng qua đường bắt xe vô Đà Nẵng. Hắn tranh thủ đi nhanh kẻo ba đi về mà thấy biết đâu lại bắt ở nhà. Sau khi yên chí ngồi trên xe đò, hắn nghĩ bụng thương mạ, không biết ba về không thấy hắn, có la mạ cho hắn đi học hay không, rồi mạ hắn phải chống chế với ba hắn như răng. Hắn cũng hiểu, ba hắn không phải không muốn cho hắn đi học để có tương lai tốt hơn, mà là vì ba hắn không tin vào cái viễn cảnh mà hắn vẽ ra. Du học, học bổng với ba hắn là một cái chi đó xa xôi, mà một đứa con gái con nhà chài lưới như hắn là một mơ ước viễn vông. Ba hắn sợ con không làm được rồi lại sinh hoang tưởng, không thực tế rồi sinh hư. Ba hắn thương con gái và lo cho tương lai của hai đứa con gái hơn cả. Ba hắn hay nói: tau chỉ lo hai đứa con gái, sợ bây lấy chồng mà không có học hành nghề nghiệp rồi khổ thân nên lo mà học đi. Còn mấy đứa con trai học không được thì vác búa theo tau, kiểu chi cũng có cơm ăn.

Lòng hắn nhẹ nhàng bay bổng đón chờ cái tương lai phía trước mà cũng lắm lộn xộn, lo lắng. Thôi kệ, hắn úp mặt lên cái ba lô sách ôm trước bụng và ngủ ngon lành. Gió mát rượi thổi tóc hắn bay xõa tung tóe. Hắn tỉnh, ngó ra cây cối hai bên đường, rồi lại ngủ. Xe qua hầm Hải Vân, anh lơ xe gõ gõ vào ghế nhắc hắn đóng cửa kính vì xe sắp qua hầm, hắn mới thực sự tỉnh giấc. Ồ, miềng tới Đà Nẵng rồi hả, mau rứa.

Anh lơ xe thả xe đạp và một bao tạ sách cái chạch xuống trước cổng trường Bách Khoa, bung cả miệng bao tải, sách lăn xoài ra lề đường. Mẹt hì hụi cột bao tạ sách lên xe rồi đạp đi tiếp. Bụng hắn vui vì cứ đạp xe đến cột đèn đỏ nào là đèn từ màu đỏ chuyển sang màu xanh. Hắn phẩn khởi đạp qua ngon lành, nghĩ bụng:chắc đây là dấu hiệu ông bà tổ tiên phù hộ cho mình học hành thuận lợi, đi đến nơi về đến chốn đây.

Đến gần xóm trọ hắn gọi Hiệu, là bạn thân của người yêu, ra đón về ở tạm với người yêu của Hiệu học trường Sư phạm gần đó.

Học Tiếng Anh Pháp Lý Ở Môi Trường Đại Học / 2023

Ngày nay, Tiếng Anh Pháp Lý (TAPL) đã trở thành một bộ phận của ngành ngôn ngữ học hiện đại, hay được gọi là một “Tiểu Ngôn Ngữ” bởi TAPL phân biệt nó rất rõ với Tiếng Anh phổ thông về cấu trúc, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp,…

I. Tiếng Anh Pháp Lý

1. Khái niệm

Có thể nói sự phát triển vượt bậc của xã hội loài người từ một vài thập kỷ qua đã chia nhỏ các ngành học thành nhiều ngành sâu khác nhau, trong đó có Ngôn Ngữ Luật (cấu thành của ngành Ngôn Ngữ Học). Nếu như bộ xương của kinh tế học (economics) là các mô hình toán, thì với luật học là ngôn ngữ (linguistics). Tại Hoa Kỳ, các học giả gọi đó thứ Tiếng Anh Pháp Lý (Legal English) hay Ngôn Ngữ Luật (Language of the Law). Sở dĩ thứ ngôn ngữ này trở nên đặc biệt chính là vì một số đặc điểm chính như tính riêng biệt (peculiar), tính duy nhất (uniqueness), tính mơ hồ (vagueness), tính uyển chuyển (flexibility) và tính phổ quát (universality). Ngay trong nội tại của ngành Ngôn Ngữ Luật, người ta lại chia nhỏ thành Ngôn Ngữ Hợp Đồng (Contractual Language), Ngôn Ngữ Thẩm Phán (Judge-made Language), Ngôn Ngữ Luật Sư (Language for Lawyers). Trong mỗi phần ngành, người ta nghiên cứu sâu sắc về đặc điểm (character), hình thức (form), cấu trúc (structure), bản chất (nature). Trên thực tế, sự uyển chuyển về ngôn ngữ chiếm đến 99% sự thành công của việc soạn thảo một hợp đồng hay bất kỳ một văn bản mang tính pháp lý nào. Hay nói một cách hoa mỹ của các luật sư thì hợp đồng là một trò chơi về ngôn từ. Cách nói như vậy quả là không có gì ngoa nếu chúng ta nhìn một chút lại quá trình lịch sử phát triển của Ngôn Ngữ Luật (ở đây muốn nói đến cụ thể là Tiếng Anh Pháp Lý).

2. Lịch sử hình thành

Trở lại với nguồn gốc của Hệ Thống Pháp Luật Chung (hay thường gọi ngắn gọn là Thông Luật). Từ thời trước khi Vương Quốc Anh ngày nay ra đời, Thông Luật được viết bằng ngôn ngữ đời thường của các cộng đồng sống rải rác khắp các vùng thuộc nước Anh ngày nay. Thời kỳ La Mã cai trị nước Anh, ngôn ngữ của luật là tiếng Latin (khoảng năm 43 SCN). Sau khi người La Mã rời khỏi nước Anh và người Anglo-Saxon xâm chiếm và cai trị nước Anh bằng hệ thống pháp luật Anglo-Saxon, ngôn ngữ luật cổ là tiếng Giéc-manh (được coi là Tiếng Anh cổ). Sau khi người Norman xâm lược nước Anh, thì ngôn ngữ luật là tiếng Pháp, phổ biến trong khoảng hơn 3 thế kỷ. Kể từ năm 1066, tiếng Latin là ngôn ngữ chính thống của các văn bản pháp luật và mãi tới năm 1730 mới được thay thế bởi Tiếng Anh (lưu ý là Tiếng Anh của ngày đó khác khá nhiều so với Tiếng Anh hiện đại) theo Đạo Luật Tố Tụng Tại Tòa Án Công Lý (1730). Ngày nay trong Tiếng Anh Pháp Lý, chúng ta còn thấy tồn tại nhiều thuật ngữ Latin như Ipso facto (by that very fact itself), force majeure (unavoidable event), ad hoc (for a particular purpose), de facto (existence by law), bona fide (in good faith), inter alia (among other things), ultra vires (beyond powers) vvv. Chúng ta cũng thấy nhiều từ gốc tiếng pháp nay vẫn được dùng để chỉ nhiều thuật ngữ trong Thông Luật như property (properte), estate (état), chattel (chatel), executor (executor) vvv.

3. Phân loại tiếng Anh Pháp Lý Hiện Đại

Ngày nay, Tiếng Anh Pháp Lý (TAPL) đã trở thành một bộ phận của ngành ngôn ngữ học hiện đại, hay được gọi là một “Tiểu Ngôn Ngữ” bởi TAPL phân biệt nó rất rõ với Tiếng Anh phổ thông về cấu trúc, từ vựng, ngữ nghĩa, cú pháp vv. Nó khó hiểu và phức tạp đến độ người ta đặt riêng cho nó một tên gọi là “Legalese” để “bêu rếu” giới luật sư về cách viết và giao tiếp của họ khiến người “ngoại đạo” không thể hiểu nổi họ muốn nói gì, đặc biệt là trong ngôn ngữ của hợp đồng. Mặc dù nhiều nhà ngôn ngữ cũng như nhiều học giả phê bình thứ ngôn ngữ luật mà các luật sư đang dùng là “rối rắm” và đề xuất cải cách TAPL theo hướng đơn giản hóa, trực tiếp về ngữ nghĩa để cho dễ hiểu, nhưng nhìn vào gần như 100% các hợp đồng giao dịch tại các thị trường phát triển như Anh, Hoa Kỳ, và kể cả các hợp đồng có yếu tố nước ngoài tại Việt Nam, chúng ta vẫn nhận thấy một lối hành văn siêu phức tạp mà nếu không có khả năng ngôn ngữ tốt cộng với kiến thức pháp luật sâu, thì thật sự vất vả mới có thể hiểu được, hoặc tưởng là hiểu đúng, nhưng hóa ra lại đang sai mà không biết là mình sai.

Vậy tại sao TAPL lại cứ phải phức tạp như thế? Câu hỏi này thật khó trả lời, thậm chí đối với cả bản thân những người va chạm nhiều với những thứ văn bản pháp lý kiểu như vậy. Để giúp kiến giải phần nào sự phức tạp này, qua kinh nghiệm tích lũy được sau nhiều năm học tập, nghiên cứu tại cả hai nền Thông Luật (Hoa Kỳ) và Dân Luật (Việt Nam), tôi đã thử phân loại Tiếng Anh Pháp Lý ra thành nhiều cấp độ như sau: (i) Tiếng Anh dùng trong các văn bản pháp luật chính thống (Statutes, Treaties etc.,) (ii) Tiếng Anh mà các Thẩm Phán dùng để hành văn khi soạn thảo các phán quyết (Judge-made) (iii) Tiếng Anh dùng trong các hợp đồng (Contractual Language) và (iv) Tiếng Anh dùng giao tiếp pháp lý (legal opinion memo). Sự phân chia này của tôi không cố tình chia theo mức độ phức tạp và khó (mặc dù trên thực tế có sự phân biệt này), mà chỉ để cho chúng ta thấy được một số đặc điểm của từng loại văn bản mà trong đó TAPL được sử dụng.

3.1. Tiếng Anh trong các văn bản pháp lý chính thống (Đạo luật, Hiệp định vvv)

Tiếng Anh dùng trong các đạo luật (ở đây tôi chỉ nói tới các đạo luật của Hoa Kỳ) có một đặc điểm chung là tính khái quát quá cao đến độ đậm đặc và rắc rối. Có người nói tại sao không soạn thảo luật bằng một thứ Tiếng Anh thông thường để ai đọc cũng hiểu, vì mục đích cuối cùng của luật là phải đi vào cuộc sống để một người nông dân Mỹ với trình độ học vấn trung học (high school) đọc và hiểu luật quy định gì. Đơn giản đến mức như: Vỉa hè là dành cho người đi bộ hay đèn đỏ dừng xe lại hay đến ngã tư giảm tốc độ nhìn hai phía rồi đi tiếp. Ai cũng muốn viết đơn giản như thế, nhưng không hiểu sao, các đạo luật ở Mỹ lại không được soạn theo thứ Tiếng Anh đơn giản (Plain English), mà lại cứ phải sử dụng thứ Tiếng Anh phức tạp mà đến cả sinh viên tốt nghiệp đại học đọc còn không hiểu luật muốn nói gì (chưa kể đến cả sinh viên luật còn ngồi đọc nát cả luật còn hiểu chưa rõ). Lấy một ví dụ một đoạn trong Bộ Luật Thương Mại Thống Nhất Hoa Kỳ:

“2-316. Exclusion or Modification of Warranties: (1) Words or conduct relevant to the creation of an express warranty and words or conduct tending to negate or limit warranty shall be construed wherever reasonable as consistent with each other; but subject to the provisions of this Article on parol or extrinsic evidence (Section 2-202) negation or limitation is inoperative to the extent that such construction is unreasonable…”

Tóm lại, khi một người bình thường đọc kiểu ngôn ngữ này sẽ “chau mày” vì khó hiểu. Điều này là đúng sự thật vì đến cả người hành nghề luật, nghiên cứu luật và học trường luật tại Mỹ cùng còn thấy khó hiểu. Đây chỉ là một ví dụ trong muôn ngàn ví dụ có thể kể ra khi đọc luật Mỹ, chưa kể nếu chúng ta có tham vọng dịch Bộ Luật Thương Mại Thống Nhất này ra tiếng Việt để phục vụ mục đích tham khảo cho các nhà làm luật và nghiên cứu pháp luật ở nước ta. Khi không hiểu, thì chắc chắn dịch sẽ sai, và như thế thực sự là tai hại.

Sở dĩ thứ ngôn ngữ này khó hiểu đến vậy vì ẩn trong mỗi đạo luật là những triết lý, những học thuyết pháp luật đã hình thành từ lâu đời mà muốn hiểu rõ thì phải học, phải đọc lại các học thuyết đó, đọc lại các án lệ (precedents) xem quan điểm của các thẩm phán như thế nào và kết luận ra sao. Ngay trong đoạn trên, một sinh viên luật trung bình phải biết tra cứu xem thế nào là warranties, có các dạng warranties nào và ý nghĩa của chúng là gì. Ví dụ, warranties of merchantability hay warranties of fitness, và chúng là “implied” hay “express”. Mỗi dạng lại có một hậu quả pháp lý khác nhau. Hay chúng ta nhìn thay có học thuyết “parol evidence rule” trong đoạn trích trên. Đây là cả một học thuyết về hợp đồng, mà người không học không hiểu được. Đấy là còn chưa kể đến cấu trúc ngữ pháp của câu, đoạn nối tiếp nhau, đoạn này dẫn chiếu tới đoạn kia và ngược lại, bổ sung cho nhau hay loại trừ lẫn nhau. Nói tóm lại, nếu chỉ đọc trên bề mặt thì không sao hiểu được, mà phải đọc từ án lệ điển hình xem cách tiếp cận và diễn giải của các thẩm phán có uy tín mới vỡ ra được.

3.2. Tiếng Anh của Thẩm Phán

Trong cuốn sách nổi tiếng về Legal Writing (Viết Tiếng Anh Pháp Lý), Giáo sư Bryan A. Garner đã phải thốt lên rằng “Mỗi sinh viên luật phải đọc và tiêu hóa cả đống văn bản rải rác khắp nơi. Bạn phải đọc qua các bản án cổ dài tới 50 trang chỉ để nói cái có thể được nói dứt khoát trong 5 trang….”

“And in the outset we may as well be frank enough to confess, and, indeed, in view of the seriousness of the consequences which upon fuller reflection we find would inevitably result to municipalities in the matter of street improvements from the conclusion reached and announced in the former opinion, we are pleased to declare that the arguments upon rehearing have convinced us that the decision upon the ultimate question involved here formerly rendered by this court, even if not faulty in its reasoning from the premises announced or wholly erroneous in conclusions as to some of the questions incidentally arising and necessarily legitimate subjects of discussion in the decision of the main proposition, is, at any rate, one which may, under the peculiar circumstances of this case, the more justly and at the same time, upon reasons of equal cogency, be superseded by a conclusion whose effect cannot be to disturb the integrity of the long and well-established system for the improvement of streets in the incorporated cities and towns of California not governed by freeholders’ charters.”

Tòa muốn nói gì ở đây sau một đoạn văn dài dòng và cách điệu? theo Garner, tòa muốn nói “we made a mistake last time”, có thế thôi.

3.3. Ngôn ngữ dùng trong hợp đồng

Nguyên tắc tự do hợp đồng (freedom to contract) được thừa nhận rộng rãi ở các nền tài phán theo hệ thống luật chung và đây chính là khoảng trống lớn nhất để các bên thương lượng và đưa vào hợp đồng bất kỳ điều khoản nào (miễn là không trái với pháp luật và đạo đức xã hội). Chính vì thế, đây là “đất diễn” của giới luật sư và đây cũng chính là chỗ để thể hiện “trò trơi pháp luật” bằng ngôn ngữ. Thật không ngoa khi nói luật sư tạo ra thứ pháp luật thứ ba, là Lawyer-Made Law (bên cạnh Hiến Pháp, Luật và Luật do Thẩm Phán tạo ra (Judge-made law dưới dạng các án lệ). Chính vì các bên đều mong muốn đưa ý đồ của mình vào hợp đồng, nên cần có sự thỏa hiệp, và do đó nhiều khi chúng ta thấy một điều khoản dài dòng, đọc không biết đâu là đầu, đâu là cuối, đâu là chủ ngữ và đâu là vị ngữ, và mệnh đề phụ này bổ nghĩa cho mệnh đề chính nào. Cấu trúc giao dịch càng phức tạp thì hợp đồng thể hiện cấu trúc đó càng phức tạp.

Để hiểu được hợp đồng, người học phải có một nền tảng về các nguyên tắc cơ bản. Không có gì xa lạ khi trong các hợp đồng chúng ta thường thấy xuất hiện các từ ngữ như terms and conditions, covenants, conditions precedent, representations and warranties, waivers, successor, survival, deed of accession etc. Thực sự đây là những thứ ngôn ngữ của nền tài phán Thông Luật đang xâm chiếm và được chấp nhận tại nhiều nền tài phán khác nhau, trong đó có Việt Nam. Tất cả những loại điều khoản này đã có khuôn mẫu được nhiều thế hệ luật sư Anh-Mỹ soạn thảo, và các luật sư sau này chỉ cần thêm bớt, chỉnh sửa theo ý đồ đàm phán thực tế của từng giao dịch. Đây là lúc mà luật sư cần thể hiện một thứ ngôn ngữ sao cho chuyên nghiệp để không quá chênh lệch với thứ ngôn ngữ “boilerplate” trong từng điều khoản. Ngoài ra, chúng ta còn thấy nhiều dạng điều khoản như disclaimers of liability, implied and express warranties of merchantability and fitness; rồi nhiều học thuyết ẩn sau hợp đồng như paro evidence rule, promissory estoppels, statute of frauds, statute of limitations; cũng như các biện pháp khắc phục như compensatory and punitive damages, restitution (unjust enrichment) vân vân.

Tại Việt Nam, trong khoảng 10 năm trở lại đây, các luật sư (đặc biệt là những luật sư làm việc trong môi trường hành nghề có yếu tố nước ngoài) đã dần quen với những dạng, kiểu ngôn ngữ như vậy. Những hợp đồng có yếu tố nước ngoài như Share Purchase or Subscription Agreement, Bond, Securities Lending, Guarantee, Purchasing Order, Loan Agreement, là những chỗ chúng ta có thể tìm thấy rất nhiều những phong cách ngôn ngữ du nhập từ hệ thống luật chung. Điều đáng nói là (có thể) những kiểu hợp đồng và ngôn ngữ này lại không được giảng dậy một cách chính quy tại bất kỳ một trường đại học luật nào ở Việt Nam. Xin thứ lỗi nếu ý kiến của tôi là chưa đúng.

3.4. Ngôn ngữ tư vấn luật

II. Soạn thảo pháp lý

Rất nhiều các bối cảnh pháp lý khác nhau sẽ có những yêu cầu riêng về hình thức văn bản pháp lý đặc thù cần phải sử dụng cho việc giao tiếp bằng văn bản. Trong nhiều trường hợp, văn bản là phương tiện để một luật sư có thể biểu đạt những phân tích của họ về một vấn đề và tìm cách thuyết phục người khác thay mặt cho khách hàng của họ. Bất kỳ một văn bản pháp lý nào được soạn ra đều phải đáp ứng yêu cầu chung là phải súc tích, rõ ràng và phù hợp với các tiêu chuẩn khách quan đã được hình thành đối với nghề luật.

Thông thường sẽ có hai loại soạn thảo pháp lý là phân tích pháp lý (legal analysis) và phác thảo pháp lý (legal drafting). Loại 1 gồm 2 kiểu. Kiểu thứ nhất là việc soạn thảo nhằm phân tích hài hòa về một vấn đề hay sự việc pháp lý. Ví dụ của kiểu 1 này là biên bản ghi nhớ giữa các văn phòng luật sư và thư tư vấn, trao đổi gửi cho khách hàng. Để có thể đạt hiệu quả cao trong kiểu soạn thảo này, người luật sư cần phải nhạy cảm đối với nhu cầu, mức độ quan tâm và lai lịch của các bên mà họ đại diện. Một biên bản ghi nhớ cho một đối tác trong cùng một công ty luật mà ghi chi tiết định nghĩa các khái niệm pháp lý cơ bản sẽ trở nên vô nghĩa và không hiệu quả. Ngược lại, đối với các biên bản ghi nhớ với khách hàng không có kiến thức về luật pháp mà không ghi rõ các định nghĩa trên thì có thể sẽ gây nhầm lẫn và phức tạp hóa một tình huống đơn giản.

Bên cạnh loại 1, còn có loại 2 là hình thức soạn thảo các văn bản pháp lý như hợp đồng hay di chúc. Đối với những thể loại văn bản này, thường sẽ có những mẫu văn bản cụ thể có sẵn để áp dụng, tuy nhiên việc soạn ra các văn bản đặc biệt áp dụng mẫu cho thực tế của sự việc cũng thường được yêu cầu. Soạn thảo pháp lý không tốt có thể sẽ dẫn đến những vụ tranh chấp không cần thiết và ảnh hưởng đến lợi ích của khách hàng[1].

Khác với các khóa đào tạo tiếng Anh pháp lý, khóa đào tạo kỹ năng soạn thảo pháp lý là khóa học không chỉ dành cho sinh viên quốc tế mà còn là khóa học cần thiết dành cho chính các sinh viên luật người bản địa đang theo học tại trường.

III. Hoạt động giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý tại Mỹ

Theo mô hình đào luật J.D (Jurist Doctor), các kỹ năng nghề nghiệp được chú trọng đào tạo trong chương trình đào tạo 3 năm. Kỹ năng soạn thảo pháp lý là kỹ năng thách thức nhất đối với sinh viên luật và thường là môn học bắt buộc đối với sinh viên.

1. Trường luật – Đại học Harvard

2. Đại học Luật Washington[5]

Kỹ năng soạn thảo pháp lý được đưa vào giảng dạy trong Chương trình Phân tích, Tra cứu, và Viết pháp lý (LARW) cho sinh viên năm nhất và được thiết kế để dạy cho sinh viên nguyên lý nền tảng về hệ thống pháp luật Mỹ và giới thiệu các kỹ năng cần thiết để phục vụ tư vấn hiệu quả và bào chữa trong hệ thống đó. Mỗi phần LARW giúp học sinh đạt được các mục tiêu và mục đích đó.

Trong kỳ học thu đông, học sinh được chia thành các nhóm nhỏ khoảng 25 học sinh. Mỗi giảng viên sẽ phát triển một loạt các vấn đề và hội thảo thực hành được thiết kế để dạy các kỹ năng phân tích, nghiên cứu, và viết pháp lý cho sinh viên. Ngoài việc phải thường xuyên liên hệ chặt chẽ với các giảng viên, sinh viên còn phải nhờ cậy các sinh viên năm thứ hai và thứ ba để học hỏi kinh nghiệm và thay đổi mình từ nghiệp dư thành chuyên gia trong ngành văn bản quy phạm pháp luật. Tất cả học sinh tham gia vào một loạt các dự án nghiên cứu và viết trong hai quý đầu năm, bao gồm cả việc soạn thảo các hình thức khác nhau của biên bản ghi nhớ nghiên cứu. Học sinh cũng có thể có cơ hội để dự thảo biên bản ghi nhớ tư pháp băng ghế dự bị hoặc ý kiến, thư từ khách hàng, điều khoản hợp đồng, hoặc biện hộ pháp lý.

Ngoài ra, tất cả các sinh viên phải tiếp tục theo học các khóa học về tra cứu và soạn thảo pháp lý trong những năm tiếp theo đại học để có thể hoàn thành các yêu cầu về viết pháp lý nâng cao để có thể được xét công nhận lấy bằng J.D. Các khóa học nâng cao về viết pháp lý cho sinh viên năm hai và năm ba sẽ tập trung vào bào chữa bằng văn bản, viết bài phân tích và nghiên cứu. Thêm vào đó, trường còn tổ chức một Trung tâm về soạn thảo pháp lý trong trường với sự tham gia của chính các sinh viên năm hai và ba trong trường dưới sự dẫn dắt của Khoa Viết & Nghiên cứu Phân tích Pháp lý. Có thể nói, Trườn luật – Đại học Washington cung cấp cho sinh viên của mình rất nhiều sự lựa chọn và mở ra các cơ hội cho sinh viên được học, trau dồi và thực hành kỹ năng soạn thảo pháp lý khi còn đang ngồi trên ghế nhà trường.

3. Đại học luật Seattle (Mỹ)[6]

Chương trình soạn thảo pháp lý tại Đại học luật Seattle được đánh giá là chương trình soạn thảo pháp lý tốt nhất tại Mỹ theo xếp hạng của trang U.S. News. Chương trình này là một bộ môn bắt buộc cho sinh viên từ năm nhất đại học bao gồm các môn sau:

Soạn thảo pháp lý 1: Tra cứu, Phân tích, Soạn thảo (4 tín chỉ) (Legal Writing I: Research Analysis, Writing)

Soạn thảo pháp lý 2: Bào chữa bằng lời và bằng văn bản (3 tín chỉ) (Legal Writing II: Written & Oral Advocacy)

Chuyên đề Nghiên cứu Viết Nâng cao (2 tín chỉ) (Advanced Writing Seminar)

Thực hành Soạn thảo (1 tín chỉ)

Nghiên cứu Pháp lý Nâng cao (2 tín chỉ)

Khoa Soạn thảo pháp lý tại Đại học Seattle sử dụng cả phương pháp trong và ngoài lớp học nhằm nâng cao hiệu quả học tập của sinh viên. Mỗi lớp học sẽ được trang bị hệ thống thiết bị tân tiến nhất cho phép giáo viên sử dụng máy tính và tất cả các loại văn bản giấy tờ bản cứng để trình chiếu cho sinh viên. Ngoài ra, các phòng học còn được lắp đặt hệ thống mạng internet không dây tốc độ cao. Sinh viên có thể gửi bài làm nháp của mình ngay và lập cho giáo viên thông qua bằng email để từ đó giáo viên có thể sử dụng chính bài của sinh viên và trình chiếu trên hệ thống máy chiếu, và hệ thống này cũng giúp sinh viên và giáo viên trao đổi được thuận tiện và nhanh chóng đối với các tiết học dạy từ xa.

IV. Hoạt động giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý tại Anh

Tương tự như Mỹ và hầu hết các quốc gia thuộc Khối Thịnh Vượng Chung, Anh cũng sử dụng hệ thống Thông luật. Tại Anh, kỹ năng soạn thảo pháp lý đa phần không được các trường đưa vào chương trình khung như là một môn học bắt buộc đối với các sinh viên đại học, mà các sinh viên chỉ được học kỹ năng viết pháp lý trong quá trình học các khóa học ngắn hạn khác như Tiếng Anh pháp lý hay môn Luật EU và Viết báo cáo (European Union Law and Report Writing) ở năm đầu đại học. Tuy nhiên, việc giảng dạy kỹ năng soạn thảo pháp lý lại được quan tâm và chú trọng nhiều hơn cho các đối tượng học Thạc sĩ Luật (LLM) hay chương trình Thực hành nghề luật LPC (Legal Practice Course).

1. Khoa luật – Đại học Cambridge[7]

Khoa luật Đại học Cambridge là một trong những trường luật hàng đầu trên thế giới, đứng thứ 2 trên thế giới theo xếp hạng của trang Top Universities. Đại học Cambridge còn là nơi cung cấp chương trình đào tạo và thi lấy chứng chỉ tiếng Anh pháp lý ILEC (International Legal English Certificate) cho luật sư và những người học nghề luật trên toàn thế giới. Tuy nhiên, các khóa học về soạn thảo pháp lý lại không phải là một trong những trọng tâm được giảng dạy riêng thành một khấu phần trong chương trình giảng dạy của nhà trường. Trong chương trình giảng dạy cho sinh viên đại học, kỹ năng soạn thảo pháp lý chỉ được giảng dạy kết hợp trong khấu phần về Phương pháp và Các Kỹ năng pháp lý (Freshfields Legal Skills and Methodology) của sinh viên năm thứ nhất. Ngoài ra, kỹ năng soạn thảo pháp lý cũng chưa được cụ thể thành một khóa học riêng trong các chương trình học khác tại trường.

2. Trường luật – Đại học Westminster[8]

Trường luật – Đại học Westminster là một ngôi trường có danh tiếng trong việc đào tạo, bồi dưỡng nghề cho các luật sư tư vấn và chương trình đào tạo Thạc sĩ Luật với việc cung cấp cho người học các kỹ năng và kiến thức cần thiết để trở thành một luật sư thành công trong xã hội với sự quốc tế hóa ngày càng sâu rộng như hiện nay. Như phần lớn các trường luật khác tại Anh Quốc, Đại học Westminster cung cấp chương trình đào tạo kỹ năng soạn thảo pháp lý trong chuỗi các kỹ năng mà sinh viên phải học trong chương trình Thực hành nghề luật LPC và Thạc sĩ luật LLM. Kỹ năng viết và soạn thảo pháp lý sẽ được giảng dạy cùng với nhóm các kỹ năng khác như Nghiên cứu pháp lý thực hành, Phỏng vấn và Tư vấn, và kỹ năng bào chữa.

V. Kết luận

[1] https://www.law.cornell.edu/wex/legal_writing

[2] http://hls.harvard.edu/dept/lrw/

[3] http://hls.harvard.edu/aca…/curriculum/catalog/default.aspx…

[4] http://hls.harvard.edu/aca…/curriculum/catalog/default.aspx…

[5] https://www.law.washington.edu/Writing/

[6] http://www.law.seattleu.edu/…/legal-writin…/program-overview

[7] http://www.undergraduate.study.cam.ac.uk/courses/law

[8] http://www.westminster.ac.uk/…/…/d09fplpc-legal-practice-llm

Tác giả: Nguyễn Bá Trường Giang

Tác giả từng học kinh tế tại Cornell và luật tại Đại học Boston (Mỹ), anh là cựu luật sư cao cấp của Baker & McKenzie.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuẩn Bị Trước Khi Đi Học Tiếng Anh Ở Philippines / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!