Xu Hướng 2/2023 # Chương Trình Hành Động Của Tỉnh Ủy Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 Về Giáo Dục Và Đào Tạo # Top 8 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Chương Trình Hành Động Của Tỉnh Ủy Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 Về Giáo Dục Và Đào Tạo # Top 8 View

Bạn đang xem bài viết Chương Trình Hành Động Của Tỉnh Ủy Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 Về Giáo Dục Và Đào Tạo được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(kontumtv.vn) – Tỉnh ủy Kon Tum đã ban hành Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết số 29 – NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng về đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa trong điều kiện kinh tế thị trường định hướng XHCN và hội nhập quốc tế.

Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo nhằm tạo sự chuyển biến căn bản, mạnh mẽ chất lượng, hiệu quả giáo dục nhằm nâng cao dân trí, bồi dưỡng nhân tài, phát triển nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao để đáp ứng nhu cầu xã hội. Phát triển giáo dục trên cơ sở xây dựng hệ thống giáo dục, đào tạo theo hướng mở, thực học, thực nghiệm, dạy tốt, học tốt, quản lý tốt, đảm bảo các điều kiện nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, nhất là ở vùng sâu vùng xa; phát triển quy mô, cơ cấu giáo dục hợp lý, hài hòa, đảm bảo công bằng xã hội trong giáo dục và cơ hội học tập suốt đời cho mỗi người dân.

Tỉnh Kon Tum đề ra một số mục tiêu cơ bản là hoàn thành phổ cập giáo dục mầm non cho trẻ 5 tuổi vào năm 2015, chuẩn bị tốt các điều kiện để thực hiện có hiệu quả chương trình giáo dục phổ thông sau năm 2015, phấn đấu đến năm 2020, có 80% thanh niên trong độ tuổi đạt trình độ giáo dục trung học phổ thông và tương đương. Tăng cường các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, Tỉnh ủy xác định tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 05 của Ban Thường vụ Tỉnh ủy khóa 13 về nâng cao chất lượng giáo dục đối với học sinh dân tộc thiểu số giai đoạn 2008 – 2015. Hàng năm, tỉnh đảm bảo chi tối thiểu 20% tổng chi ngân sách cho giáo dục – đào tạo.

Nghĩa Hà – Thanh Hà

Ngành Giáo Dục Và Đào Tạo: Sức Lan Tỏa Sau 05 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 88 Về Đổi Mới Chương Trình, Sách Giáo Khoa Giáo Dục Phổ Thông

Ngành Giáo dục và Đào tạo: Sức lan tỏa sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 88 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông

– Lượt xem: 549

Sau 05 năm thực hiện Nghị quyết số 88/2014/QH13 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, diện mạo ngành Giáo dục và Đào tạo (GD-ĐT) tỉnh Tiền Giang đã có nhiều khởi sắc đáng khích lệ. Một trong những điểm nhấn quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết số 88 là toàn ngành đã chuẩn bị tốt các điều kiện để có thể triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới.

* Động lực đổi mới

Tinh thần của Nghị quyết số 88 là động lực quan trọng giúp toàn ngành GD-ĐT quyết tâm thực hiện công tác đổi mới. Nếu như trước đây, công tác GD-ĐT tỉnh nhà còn nhiều khó khăn thì giờ đây có thể tự tin rằng diện mạo ấy đã thay đổi từng ngày. Nhờ sức lan tỏa mạnh mẽ của Nghị quyết mà chất lượng đội ngũ cán bộ quản lý, giáo viên, học sinh không ngừng được nâng lên, tạo sự đồng thuận, quyết tâm cao của cả hệ thống; đồng thời phát huy hiệu quả sự tham gia đóng góp của xã hội.

Với quyết tâm và khí thế của công cuộc đổi mới về giáo dục cùng sự chỉ đạo quyết liệt của người đứng đầu, toàn ngành đã thực hiện đổi mới căn bản trong dạy và học, áp dụng nhuần nhuyễn các phương pháp giảng dạy trực quan, sinh động, chú ý các hoạt động trải nghiệm, nghiên cứu khoa học để học sinh vận dụng kiến thức, phát triển năng lực, tư duy – đây là tiền đề chuẩn bị quan trọng để có thể triển khai tốt Chương trình giáo dục phổ thông mới.

Ông Nguyễn Phương Toàn, Phó Giám đốc Sở GD-ĐT cho biết: Trong lần đổi mới sách giáo khoa này, tỉnh Tiền Giang đã tuân thủ nghiêm túc sự chỉ đạo, định hướng từ Bộ GD-ĐT và Ủy ban nhân dân tỉnh; huy động toàn bộ lực lượng để có thể làm tốt ngay từ khâu chuẩn bị. Việc đổi mới chương trình sách giáo khoa lần này được xem là động lực, bước ngoặt để giúp ngành GD-ĐT tỉnh nhà có thể phát triển tầm cao hơn nữa.  

Theo đánh giá của ông Nguyễn Hồng Oanh, Giám đốc Sở GD-ĐT, điểm mấu chốt quan trọng trong việc triển khai Nghị quyết số 88 là làm sao nâng cao nhận thức ở bộ phận giáo viên để từ đó có những thống nhất cụ thể từ sự chỉ đạo cụ thể của cấp trên, để có thể triển khai tốt vào thực tế. Bên cạnh đó, cần phát huy tốt sức mạnh của tập thể, tổ chuyên môn và tỉnh Tiền Giang đã làm tốt điều đó, đi đúng hướng theo tinh thần Nghị quyết số 88. Ngay từ ban đầu, trong các cuộc tập huấn, họp cán bộ, giáo viên toàn ngành đã lồng ghép tuyên truyền và có sự kiểm tra, đánh giá cụ thể ở từng đơn vị trong việc thực hiện.  

* Sẵn sàng cho chương trình mới

Một trong những điểm nhấn quan trọng trong việc thực hiện Nghị quyết số 88 là ngành GD-ĐT tỉnh đã chuẩn bị tốt các điều kiện nhằm có thể triển khai thực hiện Chương trình giáo dục phổ thông mới ngay từ năm học sau.

Theo ông Nguyễn Hồng Oanh, Giám đốc Sở GD-ĐT, tính đến thời điểm này, nhìn lại quá trình chuẩn bị cho việc đổi mới sách giáo khoa, ngành GD-ĐT tỉnh đã tập trung thực hiện đạt một số việc sau: Thứ nhất là đã rà soát, quy hoạch lại mạng lưới cơ sở vật chất, trường lớp; thứ hai là thống kê, kiểm tra lại đội ngũ giáo viên; thứ ba là tiến hành tập huấn, bồi dưỡng cán bộ quản lý, giáo viên và cuối cùng là đẩy mạnh công tác ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý và giảng dạy.

Để có thể triển khai tốt Chương trình giáo dục phổ thông mới thì yếu tố con người là rất quan trọng. Thực tiễn cho thấy, đứng trước yêu cầu đổi mới, đội ngũ giáo viên trong toàn ngành đã được đào tạo, bồi dưỡng một cách bài bản, giỏi về chuyên môn nghiệp vụ cũng như vững vàng kỹ năng sư phạm. Nhiều cán bộ, giáo viên trong ngành GD-ĐT được tạo điều kiện học tập nâng cao trình độ chuyên môn đạt chuẩn và trên chuẩn; số lượng thiếu và thừa giáo viên cơ bản đã được khắc phục. Thống kê của ngành GD-ĐT cho thấy toàn tỉnh hiện có 19.573 cán bộ, công chức, viên chức đang công tác trong các đơn vị sự nghiệp giáo dục, trong đó có 18.529 giáo viên và 1.044 nhân viên. Riêng ở bậc học tiểu học có 100% giáo viên đạt chuẩn trở lên, trong đó tỷ lệ giáo viên trên chuẩn là 83,3%.

Những năm qua, cơ sở vật chất của ngành GD-ĐT đã nhận được sự quan tâm, đầu tư của Ủy ban nhân dân tỉnh, các huyện, thị xã, thành phố. So với hơn 10 năm trước, cơ sở vật chất trường lớp của tỉnh Tiền Giang đã thay đổi rõ rệt. Từ thành thị về đến nông thôn, mạng lưới trường lớp ngày càng khang trang đã thay thế những ngôi trường cũ kỹ, xuống cấp. Thực hiện Đề án số 02 của Tỉnh ủy, ngành GD-ĐT đã tiến hành rà soát sắp xếp lại mạng lưới, trường lớp trên địa bàn tỉnh. Hiện nay, tỉnh có 543 cơ sở giáo dục mầm non, phổ thông. Trong đó có 188 trường mầm non, 188 trường tiểu học, 05 trường tiểu học – trung học cơ sở, 124 trường trung học cơ sở, 05 trường trung học cơ sở – trung học phổ thông và 33 trường trung học phổ thông. Để chuẩn bị cho Chương trình giáo dục phổ thông mới, trong năm học vừa qua, tỉnh đã đầu tư cơ sở vật chất trường học, với tổng kinh phí 2.516 tỷ đồng. Riêng ở bậc tiểu học, tỷ lệ phòng học đạt chuẩn ở các huyện, thành, thị đạt trên 89%; có trên 79% trường tiểu học có đầy đủ các phòng chức năng. Toàn tỉnh có 190/193 trường tiểu học tổ chức dạy học từ 6  – 10 buổi/tuần (chiếm tỷ lệ 98,4%); có 35/193 trường tổ chức bán trú cho học sinh, chiếm tỷ lệ 18,1%. Toàn tỉnh có 133/189 trường tiểu học đạt chuẩn quốc gia, đạt tỷ lệ 70,4%.

Để triển khai Chương trình giáo dục phổ thông mới, Sở GD-ĐT đã tham mưu Ủy ban nhân dân tỉnh thành lập Ban Chỉ đạo đổi mới Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông tỉnh Tiền Giang theo Quyết định số 4097/QĐ-UBND ngày 26/11/2019 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Tiền Giang. Sở GD-ĐT đã xây dựng kế hoạch và tổ chức 113 lớp bồi dưỡng cho tất cả cán bộ quản lý và giáo viên tiểu học về Chương trình giáo dục phổ thông mới, đặc biệt đối với lớp 1 vào tháng đầu năm 2020 bằng hình thức tự học qua mạng và trực tiếp bằng nguồn kinh phí địa phương. Ngoài ra, Sở GD-ĐT đã tổ chức hội thảo giới thiệu chi tiết nội dung 5 bộ sách lớp 1 đã được Bộ GD-ĐT thẩm định cho Ban Chỉ đạo đổi mới Chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông, lãnh đạo các phòng thuộc Sở, Cán bộ quản lý các phòng GD-ĐT, 193 hiệu trưởng, 193 tổ trưởng chuyên môn khối 1 các trường tiểu học (tiểu học – trung học cơ sở) trong toàn tỉnh. 

Ông Nguyễn Hồng Oanh, Giám đốc Sở GD-ĐT khẳng định: “Tinh thần của Nghị quyết số 88 về đổi mới chương trình, sách giáo khoa giáo dục phổ thông là hoàn toàn đúng đắn và phù hợp với tinh thần thực tế của tỉnh Tiền Giang. Tính đến thời điểm hiện tại, Tiền Giang đã sẵn sàng tâm thế đổi mới và sẽ triển khai tốt nhất Chương trình giáo dục phổ thông mới đối với lớp 1 ngay từ những ngày đầu tiên”. ​

Thảo Phương

Chương TrìNh HàNh Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 36

Thứ ba, 05/05/2015 22:56

Ngày 1-7-2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Để thực hiện có kết quả Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng chương trình hành động với các nội dung như sau:

I- Tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của tỉnh

Thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW, ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị khóa VIII; Tỉnh ủy đã ban hành, tổ chức thực hiện Chương trình hành động số 06-NQ/TU, ngày 24-1-2002 về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và đạt được một số kết quả tích cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ công mức độ 3 và các trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành và ủy ban nhân dân các huyện, thành phố bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực, năng suất, chất lượng công việc được nâng lên, lề lối làm việc ở các cơ quan quản lý hành chính nhà nước từng bước đổi mới, tăng cường tính minh bạch thông tin. Hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng và phát triển; tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước cấp tỉnh, huyện đều có nối mạng cục bộ; mạng thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng, Nhà nước cơ bản đã được lắp đặt, triển khai đồng bộ từ tỉnh đến các xã, phường, thị trấn, thường xuyên trao đổi thông tin thông suốt từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở; mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ tích cực cho khai thác phần mềm văn phòng điện tử và các hội nghị trực tuyến của tỉnh. An toàn, an ninh thông tin ngày càng hoàn thiện. Đội ngũ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành.

Tuy nhiên, các phần mềm phục vụ quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của các dự án công nghệ thông tin còn ít triển khai, phạm vi ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế; ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp chưa nhiều. Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ cả về cung ứng và sử dụng, có nơi còn lạc hậu, chưa đáp ứng về cấu hình và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, an ninh; mạng chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước đã triển khai đến cấp cơ sở, nhưng hiện nay các kết nối có trên mạng còn sử dụng ít. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa đáp yêu cầu, việc sử dụng, bố trí, quản lý, phát huy đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin chưa tốt; vai trò, nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin ở các sở, ban, ngành và ở cấp huyện chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc thực hiện Đề án tin học hóa của các cơ quan Đảng, chính quyền. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ở một số địa phương, đơn vị còn thiếu quyết tâm, trách nhiệm chưa cao.

II- Quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2020 1- Quan điểm

Tập trung quán triệt sâu sắc, toàn diện và tổ chức thực hiện có hiệu quả 4 quan điểm chỉ đạo về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 1-7-2014 của Bộ Chính trị; đồng thời nắm vững các nội dung sau đây:

– Công nghệ thông tin là động lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, đặc biệt là trong nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp.

– Phát triển công nghệ thông tin theo hướng hạ tầng đầu tư đồng bộ, quy mô hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và theo hướng hiện đại, ứng dụng là chủ yếu, ưu tiên nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và năng suất lao động xã hội, đặc biệt là trong cải cách hành chính, cung cấp dịch vụ công. Tập trung xây dựng các văn phòng điện tử, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong 6 ngành, lĩnh vực kinh tế trụ cột theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến 2020. Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trên cơ sở bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.

– Thực hiện chính quyền điện tử với nền hành chính điện tử để hoà nhập chung với cả nước.

2- Mục tiêu tổng quát

Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong 6 ngành, lĩnh vực kinh tế trụ cột theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 2020, trở thành một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo cơ cấu, quy mô hợp lý, đáp ứng yêu cầu quản lý, lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội; theo hướng cải cách hành chính, phát triển dịch vụ công, xây dựng các văn phòng điện tử. Phấn đấu đến năm 2020, năng lực ứng dụng, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin cơ bản theo kịp trình độ phát triển chung của cả nước; hạ tầng công nghệ thông tin tại các cơ quan Đảng, nhà nước được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu triển khai và vận hành chính quyền điện tử, thực hiện cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp với chất lượng và hiệu quả cao.

3- Các chỉ tiêu cụ thể 3.1- Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đến 2020

– 80% các văn bản, tài liệu chính thức (theo quy định) trao đổi giữa các cơ quan Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cấp huyện được gửi/nhận dưới dạng điện tử, có tệp điện tử gắn kèm và xác thực điện tử.

– 100% các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử trên mạng thông tin diện rộng của Đảng, nhà nước.

– Tập trung triển khai phần mềm văn phòng điện tử, một cửa điện tử cho các cơ quan đơn vị hành chính cấp tỉnh, ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đặc biệt triển khai một cửa điện tử liên thông tại Văn phòng Phát triển Kinh tế (EDO). Triển khai một cửa điện tử cho 60% các sở, ban, ngành và ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, 40% cho UBND các xã, phường, thị trấn. Nâng dịch vụ công mức độ 3 lên 80% và dịch vụ công mức độ 4 lên 14%.

– 100% cơ sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở y tế có mạng nội bộ và kết nối Internet băng thông rộng; 80% cán bộ nhân viên y tế biết sử dụng máy tính, 80% giáo viên thực hiện giáo án điện tử. 100% trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông có trang thông tin điện tử.

3.2- Hạ tầng công nghệ thông tin

– Trên 80% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử, 40% doanh nghiệp sử dụng phần mềm quản lý doanh nghiệp, quản lý bán hàng, điều khiển sản xuất.

– Bảo đảm các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tham gia các Hội nghị trực tuyến Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội triệu tập. Tỉnh có hệ thống Hội nghị trực tuyến đến các huyện, thành phố.

– 100% các cơ quan Đảng, chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng. Xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, thống nhất của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, trước hết tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu của tỉnh về công dân, tài nguyên- môi trường, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại, bảo đảm tính cấu trúc hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước.

– 60% cơ quan Đảng, chính quyền cấp tỉnh sử dụng thường xuyên hệ thống chứng thực chữ ký số.

– 60% thiết bị tin học được bổ sung, thay thế; số còn lại được nâng cấp đáp ứng yêu cầu khai thác các phần mềm ứng dụng.

3.3- Nhân lực công nghệ thông tin

– 100% các xã có điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng được kết nối Internet băng rộng.

– Đa số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước được đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng về công nghệ thông tin. Tỉnh có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được bồi dưỡng, đào tạo các chương trình quản lý công nghệ thông tin với trình độ tương đương trong khu vực.

– 100% cán bộ, công chức biết sử dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ; 100% các cơ quan, đơn vị có mạng nội bộ (LAN) và cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về công nghệ thông tin; tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh phải đảm bảo đủ cán bộ chuyên trách và có lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) để duy trì các ứng dụng dùng chung của tỉnh (cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thư, các trang tin điện tử, các dịch vụ công mức độ 3, 4,…).

– 100% sinh viên tốt nghiệp tất cả các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong tỉnh có đủ kỹ năng sử dụng máy tính và Internet trong công việc.

3.4- Hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, hạ tầng cho phát triển công nghệ thông tin

– Đa số giáo viên các cấp, bác sỹ, y sĩ, sinh viên đại học và cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông; 50% học sinh trung học cơ sở và một bộ phận dân cư có nhu cầu được đào tạo kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác Internet.

– Khuyến khích, hỗ trợ xây dựng từ 2-3 trung tâm phát triển phần mềm.

– Hình thành một trung tâm đào tạo chuyên sâu về an toàn, an ninh thông tin.

III- Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu 1- Tiếp tục nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin

– Có 4 doanh nghiệp lắp ráp máy tính đạt thương hiệu Việt Nam.

Quán triệt sâu rộng Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, doanh nhân, người lao động và toàn xã hội về vị trí, vai trò của công nghệ thông tin, về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhanh và bền vững; gắn với đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin-truyền thông của Đảng và Nhà nước. Nâng cao nhận thức trong cộng đồng doanh nghiệp về vai trò động lực của công nghệ thông tin trong môi trường cạnh tranh, hội nhập; nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò của công nghệ thông tin trong việc hình thành xã hội thông tin, xã hội học tập, kinh tế tri thức.

Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu của các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo việc ứng dụng,

phát triển công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp được giao phụ trách; tập trung vào phát triển công nghệ thông tin ngay tại cơ quan, đơn vị theo các mục tiêu đề án đề ra. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt các chương trình, kế hoạch ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội đồng thời bảo đảm quốc phòng- an ninh.

Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin là nội dung bắt buộc trong từng quy hoạch, kế hoạch phát triển, cũng như trong từng đề án, dự án đầu tư của mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị.

Xây dựng một số chương trình truyền hình và phát thanh của tỉnh, chuyên mục trên Báo Ninh Thuận để tuyên truyền, phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức và kiến thức công nghệ thông tin-truyền thông cho nhân dân. Xây dựng và kịp thời nhân rộng các mô hình, điển hình, nhân tố mới trong ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin.

2- Triển khai kịp thời, có hiệu quả các cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin

Quảng bá, truyền thông sâu rộng đến người dân và doanh nghiệp về việc triển khai Chính quyền điện tử. Bảo đảm cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có thể tiếp cận sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởi chính quyền điện tử. Tổ chức hợp tác với một số cơ quan, đơn vị truyền thông trong và ngoài nước để quảng bá, truyền thông về xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Ninh Thuận.

Cụ thể hóa các văn bản pháp luật về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện của tỉnh, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển Chính quyền điện tử; tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, minh bạch, công khai, bình đẳng.

Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển hạ tầng công nghệ thông tin của tỉnh, bảo đảm kết nối liên thông giữa các cấp, các ngành trong tỉnh với Trung ương; có cơ chế cung cấp, chia sẻ và khai thác thông tin. Phát triển công nghệ thông tin phải đi đôi với bảo đảm an toàn, an ninh mạng, an toàn thông tin.

Xây dựng hạ tầng thông tin đồng bộ, nâng cấp mạng, máy tính phù hợp điều kiện của tỉnh, đáp ứng nhu cầu quản lý,

lãnh đạo.

Xây dựng và hoàn thiện Trung tâm Tích hợp dữ liệu chung của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh bảo đảm theo chuẩn quốc gia, đáp ứng các yêu cầu về vận hành, sử dụng và bảo quản.

Hoàn thiện mạng diện rộng của các cơ quan Đảng, nhà nước; sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng, nhà nước để kết nối mạng thông tin diện rộng của Đảng và kết nối Internet có quản lý nhằm bảo đảm cho các đơn vị khai thác hiệu quả các ứng dụng, dịch vụ dùng chung tại Trung tâm dữ liệu của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh. Đối với cấp xã dùng các giải pháp phù hợp để kết nối vào mạng thông tin diện rộng khối Đảng, hệ thống Chính quyền điện tử.

Xây dựng mạng cục bộ cho các đơn vị chưa có mạng diện rộng và nâng cấp cho các đơn vị có mạng cục bộ nhưng thiết bị quá cũ kỹ, lạc hậu, không còn đáp ứng được yêu cầu công việc.

Xây dựng Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh, trang bị hệ thống máy chủ, lưu trữ và sao lưu phục vụ triển khai các ứng dụng của hệ thống Chính quyền điện tử. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan đảng, nhà nước, bao gồm: thiết bị (máy tính, máy in…) và các giải pháp an toàn, an ninh thông tin.

Nâng cấp hệ thống hội nghị trực tuyến ở các điểm quan trọng, bảo đảm âm thanh, hình ảnh có chất lượng cao; triển khai hệ thống hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến 7 huyện, thành phố.

4- Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao

Phát triển các kênh thông tin bảo đảm truy cập thuận tiện tới các dịch vụ công qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: Cổng thông tin, trung tâm hỗ trợ, điện thoại cố định, điện thoại di động, hệ thống gửi/nhận tin nhắn.

Nâng cấp thiết bị và một số phần mềm dùng chung cho các cơ quan Đảng; xây dựng giải pháp mã hóa đường truyền, đảm bảo an ninh mạng; tổ chức tập huấn, đào tạo để khai thác các tài nguyên cơ sở dữ liệu hiện có của khối Đảng.

Hoàn thiện hệ thống thư điện tử hiện tại của tỉnh, tăng dung lượng lưu trữ và nâng cấp hệ thống máy chủ, hệ thống bảo mật thư điện tử. Triển khai hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc đến tất cả các đơn vị thuộc phạm vi đề án, bảo đảm an toàn, an ninh, tính pháp lý của văn bản trao đổi, kết hợp việc triển khai ứng dụng chữ ký số. Triển khai hệ thống quản lý hành chính cấp tỉnh, huyện cho các đơn vị thuộc phạm vi đề án; thí điểm hệ thống quản lý hành chính cấp xã cho một số xã, phường, thị trấn.

5- Tạo điều kiện thuận lợi phát triển công nghệ thông tin, kinh tế tri thức

Đầu tư xây dựng khoảng 20 ứng dụng nghiệp vụ, hình thành một số nhóm cơ sở dữ liệu tương ứng.

Lồng ghép các chương trình, dự án về công nghệ thông tin của Trung ương; bố trí ngân sách hợp lý hàng năm cho việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng hoàn thành các mục tiêu đề ra; thực hiện xã hội hóa trong ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo hướng nâng cấp hạ tầng, hệ thống mạng, cung ứng dịch vụ, hỗ trợ đào tạo.

Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế, đất đai, tín dụng cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ công nghệ thông tin; hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động, khả năng phát triển thị trường và sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Ưu tiên, hỗ trợ đáp ứng các chuẩn kỹ năng, đầu tư phát triển đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin vừa và nhỏ. Xúc tiến kêu gọi đầu tư xây dựng một số doanh nghiệp công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện của tỉnh; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp nội địa hợp tác, tiếp thu và nhận chuyển giao các thành tựu công nghệ.

Đầu tư nghiên cứu ứng dụng, phát triển các sản phẩm phần mềm sử dụng trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của tỉnh, quốc phòng, an ninh và phục vụ mục tiêu bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Xây dựng và phát triển thị trường trong tỉnh, đa dạng hóa thị trường ngoài tỉnh, khai thác có hiệu quả các thị trường

6- Phát triển nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu phát triển công nghệ thông tin

tiềm năng.

Hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin chung cho toàn tỉnh tại Trung tâm tích hợp dữ liệu.

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức về chiến lược, tầm nhìn; kỹ năng quản lý công nghệ thông tin, Chính quyền điện tử cho các lãnh đạo công nghệ thông tin các đơn vị cấp sở, ngành, huyện, thành phố. Đào tạo các kiến thức, kỹ năng để quản trị, điều hành các hệ thống thông tin (hạ tầng, ứng dụng, an ninh, an toàn thông tin…) cho các cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tại các đơn vị cấp sở, ngành, huyện, Trung tâm Tích hợp dữ liệu. Tổ chức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin của các sở, ngành, địa phương tham quan, khảo sát một số địa phương trong nước và nước ngoài để trao đổi, học tập kinh nghiệm về việc ứng dụng công nghệ thông tin và triển khai hệ thống Chính quyền điện tử.

7- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quốc phòng, an ninh, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình, Internet

Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quốc phòng-an ninh; tổ chức diễn tập ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai và các hoạt động đặc thù. Đào tạo công dân điện tử; phổ cập các kiến thức cơ bản về Chính quyền điện tử cho học sinh, sinh viên các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện có hiệu quả chủ trương số hóa, thông minh hóa, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh. Tăng cường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong các hệ thống chỉ huy, điều hành, quản lý lực lượng vũ trang.

Gắn kết chặt chẽ việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin với bảo đảm an toàn, an ninh và bảo mật hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin cho các hạ tầng thông tin trọng yếu. Phát huy vai trò các lực lượng chuyên trách bảo vệ an toàn, an ninh thông tin và bí mật nhà nước. Thực hiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng công an, quân đội, ngoại giao, cơ yếu, thông tin và truyền thông.

Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, máy tính và mạng máy tính của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước.

Xây dựng tiềm lực về công nghệ, cơ sở vật chất và nhân lực đủ khả năng bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn mạng, an ninh thông tin. Tăng cường phòng, chống và ứng cứu các sự cố về an toàn, an ninh thông tin; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, sở, ngành, địa phương, đơn vị, các cơ quan chuyên trách để sẵn sàng, chủ động phòng ngừa và xử lý các tình huống phát sinh.

Tăng cường giám sát, phát hiện và kịp thời loại bỏ các thông tin phá hoại của các thế lực thù địch, thông tin trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương. Quản lý chặt chẽ báo chí điện tử và các loại hình truyền thông Internet, nhằm tận dụng tối đa tiềm năng, mặt tích cực, hạn chế mặt trái, tiêu cực.

8- Hợp tác và hội nhập về công nghệ thông tin

Xây dựng hệ thống an ninh bảo mật nhằm đảm bảo công tác an toàn, an ninh thông tin, bảo mật cho hệ thống chính quyền điện tử, bao gồm tất cả các giải pháp kỹ thuật, trình độ về an toàn bảo mật cho các cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, phụ trách quản trị hệ thống bảo mật. Nâng cao nhận thức và trang bị đầy đủ các kiến thức bảo mật cơ bản cho cán bộ, công chức, viên chức khi sử dụng chính quyền điện tử, ban hành các quy định, cơ chế chính sách về an toàn bảo mật sử dụng thông tin trong hệ thống chính quyền điện tử.

Chủ động, tích cực tham gia các chương trình hợp tác về công nghệ thông tin với các tỉnh lân cận, và các địa phương phát triển mạnh về công nghệ thông tin như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng…; tổ chức học tập kinh nghiệm, kết nối chia sẻ thông tin công nghệ thông tin với các tỉnh thành khác.

IV- Tổ chức thực hiện

Có cơ chế chính sách thu hút các nhà làm công nghệ thông tin, chuyên gia trình độ cao, các đơn vị công nghệ thông tin có uy tín trong nước tham gia, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công nghệ thông tin của tỉnh.

1- Cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể các cấp tổ chức tốt việc học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động. Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện đạt kết quả.

3- Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh khẩn trương chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động, Đề án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện Đề án trong các cơ quan Đảng, Nhà nước có hiệu quả.

Chương Trình Hành Động Của Chính Phủ Thực Hiện Nghị Quyết Số 26

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên là nội dung quan trọng tại Nghị quyết số 132/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII.

Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng; công tác cán bộ là khâu “then chốt” của công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược là nhiệm vụ quan trọng hàng đầu, là công việc hệ trọng của Đảng, phải được tiến hành thường xuyên, thận trọng, khoa học, chặt chẽ và hiệu quả. Đầu tư xây dựng đội ngũ cán bộ là đầu tư cho phát triển lâu dài, bền vững.

Nghị quyết yêu cầu thực hiện nghiêm, nhất quán nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo trực tiếp, toàn diện công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị. Chuẩn hoá, siết chặt kỷ luật, kỷ cương đi đôi với xây dựng thể chế, tạo môi trường, điều kiện để thúc đẩy đổi mới, phát huy sáng tạo và bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung. Phân công, phân cấp gắn với giao quyền, ràng buộc trách nhiệm, đồng thời tăng cường kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xử lý nghiêm minh sai phạm.

Nghị quyết số 26-NQ/TW xác định cán bộ là nhân tố quyết định sự thành bại của cách mạng.

Mục tiêu Nghị quyết đề ra là: Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ cấp chiến lược có phẩm chất, năng lực, uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; đủ về số lượng, có chất lượng và cơ cấu phù hợp với chiến lược phát triển kinh tế – xã hội và bảo vệ Tổ quốc; bảo đảm sự chuyển tiếp liên tục, vững vàng giữa các thế hệ, đủ sức lãnh đạo đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 trở thành nước công nghiệp hiện đại, theo định hướng xã hội chủ nghĩa, vì mục tiêu dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh, ngày càng phồn vinh, hạnh phúc.

Một trong những giải pháp quan trọng để đạt được mục tiêu đó là kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền, bao gồm: Xây dựng, hoàn thiện thể chế để kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ theo nguyên tắc mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn, phải được ràng buộc bằng trách nhiệm; Thực hiện công khai, minh bạch tiêu chuẩn, quy trình, thủ tục và hồ sơ nhân sự; cung cấp, trao đổi thông tin và giải trình khi có yêu cầu. Xác minh, xử lý kịp thời, hiệu quả, hợp lý thông tin phản ảnh từ các tổ chức, cá nhân và phương tiện thông tin đại chúng; Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cả cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm; Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền. Hủy bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”; Đấu tranh quyết liệt, hiệu quả với các đối tượng có biểu hiện, hành vi chạy chức, chạy quyền. Coi trọng giáo dục chính trị, tư tưởng, nâng cao ý thức trách nhiệm, lòng tự trọng và danh dự của cán bộ để hình thành văn hoá không chạy chức, chạy quyền.

Kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền

Thực hiện Nghị quyết của Đảng, Chính phủ đã ban hành Nghị quyết số 132/NQ-CP về Chương trình hành động của Chính phủ thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW ngày 19-5-2018 của Hội nghị lần thứ bảy Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XII về tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; Kế hoạch số 10-KH/TW ngày 06-6 năm 2018 của Bộ Chính trị thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW.

Mục tiêu đề ra là tổ chức quán triệt sâu sắc và thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả Nghị quyết số 26-NQ/TW và Kế hoạch số 10-KH/TW, tạo chuyển biến rõ rệt về nhận thức và hành động của lãnh đạo, cán bộ, công chức, viên chức và người lao động các cấp, các ngành và toàn thể xã hội trong việc đổi mới công tác cán bộ, xây dựng và quản lý đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ.

Đồng thời, bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý thống nhất của Nhà nước trong việc xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược, đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ; xác định các nội dung, nhiệm vụ chủ yếu để Chính phủ và các bộ, ngành, địa phương tập trung chỉ đạo, tổ chức thực hiện thắng lợi mục tiêu tổng quát và các mục tiêu cụ thể của Nghị quyết số 26-NQ/TW và những việc cần phải làm ngay theo Kế hoạch số 10-KH/TW.

Theo đó, nhiệm vụ trọng tâm của Chương trình là đẩy mạnh công tác thông tin, tuyên truyền; hoàn thiện các văn bản quy phạm pháp luật về công tác cán bộ, bảo đảm thống nhất, đồng bộ, liên thông trong hệ thống chính trị và phù hợp với thực tế; xây dựng Chiến lược quốc gia thu hút, trọng dụng nhân tài và đào tạo, bồi dưỡng cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường công tác quản lý cán bộ; kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền…

Chính phủ cũng yêu cầu các bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh theo chức năng, nhiệm vụ và quyền hạn của mình rà soát đội ngũ cán bộ thuộc thẩm quyền quản lý để xác định các đối tượng trong từng đơn vị thuộc bộ, cơ quan ngang bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đáp ứng được các tiêu chuẩn về phẩm chất chính trị, đạo đức, uy tín, khả năng làm việc trong môi trường quốc tế, phù hợp về độ tuổi, tỉ lệ nữ và dân tộc thiểu số, có tính đến kế thừa và chuyển tiếp trong từng giai đoạn cụ thể.

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương, kiên quyết xoá bỏ tệ chạy chức, chạy quyền; ngăn chặn và đẩy lùi tình trạng suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hoá” trong cán bộ, đảng viên, đồng thời chú trọng tạo lập môi trường làm việc dân chủ, cạnh tranh, bình đẳng, tạo mọi điều kiện để phát huy trí tuệ, thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, hoàn thiện cơ chế bảo vệ cán bộ dám nghĩ, dám làm, dám đột phá vì lợi ích chung.

Đẩy mạnh thực hiện luân chuyển cán bộ lãnh đạo, quản lý giữa các cơ quan thuộc hệ thống chính trị để rèn luyện qua thực tiễn ở các lĩnh vực, địa bàn khác nhau tạo sự liên thông trong công tác cán bộ; xác định rõ trách nhiệm của lãnh đạo các cấp, đặc biệt là của người đứng đầu trong việc tiến cử người có đức, có tài để đào tạo, bồi dưỡng, tiến cử người thay thế mình; hoàn thiện cơ chế phát hiện, quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí cán bộ có bản lĩnh, năng lực nổi trội và triển vọng phát triển vào vị trí lãnh đạo, quản lý, kể cả vượt cấp, nhất là cán bộ trẻ; đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra định kỳ, đột xuất; theo chuyên đề, chuyên ngành; của cấp trên đối với cấp dưới; cấp dưới giám sát cấp trên. Coi trọng cảnh báo, phòng ngừa và xử lý sai phạm.

Xử lý kịp thời, nghiêm minh những tổ chức, cá nhân vi phạm kỷ luật của Đảng, pháp luật của Nhà nước; lợi dụng quyền lực để thực hiện những hành vi sai trái trong công tác cán bộ hoặc tiếp tay cho chạy chức, chạy quyền; huỷ bỏ, thu hồi các quyết định không đúng về công tác cán bộ, đồng thời xử lý nghiêm những tổ chức, cá nhân sai phạm, không có “vùng cấm”… trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương Trình Hành Động Của Tỉnh Ủy Thực Hiện Nghị Quyết Số 29 Về Giáo Dục Và Đào Tạo trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!