Xu Hướng 1/2023 # Chương 23: Luật Sư Trịnh Đình Thảo # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Chương 23: Luật Sư Trịnh Đình Thảo # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Chương 23: Luật Sư Trịnh Đình Thảo được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Luật sư Trịnh Đình Thảo sinh năm 1902, tại Hà Đông. Ông sang Pháp học luật, đậu cử nhân văn chương, cao học kinh tế và thương mại sau khi đã đậu tiến sĩ luật. Về nước, ông làm luật sư tại Tòa Thượng thẩm Sài Gòn từ năm 1929 và hành nghề hơn 40 năm.

Dân Nam Kỳ đều mến mộ ông qua các phiên tòa ông biện hộ cho những người yêu nước không may sa vào tay giặc.

Khi Nhật đảo chính Pháp, thủ tướng Trần Trọng Kim mời ông giữ chức Bộ trưởng Tư pháp. Nội các này gồm toàn trí thức tên tuổi và về sau nhiều người tham gia kháng Pháp. Riêng ông Thảo, ông tiếp tục hành nghề luật sư và tiếp tục bênh vực cho các chiến sĩ cách mạng trước tòa án thực dân.

Năm 1954, sau chiến thắng Điện Biên Phủ và Hội nghị Genève. Ông Thảo tích cực hoạt động chính trị trong nội thành, tham gia các phong trào Bảo vệ hòa bình, Bảo vệ sinh mạng và Tài sản đồng bào. Năm 1958, ông giới thiệu hai trí thức, một luật sư và một bác sĩ, từ Pháp về với 14 nhà báo và trí thức vừa thoát khỏi ngục tù của chế độ nhà Ngô giúp hai vị trí thức này biết rõ chế độ gia đình trị, cảnh sát trị của tổng thống Diệm để quyết định nên ở Pháp hay về nước. Địch biết rõ quan điểm chính trị của ông Thảo nên theo dõi sát sao. Không thể sống dưới chế độ độc tài phong kiến của anh em nhà Ngô, ông Thảo ra khu tham gia thành lập Liên minh các Lực lượng Dân tộc dân chủ hòa bình Việt Nam. Ông được cử đi khắp thế giới vận động hòa bình cho Việt Nam và lên án chủ trương xâm lược của Mỹ.

Ông Thảo giữ nhiều chức vụ quan trọng như Chủ tịch Liên minh các lực lượng Dân tộc dân chủ hòa bình Việt Nam, Phó chủ tịch Hội đồng cố vấn chính phủ lâm thời Cộng hòa miền Nam Việt Nam, Ủy viên Đoàn chủ tịch Ủy ban trung ương Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, Đại biểu Quốc hội nước Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam.

Luật sư Trịnh Đình Thảo mất ngày 31.3.1986 tại thành phố Hồ Chí Minh, thọ 85 tuổi.

Ông Thảo mất lâu rồi nhưng dân Sài Gòn vẫn nhớ công soạn bản Tuyên ngôn của Trí thức Sài Gòn gửi Cao ủy Pháp Bollaert quy tụ trên bốn trăm chữ ký. Bản tuyên ngôn này tất nhiên soạn bằng tiếng Pháp cho Cao ủy Pháp xem lấy tên là “Manifeste des Intellectuels de Saigon” do hai luật sư lão thành lãnh phần soạn thảo – ông Vương Quang Nhường và ông Trịnh Đình Thảo.

Ông Thảo khiêm tốn dành vinh dự đó cho Luật sư Hoàng Quốc Tân có văn phòng Luật ở đường Pellerin (Pasteur) xéo cổng dinh Độc Lập (Hội trường Thống Nhất).

Sự khiêm tốn này càng làm nổi bật tư cách người trí thức trong giới luật sư.

Luật Sư Trịnh Hội Viết ‘Tôi Muốn’

Cũng lâu rồi tôi không viết lách gì cả. Phần bận bịu công việc, phần cũng chẳng thấy có điều gì đáng viết.

Nhất là khi quanh tôi, từ Facebook cho đến ngoài đời, đâu đâu cũng thấy có người viết hay hơn mình. Kể cả ở ý tưởng về những vấn đề mà tôi nghĩ tôi biết rõ cũng có người đã đi trước tôi hằng mấy thập niên.

Như hôm nọ đọc quyển ‘Ký’ của nhà báo Đinh Quang Anh Thái nói về anh Trần Văn Bá, người đã bị nhà nước Việt Nam bắt xử tử vào đầu thập niên 1980. Đọc xong tôi mới được biết là trước khi anh quyết định từ bỏ gia đình, cuộc sống sung túc ở Paris để trở về Việt Nam kháng chiến, anh đã tuyên bố câu chuyện tỵ nạn chỉ chấm dứt một khi Việt Nam có tự do, dân chủ.

Thế vậy mà tôi phải đợi đến sau hơn 20 năm làm việc tỵ nạn mới nghiệm ra được điều này. Và cũng sau hơn hai mươi năm, ở độ tuổi ‘tứ thập nhi bất hoặc’ này, tôi mới thấy rõ, biết rõ và muốn nói rõ suy nghĩ của mình để từ đó mong là chúng ta có thể cùng nhau tìm ra một giải pháp cho dân tộc.

Cảnh sát Bangladesh cho người tỵ nạn qua biên giới Đoàn vượt biên bị đưa về trại giam NV Nguyễn Tâm: ‘Đảng Dân Chủ khó lật ngược thế cờ’ ‘Dân chủ Trung Quốc làm lu mờ Phương Tây’

Điều thứ nhất tôi muốn nói rõ là ngày nào đất nước Việt Nam còn độc quyền chính trị thì ngày đó vẫn còn nhiều người Việt bỏ nước ra đi. Họ có thể ra đi vì miếng cơm manh áo, vì lo cho gia đình, vì tương lai con cái, hoặc vì không chịu đựng nổi sự đàn áp của chế độ.

Hoặc gần đây còn nổi lên những hình thức tỵ nạn mới, như tỵ nạn giáo dục, tỵ nạn y tế, tỵ nạn môi trường, đến từ những người bất an về tương lai của bản thân và gia đình trên mảnh đất bị phủ bóng bởi chế độ độc đảng.

Tựu trung lại, tất cả đều sẵn sàng đánh đổi những gì thân thuộc và quan trọng nhất, thậm chí cả mạng sống của mình, để mưu cầu tự do, hạnh phúc ở một nơi khác.

Và sẽ không có bất kỳ cá nhân, tổ chức, hoặc quốc gia nào có thể hoàn toàn khép lại câu chuyện tỵ nạn Việt Nam, cho dù họ cố gắng cách mấy đi chăng nữa.

Câu chuyện tỵ nạn chỉ có hồi kết một khi nhà nước Việt Nam thực thi và tôn trọng những quyền tự do căn bản nhất của tất cả mọi công dân. Đó là các quyền dân sự và chính trị bao gồm quyền tự do ngôn luận, tự do lập hội và tự do tranh cử.

Kể từ bây giờ cho đến lúc ấy, mọi nỗ lực cứu giúp người tỵ nạn, tuy cần thiết và rất cần làm, chỉ là giải pháp nhân đạo tạm thời nhưng sẽ không giải quyết được tận gốc rễ vấn đề. Chính vì vậy mà trong những năm gần đây, cá nhân tôi và tổ chức VOICE mà hiện tôi là Giám Đốc Điều Hành đã chú trọng hơn trong công việc đào tạo và giúp đỡ những nhà hoạt động xã hội dân sự trong nước.

Dân biểu Hoa Kỳ kêu gọi VN thả nhà hoạt động “Đừng mong mỏi nhiều, đặc biệt là vào nước Mỹ” Bên trong khóa huấn luyện ‘xã hội dân sự vì Việt Nam’

Họ là tiếng nói lương tâm của Việt Nam, là tương lai của một đất nước Việt Nam tự do và nhân bản. Nếu muốn thấy những thay đổi cụ thể, lâu dài và bền vững trong xã hội, chúng ta cần phải tìm cách hết sức giúp đỡ họ.

Từ một Đoan Trang dám nói thẳng, nói thật về những bất công trong xã hội cho đến Trần Huỳnh Duy Thức sẵn sàng tiếp tục ngồi tù với bản án 16 năm. Từ một Hoàng Đức Bình tranh đấu cho cả một cộng đồng ở Nghệ An trắng tay vì đại hoạ Formosa cho đến một Lê Công Định không chút sờn lòng dù có phải vào tù một lần nữa.

Chúng ta cần phải làm nhiều hơn nữa để giúp cho những tiếng nói lương tâm ấy được đi xa hơn, đến với nhiều người hơn.

Nhưng. Chúng ta cũng cần phải nhìn nhận ra rằng nếu chỉ có bấy nhiêu từng ấy người dám nói, dám làm, trong một đất nước có trên 92 triệu dân trong nước và 4 triệu người ở hải ngoại thì tôi nghĩ khó mà thấy được những thay đổi lớn lao trong xã hội. Phải có không chỉ một Đoan Trang mà là mười Đoan Trang, không chỉ một Hoàng Đức Bình mà là một trăm Hoàng Đức Bình, và một ngàn Trần Huỳnh Duy Thức, và một vạn người như Lê Công Định.

Chắc chắn khi ấy những quyền tự do căn bản nhất của một công dân mà tôi vừa nêu trên sẽ được thực thi và tôn trọng dưới bất kỳ thể chế nào.

Công việc không dễ dàng

Tôi muốn thấy điều đó xảy ra trong tương lai, trong một thời gian gần nhất. Và vì vậy tôi mong là trong những năm tháng sắp tới sẽ có nhiều tổ chức, hội đoàn trong và ngoài nước chú trọng hơn trong công việc đào tạo, giúp đỡ các nhà hoạt động trẻ và những dự án của họ.

Dĩ nhiên tôi cũng biết đây không phải là một công việc dễ dàng. Đào tạo một thế hệ trẻ có đủ các kỹ năng, kiến thức và nhất là tầm nhìn trong bối cảnh toàn cầu hoá hiện nay cần một sự đầu tư nghiêm túc, dài hạn và đa dạng.

Nghiêm túc có nghĩa là chương trình đào tạo cần phải được chuyên nghiệp hoá, có giảng viên kinh nghiệm, thật lòng, có sự liên kết với các tổ chức quốc tế khác để cho các em có cơ hội làm việc thực tập trước khi về nước.

Dài hạn có nghĩa là chương trình đào tạo có thể kéo dài một hoặc hai tuần nhưng nó cũng có thể lâu hơn, sáu tháng hoặc dài hơn nữa tuỳ vào trình độ và kỹ năng của các thực tập sinh được chọn.

Và đa dạng có nghĩa là phong trào xã hội dân sự độc lập tại Việt Nam cần có nhiều chuyên gia hơn nữa trong nhiều lãnh vực khác nhau như báo chí, luật pháp, tự do tôn giáo, môi trường, v.v…

Điều đó cũng có nghĩa là nó sẽ tốn rất nhiều công sức và tiền bạc. Nhưng sau hơn 20 năm học và làm việc trên nhiều lãnh vực cũng như vùng miền khác nhau trên thế giới, tôi không thấy có cách nào khác hơn để có thể đảm bảo cùng một lúc những thay đổi lớn lao mang tính cách bước ngoặt trong xã hội Việt Nam nhưng lại tránh được bạo loạn.

VN: Con thuyền ‘không bến’ hay ‘nhiều bến’? Đại sứ Mỹ ‘quan ngại’ về phiên xử bất đồng Vì sao giới trẻ Mỹ nay thích Chủ nghĩa Xã hội?

Sự biến mình tự thay đổi từ chủ nghĩa kỳ thị chủng tộc của Nam Phi hay từ thể chế độc tài quân phiệt của Nam Hàn và Đài Loan sang tự do, dân chủ trong hai thập niên 1970 – 1990 là những thí dụ điển hình cho thấy bất kỳ dân tộc nào cũng có thể đạt được giấc mơ dân chủ mà không phải trải qua cảnh đao binh, khói lửa.

Miễn là họ có quyết tâm lớn lao thực hiện kế hoạch đó.

Và đó cũng là điều cuối cùng tôi muốn nói. Tôi muốn thấy ở chính bản thân tôi có một sự đầu tư chín chắn cho vấn đề này. Không phải chỉ trong phạm vi của một tổ chức như VOICE mà là cho cả một phong trào xã hội dân sự độc lập trong nước. Để nó đảm bảo được rằng cho dù có bất kỳ biến động nào trong tương lai, Đảng Cộng Sản Việt Nam hay bất kỳ đảng phái nào khác lên cầm quyền sau khi thắng cử, họ sẽ phải bị những định chế dân chủ kiểm soát và cân bằng quyền lực.

Những định chế ấy chắc chắn chỉ sẽ được xây dựng và nuôi dưỡng bởi một nền xã hội dân sự độc lập, mạnh mẽ, đa dạng.

Nhưng làm thế nào để chúng ta có thể đạt được điều đó? Tôi đã có một kế hoạch cụ thể nào chưa?

Tôi nghĩ chúng ta có thể đạt được điều đó nếu như cộng đồng chúng ta quan tâm hơn về công việc đào tạo, làm việc nhiều hơn với các tổ chức quốc tế khác có cùng mối quan tâm như Civil Rights Defender, Taiwan Foundation for Democracy, Open Society Foundations.

Và quan trọng hơn hết là huy động được một số vốn lớn nhằm mục đích đầu tư dài hạn để mỗi năm phong trào xã hội dân sự độc lập sẽ có một nguồn tài chính hỗ trợ lâu dài, vững chắc mà không phải trông đợi vào bất kỳ cá nhân hoặc tổ chức nào.

Tuỳ vào sự nhiệt tâm góp ý của các bạn đọc xa gần sau bài viết này, tôi sẽ tiếp tục chia sẻ những cảm nghĩ của tôi. Để mong là mỗi người một việc, chúng ta sẽ cùng nắm tay nhau đi đến một giải pháp chung cho đất nước.

Luật Sư Trịnh Hội: Tôi Đến Từ Việt Nam! – Voice

Luật sư Trịnh Hội: Tôi đến từ Việt Nam!

Luật sư Trịnh Hội, Giám đốc điều hành tổ chức VOICE, phát biểu tại Draper Hills Summer Fellowship 2017. Trong bài nói chuyện, ông kể về hành trình trở thành người đấu tranh cho nhân quyền tại Việt Nam. Hành trình từ một thanh niên luôn cố quên đi một quê hương với đau thương và mất mát đến một luật sư đi khắp thế giới và luôn giới thiệu “Tôi đến từ Việt Nam”.

Xin chào các bạn. Chào mừng đến với Draper Hills Summer Fellowship TED Talk 2017. Tôi là Trịnh Hội, không phải hôi, của mùi hôi trong tiếng Việt. Tên tôi là Trịnh Hội, “Tôi đến từ Việt Nam”. Đó sẽ là tiêu đề cho bài nói chuyện của tôi hôm nay. Một số bạn có lẽ nghĩ là: “Tại sao anh ấy lại muốn nói rằng anh ấy đến từ Việt Nam? Chẳng phải quá rõ ràng hay sao?”.

Điều đó đã và đang là hiển nhiên đối với các bạn, nhưng đối với cá nhân tôi thì trong một khoảng thời gian rất dài, nó hoàn toàn không phải là điều hiển nhiên. Trong một khoảng thời gian rất dài tôi đã từng không tự hào khi phải nói “tôi đến từ đâu”.

Nếu bạn nhìn vào phía trước, trên bàn của bạn, mỗi người đều có một lá cờ đại diện cho quốc gia mà bạn đến. Tôi không có, không phải là vì Frank đã quên chuẩn bị cho tôi, mà vì hôm đầu tiên, tôi đã lấy lá cờ đó ra và trả lại cho Sarina. Và Sarina đã rất tử tế khi nói rằng không sao cả nếu tôi không muốn lá cờ đó. Lá cờ không đại diện cho tôi, nó không có chính danh vì nó là một biểu tượng của sự áp bức. Đó là một lá cờ không những chẳng đại diện cho tôi mà cũng chẳng đại diện cho Việt Nam của tôi nữa, và tôi nghĩ… cũng là bởi vì tôi không được sinh ra dưới lá cờ đó.

Tuổi thơ nhiều khó khăn ở Việt Nam sau chiến tranh

Tôi sinh năm 1970 tại Việt Nam Cộng Hòa, hoặc gọi cách khác là Nam Việt Nam. Bạn có thể tưởng tượng nó giống như nước Đức trước 1989 hoặc Triều Tiên ngày nay với Nam Hàn và Bắc Hàn. Trong 5 năm tôi sống ở miền Nam Việt Nam và khi cuộc chiến kết thúc năm 1975, giây phút khi cả một quốc gia biến mất đó là khi tôi bắt đầu nhận thức hoặc gọi là bắt đầu có những ký ức về Việt Nam.

Hòa nhập vào cuộc sống mới ở đất nước Australia

Với tư cách là con trai của một người tị nạn, tôi đến Úc vào năm 15 tuổi. Khi tôi rời Việt nam, chúng tôi nghĩ rằng sẽ không bao giờ quay trở lại. Tôi cảm thấy Úc là một đất nước tuyệt vời với nhiều cơ hội. Bạn biết không? ở đó điện nước lúc nào cũng có, TV thì mở suốt. Tôi nghĩ đây mới là cuộc sống, đây là thân phận mới của tôi. Lý do không chỉ vì… tôi muốn quên khó khăn ở Việt Nam mà còn bởi vì tôi muốn vội vàng hòa nhập với cuộc sống mới. Tôi muốn trở thành một người Úc. Do đó, trong suốt quãng thời gian tại trường luật và ngay cả khi tôi nhận được việc làm tại Baker & McKenzie, một trong những văn phòng luật lớn nhất trên thế giới, bất cứ khi nào có ai đó hỏi tôi đến từ đâu tôi cũng sẽ nói tôi đến từ Úc.

Quyết định trở về Việt Nam

Nhưng vẫn có một cái gì đó dằn vặt, một câu hỏi luôn bám lấy tôi: Tôi có thực sự đến từ Úc? Nếu tôi thực sự từ Úc thì tại sao? Tại sao tôi nghĩ đến Việt Nam nhiều như vậy? Và thời gian thấm thoát đến năm 2007, sau khi trải qua một thời gian làm luật sư thiện nguyện tại Philippines, tôi quyết định trở về Việt Nam để tìm câu trả lời: Tôi có thực sự đến từ Việt Nam? Và cũng để làm sao, để tôi có thể tự hào khi nói rằng “Tôi đến từ Việt Nam!”.

Bạn biết không? Việt Nam lúc đó đang thay đổi, và tôi đã suy nghĩ lãng mạn như Omar. Tôi muốn quay trở về để xem mình có thể giúp gì để thay đổi đất nước. Nhưng tôi đã sai! Chuyến đi trở về Việt Nam trong vòng 6 tháng, tôi cũng bị công an bắt điều tra về các hoạt động nhân quyền và công việc tị nạn tôi đang làm ở Philippines. Và trước khi tôi nhận ra chuyện gì đang xảy ra, tôi đã không được phép ra khỏi Việt Nam. Tôi vẫn còn nhớ giây phút khi tôi đến Đại sứ quán Úc tại Việt Nam để xin họ giúp đỡ, và họ nói, họ không thể làm được gì bởi vì theo pháp luật Việt Nam, tôi là người Việt Nam.

Rồi thì, sau 6 tháng bị bắt điều tra, họ thả tôi và cho tôi 48 tiếng để rời khỏi Việt Nam, và tất nhiên… tôi đã phải rời đi. Từ đó đến nay đã 9 năm, tôi vẫn chưa được phép trở về quê hương. Tôi đã và đang cố gắng làm mọi thứ hết sức có thể, để có một ngày tôi được về lại Việt Nam.

Và hành động cho Việt Nam

Cảm ơn các bạn.

Chương Trình Đào Tạo Nghề Luật Sư

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ

Thời gian đào tạo: 6 tháng

(Theo Chương trình khung đào tạo nghề luật sư được Ban hành kèm theo Quyết định số 90/2008/QĐ-BTP ngày 21/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

Ghi chú:

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ 12 tiết

1 Tổng quan về nghề luật sư 6

2 Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư 6

3 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

II QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ 24 tiết

1 Giới thiệu về Bộ quy tắc đào tạo nghề nghiệp và các nguyên tắc chung về đạo đức và ứng xử của luật sư 6

2 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác 12

2.1 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

2.2 Học viên tự nghiên cứu các quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

3 Kiểm tra hết học phần 6

III PHẦN KỸ NĂNG CHUNG 78 tiết

1 Kỹ năng đọc, nghe, hỏi 12

1.1 Lý thuyết về nghe, đọc, hỏi 6

1.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng nghe, đọc, hỏi 6

2 Kỹ năng nói 12

2.1 Lý thuyết 6

2.2 Thực hành 6

3 Kỹ năng lập luận và tranh luận 12

3.1 Kỹ năng lập luận, tranh luận 6

3.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng lập luận và tranh luận 6

4 Kỹ năng viết 12

4.1 Lý thuyết 6

4.2 Thực hành 6

5 Tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 12

5.1 Thành lập và quản lý văn phòng, công ty luật 6

5.2 Học viên tự nghiên cứu về tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 6

6 Hướng dẫn diễn án 6

7 Thi vấn đáp (chuyên đề do học viên tự chọn và thuyết trình) 12

IV KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ 564 tiết

IV.1 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án hình sự 162 tiết

1 Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

2 Phương pháp định tội danh 6

3 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự

(HS 03 –Vụ án Trần Đình Dũng cố ý gây thương tích)

12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống:

– Kỹ năng trao đổi với khách hàng khi nhận bào chữa, bảo vệ;

– Kỹ năng tham gia các hoạt động điều tra

3

3

4 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề thu thập chứng cứ của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 6

5 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống 1: Nghiên cứu cáo trạng, kết luận điều tra, tài liệu về thủ tục tố tụng 3

5.3 Tình huống 2: Nghiên cứu các tài liệu khác 3

6 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề tổng hợp các tài liệu có ý nghĩa trong việc bảo vệ cho thân chủ 6

7 Kỹ năng tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

Kỹ năng trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

6

7.1 Lý thuyết kỹ năng 3

7.2 Tình huống:

– Kỹ năng tiếp xúc, trao đổi với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

– Kỹ năng trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng

– Kỹ năng soạn thảo văn bản kiến nghị

3

8 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề soạn thảo văn bản kiến nghị của luật sư để bảo vệ cho thân chủ 6

9 Kỹ năng chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống: Thực hành việc chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ 6

10 Học viên tự nghiên cứu: Thực hành chuẩn bị bản bào chữa, bảo vệ

(Hồ sơ số 05: Đoàn Văn Tư “giết người”)

6

11 Đối thoại kiểm tra bài 3,4,5,6 6

12 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

(HS 01 –Vụ án Nguyễn Thị Thịnh mua bán trái phép ma túy)

24

12.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

12.2 Tình huống 1: Thực hành công việc chuẩn bị trước khi ra phiên tòa và thực hành kỹ năng tham gia thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm 3

12.3 Tình huống 2:

– Kỹ năng tham gia phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm

– Kỹ năng tham gia phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

3

12.4 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.5 Tình huống3: Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.6 Đối thoại kiểm tra 6

13 Học viên tự nghiên cứu: Phương pháp đặt câu hỏi trong trường hợp bào chữa cho bị cáo và bảo vệ cho người bị hại 6

14 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về người chưa thành niên

(Lý thuyết + Tình huống)

6

15 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

Kỹ năng của luật sư trong các vụ án tham nhũng

(Lý thuyết + Tình huống)

6

16 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án hình sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

17 Kiến tập tại phiên tòa hình sự 6

18 Thực hành diễn án 18

18.1 Diễn án lần 1 (HS 06 – Vụ án Nguyễn Thanh Hoàng giết người) 6

18.2 Diễn án lần 2 (HS 07 – Vụ án Trần Việt Hùng cưỡng đoạt tài sản) 6

18.3 Diễn án lần 3 (HS 08 – Vụ án Hải, Minh buôn bán hàng giả) 6

19 Kiểm tra hết học phần 6

20 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.2 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án dân sự 150 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự 24

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống 1: Hồ sơ vụ án dân sự  (Hồ sơ 006-MNam; HS 009 MBắc)

Học viên tự nghiên cứu

6

1.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

1.4 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 03) 6

2 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ 12

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống 1: Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 004) 3

2.3 Tình huống 2: Nghiên cứu hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 010)

Học viên tự nghiên cứu

6

3

Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 005) 3

4 Kỹ năng hòa giải vụ án dân sự 6

4.1 Lý thuyết kỹ năng 3

4.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 003) 3

5 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 3

5.2 Tình huống1: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 008) 3

5.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 01)

Học viên tự nghiên cứu

6

6 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 36

6.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

6.2 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 006) 6

6.3 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

6.4 Tình huống 4: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 02) 6

6.5 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 6

6.6 Tình huống 5: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 007)

Học viên tự nghiên cứu

6

7 Kỹ năng tham gia giải quyết việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống) (Hồ sơ 001 hoặc 002)

6

8 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án dân sự 6

9 Đối thoại kiểm tra bài 1, 2, 3, 4,5,6,7,8 6

10 Kiến tập tại phiên tòa dân sự 6

11 Thực hành diễn án 24

11.1 Diễn án lần 1 (Vụ án hôn nhân gia đình) (Hồ sơ 003)

Học viên tự nghiên cứu

6

11.2 Diễn án lần 2 (Vụ án dân sự) (Hồ sơ 008) 6

11.3 Diễn án lần 3 (Vụ án kinh doanh thương mại) (Hồ sơ 011) 6

11.4 Diễn án lần 4 (Vụ án lao động) (Hồ sơ 01) 6

12 Kiểm tra hết học phần 6

13 Viết bài thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.3 Kỹ năng tham gia các vụ việc hành chính 66 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng, đánh giá điều kiện khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án hành chính 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống (Hồ sơ 06)

Học viên tự nghiên cứu hồ sơ

6

2 Kỹ năng của luật sư trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính 6

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống (Hồ sơ 07) 3

3 Kỹ năng của luật sư trong việc thu thập, nghiên cứu và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống(Hồ sơ 06) 3

4 Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bảo vệ và kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm, tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm 18

4.1 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ (Tình huống + lý thuyết) (Hồ sơ 09) 6

4.2 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm (Tình huống + lý thuyết + đối thoại kiểm tra) (Hồ sơ 09) 6

4.3 Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm

Học viên tự nghiên cứu

6

5 Kiến tập tại phiên tòa hành chính 6

6 Thực hành diễn án 12

6.1 Diễn án lần 1 (Hồ sơ 07) 6

6.2 Diễn án lần 2 (Hồ sơ 08) 6

7 Kiểm tra hết học phần 6

8 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

IV.4 Kỹ năng tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng 186 tiết

1 Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật, tiếp xúc khách hàng 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng tư vấn pháp luật và  tiếp xúc khách hàng 6

1.2 Tình huống 6

2 Học viên tự nghiên cứu kỹ năng tiếp xúc khách hàng, nhận định, đánh giá bước đầu về yêu cầu của khách hàng, thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý 6

3 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, phân tích vụ việc, xác định vấn đề tư vấn 12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

4 Kỹ năng viết thư tư vấn, ý kiến pháp lý 6

5 Kỹ năng tư vấn các vụ việc dân sự 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

6 Kỹ năng tư vấn các vụ việc hành chính, lao động 24

6.1 Tư vấn sử dụng lao động trong doanh nghiệp 6

6.2 Tư vấn khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc (Hồ sơ 01) 6

6.3 Tư vấn khiếu kiện xử lý vi phạm hành chính (Hồ sơ 03) 6

6.4 Tư vấn khiếu kiện về nhà, đất (Hồ sơ 02) 6

7 Kỹ năng tư vấn doanh nghiệp 24

7.1 Tư vấn thành lập, tổ chức lại và giải thể, phá sản doanh nghiệp 6

7.2 Tư vấn về quản lý nội bộ doanh nghiệp 6

7.3 Tư vấn về vốn, tài chính doanh nghiệp 6

7.4 Tư vấn về quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp 6

8 Kỹ năng tư vấn thuế, kế toán, kiểm toán 12

8.1 Lý thuyết kỹ năng 6

8.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

9 Kỹ năng tư vấn dự án đầu tư 12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống 6

10 Kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng

(Lý thuyết +Tình huống)

6

11 Kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 18

11.1 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hơp đồng mua bán 6

11.2 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hợp đồng hợp tác kinh doanh 6

11.3 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 6

12 Kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 18

12.1 Lý thuyết kỹ năng + tình huống 6

12.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 6

12.3 Đối thoại- Kiểm tra 6

13 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự, hành chính 12

13.1 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

13.2 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc hành chính

(Lý thuyết + Tình huống)

6

14 Kiến tập tại tổ chức hành nghề luật sư 6

15 Kiểm tra hết học phần 6

16 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

Ghi chú:

–          24 tiết dự phòng phải bố trí cho học viên 2 lần xem băng Tòa tuyên án có viết nhận xét theo yêu cầu của Tổ bộ môn để chấm điếm, cộng vào để tính điểm nhận thức; 1 buổi học chính trị; 1 buổi để luật sư đã tham gia các vụ án lớn trao đổi kinh nghiệm;

–          Đối với các lớp luật sư không có điều kiện tổ chức thi vấn đáp phần kỹ năng chung thì thay bằng hình thức thi viết;

–          Nghiên cứu và viết tiểu luận – Mỗi bộ môn có 5 đến 10 đề tài để học viên chọn thực hiện và đăng ký giáo viên hướng dẫn. Tên đề tài có thể thay đổi cho từng năm hoặc từng khóa học;

–          Thời gian trên đã bao gồm cả kiểm tra thường xuyên, kiểm tra nhận thức và các hình thức kiểm tra khác;

–          Chương trình này bắt đầu được áp dụng cho khóa đào tạo luật sư 7 đợt 2 trở đi.

Theo tài liệu tổ tư vấn luật

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương 23: Luật Sư Trịnh Đình Thảo trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!