Xu Hướng 12/2022 # Chương Trình 135 Giai Đoạn Iii: Cơ Hội Đẩy Nhanh Tốc Độ Phát Triển Kinh Tế / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Chương Trình 135 Giai Đoạn Iii: Cơ Hội Đẩy Nhanh Tốc Độ Phát Triển Kinh Tế / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Chương Trình 135 Giai Đoạn Iii: Cơ Hội Đẩy Nhanh Tốc Độ Phát Triển Kinh Tế / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

– PV: Kính chào Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm! Xin cảm ơn Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm đã dành thời gian trả lời phỏng vấn. Trước hết, đề nghị Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm cho biết ý nghĩa của việc Thủ tướng Chính phủ đã phê duyệt Chương trình 135 đối với phát triển kinh tế-xã hội, giảm nghèo tại các xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi? – Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan:

Cần phải khẳng định Chương trình 135 là một “thương hiệu” rất thân thuộc với cấp uỷ, chính quyền và đồng bào dân tộc thiểu số ở vùng dân tộc và miền núi. Qua 2 giai đoạn đầu tư (1998-2010), Chương trình 135 đã chứng minh vị thế là một chương trình giảm nghèo lớn và quan trọng nhất, hỗ trợ hiệu quả đối với phát triển kinh tế-xã hội vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới. Kết quả của Chương trình đã góp phần đưa Việt Nam vào danh sách những quốc gia thành công nhất trên thế giới về giảm nghèo và phát triển kinh tế trong 2 thập kỷ vừa qua.

Chương trình đã làm thay đổi diện mạo vùng miền núi, dân tộc đặc biệt khó khăn; đời sống của đồng bào từng bước được cải thiện; tỷ lệ đói nghèo giảm nhanh (bình quân 3,6%/năm); trình độ dân trí và năng lực quản lý, điều hành của hệ thống chính trị các cấp, nhất là chính quyền cấp xã được nâng lên, dần đáp ứng công tác quản lý, điều hành phát triển kinh tế-xã hội trên địa bàn các xã đặc biệt khó khăn; tập quán và kỹ thuật sản xuất của đồng bào dân tộc có sự chuyển biến theo hướng sản xuất hàng hoá; tỷ lệ thôn, bản có điện, đường, lớp học, nhà văn hoá, y tế thôn, công trình thuỷ lợi tăng lên; khối đại đoàn kết các dân tộc được tăng cường; an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững.

Thành tựu mà Chương trình 135 giai đoạn I, II đã đạt được rất to lớn, song hiện nay, khoảng cách phát triển giữa vùng dân tộc và miền núi với các vùng khác trong cả nước vẫn còn chênh lệch khá xa. Thu nhập bình quân đầu người toàn vùng chỉ bằng 1/3 thu nhập bình quân chung của khu vực nông thôn. Tỷ lệ nghèo các xã, thôn bản là 45%, nhiều xã lên tới 70-80%, khoảng 900.000 hộ ở mức cận nghèo. Theo khảo sát của Uỷ ban Dân tộc tại 50 tỉnh, 356 huyện, 1.848 xã đặc biệt khó khăn, xã biên giới, xã an toàn khu cho thấy hiện còn: 149 xã chưa có đường ô tô đến trung tâm xã, 67,2% thôn, bản chưa có đường trục giao thông được cứng hoá; 3.150 công trình thuỷ lợi cần được đầu tư; 202 xã chưa có điện đến trung tâm, 8.100 thôn, bản (38,6%) chưa được sử dụng điện; 32,2% số hộ chưa có nước sinh hoạt hợp vệ sinh….; trên 218 ngàn cán bộ cấp xã, thôn bản cần được tập huấn nâng cao kiến thức; trên 400 ngàn hộ có nhu cầu được đào tạo, tập huấn kiến thức làm ăn. Thống kê năm 2012 của các địa phương cũng chỉ ra có khoảng 120.000 hộ nghèo, bằng 660 ngàn khẩu thuộc các thôn bản giáp biên chưa tự túc được lương thực…Từ những khó khăn về kinh tế – xã hội, cùng với trình độ phát triển còn hạn chế ở khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số nên các thế lực thù địch đã lợi dụng các vấn đề dân tộc, tôn giáo, tín ngưỡng để tuyên truyền chống phá Đảng, chống phá Nhà nước tạo ra một số điểm nóng về an ninh, chính trị ở khu vực Tây Bắc, Tây Nguyên và Tây Nam Bộ

Từ những vấn đề trên, tôi cho rằng, quyết định của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Chương trình 135 là cơ hội lớn để giải quyết những nhu cầu bức thiết đang đặt ra ở vùng dân tộc và miền núi, nhất là địa bàn đặc biệt khó khăn. Ở góc độ nhất định, có thể coi Chương trình 135 là Chương trình “xương sống” của chính sách dân tộc, góp phần xoá đói giảm nghèo, ổn định đời sống dân cư. Tổ chức thực hiện Chương trình là cơ hội giúp đồng bào nghèo vùng dân tộc và miền núi thoát nghèo nhanh và bền vững, thể hiện sự nhất quán và liên tục trong chính sách, góp phần củng cố niềm tin của đồng bào với Đảng và Nhà nước.

– PV: Chương trình 135 giai đoạn I (1998-2006) tập trung đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho các xã đặc biệt khó khăn; giai đoạn II (2006-2010) đã chuyển hướng đầu tư về xã, thôn đặc biệt khó khăn miền núi, vùng sâu, vùng xa và biên giới. Sang giai đoạn này tiếp tục đầu tư tới xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn vùng dân tộc và miền núi. Như vậy, có thể hiểu Chương trình 135 được thiết kế theo hướng đầu tư trực tiếp xuống người dân được không, thưa Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm? – Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan: Đảng và Chính phủ đã nhìn nhận: Xoá đói giảm nghèo, nâng cao trình độ, nhận thức cho đồng bào dân tộc thiểu số là nhiệm vụ lâu dài, trọng tâm để đồng bào có đủ “sức đề kháng” chống lại các yếu tố bất lợi về điều kiện tự nhiên, khó khăn về kinh tế-xã hội nhằm từng bước phát huy nội lực, vươn lên phát triển bền vững.

Vừa qua, Uỷ ban Dân tộc phối hợp với Quỹ Phát triển Liên hiệp quốc (UNDP) đã công bố Báo cáo Tác động của Chương trình 135 giai đoạn II qua lăng kính hai cuộc điều tra đầu kỳ và cuối kỳ. Báo cáo chỉ ra rằng tỷ lệ nghèo ở đồng bào dân tộc thiểu số đã giảm nhưng vẫn còn cao. Mức sống của các hộ chưa thoát nghèo không được cải thiện nhiều; mức tăng thu nhập có xu hướng giảm theo thời gian; kết quả giảm nghèo chưa bền vững, tỷ lệ các hộ nghèo tạm thời là khá lớn…

Dựa vào kết quả tổng kết và kết quả khảo sát, đánh giá thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, ý kiến đề nghị của các địa phương thụ hưởng Chương trình, ý kiến cử tri tại các kỳ họp Quốc hội, giai đoạn III, Chương trình 135 đã được thiết kế đầu tư xuống cấp xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn, tức là xuống đến tận người dân. Nội hàm của Chương trình cũng có sự thay đổi so với hai giai đoạn trước, không chỉ bao gồm đầu tư, hỗ trợ phát triển kinh tế-xã hội mà còn tập trung vào giảm nghèo ở các xã, thôn bản đặc biệt khó khăn trên quan điểm tiếp tục đầu tư, hỗ trợ đủ lớn để địa bàn này đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế-xã hội, chuyển dịch cơ cấu kinh tế theo hướng sản xuất hàng hoá, chuyển dịch cơ cấu lao động, tăng thu nhập, cải thiện và nâng cao đời sống vật chất, tinh thần cho đồng bào các dân tộc; giảm chênh lệch về khoảng cách phát triển giữa các dân tộc và các vùng trong cả nước theo tinh thần Nghị quyết số 80/NQ-CP ngày 19/5/2011 của Chính phủ về Định hướng giảm nghèo bền vững thời kỳ 2011-2020.

– PV: Có thể thấy rằng, hiện đang có rất nhiều nhu cầu bức thiết đặt ra ở vùng dân tộc và miền núi nói chung, vùng đặc biệt khó khăn nói riêng. Vậy nội dung của Chương trình 135 giai đoạn này sẽ tập trung ưu tiên giải quyết những vấn đề gì, thưa Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm? – Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan:

Chương trình 135 được phê duyệt thực hiện trong giai đoạn 2012-2015 và giai đoạn 2016-2020, xây dựng theo cơ chế rút gọn, tập trung ưu tiên đầu tư, hỗ trợ 2 nội dung: Hỗ trợ cơ sở hạ tầng và Hỗ trợ phát triển sản xuất.

Trong đó, về Hỗ trợ phát triển sản xuất gồm một số nội dung chính như: Bổ sung và nâng cao kiến thức phát triển kinh tế hộ gia đình, áp dụng các tiến bộ khoa học vào sản xuất, tiếp cận tín dụng, thông tin thị trường, sử dụng đất đai hiệu quả; Hỗ trợ giống, phân bón, vật tư phục vụ chuyển đổi cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế; Hỗ trợ làm chuồng trại chăn nuôi, cải tạo diện tích nuôi trồng thủy sản; Hỗ trợ vắc xin tiêm phòng các dịch bệnh nguy hiểm cho gia súc, gia cầm; Hỗ trợ xây dựng mô hình phát triển sản xuất, tạo điều kiện cho người dân tham quan, học tập, nhân rộng mô hình; Hỗ trợ nâng cao năng lực cho đội ngũ cán bộ chỉ đạo hỗ trợ phát triển sản xuất, cán bộ khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư; dịch vụ bảo vệ thực vật, thú y; vệ sinh an toàn thực phẩm.

Xây dựng cơ sở hạ tầng: Hoàn thiện hệ thống đường giao thông nông thôn phục vụ sản xuất, kinh doanh và dân sinh; Hoàn thiện hệ thống các công trình bảo đảm cung cấp điện phục vụ sinh hoạt và sản xuất, kinh doanh; Hoàn thiện hệ thống các công trình phục vụ nhu cầu về hoạt động văn hóa trên địa bàn xã gồm: Trạm chuyển tiếp phát thanh xã; nhà văn hóa, nhà sinh hoạt cộng đồng ở xã, thôn, bản; Hoàn thiện các công trình để bảo đảm chuẩn hóa trạm y tế xã; Hoàn thiện hệ thống các công trình để bảo đảm chuẩn hóa giáo dục trên địa bàn xã; xây dựng lớp tiểu học, mẫu giáo, nhà trẻ, nhà ở giáo viên, trang bị bàn ghế, điện, nước sinh hoạt, công trình phụ trên địa bàn thôn, bản; Cải tạo, xây mới hệ thống thủy lợi trên địa bàn xã, thôn, bản; Các công trình hạ tầng quy mô nhỏ khác do cộng đồng đề xuất phù hợp với phong tục, tập quán của đồng bào dân tộc thiểu số; Duy tu, bảo dưỡng các công trình hạ tầng cơ sở.

– PV: Với những nội dung như vậy thì định mức đầu tư, hỗ trợ của Chương trình 135 cũng như cơ chế phân bổ vốn đầu tư sẽ như thế nào? Thưa Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm!

– Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan:

Năm 2012 và 2013 thực hiện theo định mức và vốn đã được phân bổ;

Năm 2014 và 2015, tăng 1,5 lần so với định mức vốn năm 2013; các năm tiếp theo được bố trí tăng phù hợp với khả năng ngân sách nhà nước.

Cơ chế phân bổ vốn đầu tư có điểm mới là các địa phương căn cứ vào điều kiện thực tế về vị trí địa lý, diện tích, dân số, số thôn bản, số hộ nghèo, kết cấu hạ tầng, điều kiện sản xuất, trình độ cán bộ cơ sở… tiến hành phân loại các xã thuộc diện đầu tư của Chương trình thành 3 loại: Xã loại III là xã có điều kiện khó khăn nhất trong các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh; xã loại II là xã có điều kiện khó khăn ở mức trung bình so với xã đặc biệt khó khăn của tỉnh; xã loại I là các xã còn lại. Trên cơ sở phân loại xã và vốn phân bổ của Trung ương, các địa phương xây dựng hệ số K để phân bổ vốn theo nguyên tắc xã khó khăn hơn được phân bổ vốn cao hơn.

– PV: Đề nghị Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm cho biết trách nhiệm của Uỷ ban Dân tộc trong thực hiện Chương trình 135 giai đoạn III? – Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm Sơn Phước Hoan: Ở hai giai đoạn trước của Chương trình 135, Uỷ ban Dân tộc được Chính phủ giao là Cơ quan Thường trực, giúp Ban Chỉ đạo Trung ương chỉ đạo, quản lý, triển khai tổ chức thực hiện các nhiệm vụ của Chương trình. Uỷ ban Dân tộc đã hoàn thành ngân sách cho Chương trình đều đánh giá Chương trình 135 là Chương trình giảm nghèo toàn diện nhất, hiệu quả nhất, đảm bảo nguyên tắc công khai, minh bạch, ít thất thoát nhất. Hiện nay, cơ chế, chính sách và cách thức tổ chức thực hiện của Chương trình đã và đang được Ngân hàng Thế giới và một số tổ chức quốc tế khác áp dụng cho các dự án tại một số tỉnh.

Giai đoạn tiếp theo của Chương trình 135, Uỷ ban Dân tộc tiếp tục được Chính phủ giao là cơ quan chỉ đạo, tổ chức triển khai thực hiện các nội dung của Chương trình. Đây là vinh dự lớn nhưng cũng là trách nhiệm nặng nề. Để thực hiện nhiệm vụ được Chính phủ giao, Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc thành lập Văn phòng Điều phối để quản lý, chỉ đạo thực hiện Chương trình. Bên cạnh đó, chủ trì, phối dựng kế hoạch vốn để thực hiện Chương trình 135; nghiên cứu, xây dựng các mô hình, cách làm mới để góp phần nâng cao hiệu quả của Chương trình; Rà soát, xác định danh sách xã, thôn, bản đặc biệt khó khăn; tổng hợp, trình Thủ tướng Chính phủ quyết định danh sách xã. Bộ trưởng, Chủ nhiệm Uỷ ban Dân tộc quyết định danh sách thôn, bản đặc biệt khó khăn vào diện đầu tư của Chương trình 135; Xây dựng tiêu chí xã, thôn hoàn thành mục tiêu Chương trình 135; Hướng dẫn, chỉ đạo các địa phương hàng năm bình xét xã, thôn, bản đủ tiêu chí hoàn thành mục tiêu, lập danh sách, tổng hợp, trình cấp thẩm quyền xem xét quyết định; Đề xuất hình thức biểu dương, khen thưởng các địa phương có nhiều thành tích trong quản lý chỉ đạo, tổ chức thực hiện, nhất là các địa phương có nhiều xã, thôn, bản sớm hoàn thành mục tiêu Chương trình 135; Vận động, các doanh nghiệp, tổ chức Quốc tế, các đối tác phát triển nhằm vay vốn, hỗ trợ vốn, hỗ trợ tư vấn kỹ thuật cho Chương trình…

Tôi tin tưởng bằng kinh nghiệm chỉ đạo, quản lý, tổ chức thực hiện Chương trình cùng trách nhiệm, tình cảm, tâm huyết với cộng đồng các dân tộc thiểu số, Uỷ ban Dân tộc sẽ hoàn thành tốt nhiệm vụ được Chính phủ giao.

– PV: Xin trân trọng cảm ơn Thứ trưởng, Phó Chủ nhiệm đã trả lời phỏng vấn.

Trang Thông Tin Chương Trình 135 / 2023

Việt Nam chăm lo quyền lợi của các dân tộc thiểu số

Phiên họp lần thứ năm về vấn đề người thiểu số của Hội đồng Nhân quyền Liên hợp quốc đã diễn ra trong hai ngày 27 và 28/11 tại Geneva (Thụy Sĩ) với sự tham gia của các đại biểu từ nhiều quốc gia trên thế giới cùng đại diện các tổ…

Hơn 148 tỷ đồng đầu tư cho các huyện nghèo

Ngày 14.11, Đoàn kiểm của Trung ương gồm đại diện Bộ Quốc phòng, Kế hoạch & đầu tư, LĐ-TB&XH, Giao thông vận tải, do Đại tá Lương Văn Mạnh – Phó cục trưởng Cục Kinh tế (Bộ Quốc phòng) làm Trưởng đoàn đã có…

Hội nghị đánh giá thực hiện Chương trình 135; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn và Quyết định 102/2009/QĐ- TTg

Sáng 7/11, UBND tỉnh đã tổ chức hội nghị trực tuyến toàn tỉnh đánh giá thực hiện Chương trình 135 giai đoạn II, nguồn vốn 2011; Dự án Hỗ trợ đầu tư cơ sở hạ tầng xã, thôn đặc biệt khó khăn năm 2012 và…

Tiếp tục đầu tư thực hiện Chương trình 135 giai đoạn 2012-2015

Ngày 29 tháng 10 năm 2012, Uỷ ban Thường Vụ Quốc Hội đã có văn bản số 258/UBTVQH13-TCNS do Chủ tịch Quốc hội Nguyễn Sinh Hùng ký gửi Chính phủ về việc “mục tiêu, nhiệm vụ, thời gian thực hiện và…

Nguy cơ tái nghèo và sự thiếu hụt chính sách cho hộ cận nghèo vùng đồng bào dân tộc và miền núi

Theo kết quả điều tra của Bộ Lao động Thương binh & Xã hội, năm 2011 cả nước ta còn trên 1,5 triệu hộ cận nghèo, trong đó tập trung chính ở vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi. Theo cách xác…

Nghị quyết 30a góp phần thay đổi diện mạo vùng Tây Bắc

Việc triển khai Nghị quyết 30a/CP của Chính phủ về hỗ trợ giảm nghèo nhanh và bền vững đối với 62 huyện nghèo trên cả nước, đã góp phần đẩy nhanh việc xóa đói giảm nghèo cho vùng…

27.509 tỷ đồng để giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015

Chương trình mục tiêu quốc gia Giảm nghèo bền vững giai đoạn 2012-2015 vừa được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt phấn đấu đến hết năm 2015, 10% số huyện nghèo và 50% số xã…

Bộ trưởng, Chủ nhiệm Ủy ban Dân tộc Giàng Seo Phử gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức nhân dịp đầu xuân Nhâm Thìn 2012

Nhân dịp ngày làm việc đầu tiên xuân Nhâm Thìn 2012, sáng ngày 30/01/2012, tại Ủy ban Dân tộc, Bộ trưởng, Chủ nhiệm UBDT Giàng Seo Phử đã có buổi gặp mặt, chúc Tết cán bộ, công chức, viên chức toàn cơ quan. Dự buổi…

Ban Hành Kế Hoạch Triển Khai Chương Trình Mỗi Xã Một Sản Phẩm Giai Đoạn 2022 / 2023

Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương đã ký Quyết định số 01/QĐ-BCĐTW ngày 22/8/2018 về việc ban hành Kế hoạch triển khai Chương trình Mỗi xã một sản phẩm – OCOP. Theo đó, có 11 nhiệm vụ trọng tâm cần triển khai từ nay đến 2020, bao gồm:

1. Triển khai thực hiện Chu trình OCOP

1.1. Chu trình OCOP được triển khai thực hiện thường niên theo 06 bước ( Phụ lục số 01, Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ) đảm bảo nguyên tắc: Nhà nước hỗ trợ, hướng dẫn – Các cơ sở sản xuất đề xuất trực tiếp theo nhu cầu và khả năng thực tế.

1.2. Ban hành tài liệu hướng dẫn để các địa phương triển khai thực hiện Chu trình OCOP một cách rộng rãi, khách quan. Tập trung chuyên sâu cho công tác hướng dẫn, tập huấn, tư vấn tại chỗ, kết nối nguồn lực cho việc phát triển ý tưởng sản phẩm, triển khai các dự án sản xuất, kinh doanh.

2. Tập trung chuẩn hóa và phát triển sản phẩm OCOP

1.3. Tổ chức các cuộc thi đánh giá, xếp hạng sản phẩm OCOP cấp huyện, cấp tỉnh và cấp quốc gia ( tùy điều kiện thực tế, các tỉnh, thành phố có thể tổ chức ngay từ năm 2018, đối với cấp quốc gia, sẽ thực hiện từ năm 2019); công bố kết quả xếp hạng sản phẩm vào dịp Hội chợ, triển lãm OCOP cấp tỉnh và cấp quốc gia.

2.1. Rà soát, đánh giá tiêu chuẩn chất lượng các sản phẩm hiện có, định hướng các tổ chức kinh tế nâng cao chất lượng sản phẩm theo tiêu chí OCOP. Tiêu chuẩn hóa các sản phẩm hiện có đảm bảo mục tiêu đề ra, bao gồm:

a) Nhóm sản phẩm Thực phẩm;

b) Nhóm sản phẩm Đồ uống;

c) Nhóm sản phẩm Thảo dược;

d) Nhóm sản phẩm Vải và may mặc;

đ) Nhóm sản phẩm Lưu niệm – nội thất – trang trí;

e) Nhóm sản phẩm Dịch vụ du lịch nông thôn, bán hàng OCOP.

3. Xây dựng, ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá, xếp hạng sản phẩm

2.2. Khuyến khích, thu hút, hỗ trợ các tổ chức kinh tế phát triển sản phẩm mới và đa dạng hóa sản phẩm.

4. Đào tạo, tập huấn, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực

Xây dựng và ban hành Bộ Tiêu chí đánh giá, xếp hạng sản phẩm (tạm thời) và quy trình đánh giá sản phẩm OCOP thống nhất trong phạm vi cả nước đảm bảo các quy định về quản lý chất lượng hàng hóa hiện hành, đảm bảo chất lượng sản phẩm hàng hóa, dịch vụ trong Chương trình OCOP.

4.1. Xây dựng và ban hành Bộ Tài liệu đào tạo của Chương trình OCOP (Phụ lục số 03, Quyết định số 490/QĐ-TTg ngày 07/5/2018 của Thủ tướng Chính phủ) để triển khai đào tạo, tập huấn cho đội ngũ cán bộ quản lý các cấp; lãnh đạo tại các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, chủ hộ sản xuất tham gia Chương trình OCOP.

4.2. Tập trung đào tạo đội ngũ cán bộ quản lý các cấp, nhất là cấp trung ương, cấp tỉnh theo hình thức đào tạo tập huấn viên nguồn (TOT)

4.3. Tổ chức thực hành phát triển ý tưởng sản phẩm, quản lý sản xuất, xúc tiến thương mại cho đội ngũ cán bộ quản lý các doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác, chủ hộ sản xuất cũng như các đối tác OCOP tư vấn khác, đảm bảo tính thực tiễn, hiệu quả.

5. Ứng dụng khoa học công nghệ trong sản xuất – kinh doanh các sản phẩm, dịch vụ OCOP

Trong quá trình triển khai công tác đào tạo, tập huấn, chú trọng kết hợp, lồng ghép với các chương trình đào tạo nghề cho lao động ở nông thôn để đa dạng hóa nội dung và nguồn lực.

5.1. Xây dựng và triển khai các đề tài, dự án nghiên cứu khoa học và phát triển, hoàn thiện, ứng dụng công nghệ vào sản xuất, kinh doanh các sản phẩm OCOP, nhất là ứng dụng các công nghệ hiện đại, thân thiện với môi trường. Các đề tài/dự án dựa trên nhu cầu cụ thể của các tổ chức kinh tế ( ưu tiên các hợp tác xã và các doanh nghiệp nhỏ và vừa có địa chỉ ứng dụng cụ thể).

5.2. Ứng dụng khoa học quản lý trong xây dựng mô hình doanh nghiệp nhỏ và vừa, hợp tác xã sản xuất sản phẩm OCOP tại cộng đồng.

5.3. Ứng dụng triệt để các nội dung của Cách mạng công nghiệp lần thứ 4 (4.0), đặc biệt thực hiện các ứng dụng công nghệ của Nông nghiệp 4.0 vào tổ chức sản xuất hàng hóa, dịch vụ trong Chương trình OCOP.

6. Triển khai các dự án thành phần

5.4. Tăng cường phối hợp với các tổ chức chính trị – xã hội, nhất là Hội Nông dân, Hội Phụ nữ, Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh xây dựng và triển khai phong trào phát triển kinh tế, khởi nghiệp trong đoàn viên, hội viên nhằm thúc đẩy những ý tưởng sáng tạo trong phát triển sản phẩm OCOP.

6.1. Cấp quốc gia: xây dựng, triển khai các dự án, bao gồm:

(1) Dự án phát triển lô gô, thương hiệu quốc gia sản phẩm Chương trình OCOP;

(2) Dự án Làng/bản Văn hóa Du lịch;

(3) Dự án phát triển vùng sản xuất, dịch vụ nông thôn trọng điểm quốc gia ( tại một số địa phương đại diện về đặc điểm sinh thái, văn hóa trên cả nước);

(4) Dự án Trung tâm thiết kế sáng tạo sản phẩm OCOP Quốc gia;

(5) Dự án Cơ sở dữ liệu Chương trình OCOP Quốc gia.

6.2. Cấp tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương:

7. Xúc tiến thương mại sản phẩm OCOP

(1) Căn cứ theo đặc điểm của từng địa phương, các tỉnh, thành phố xây dựng và triển khai một số dự án cấp tỉnh: i) phát triển thương hiệu sản phẩm OCOP; ii) dự án Làng/bản văn hóa du lịch; iii) dự án phát triển vùng sản xuất trọng điểm của địa phương; iv) dự án Trung tâm, điểm bán sản phẩm OCOP.

(2) Các tỉnh, thành phố căn cứ theo nhu cầu tham gia Chương trình OCOP của các tổ chức kinh tế để xây dựng, triển khai các dự án phù hợp. Đồng thời lựa chọn có trọng điểm, trọng tâm một số sản phẩm có lợi thế để tập trung hỗ trợ, xây dựng, triển khai các dự án sản xuất, chế biến, thương mại và dịch vụ mang tính liên vùng, liên huyện, có lộ trình phù hợp với thực tế và điều kiện mỗi địa phương.

7.1. Tập trung quảng bá, tiếp thị sản phẩm OCOP bằng nhiều hình thức, tập trung thực hiện xúc tiến thương mại đối với các sản phẩm đạt từ 3 đến 5 sao.

7.2. Tổ chức thường niên các kỳ xúc tiến thương mại, hội chợ, triển lãm sản phẩm OCOP cấp quốc gia và cấp tỉnh.

7.3. Chú trọng phát triển hình thức thương mại điện tử trong quảng bá, tiêu thụ sản phẩm OCOP.

7.4. Xây dựng hệ thống trung tâm, điểm bán hàng giới thiệu và bán sản phẩm OCOP tại các khu vực đông dân cư, khu vực phát triển du lịch, các trung tâm thương mại.

8. Cơ chế, chính sách và huy động nguồn lực tài chính thực hiện Chương trình OCOP

8.1. Hướng dẫn các tổ chức kinh tế, hộ sản xuất tham gia thực hiện Chương trình OCOP áp dụng thực hiện các chính sách hiện hành của nhà nước về phát triển ngành nghề, phát triển nông nghiệp, nông thôn trong tham gia triển khai Chương trình OCOP, bao gồm: Nghị định số 52/2018/NĐ-CP ngày 12/4/2018 của Chính phủ về phát triển ngành nghề nông thôn; Nghị định số 55/2015/NĐ-CP ngày 09/6/2015 của Chính phủ về chính sách tín dụng phục vụ phát triển nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 57/2018/NĐ-CP ngày 17/4/2018 của Chính phủ về cơ chế, chính sách khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn; Nghị định số 58/NĐ-CP ngày 18/04/2018 về bảo hiểm nông nghiệp; Quyết định số 461/QĐ-TTg 2018 ngày 27/4/2018 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án phát triển 15.000 HTX, liên hiệp HTX nông nghiệp hoạt động có hiệu quả đến năm 2020; Chương trình khoa học công nghệ phục vụ xây dựng nông thôn mới; các cơ chế chính sách hiện hành về khuyến nông, khuyến công, khoa học công nghệ, nghiên cứu bổ sung các chính sách khuyến khích các doanh nghiệp đầu tư vào các xã có điều kiện kinh tế xã hội đặc biệt khó khăn vùng dân tộc thiểu số và miền núi trong tham gia triển khai Chương trình OCOP…

8.2. Ủy ban nhân dân các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương tùy điều kiện thực tế, ban hành cơ chế, chính sách phù hợp để hỗ trợ các lĩnh vực: phát triển vùng nguyên liệu, cơ sở hạ tầng phát triển sản xuất (gồm các khu vực sản xuất tập trung), công nghệ, vốn, đào tạo phát triển nguồn nhân lực, phát triển sản phẩm, phân phối, tiếp thị, liên kết chuỗi trên cơ sở rà soát các chính sách hiện có, từ đó bổ sung các chính sách mới cho Chương trình OCOP.

8.3. Nguồn lực từ cộng đồng được xác định là nguồn lực chính của Chương trình OCOP, bao gồm: Tài chính, đất đai, sức lao động, nguyên vật liệu, công nghệ, ý tưởng… phù hợp với các quy định của pháp luật, được huy động trong quá trình hình thành các tổ chức OCOP, dưới dạng góp vốn; triển khai các hoạt động theo Chu trình OCOP.

8.5. Ngân sách nhà nước hỗ trợ một phần, bao gồm: Ngân sách nhà nước hỗ trợ thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020; các nguồn ngân sách hỗ trợ Chương trình khoa học và công nghệ, khuyến công, khuyến nông, các nguồn vốn lồng ghép khác của trung ương và các địa phương, ODA và các nguồn lực huy động khác.

9. Củng cố, kiện toàn hệ thống quản lý, điều hành thực hiện Chương trình OCOP

9.1. Trên nguyên tắc sử dụng bộ máy hiện có, không làm phát sinh bộ máy, không làm tăng biên chế, bộ máy chỉ đạo, điều hành Chương trình OCOP các cấp được kiện toàn theo chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ theo hướng lồng ghép nhiệm vụ trong Ban Chỉ đạo và Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp, có bộ phận chuyên trách triển khai Chương trình OCOP.

9.2. Thành lập Hội đồng tư vấn, Hội đồng đánh giá và xếp hạng sản phẩm OCOP

(1) Cấp Trung ương:

– Bộ trưởng Nông nghiệp và Phát triển nông thôn thành lập Hội đồng tư vấn Chương trình OCOP để hỗ trợ các địa phương đánh giá, xếp hạng sản phẩm; tư vấn xây dựng thương hiệu quốc gia sản phẩm OCOP; giám sát chất lượng sản phẩm OCOP; nghiên cứu, đề xuất cơ chế, chính sách thực hiện Chương trình OCOP;

– Chánh Văn phòng Điều phối nông thôn mới Trung ương xây dựng và phát triển mạng lưới các Tổ chuyên gia tư vấn theo từng lĩnh vực ngành hàng và nội dung hỗ trợ kỹ thuật để giúp tư vấn, hỗ trợ triển khai các dự án thành phần cấp Trung ương, hỗ trợ các địa phương triển khai Chương trình OCOP.

(2) Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, huyện: Thành lập Hội đồng đánh giá và xếp hạng sản phẩm ở cấp tỉnh và huyện tại mỗi kỳ đánh giá thường niên, do Ủy ban nhân dân cùng cấp quyết định.

(3) Các đối tác OCOP phối hợp với các cơ quan quản lý triển khai Chương trình OCOP các cấp để tham gia, phát triển mạng lưới đội ngũ chuyên gia tư vấn, đội ngũ các nghệ nhân để hỗ trợ triển khai Chương trình OCOP ở các địa phương.

10. Công tác thông tin, tuyên truyền về Chương trình OCOP

10.1. Tổ chức tuyên truyền sâu rộng trên các phương tiện thông tin đại chúng về mục đích, ý nghĩa của Chương trình OCOP trên phạm vi cả nước, để các tầng lớp xã hội và người dân thấy được lợi ích, giá trị kinh tế, giá trị nhân văn khi thực hiện Chương trình OCOP.

11. Hợp tác quốc tế

10.2. Các cấp ủy, chính quyền, Ban chỉ đạo, Văn phòng Điều phối nông thôn mới các cấp đẩy mạnh quán triệt tầm quan trọng và ý nghĩa của Chương trình OCOP, nguyên tắc và chu trình OCOP thường niên; đưa Chương trình OCOP vào Nghị quyết, chương trình hành động của cấp ủy, chính quyền các cấp để chỉ đạo triển khai thực hiện thường xuyên.

10.3. Đa dạng hóa các hình thức thông tin, tuyên truyền dưới dạng hội nghị chuyên đề; hội thảo, diễn đàn trao đổi, chia sẻ kinh nghiệm; các hoạt động tôn vinh những gương điển hình tiên tiến trong triển khai thực hiện Chương trình OCOP; xây dựng các chuyên trang, chuyên mục trên các báo, đài, các trang thông tin điện tử ở các cấp về Chương trình OCOP.

11.1. Tăng cường hợp tác với các quốc gia đã, đang triển khai Chương trình OVOP, OTOP, OCOP trên thế giới, nhằm học hỏi và đưa sản phẩm OCOP xuất khẩu và tăng khả năng cạnh tranh trên thị trường quốc tế.

11.2. Tổ chức các chuyến tham quan học tập Chương trình tại Thái Lan, Nhật Bản và các quốc gia thích hợp (ưu tiên thành phần tham gia là đội ngũ cán bộ nhà nước trực tiếp tham gia quản lý, điều hành, cán bộ quản lý các doanh nghiệp, hợp tác xã, chủ hộ sản xuất trong Chương trình OCOP).

11.3. Tổ chức giao lưu thương mại sản phẩm giữa các quốc gia thông qua tham gia các sự kiện triển lãm, hội chợ OCOP Việt Nam và quốc tế.

11.4. Tổ chức diễn đàn OCOP quốc tế 01 đến 02 năm/lần nhằm nâng cao hiệu quả trong công tác triển khai Chương trình OCOP và huy động các nguồn lực quốc tế tham gia Chương trình OCOP.

Chi tiết như tài liệu đính kèm: 01/QĐ-BCĐTW

Báo Cáo Tình Hình Kinh Tế Xã Hội, Quốc Phòng An Ninh Giai Đoạn 2022 / 2023

BÁO CÁO

Tình hình kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh giai đoạn 2016-2020

phường Hòa Cường Bắc

Thực hiện Thông báo số 46/HĐND ngày 30 tháng 11 năm 2020 của HĐND phường Hòa Cường Bắc về việc chuẩn bị nội dung trình kỳ họp thứ 15 HĐND phường khóa XI, UBND phường báo cáo tình hình thực hiện nhiệm vụ kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh giai đoạn  2016-2020 trên địa bàn phường, cụ thể như sau

ĐÁNH GIÁ VỀ TÌNH HÌNH THỰC HIỆN NHIỆM VỤ

Trong giữa nhiệm kỳ qua, mặc dù gặp không ít khó khăn, thách thức do tác động của tình hình trong nước và thành phố có nhiều biến động, nhưng với sự nỗ lực phấn đấu của cán bộ và nhân dân phường Hòa Cường Bắc đã đạt được những thành tựu quan trọng, tương đối toàn diện trên tất cả các lĩnh vực. Nổi bật là tình hình chính trị ổn định, nội bộ đoàn kết, nhân dân đồng thuận. Kinh tế phát triển; văn hoá – xã hội có nhiều tiến bộ: triển khai chương trình thành phố “4 an”, an sinh xã hội được bảo đảm, công tác giảm nghèo thực hiện tốt và bền vững, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng cao; các lĩnh vực giáo dục – đào tạo, chăm sóc sức khoẻ nhân dân, thực hiện Chỉ thị 43 của Thành uỷ Đà Nẵng, công tác quản lý trật tự đô thị, vỉa hè có những bước tiến bộ đáng kể. An ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội tiếp tục được giữ vững, hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước được tăng cường.

Tuy nhiên trong quá trình thực hiện vẫn còn một số tồn tại như: Công tác trật tự vỉa hè tuy đã được triển khai có nhiều chuyển biến tích cực, nhưng nhìn chung việc lấn chiếm sử dụng vỉa hè tại các đường nhỏ vẫn còn xảy ra, ảnh hưởng đến cảnh quan đô thị, công tác vệ sinh môi trường, công tác phòng cháy chữa cháy vẫn còn nhiều bất cập, nhiều khu dân cư không đảm bảo công tác cứu nạn, cứu hộ khi có sự cố xảy ra, tình hình an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội cơ bản được ổn định nhưng còn tiềm ẩn những khó khăn và phức tạp, nhất là tệ nạn ma túy có chiều hướng gia tăng.

KINH TẾ

Là phường có địa bàn rộng nhất của quận Hải Châu, nên trong cơ cấu kinh tế của phường giai đoạn 2016-2021 được định hướng phát triển “Thương mại – Dịch vụ – Sản xuất tiểu thủ công nghiệp” trong đó chú trọng phát triển thương mại và dịch vụ với sự phát triển của dịch vụ tài chính, dịch vụ du lịch, sự phát triển của hệ thống hơn 20 khách sạn, trên 130 nhà hàng, cơ sở ăn uống. Bên cạnh đó, các tuyến phố như Núi Thành, Phan Đăng Lưu, Tiểu La, Lê Thanh Nghị, 30/4, Nguyễn Hữu Thọ… với sự phát triển của hệ thống các hộ kinh doanh cá thể lớn góp phần vào sự phát triển kinh tế, cũng như tạo cảnh quan đô thị trên địa bàn phường ngày một hiện đại, văn minh. Ngoài ra, nhiều hoạt động dịch vụ truyền thống như ẩm thực, thời trang… được phát huy và đem lại doanh thu cho người dân. Tiểu thủ công nghiệp đa số có quy mô vừa và nhỏ nhưng cũng phát huy hiệu quả trong góp phần ổn định kinh tế xã hội của địa phương.

Phường đã tạo điều kiện thuận lợi cho các thành phần kinh tế trên địa bàn phường yên tâm phát triển hoạt động kinh doanh dịch vụ ăn uống. Năm 2017, UBND phường đã tiến hành tổ chức khai trương đoạn đường chuyên doanh ẩm thực văn minh thương mại Lê Thanh Nghị. Cho đến nay, các hộ kinh doanh ẩm thực trên đoạn đường này đã thực hiện tốt nghĩa vụ đóng thuế cho nhà nước năm sau tăng hơn năm trước trung bình 20%/năm. Đây là một trong những hoạt động trọng tâm của địa phương nhằm thúc đẩy sự phát triển kinh tế và tăng nguồn thu cho ngân sách phường.

Trong giai đoạn từ năm 2015 – 2020, UBND phường đã tập trung chỉ đạo công tác thu ngân sách, trong đó chú trọng công tác tuyên truyền phổ biến các chính sách về thuế trên địa bàn phường, công tác quản lý, điều hành thu chi ngân sách đáp ứng được yêu cầu hoạt động của phường, tiết kiệm và kiểm soát chặt chẽ các khoản chi, nên kết quả đạt được cụ thể như sau:

                                                                                          Đơn vị tính : đồng

Năm

Tổng thu ngân sách

Tổng chi ngân sách

Tuyết đối

Tương đối (% kế hoạch quận giao)

2016

17.861.579.204

139,7%

15.781.668.026

2017

20.552.436.099

126,3%

18.483.310.925

2018

21,559,035,203

114,9%

19,348,076,578

2019

23,311,020,000

107%

22,673,000,000

2020

13.489.000.000

71,7%

19.283.000.000

(Báo cáo số liệu thu – chi ngân sách từ năm 2016-2020)

Tổng thu ngân sách từ năm 2016-2020 bình quân tăng 25,14% so với dự toán quận giao, với số thu tăng 4.508.203.735 đồng, chi ngân sách tăng 32,5% với số tăng là 4.407.461.395 đồng.

Phường thực hiện tốt công khai thu, chi ngân sách, nhất là các khoản thu trong dân theo quy định của pháp luật; triển khai thực hiện có hiệu quả đề án khoán chi hành chính tại cơ quan phường; các loại quỹ huy động trong dân đều đạt và vượt kế hoạch giao. Chi ngân sách đúng quy định, bảo đảm phục vụ các hoạt động của địa phương.

III. XÂY DỰNG CƠ BẢN, QUẢN LÝ ĐÔ THỊ, VỆ SINH MÔI TRƯỜNG

Công tác quản lý đô thị, vệ sinh môi trường luôn được UBND phường quan tâm, lãnh đạo tổ chức thực hiện có hiệu quả. UBND phường chỉ đạo các tổ dân phố tiếp tục thực hiện tuyến đường “An toàn – Trật tự – Văn minh”, triển khai văn hoá văn minh đô thị theo tinh thần của chỉ thị 43 của thành uỷ Đà Nẵng, chương trình “Thành phố 4 an” từng bước đảm bảo trật tự đô thị tại các tuyến đường chính, các hộ buôn bán gây ảnh hưởng đến giao thông các kiệt hẻm, cùng các trường học thực hiện “Cổng trường bình yên”, quản lý một số lô đất trống, nâng cao hoạt động của Tổ trật tự đô thị, thực hiện tốt chủ trương xã hội hóa cây xanh, trong đó có việc làm các hàng rào và trồng hoa tại các gốc cây xanh, tổ chức kẻ vạch ở tuyến đường và các kiệt hẻm, kiên quyết xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm trật tự đô thị, trật tự vỉa hè, trật tự xây dựng.

Thực hiện đề án 3 có của thành phố,  công tác đảm bảo vệ sinh môi trường là một trong những tiêu chí quan trọng trong việc thực hiện văn hoá, văn minh đô thị,  trong những năm qua UBND phường đã phối hợp cùng các ban ngành đoàn thể và các trường học thường xuyên tổ chức phát động ra quân tổng dọn vệ sinh trên địa bàn nhân “Ngày Chủ nhật xanh – sạch – đẹp”, ngày “Môi trường thế giới” qua đó đã vận động nhân dân hào hứng tham gia bảo vệ môi trường, làm đẹp nơi cư trú, góp phần tạo nét mỹ quan trên các tuyến đường này.

Xử phạt về trật tự đô thị, môi trường và xây dựng:

Năm 2016: xử phạt 109 trường hợp, với số tiền: 108.950.000 đồng

Năm 2017: xử phạt 156 trường hợp, với số tiền 117.300.000 đồng

Năm 2018: xử phạt 37 trường hợp, với số tiền 29.250.000 đồng

Năm 2019: xử phạt 21 trường hợp, với số tiền 12.000.000 đồng

Năm 2020: xử phạt 127 trường hợp, với số tiền 106.250.000 đồng

Thực hiện Nghị quyết 03 của Quận ủy về “Đảm bảo trật tự đô thị – môi trường” giai đoạn 2015-2017 và đề án quản lý trật tự vỉa hè giai đoạn 2017-2020. UBND phường đã có kế hoạch cụ thể phối hợp với đội kiểm tra quy tắc đô thị quận và công an phường ra quân kiểm tra xử lý trên các tuyến đường trên địa bàn phường và tập trung tại các chợ (Chợ Hòa Cường và chợ Nguyễn Tri Phương), các trường học, bảo đảm trật tự. Tổ chức ra quân, xử lý nghiêm đối với các trường hợp vi phạm hoặc tái vi phạm trong xây dựng sửa chữa nhà ở, lấn chiếm vỉa hè làm nơi kinh doanh buôn bán trái phép.  Phối hợp với các lực lượng trong công tác kiểm tra, phát hiện và xử lý vi phạm trật tự xây dựng theo Nghị định số 139/NĐ-CP của Chính phủ và đảm bảo trật tự an toàn cho các đoàn khách du lịch đến tham quan, dự các sự kiện chính trị cuả thành phố trên địa bàn, do đó công tác quản lý trong lĩnh vực xây dựng và đô thị có những chuyển biến tích cực.

UBND phường đã phối hợp cùng UBMTTQVN phường ban hành Kế hoạch liên tịch số 02/KHLT-UBND-UBMT ngày 15 tháng 03 năm 2017 của UBND, UBMTTQVN phường Hòa Cường Bắc về việc triển khai thực hiện Đề án đường thoát hiểm. Mục đích chính là để nâng cao nhận thức, ý thức tự giác của các tổ chức, cá nhân trong việc chấp hành các quy định về đảm bảo trật tự đô thị và phòng chống cháy nổ v..v. trên địa bàn phường. Đồng thời tăng cường kiểm tra, xử lý tình trạng nhằm nâng cao hiệu lực quản lý nhà nước. Đã tổ chức lực lượng tháo dỡ các vật dụng, làm thông thoáng 37 đường thoát hiểm trên địa bàn phường.      

Trong thời gian qua bộ mặt của phường cũng đã khởi sắc, ngoài việc thành phố, quận đầu tư, nâng cấp các tuyến đường lớn, một số công trình có quy mô đầu tư hiện đại, đẹp thì địa phương cũng đã thực hiện hơn 38 công trình với tổng kinh phí trên 897 triệu đồng.

VĂN HOÁ, XÃ HỘI

Văn hóa – Thể thao

Phong trào văn hóa văn nghệ, thể dục thể thao đóng một vai trò trung tâm trong việc xây dựng nếp sống văn hóa – văn minh đô thị, văn hóa chính là gốc để xây dựng một xã hội tiến bộ, nhận thức được tầm quan trọng của văn hóa – thể thao, lĩnh vực văn hóa thể thao được đẩy mạnh, từ công tác tuyên truyền vận động đến các nhiều hoạt động sôi nổi, cụ thể từ cơ quan UBND phường đến các khu dân cư và được duy trì thường xuyên và luôn được chú trọng đầu tư xây dựng, tập luyện chương trình để tham gia hội thi, hội diễn các cấp và tổ chức công diễn phục vụ nhân dân trong các dịp dễ tết, kỷ niệm các ngày lễ lớn và các sự kiện chính trị của đất nước, của địa phương. Nổi bật nhất trong lĩnh vực văn hóa đó chính là không khí phấn đầu xây dựng gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong khu dân cư, mỗi cá nhân, mỗi hộ gia đình đều có ý thức xây dựng nếp sống văn hóa, văn minh đô thị, xứng đáng với danh hiệu gia đình văn hóa, tổ dân phố văn hóa trong năm. Một số kết quả như sau: Trang trí cổ động trực quan chào mừng kỷ niệm ngày thành lập Đảng cộng sản Việt Nam, ngày Thành lập Công an nhân dân,  ngày Quốc Khánh 2/9 và chào mừng Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng; bầu cử Đại biểu Quốc hội khóa XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016-2021; tham gia lễ hội đình làng Hải Châu năm 2016-2020  đạt nhiều kết quả cao.

Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”, “xây dựng nếp sống văn hóa văn minh đô thị”, phong trào xây dựng “đoạn đường an toàn văn minh”, “Tổ dân phố không rác” được triển khai nhân rộng trên toàn địa bàn phường góp phần làm chuyển biến tích cực trong quá trình xây dựng các mô hình theo chủ trương của quận và thành phố. Bình quân hằng năm có 92% hộ gia đình đạt danh hiệu Văn hóa, trên 85% tổ dân phố đạt danh hiệu Văn hóa. Việc xây dựng “Gia đình văn hóa”,“Tổ dân phố văn hóa” tiếp tục đạt được một số kết quả thiết thực, có tác động tích cực đến tình hình phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội và đời sống của các tầng lớp nhân dân địa phương.

Về Giáo dục

Phong trào thi đua trong sự nghiệp phát triển giáo dục và đào tạo được phát triển mạnh mẽ, triển khai một cách toàn diện và được tổ chức chặt chẽ tiêu biểu là các phong trào thi đua “dạy tốt, học tốt”, xây dựng trường học thân thiện, học sinh tích cực”, “nói không với tiêu cực trong thi cử và bệnh thành tích trong giáo dục”…đã đưa chất lượng giáo dục của các trường ngày càng được nâng cao toàn diện. thực hiện cuộc vận động “Dân chủ – kỷ cương – tình thương – trách nhiệm” do ngành giáo dục phát động, các trường học trên địa bàn phường luôn đổi mới phương pháp dạy và học nhằm nâng cao chất lượng giáo dục, tăng cường nề nếp, kỷ cương kỷ luật trong nhà trường. Chú trọng đến tình trạng học sinh bỏ học và học lực yếu, tăng cường phụ đạo học sinh yếu kém, quan tâm bồi dưỡng học sinh giỏi, nên trong năm học số lượng học sinh giỏi được duy trì và hạn chế học sinh yếu kém. Các trường trên địa bàn phường tiếp tục duy trì đạt chuẩn quốc gia và tiếp tục được đề nghị danh hiệu trường tiên tiến xuất sắc cấp thành phố, quận.

Trong giai đoạn từ năm 2016-2020 , tại trường mầm non Hoa Ban, tiểu học Núi Thành, tiểu học Phan Đăng Lưu, THCS Tây Sơn không có học sinh bỏ học, tỷ lệ ra lớp đạt 100%. Trường THCS Tây Sơn có tỷ lệ học sinh tốt nghiệp luôn đạt trên 99%. Đội tuyển học sinh giỏi của trường luôn nằm ở vị trí dẫn đầu của Quận Hải Châu.

Các trường tiểu học có 100% học sinh lớp 5 được công nhận hoàn thành chương trình bậc tiểu học, nhiều học sinh đạt kết quả xuất sắc tại các kỳ thi, hội thi do thành phố tổ chức… công tác quan tâm, giúp đỡ học sinh nghèo luôn được chú trọng, tổ chức tiếp sức đến trường cho các em học sinh nghèo có hoàn cảnh khó khăn vươn lên trở thành học sinh giỏi xuất sắc.

Trường Mầm non Hoa Ban luôn chú trọng đến nhiều biện pháp nâng cao chất lượng chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ thông qua các chuyên đề giáo dục an toàn giao thông, kỹ năng sống, phát triển thể chất, tiết kiệm năng lượng, bảo vệ tài nguyên môi trường… 

Về công tác khuyến học, khuyến tài, xây dựng xã hội học tập, triển khai Đề án 281 về triển khai thí điểm về mô hình “Gia đình học tập”, “Dòng họ học tập”, “Công đồng học tập”, cộng đồng học tập cấp tổ dân phố. Đảng ủy, Ủy ban mặt trận và các hội đoàn thể Hội phụ nữ, khuyến học, chữ thập đỏ, từ thiện đã vận động các tổ chức, cá nhân, nhà hảo tâm trên địa bàn phường tổ chức “tiếp sức đến trường” tặng cho các em hộ thoát nghèo, khó khăn trên địa bàn phường.

Công tác Lao động – Thương binh – Xã hội

Công tác Giảm nghèo

Công tác chăm lo cho các hộ nghèo, hộ cận nghèo và hộ khó khăn luôn được cả hệ thống chính trị phường chú trọng, được sự quan tâm của các cấp, các ngành và sự nỗ lực của nhân dân và cán bộ trong phường bằng các hoạt động như giải quyết cho vay vốn ngân hàng, hỗ trợ các phương tiện sinh kế, vốn làm ăn, xây dựng và sửa chữa nhà ở, hỗ trợ các cháu trong học tập, cấp thẻ BHYT cho người nghèo. Từ những hoạt động thiết thực đó góp phần cho địa phương giảm hộ nghèo từ 326 hộ xuống đến cuối năm 2017 còn 139 hộ nghèo, năm 2018 phường không còn hộ nghèo theo chuẩn cũ, năm 2020 hỗ trợ thoát nghèo cho 52 hộ nghèo theo chuẩn mới, hoàn thành tốt Nghị quyết Đảng uỷ và nhiệm vụ trọng tâm quận giao cho  phường.

Cuộc vận động “Vì người nghèo” được các tầng lớp nhân dân tham gia  hưởng ứng tích cực qua đó hỗ trợ xây dựng 24 nhà, sửa chữa 53 nhà, hỗ trợ sinh kế 57 hộ, học bổng cho 436 lượt con em hộ nghèo, hỗ trợ ốm đau, khó khăn đột xuất cho 527 lượt hộ… với tổng số tiền trên 2,6 tỷ đồng. 

Công tác giảm nghèo và an sinh xã hội, chính sách bảo trợ xã hội đối với người nghèo, người cao tuổi và trẻ em dưới 6 tuổi được quan tâm đúng mức, các hội đoàn thể có nhiều đóng góp, trong đó UBND phường phối hợp Hội Người cao tuổi tổ chức tốt công tác mừng thọ theo quy định, thăm đau viếng tử, vận động hàng trăm triệu đồng vào quỹ chăm sóc Người cao tuổi, vận động Quỹ “Vì người nghèo” đạt kết quả cao.

Tinh thần Chỉ thị 24/CT-TU ngày 10 tháng 8 năm 2009 của Ban thường vụ Thành ủy luôn được xác định là nhiệm vụ trọng tâm, thực hiện Nghị quyết của Đảng ủy phường đề ra về “Công tác giảm nghèo, giúp đỡ học sinh bỏ học và thiếu niên hư vi phạm pháp luật trên địa bàn phường giai đoạn”, UBND phường phối hợp với UBMT và các hội đoàn thể phường có kế hoạch giúp đỡ các hộ nghèo, tạo việc làm có thu nhập ổn định cuộc sống, không để học sinh bỏ học vì  hoàn cảnh gia đình khó khăn.

Y tế, Dân số, Gia đình, Trẻ em

Trạm y tế tham mưu cho UBND phường trong công tác chăm sóc sức khoẻ ban đầu cho nhân dân đạt được nhiều kết quả đáng khích lệ, y tế cộng đồng, vệ sinh phòng bệnh được đẩy mạnh, quản lý các bệnh xã hội, thực hiện chương trình y tế quốc gia, tiêm chủng mở rộng, chăm sóc bà mẹ mang thai tốt; công tác dân số, kế hoạch hoá gia đình thực hiện đạt chỉ tiêu kế hoạch trên giao. Từ 2016 đến nay trạm đã lập hồ sơ theo dõi chăm sóc sức khỏe người cao tuổi và định kỳ mỗi năm khám tầm soát 2 lần.

Duy trì hoạt động của đội ngũ Cộng tác viên dân số và chăm sóc sức khỏe cộng đồng tại khu dân cư. Phối hợp đội Y tế dự phòng thực hiện tốt công tác phun thuốc phòng chống dịch bệnh Covid-19 đồng thời chỉ đạo Tổ trưởng các tổ dân phố tuyên truyền vận động nhân dân duy trì ra quân dọn vệ sinh, vào các sáng chủ nhật hằng tuần để đảm bảo vệ sinh môi trường không để phát sinh ổ dịch SXH cũng như làm tốt công tác phòng, chống dịch bệnh Covid-19. Tổ chức xét nghiệm cộng đồng trên diện rộng để kịp thời phát hiện và kiểm soát đại dịch Covid-19.

QUỐC PHÒNG – AN NINH

Tổ chức thực hiện nghiêm túc việc tuần tra theo quyết định 8394 của Ủy ban nhân dân thành phố phòng chống trộm cắp, đảm bảo ANTT. Qua đó, nhắc nhở nhân dân trong việc trông coi tài sản, các trường hợp ngủ quên không đóng cửa, ngăn chặn kịp thời các vụ mâu thẫn gia đình, các nhóm thanh niên tụ tập khuya dễ gây mất ANTT.

Tiếp tục thực hiện tốt chương trình “Thành phố 4 An”. Công an phường thực hiện tốt nhiệm vụ phối hợp với tổ trưởng tổ dân phố, lực lượng nòng cốt tại cơ sở trong việc theo dõi, quản lý nhân hộ khẩu; quản lý địa bàn, quản lý đối tượng gắn với việc thực hiện Chỉ thị số: 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Thành ủy Đà Nẵng. Lồng ghép tuyên truyền vận động nhân dân tích cực tham gia đấu tranh, tố giác tội phạm và nâng cao ý thức tự bảo quản tài sản của mình.

XÂY DỰNG CHÍNH QUYỀN, CẢI CÁCH HÀNH CHÍNH

Năm 2016, Hội đồng nhân dân được bầu với 29 đại biểu theo đúng quy định của Luật Tổ chức chính quyền địa phương, HĐND, các ban HĐND và các đại biểu HĐND phường đảm bảo thực hiện theo đúng quy định của pháp luật thực hiện tốt các chương trình, kế hoạch giám sát của từng năm, nội dung giám sát có trọng tâm, trọng điểm gắn với thực tế hoạt động tại UBND phường. Công tác tiếp công dân của thường trực, các ban của HĐND và đại biểu HĐND được thực hiện thường xuyên. Sự phối hợp giữa thường trực HĐND, UBND, UBMTTQVN phường với các Ban, Tổ đại biểu, Đại biểu HĐND phường được chú trọng thực hiện góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của HĐND phường. Đến nay HĐND phường tổ chức 14 kỳ họp, thường trực HĐND phường thường xuyên tổ chức các cuộc giám sát chuyên đề, bao gồm các vấn đề kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng tại địa phương. Tổ chức các buổi tiếp xúc cử tri báo cáo kết quả sau các kỳ họp của HĐND phường, tại các buổi tiếp xúc, các vị đại biểu đã ghi nhận, tiếp thu, giải trình các ý kiến, kiến nghị của cử tri, đồng thời phản ánh các kiến nghị lên cấp có thẩm quyền giải quyết kịp thời cho nhân dân.

Thực hiện tốt công tác xây dựng, ban hành, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật, tình hình thi hành pháp luật trên địa bàn phường. Từng bước nâng cao chất lượng công tác tuyên truyền phổ biến giáo dục pháp luật và trợ giúp pháp lý đến cơ sở cho người dân. Lồng ghép các cuộc họp của Tổ dân phố để tổ chức tuyên truyền Luật giao thông đường bộ, đưa tiêu chí vi phạm Luật giao thông đường bộ vào bình xét “Gia đình văn hóa” cuối năm. Tuyên truyền về các hành vi vi phạm hành chính trong lĩnh vực văn hóa văn minh đô thị bằng hình thức phát tờ rơi đến từng hộ gia đình.

Xác định công tác cải cách hành chính là một nhiệm vụ trọng tâm nên được phường chú trọng, quán triệt trong toàn thể cán bộ, công chức 100% hưởng ứng tham gia đăng ký cam kết thực hiện thực hiện Chỉ thị 29/CT-TU của Ban thường vụ Thành ủy với nội dung “5 xây – 3 chống”, Chỉ thị 03 của Chủ tịch UBND thành phố và cam kết thực hiện để nâng cao tinh thần trách nhiệm và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức tại các cơ quan, đơn vị tại thành phố Đà Nẵng. Tiếp tục mô hình khai tử tận nhà khi gia đình có người thân qua đời, thực hiện đề án trao giấy khai sinh, thẻ BHYT, hộ khẩu tại gia đình trẻ em trên địa bàn phường theo chủ trương của UBND thành phố khi gia đình có thành viên mới ra đời. Tiếp tục tuyên truyền sâu rộng về dịch vụ công trực tuyến đến toàn dân, UBND phường đã triển khai thực hiện xây dựng “phường điện tử” đạt chuẩn mức độ 1, tổ chức tuyên truyền qua trang thông tin điện tử của phường chúng tôi qua hình thức phát tờ rơi, tuyên truyền tại Hội nghị giao ban tổ dân phố, khu dân cư. Cho đến nay, chưa có đơn thư tố cáo, khiếu nại cán bộ công chức thuộc Bộ phận Tiếp nhận và trả kết quả về tiếp nhận giải quyết công việc ở phường. Thực hiện nghiêm nguyên tắc công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan; phổ biến và niêm yết công khai quy chế, quy trình và các thủ tục hành chính tại trụ sở để nhân dân biết và giám sát các hoạt động của chính quyền.

Tổ chức kê khai và công khai về tài sản và thu nhập đối với các trường hợp cán bộ công chức thuộc diện phải kê khai và công khai về tài sản và thu nhập theo Nghị định 68/2011/NÐ-CP ngày 08/8/2011 của Chính phủ.

Chỉ đạo các Tổ dân phố tiếp tục thực hiện tốt Chỉ thị 21-CT/TU ngày 30/10/2012 của Ban thường vụ Thành ủy về “Tập trung lãnh đạo nâng cao chất lượng hoạt động của tổ dân phố,thôn trên địa bàn thành phố”. Triển khai đăng ký công dân điện tử đến các hộ dân đến nay hoàn thành 100%, áp dụng tiêu chuẩn ISO-2008 trong giải quyết thủ tục cải cách hành chính.Tổ chức Hội nghị Hướng dẫn và triển khai công tác nhân sự, Bầu cử Tổ trưởng, tổ phó TDP nhiệm kỳ 2017-2020, 2020-2022.

BÀI VIẾT LIÊN QUAN

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương Trình 135 Giai Đoạn Iii: Cơ Hội Đẩy Nhanh Tốc Độ Phát Triển Kinh Tế / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!