Xu Hướng 12/2022 # Chương Trình Hành Động Số 44 / 2023 # Top 19 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Chương Trình Hành Động Số 44 / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Chương Trình Hành Động Số 44 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỪ ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY

Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức nói chung và trí thức thành phố những năm qua đã tăng nhanh về số lượng (từ 13.000 người vào năm 1975, đến nay đã có trên 350.000 người) từ nhiều nguồn khác nhau và đa số đã có những đóng góp tích cực, quan trọng vào sự phát triển của thành phố; góp phần tạo nên nhiều thành tựu trên các mặt đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội, tăng năng suất lao động, đưa GDP thành phố năm 1985 chiếm 13% GDP cả nước, đến năm 2008 tăng lên 21,5%.

Lực lượng khoa học – công nghệ đẩy mạnh triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội thành phố.

Lực lượng nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản, bức xúc của thành phố để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, xây dựng hệ thống chính trị.

Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò, khả năng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý Nhà nước. Đội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Thông qua Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật thành phố, giới trí thức đã đóng góp ý kiến, tư vấn các vấn đề quan trọng của thành phố; thường xuyên tổ chức hội thảo, phổ biến kiến thức khoa học – kỹ thuật, tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn; chuyển giao công nghệ; tổ chức các hội thi olympic cho giới khoa học trẻ , sinh viên.

Đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao trình độ dân trí, góp phần hoàn thành phổ cập trình độ học vấn trung học cơ sở vào năm 2002 và đang tiếp tục nỗ lực phấn đấu hoàn thành và giữ vững phổ cập bậc trung học theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII.

Đội ngũ bác sĩ, y sĩ đã đóng góp thiết thực vào việc xây dựng con người Việt Nam có trí lực, thể lực, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực; chủ động, sáng tạo tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong các lĩnh vực mới, để làm chủ các kỹ thuật phức tạp, nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh cho nhân dân.

Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp ngày càng được nâng cao trình độ chuyên môn và kiến thức quản lý, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, vừa tiếp tục góp phần khẳng định vai trò trung tâm kinh tế của thành phố đối với khu vực và cả nước, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Giới văn nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo những công trình có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tạo điều kiện cho nhân dân hưởng thụ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc như lòng nhân ái, nghĩa tình, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo. Văn học – nghệ thuật qua hơn 20 năm đổi mới đã có sự phát triển đa dạng và phong phú về đề tài, phương pháp sáng tác, phương thức thể hiện; đội ngũ văn nghệ sĩ trẻ được bổ sung.

Trí thức khoa học kiều bào bước đầu có những đóng góp thiết thực vào lĩnh vực khoa học – công nghệ, mở nhiều lớp huấn luyện và tư vấn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, môi trường, vật liệu mới, tham gia trực tiếp và có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo.

Một số chính sách được thực hiện để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức

2.1. Công tác đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực được chú trọng

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng. Đối với thành phố, Thành ủy đã đề ra Chương trình đào tạo 300 thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2001 – 2006 (đã đào tạo được 254 thạc sĩ, tiến sĩ ở 14 quốc gia) và hiện nay, đang tiếp tục triển khai Chương trình đào tạo 500 thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2007 – 2010; đồng thời, thực hiện các chương trình đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp.

2.2. Mức đầu tư kinh phí cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học ngày càng tăng

Kinh phí cho nghiên cứu khoa học, từ 38,7 tỷ đồng năm 2000, chiếm 1,48% đã tăng lên 110 tỷ đồng năm 2005, chiếm 2,15% và năm 2008 là 155 tỷ đồng, chiếm 1,73% chi thường xuyên ngân sách thành phố.

Thành phố đã ban hành giải thưởng tặng cá nhân và tập thể các nhà khoa học có những nghiên cứu và đóng góp xuất sắc cho thành phố; hình thành các quỹ nhằm đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong giới trẻ; lập quỹ bảo trợ tài năng trẻ; hình thành chương trình “Vườn ươm sáng tạo khoa học – kỹ thuật trẻ” nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ trẻ cho thành phố.

2.3. Vai trò đội ngũ trí thức luôn được quan tâm phát huy

Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 16 tháng 7 năm 1999 để cụ thể hóa Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố; đồng thời quan tâm tạo điều kiện cho hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố, tạo điều kiện để đội ngũ trí thức đóng góp ý kiến với Đảng, chính quyền. Thành phố đã giao Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố làm chủ đầu tư một số dự án lớn, phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội, cung cấp những luận cứ khoa học, khách quan cho các cơ quan chuyên môn xem xét, phê duyệt các dự án quan trọng.

2.4. Không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại phục vụ đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và triển khai

Trên địa bàn thành phố hiện nay có trên 90 Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học và trên 50 trường đại học – cao đẳng, 400 Phòng thí nghiệm. Thành phố đã cấp kinh phí để nâng cấp nơi làm việc của các nhà khoa học như hoàn thành xây mới tòa nhà Viện Nghiên cứu xã hội thành phố và đang triển khai xây trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố; đã và đang triển khai xây dựng Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm công nghệ sinh học, các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thiết kế và chế tạo thiết bị mới phục vụ nghiên cứu khoa học kết hợp với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và giải quyết các vấn đề bức xúc của thành phố; xây dựng các đề án, dự án tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và thành lập một số Viện, Trung tâm nghiên cứu mạnh để thu hút trí thức kiều bào về làm việc, nâng cao năng lực của đội ngũ trí thức phục vụ phát triển thành phố.

3. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

Nhìn chung, trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng thành phố trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại thì trình độ của đội ngũ trí thức thành phố vẫn chưa đáp ứng yêu cầu và chưa ngang tầm với trình độ phát triển của các thành phố trong khu vực. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính,… chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng; đội ngũ kế cận còn hụt hẫng; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế. Tinh thần hợp tác, gắn kết đội ngũ trong nghiên cứu khoa học nhìn chung còn yếu, do vậy chưa tạo nên được những thành tựu lớn trong khoa học. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ở các tạp chí có uy tín trên thế giới và số sáng chế được đăng ký quốc tế còn ít. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn yếu trong dự báo và định hướng, chưa giải đáp thuyết phục được nhiều vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra, chưa có những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược. Trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật, còn ít tác phẩm có giá trị xứng tầm với những thành tựu của đất nước, thành phố và sự sáng tạo, hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lĩnh vực lý luận phê bình văn học, nghệ thuật còn nhiều hạn chế.

Tỷ lệ giáo sư và cán bộ giảng dạy ở hệ cao đẳng, đại học có trình độ trên đại học vẫn còn thấp; tỷ lệ giảng viên trên sinh viên còn thấp; tỷ lệ các nhà khoa học trẻ, các văn nghệ sĩ trẻ tham gia các hội chuyên ngành còn ít (tại Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật thành phố, số hội viên từ 50 tuổi trở lên chiếm gần 60%).

Một bộ phận trí thức còn thiếu ý chí phấn đấu, không thường xuyên nghiên cứu và học tập dẫn đến tụt hậu về chuyên môn, nghiệp vụ; một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý‎ thức trách nhiệm, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực; một số trí thức trẻchạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn; một số có tư tưởng “sùng ngoại”, thiếu tin tưởng ở nội lực.

Nguyên nhân của những hạn chế

– Nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ còn thấp; việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ, sản phẩm văn học, nghệ thuật đang trong quá trình hình thành.

– Tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của trí thức, văn nghệ sĩ.

– T hành phố chưa có chiến lược tổng thể về đội ngũ trí thức ; c ông tác thống kê, cập nhật đội ngũ trí thức thời gian qua chưa làm tốt , nên chưa xây dựng được lộ trình đào tạo, bồi dưỡng , phát huy đội ngũ trí thức trẻ một cách căn cơ . Chủ trương xây dựng thành phố trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại chưa được quán triệt trong chính sách đào tạo nguồn nhân lực.

– Về công tác lãnh đạo và quản lý, mặc dù thành phố luôn quan tâm và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ trí thức, nhưng chủ yếu giao cho từng đầu mối quản lý theo lĩnh vực; các đầu mối quản lý cũng chủ yếu quản lý theo lối hành chính, không phù hợp với đặc điểm và tính đặc thù của lao động trí óc, lao động sáng tạo, chưa đề ra những biện pháp lâu dài. Cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học, đầu tư nghiên cứu còn dàn trải; cơ chế quyết toán tài chính, phát huy kết quả công trình nghiên cứu,… chưa tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích giới trí thức tham gia sáng tạo.

– Một số cán bộ đảng và chính quyền chưa nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của trí thức; chưa coi trọng nguồn nhân lực có trình độ cao; còn có hiện tượng ngại tiếp xúc, đối thoại, lúng túng về biện pháp cụ thể phát huy vai trò trí thức trong phản biện những chủ trương, chính sách, những dự án do cơ quan lãnh đạo, quản lý đưa ra.

– Những cơ chế, chính sách đã ban hành chưa đủ mạnh để trí thức yên tâm cống hiến, phát triển; chưa có chính sách thỏa đáng tôn vinh các kết quả chuyên môn, nghề nghiệp; thiếu những cơ chế thích hợp để phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Môi trường hoạt động của trí thức còn nhiều hạn chế.

– Hệ thống giáo dục còn lạc hậu, nhất là ở bậc đại học còn bất cập, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao, dẫn đến tình trạng sản phẩm đào tạo vừa thừa, vừa thiếu.

– Chưa có chính sách thỏa đáng để thu hút đông đảo trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, đào tạo, giải quyết những vấn đề bức xúc và cơ bản của thành phố.

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ vai trò của đội ngũ trí thức “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Để quán triệt và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đề ra Chương trình hành động như sau :

A. MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

– Ðến năm 2020, xây dựng đội ngũ trí thức thành phố lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố và đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của thành phố theo hướng phát triển các lĩnh vực khoa học – công nghệ cao, tiếp cận nền kinh tế tri thức; gắn bó vững chắc giữa Ðảng và chính quyền với trí thức, giữa trí thức với Ðảng và chính quyền, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông – trí.

– Từ nay đến năm 2010, phấn đấu thực hiện có hiệu quả Chương trình đào tạo 500 thạc sĩ, tiến sĩ; đồng thời tiếp tục có chính sách và giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức thành phố trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức thành phố đến năm 2020.

B.NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1. Tăng cường và nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức

– Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy và chính quyền về vai trò, vị trí quan trọng của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; xác định công tác trí thức là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp; qua đó làm tốt công tác tư tưởng để đội ngũ trí thức nhận thức sâu sắc trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc, đoàn kết phấn đấu, lao động sáng tạo hoàn thành tốt trọng trách trong thời kỳ mới.

– Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thường xuyên nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ trí thức,phản ảnh kịp thời, chủ động đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò củađội ngũ trí thức.

– Các cấp ủy, chính quyền chỉ đạo tiến hành thống kê đội ngũ trí thức trên địa bàn, rà soát biện pháp và kết quả huy động, sử dụng trí thức trong thời gian qua tại địa phương, đơn vị; trong khu vực cơ quan Nhà nước, xem xét nghiêm túc, phân tích nguyên nhânkém thu hút trí thức được đào tạo căn cơ và hiện tượng “chảy máu chất xám” đội ngũ trí thức sang khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có yếu tố nước ngoài.

– Trong khu vực giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học cần tiến hành thống kê, phân tích trình độ đội ngũ, sự phân bố ngành nghề, đánh giá hiệu quả đào tạo, bố trí, sử dụng, tạo môi trường làm việc, đãi ngộ vật chất,… để xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức trong thời gian tới đúng với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và Chương trình hành động của Thành ủy.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố, các quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sởchỉ đạo thực hiện).

2. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng

– Tổng kết Chương trình phát triển nguồn nhân lực, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực thành phố đến năm 2020.

– Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ với nội dung, đối tượng đào tạo phù hợp nhằm bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố.

– Lập quỹ nghiên cứu khoa học từ huy động nguồn lực của các doanh nghiệp để phát huy đội ngũ trí thức trong doanh nghiệp, tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp với các trường, viện; khuyến khích lập quỹ đầu tư nguồn lực để doanh nghiệp cùng chia sẻ chi phí đào tạo với các trường cao đẳng, đại học.

– Thu hút các nguồn lực từ nước ngoài cho đào tạo đại học, sau đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, tạo ra cơ cấu lao động có trình độ tay nghề cao, có kỹ năng nghề nghiệp thành thạo và biết ngoại ngữ.

– Củng cố và phát huy vai trò của Hội đồng Đại học thành phố nhằm phối hợp trong dự báo nhu cầu, trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, tư liệu… có hiệu quả nhất.

– Tổng kết rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng để phấn đấu đến năm 2020 thành phố có được đội ngũ cán bộ khoa học đạt trình độ chuyên gia quốc tế. Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn giỏi, những văn nghệ sĩ tài ba; đồng thời đào tạo đội ngũ trí thức giỏi làm công tác quản lý, tham mưu, hoạch định chính sách. Tăng cường đầu tư cho các trường trung học phổ thông chuyên để phát triển, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn đào tạo đội ngũ trí thức trẻ.

– Xây dựng chính sách hỗ trợ kinh phí cho cán bộ khoa học để nâng cao trình độ (dự hội nghị khoa học ở nước ngoài, thông báo trên các tạp chí khoa học quốc tế, đăng ký patent ở nước ngoài, mua tạp chí khoa học,…).

(Giao Ban Tổ chức Thành ủy và Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp thực hiện)

3. Tạo lập, hoàn thiện môi trường để phát huy vai trò đội ngũ trí thức

– Phát huy dân chủ trong sáng tạo hoạt động khoa học – công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và văn nghệ, tạo điều kiện để trí thức tự khẳng định, cống hiến.

– Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ thành phố; hoàn thiện phương thức tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học – công nghệ theo cơ chế công khai, dân chủ dựa trên các tiêu chí lựa chọn rõ ràng; đồng thời phát huy cơ chế đặt hàng từ thực tiễn thành phố và giao nhiệm vụ căn cứ trên các lĩnh vực chuyên môn, áp dụng cơ chế khoán kinh phí nghiên cứu khoa học; có cơ chế đặc thù cho các nhà khoa học đầu ngành.

– Xây dựng cơ chế khai thác, sử dụng hiệu quả tiềm lực của đội ngũ trí thức phục vụ phát triển thành phố, bao gồm liên kết giữa nghiên cứu và sử dụng, liên kết sử dụng chung cơ sở vật chất, hợp tác với nước ngoài.

– Tăng cường đầu tư phát triển tiềm năng khoa học – công nghệ, nhất là lĩnh vực công nghệ cao (thông tin, sinh học, tự động hóa, năng lượng, môi trường, vật liệu mới,…); có chính sách xã hội thu hút đầu tư cho khoa học – công nghệ.

– Thiết lập cơ chế tài chính phù hợp nhằm thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học giỏi (trong nước, trí thức kiều bào); cho phép cơ quan quản lý được quyền ký kết hợp đồng trực tiếp với đối tượng được sử dụng và mức chi trả theo thỏa thuận của hai bên; chi trả bản quyền sử dụng tác phẩm thỏa đáng.

– Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tri thức khoa học, chuyển giao công nghệ, thu hút nguồn lực nước ngoài phục vụ phát triển khoa học và công nghệ. Nghiên cứu cơ chế cho phép sử dụng trí thức nước ngoài tham gia quản lý các đơn vị nghiên cứu khoa học trong nước để tận dụng thế mạnh liên kết, mở rộng điều kiện học tập cho các nhà khoa học trong nước.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

4. Thực hiện trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức

– Đổi mới công tác cán bộ đối với trí thức theo hướng nêu cao trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức khoa học và công nghệ, các trường đại học trong việc bổ nhiệm lãnh đạo và các chức danh trên cơ sở các tiêu chuẩn chung của Đảng và Nhà nước.

– Rà soát các chính sách hiện có và bổ sung, hoàn thiện, ban hành các chính sách mới theo thẩm quyền; đồng thời kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm trí thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá trị kết quả lao động của mình.

– Có chính sách ưu đãi, nhất là điều kiện làm việc đối với trí thức đầu ngành; thực hiện nghiêm các quy định, các chính sách về tuổi lao động và các chế độ khác để động viên và tiếp tục sử dụng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với những trí thức đã hết tuổi lao động, nhưng có trình độ cao và sức khỏe tốt; có chính sách ưu đãi đối với trí thức nữ và trí thức người dân tộc thiểu số.

– Thành lập và duy trì các giải thưởng chính thức của thành phố về khoa học – công nghệ và văn học – nghệ thuật.

– Xây dựng chính sách thu hút, tập hợp trí thức trong và ngoài nước, nhất là trí thức Việt kiều tham gia tích cực vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.

5. Tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy vai trò, trách nhiệm, góp sức vào sự nghiệp đổi mới và phát triển

– Xây dựng quy chế tiếp xúc định kỳ giữa lãnh đạo thành phố với trí thức, tạo điều kiện để giới trí thức trao đổi thông tin, góp ý kiến với lãnh đạo thành phố xây dựng các chủ trương, quyết sách và các biện pháp thực hiện những đề án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích công dân và an sinh xã hội.

– Tiếp tục củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức, hoạt động của Liên hiệp các H ội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Liên hiệp các H ội Văn học – Nghệ thuật thành phố ; nâng cao chất lượng sinh hoạt Hội định kỳ; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các hội thành viên và kết nạp hội viên mới, trong đó chú trọng kết nạp trí thức trẻ, văn nghệ sĩ trẻ vào Hội. Mở rộng việc mời gọi chuyên gia đầu ngành tham gia tổ chức Hội và tăng cường trao đổi chuyên môn, truyền bá kinh nghiệm cho đội ngũ trí thức trẻ, văn nghệ sĩ trẻ.

(Giao Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

– Thể chế hóa hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội . Xác định các định mức giá trị công trình, dự án bắt buộc phải được giám định xã hội hoặc các công trình, dự án quan trọng do Hội đồng nhân dân thành phố xem xét cần tổ chức phản biện xã hội. Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và văn nghệ.

( Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện)

6. Những nhiệm vụ cụ thể

– Đẩy mạnh các chương trình trọng điểm phục vụ phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn của thành phố.Hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhân sự và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng của Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp kỹ thuật cao, Trung tâm công nghệ sinh học thành phố.

– Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình xây dựng trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố hoàn thành vào năm 2010 để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Liên hiệp Hội và các Hội thành viên.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo và kiểm tra thực hiện)

– Chỉ đạo, định hướng hoạt động thông tin trên các cơ quan báo chí nhằm tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức thẩm mỹ về văn học – nghệ thuật của công chúng, tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân về hưởng thụ văn học – nghệ thuật nhân bản, phục vụ sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước do Đảng lãnh đạo; đồng thời tạo dư luận mạnh mẽ lên án, phê phán và đẩy lùi các loại văn hóa phẩm xấu, độc hại, đi ngược lại lợi ích, truyền thống, văn hóa dân tộc.

(Giao Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Các ban Thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở và cơ sở trực thuộc Thành ủy hoàn tất tổ chức quán triệt Chương trình hành động của Thành ủy trong năm 2008; đồng thời xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể (hoàn thành cuối tháng 12 năm 2008), đảm bảo Nghị quyếtsố 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X và Chương trình hành động của Thành ủy sớm đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả thiết thực.

Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với các ban Thành ủy, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ Thành ủy và giúp Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức sơ kết vào các năm 2010, 2015 và tổng kết vào năm 20 20./.

Chương Trình Hành Động Số 08 / 2023

Trang chủ ” Thông tin – Tuyên truyền ” Chỉ đạo – Hướng dẫn – Nghiệp vụ

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (sau đây viết tắt là Nghị quyết Đại hội XII của Đảng); căn cứ tình hình thực tế của tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, như sau:

1- Tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành đoàn thể và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong việc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

2- Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân; phát huy mọi nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; chú trọng phát triển văn hoá – xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để Hưng Yên sớm trở thành tỉnh công nghiệp.

3- Tập trung thực hiện ba khâu đột phá, đó là: (1) Tập trung thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiện đại. (2) Huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đô thị, nhất là xây dựng giao thông. (3) Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, thực hiện công tác đào tạo, đánh giá, sử dụng cán bộ thông qua việc đẩy mạnh luân chuyển cán bộ giữa các cấp và luân chuyển ở các ngành trong cùng cấp.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị tổ chức tốt việc tuyên truyền, quán triệt, học tập, nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đường lối, quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng; tập trung thực hiện tốt những nội dung, nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu sau:

1- Đẩy mạnh phát triển kinh tế

– Đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp nhằm ổn định để phát triển kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tiết kiệm chi thường xuyên, tập trung đầu tư cho các công trình quan trọng, cấp bách của tỉnh. Tăng cường quản lý thị trường, đáp ứng các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống… Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2025. Phấn đấu tăng trưởng bình quân năm: GRDP tăng từ 7,5 – 8%; GDP bình quân đầu người đạt 75 triệu đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 13.000 tỷ đồng đến năm 2020.

– Tập trung thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp, cải thiện môi trường đầu tư; có cơ chế, chính sách tạo vốn đầu tư hạ tầng, phát triển các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt ưu tiên phát triển các khu, cụm công nghiệp lớn để thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại, công nghiệp sạch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện đồng bộ và có chất lượng hạ tầng các khu công nghiệp… Thực hiện triển khai có hiệu quả Đề án cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2016 – 2020. Phấn đấu đến năm 2020: Có 2 – 3 khu công nghiệp mới và 10 cụm công nghiệp được đầu tư xây dựng hạ tầng đi vào hoạt động; tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh có vốn đăng ký trên 10 tỷ USD.

– Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030. Huy động cao nhất các nguồn lực xã hội và ngân sách tỉnh để tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kinh tế – xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển. Tăng cường quản lý đầu tư công, đầu tư trung hạn, bảo đảm chất lượng và tiến độ công trình. Thực hiện có hiệu quả cơ chế hỗ trợ xi măng để xây dựng đường giao thông nông thôn. Phấn đấu đến năm 2020: Trên 80% km đường tỉnh đạt cấp đường quy hoạch; 100% các tuyến đường huyện, đường liên xã được cứng hóa trải nhựa bê tông; 100% đường trong thôn, xóm và các tuyến chính đường nội đồng được cứng hóa, cơ bản hoàn thành tiêu chí giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. Phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh bạn để hoàn thành tuyến đường, cầu nối 2 đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và cầu Giẽ – Ninh Bình; nâng cấp quốc lộ 38 đoạn qua tỉnh Hưng Yên; xây dựng các tuyến đường vành đai 3,5, vành đai 4 của Thủ đô qua địa bàn tỉnh và các tuyến đường, công trình quan trọng khác của tỉnh…Quy hoạch chung xây dựng dọc hai bên đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, trục đường kinh tế Bắc – Nam của tỉnh gắn với quy hoạch phát triển khu công nghiệp và phát triển khu đô thị ở các huyện, thành phố trong tỉnh.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030; phấn đấu đến năm 2020: Bình quân diện tích nhà ở 25m 2/sàn/người; tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,5%; xây dựng thành phố Hưng Yên đạt đô thị loại II, huyện Mỹ Hào trở thành thị xã Mỹ Hào đạt đô thị loại III…

– Triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giá trị gia tăng cao, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020, định hướng đến năm 2030. Đẩy mạnh thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao gắn với thị trường tiêu thụ, đa dạng hóa sản phẩm. Tập trung chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hàng năm có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản…Chuyển từng bước từ hộ sản xuất riêng lẻ sang hộ liên kết trong mô hình hợp tác xã kiểu mới và liên kết doanh nghiệp; có cơ chế cụ thể hỗ trợ nông dân thực hiện đồng bộ, hiệu quả để hiện đại hóa, cơ giới hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất…Triển khai thực hiện tốt Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2016 – 2020. Tập trung nguồn lực xã hội đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2020 có 70% số xã, từ 02 đến 03 huyện, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới.

– Tiếp tục đa dạng hóa các loại hình và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư phát triển các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ chất lượng cao. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thành các trung tâm thương mại, chợ đầu mối theo quy hoạch; phấn đấu tại trung tâm các huyện đều có trung tâm thương mại hoặc siêu thị vừa và nhỏ. Khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch, dịch vụ; đẩy mạnh loại hình du lịch văn hóa, tâm linh gắn với Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến…

– Tiếp tục khai thác tốt các nguồn thu; hoàn thành và vượt kế hoạch thu ngân sách hàng năm. Tăng cường quản lý thuế; đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, phấn đấu 100% kê khai thuế qua mạng và thúc đẩy việc nộp thuế điện tử. Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên; tăng cường quản lý tài sản công, các loại quỹ ngoài ngân sách…

– Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện có hiệu quả Đề án bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020. Điều chỉnh kịp thời quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2020. Quản lý chặt chẽ diện tích trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang trồng cây hàng năm có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo đúng mục đích; tăng cường sử lý đất dôi dư; quản lý chặt chẽ việc khai thác cát trên các tuyến sông Hồng, sông Luộc…

Tăng cường quản lý tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; hoàn thành xử lý các điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn…

– Chỉ đạo công tác lập và triển khai quy hoạch lưới điện tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020, có xét đến 2025 để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn và lưới điện phục vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội trên địa bàn tỉnh.

2- Phát triển lĩnh vực văn hoá – xã hội

– Tập trung lãnh đạo tốt việc thực hiện Chương trình phát triển giáo dục – đào tạo tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020 nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, nâng cao dân trí của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo; thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, theo hướng chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, sinh viên. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật, ý thức công dân; phát huy tính tích cực, chủ động và ý thức tự học của học sinh, sinh viên. Củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non, phổ thông các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Có thêm cơ chế ưu đãi thu hút các trường đại học về Khu Đại học Phố Hiến… Phấn đấu đến năm 2020, thu hút thêm 3 – 4 trường đại học về đầu tư.

Đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân; ưu tiên khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và bảo vệ môi trường. Xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hưng Yên đến năm 2020, định hướng 2030. Tăng cường xây dựng, quản lý và khai thác hiệu quả các nhãn hiệu thuộc sở hữu trí tuệ, đảm bảo quyền lợi người sản xuất và tiêu dùng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra…

– Lãnh đạo tốt việc triển khai thực hiện Chương trình bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020. Xây dựng hệ thống y tế phát triển toàn diện theo hướng hiện đại và chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường công tác y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh. Thực hiện xã hội hóa lĩnh vực y tế, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, dịch vụ y tế tư nhân, từng bước hình thành các viện dưỡng lão. Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát theo đúng quy định của pháp luật. Củng cố và phát triển hệ thống y dược học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại. Tập trung chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm, duy trì tỷ lệ tiêm chủng mở rộng. Thực hiện có hiệu quả chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình; duy trì mức sinh hợp lý, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba và mất cân bằng giới tính khi sinh. Phấn đấu đến năm 2020: 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 80%.

– Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hưng Yên đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Triển khai thực có hiệu quả Đề án đầu tư xây dựng thiết chế văn hoá tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Từng bước xây dựng Khu di tích Phố Hiến thành điểm du lịch quốc gia, kết nối với các tour, tuyến du lịch trong và ngoài nước. Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá, nhất là ở cơ sở. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ; phát triển phong trào thể thao quần chúng; nâng cao thể thao thành tích cao, chú trọng xây dựng các môn thể thao mũi nhọn của tỉnh. Khuyến khích xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển.

– Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chăm lo gia đình chính sách và người có công. Huy động nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống của những đối tượng chính sách; quan tâm giúp đỡ người già; hỗ trợ người tàn tật, người không nơi nương tựa, nạn nhân chất độc da cam, người nghèo; ngăn ngừa tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại và trẻ em phải lao động nặng nhọc…Hoàn thành Chương trình hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho người có công với cách mạng. Chú trọng công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề, tư vấn, hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là ở nông thôn và các đối tượng thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm. Phấn đấu đến năm 2020: Trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho 20.000 người; tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 2% (theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều).

3- Tăng cường quốc phòng, an ninh

– Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tập trung xây dựng các công trình phòng thủ gắn với phát triển kinh tế – xã hội. Triển khai có hiệu quả Đề án xây dựng các công trình trong khu vực phòng thủ tỉnh giai đoạn 2015-2020 và định hướng đến 2035. Phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ số lượng biên chế, đúng quy định và có chất lượng tốt. Hoàn thành tốt kế hoạch giao quân hàng năm.

Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh, chú trọng đảm bảo an ninh nông thôn. Chủ động triển khai thực hiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu phá hoại, bảo đảm an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội, an ninh tôn giáo. Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm, kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, thực hành công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, không oan sai, góp phần giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự, hạn chế vụ việc có điều kiện thi hành tồn đọng kéo dài.

4- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo; phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

– Tổ chức và triển khai hoạt động của Hội đồng nhân dân theo đúng quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Hưng Yên, nhiệm kỳ 2016 – 2021. Tập trung rà soát chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước để xây dựng bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về làm công chức dự bị ở cấp xã; bác sỹ, dược sỹ cao cấp về tỉnh công tác. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đảm bảo công khai, minh bạch. Tăng cường công tác thanh tra công vụ… Tập trung thực hiện cải cách hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2020, 100% các trao đổi thông tin gửi, nhận văn bản giữa các cơ quan Đảng từ cấp huyện trở lên được thực hiện qua mạng thông tin diện rộng của Đảng và các cơ quan Nhà nước từ cấp huyện trở lên được thực hiện qua mạng Internet. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở. Định kỳ 6 tháng, hàng năm đánh giá sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp đối với các cơ quan công quyền nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh.

– Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động trong tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

5- Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh

– Tăng cường công tác chính trị tư tưởng; rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Triển khai có hiệu quả Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quán triệt, học tập, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong cán bộ, đảng viên. Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

– Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, đẩy mạnh xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đảng viên. Rà soát, xây dựng và thực hiện nghiêm túc, có nền nếp Quy chế làm việc; việc các đồng chí cấp ủy viên tăng cường đi cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, có cơ cấu hợp lý để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2016 – 2021. Tiếp tục thực hiện công tác luân chuyển cán bộ theo Đề án số 05- ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý và Đề án tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2016 – 2020. Nâng cao chất lượng đảng viên, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng viên, tăng cường hướng dẫn, đôn đốc thành lập và xây dựng tổ chức cơ sở đảng, phát triển đảng viên, nhất là khu vực nông thôn và trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Triển khai thực hiện tốt Đề án nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ thôn (khu phố), gắn với mối quan hệ phối hợp công tác giữa bí thư chi bộ và trưởng thôn (khu phố).

– Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện tốt Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác dân vận ở cơ quan nhà nước giai đoạn 2016 – 2020. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, quy chế giám sát và phản biện xã hội… Tăng cường công tác dân vận chính quyền. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình cơ sở.

– Đẩy mạnh công tác nội chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường và đảm bảo công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trên địa bàn. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, đồng bộ cả về kỷ luật Đảng, hành chính, kinh tế và hình sự các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực theo quy định.

1- Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình và Chương trình hành động của Tỉnh ủy đến cán bộ, đảng viên, nhân dân; xây dựng Chương trình hành động (hoặc kế hoạch thực hiện) một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, đơn vị.

2- Các Ban Đảng Tỉnh ủy căn cứ Chương trình hành động này, theo chức năng, nhiệm vụ, tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.

3- Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban cán sự đảng UBND tỉnh chỉ đạo rà soát, bổ sung, ban hành văn bản mới, theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; đồng thời cụ thể hóa Chương trình hành động của Tỉnh ủy; chỉ đạo các sở, ngành, ủy ban nhân dân huyện, thành phố khẩn trương triển khai thực hiện.

4- Đảng đoàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị – xã hội tỉnh xây dựng chương trình hành động (hoặc kế hoạch thực hiện) và phổ biến, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy.

5- Giao Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh ủy thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Chương trình hành động, định kỳ hàng năm báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy kết quả thực hiện.

Chương TrìNh HàNh Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 36 / 2023

Thứ ba, 05/05/2015 22:56

Ngày 1-7-2014, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết số 36-NQ/TW về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế. Để thực hiện có kết quả Nghị quyết của Bộ Chính trị, Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng chương trình hành động với các nội dung như sau:

I- Tình hình ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin của tỉnh

Thực hiện Chỉ thị 58-CT/TW, ngày 17-10-2000 của Bộ Chính trị khóa VIII; Tỉnh ủy đã ban hành, tổ chức thực hiện Chương trình hành động số 06-NQ/TU, ngày 24-1-2002 về “Đẩy mạnh ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phục vụ sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa” và đạt được một số kết quả tích cực, góp phần nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý của cấp ủy đảng, chính quyền các cấp. Việc ứng dụng công nghệ thông tin, dịch vụ công mức độ 3 và các trang thông tin điện tử của các sở, ban, ngành và ủy ban nhân dân các huyện, thành phố bước đầu mang lại hiệu quả thiết thực, năng suất, chất lượng công việc được nâng lên, lề lối làm việc ở các cơ quan quản lý hành chính nhà nước từng bước đổi mới, tăng cường tính minh bạch thông tin. Hạ tầng công nghệ thông tin cơ bản đáp ứng các yêu cầu về ứng dụng và phát triển; tất cả các cơ quan Đảng, Nhà nước cấp tỉnh, huyện đều có nối mạng cục bộ; mạng thông tin diện rộng của các cơ quan Đảng, Nhà nước cơ bản đã được lắp đặt, triển khai đồng bộ từ tỉnh đến các xã, phường, thị trấn, thường xuyên trao đổi thông tin thông suốt từ Trung ương đến tỉnh, huyện và cơ sở; mạng truyền số liệu chuyên dùng phục vụ tích cực cho khai thác phần mềm văn phòng điện tử và các hội nghị trực tuyến của tỉnh. An toàn, an ninh thông tin ngày càng hoàn thiện. Đội ngũ cán bộ được đào tạo, bồi dưỡng đáp ứng được yêu cầu lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp, các ngành.

Tuy nhiên, các phần mềm phục vụ quản lý chuyên môn, nghiệp vụ của các dự án công nghệ thông tin còn ít triển khai, phạm vi ứng dụng công nghệ thông tin còn hạn chế; ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp chưa nhiều. Hạ tầng công nghệ thông tin chưa đồng bộ cả về cung ứng và sử dụng, có nơi còn lạc hậu, chưa đáp ứng về cấu hình và tiềm ẩn nguy cơ mất an toàn, an ninh; mạng chuyên dùng của các cơ quan Đảng, Nhà nước đã triển khai đến cấp cơ sở, nhưng hiện nay các kết nối có trên mạng còn sử dụng ít. Nguồn nhân lực công nghệ thông tin chưa đáp yêu cầu, việc sử dụng, bố trí, quản lý, phát huy đội ngũ cán bộ công nghệ thông tin chưa tốt; vai trò, nhiệm vụ của cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin ở các sở, ban, ngành và ở cấp huyện chưa rõ ràng, gây khó khăn trong việc thực hiện Đề án tin học hóa của các cơ quan Đảng, chính quyền. Trong công tác lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý ở một số địa phương, đơn vị còn thiếu quyết tâm, trách nhiệm chưa cao.

II- Quan điểm, mục tiêu, chỉ tiêu đến năm 2020 1- Quan điểm

Tập trung quán triệt sâu sắc, toàn diện và tổ chức thực hiện có hiệu quả 4 quan điểm chỉ đạo về đẩy mạnh ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo Nghị quyết số 36-NQ/TW, ngày 1-7-2014 của Bộ Chính trị; đồng thời nắm vững các nội dung sau đây:

– Công nghệ thông tin là động lực quan trọng để phát triển kinh tế-xã hội nhanh và bền vững, bảo đảm quốc phòng, an ninh trong tình hình mới, đặc biệt là trong nâng cao chất lượng, hiệu quả lãnh đạo, quản lý, điều hành của các cấp.

– Phát triển công nghệ thông tin theo hướng hạ tầng đầu tư đồng bộ, quy mô hợp lý, phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế-xã hội và theo hướng hiện đại, ứng dụng là chủ yếu, ưu tiên nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý và năng suất lao động xã hội, đặc biệt là trong cải cách hành chính, cung cấp dịch vụ công. Tập trung xây dựng các văn phòng điện tử, đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong 6 ngành, lĩnh vực kinh tế trụ cột theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến 2020. Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trên cơ sở bảo đảm an ninh mạng, an toàn thông tin.

– Thực hiện chính quyền điện tử với nền hành chính điện tử để hoà nhập chung với cả nước.

2- Mục tiêu tổng quát

Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi trong nhiều lĩnh vực, nhất là trong 6 ngành, lĩnh vực kinh tế trụ cột theo Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh đến năm 2020, trở thành một trong những động lực quan trọng phát triển kinh tế-xã hội, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo cơ cấu, quy mô hợp lý, đáp ứng yêu cầu quản lý, lãnh đạo phát triển kinh tế-xã hội; theo hướng cải cách hành chính, phát triển dịch vụ công, xây dựng các văn phòng điện tử. Phấn đấu đến năm 2020, năng lực ứng dụng, phát triển và cung ứng sản phẩm, dịch vụ công nghệ thông tin cơ bản theo kịp trình độ phát triển chung của cả nước; hạ tầng công nghệ thông tin tại các cơ quan Đảng, nhà nước được hoàn thiện theo hướng hiện đại, đáp ứng yêu cầu triển khai và vận hành chính quyền điện tử, thực hiện cung cấp các dịch vụ công cho người dân và doanh nghiệp với chất lượng và hiệu quả cao.

3- Các chỉ tiêu cụ thể 3.1- Phát triển ứng dụng công nghệ thông tin đến 2020

– 80% các văn bản, tài liệu chính thức (theo quy định) trao đổi giữa các cơ quan Đảng, chính quyền từ tỉnh đến cấp huyện được gửi/nhận dưới dạng điện tử, có tệp điện tử gắn kèm và xác thực điện tử.

– 100% các cơ quan Đảng, cơ quan quản lý nhà nước cấp tỉnh có cổng thông tin điện tử hoặc trang thông tin điện tử trên mạng thông tin diện rộng của Đảng, nhà nước.

– Tập trung triển khai phần mềm văn phòng điện tử, một cửa điện tử cho các cơ quan đơn vị hành chính cấp tỉnh, ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, đặc biệt triển khai một cửa điện tử liên thông tại Văn phòng Phát triển Kinh tế (EDO). Triển khai một cửa điện tử cho 60% các sở, ban, ngành và ủy ban nhân dân các huyện, thành phố, 40% cho UBND các xã, phường, thị trấn. Nâng dịch vụ công mức độ 3 lên 80% và dịch vụ công mức độ 4 lên 14%.

– 100% cơ sở giáo dục và đào tạo, các cơ sở y tế có mạng nội bộ và kết nối Internet băng thông rộng; 80% cán bộ nhân viên y tế biết sử dụng máy tính, 80% giáo viên thực hiện giáo án điện tử. 100% trường đại học, cao đẳng, trung học phổ thông có trang thông tin điện tử.

3.2- Hạ tầng công nghệ thông tin

– Trên 80% doanh nghiệp có trang thông tin điện tử, 40% doanh nghiệp sử dụng phần mềm quản lý doanh nghiệp, quản lý bán hàng, điều khiển sản xuất.

– Bảo đảm các điều kiện về hạ tầng kỹ thuật để Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh tham gia các Hội nghị trực tuyến Trung ương Đảng, Chính phủ, Quốc hội triệu tập. Tỉnh có hệ thống Hội nghị trực tuyến đến các huyện, thành phố.

– 100% các cơ quan Đảng, chính quyền cấp tỉnh và cấp huyện sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng. Xây dựng trung tâm dữ liệu dùng chung, thống nhất của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh, trước hết tập trung xây dựng các cơ sở dữ liệu của tỉnh về công dân, tài nguyên- môi trường, tài chính, kinh tế, công nghiệp và thương mại, bảo đảm tính cấu trúc hệ thống, tạo môi trường làm việc điện tử rộng khắp giữa các cơ quan Đảng, Nhà nước.

– 60% cơ quan Đảng, chính quyền cấp tỉnh sử dụng thường xuyên hệ thống chứng thực chữ ký số.

– 60% thiết bị tin học được bổ sung, thay thế; số còn lại được nâng cấp đáp ứng yêu cầu khai thác các phần mềm ứng dụng.

3.3- Nhân lực công nghệ thông tin

– 100% các xã có điểm cung cấp dịch vụ viễn thông công cộng được kết nối Internet băng rộng.

– Đa số cán bộ, công chức, viên chức trong các cơ quan Đảng, Nhà nước được đào tạo, tập huấn nhằm nâng cao nhận thức, kỹ năng về công nghệ thông tin. Tỉnh có cán bộ lãnh đạo quản lý thông tin, được bồi dưỡng, đào tạo các chương trình quản lý công nghệ thông tin với trình độ tương đương trong khu vực.

– 100% cán bộ, công chức biết sử dụng công nghệ thông tin trong nghiệp vụ; 100% các cơ quan, đơn vị có mạng nội bộ (LAN) và cán bộ chuyên trách hoặc bán chuyên trách về công nghệ thông tin; tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh phải đảm bảo đủ cán bộ chuyên trách và có lãnh đạo công nghệ thông tin (CIO) để duy trì các ứng dụng dùng chung của tỉnh (cơ sở dữ liệu chuyên ngành, hệ thống thư, các trang tin điện tử, các dịch vụ công mức độ 3, 4,…).

– 100% sinh viên tốt nghiệp tất cả các trường đại học, cao đẳng, trung học chuyên nghiệp trong tỉnh có đủ kỹ năng sử dụng máy tính và Internet trong công việc.

3.4- Hỗ trợ các doanh nghiệp cung ứng dịch vụ, hạ tầng cho phát triển công nghệ thông tin

– Đa số giáo viên các cấp, bác sỹ, y sĩ, sinh viên đại học và cao đẳng, học sinh trung học chuyên nghiệp, trung học phổ thông; 50% học sinh trung học cơ sở và một bộ phận dân cư có nhu cầu được đào tạo kiến thức ứng dụng công nghệ thông tin và khai thác Internet.

– Khuyến khích, hỗ trợ xây dựng từ 2-3 trung tâm phát triển phần mềm.

– Hình thành một trung tâm đào tạo chuyên sâu về an toàn, an ninh thông tin.

III- Nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu 1- Tiếp tục nâng cao nhận thức và tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin

– Có 4 doanh nghiệp lắp ráp máy tính đạt thương hiệu Việt Nam.

Quán triệt sâu rộng Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XI) và Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm nâng cao nhận thức cho cán bộ, đảng viên, đoàn viên, hội viên, doanh nhân, người lao động và toàn xã hội về vị trí, vai trò của công nghệ thông tin, về mục tiêu, nhiệm vụ phát triển kinh tế-xã hội của tỉnh nhanh và bền vững; gắn với đẩy mạnh tuyên truyền, phổ biến các chủ trương, chính sách, pháp luật, chiến lược về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin-truyền thông của Đảng và Nhà nước. Nâng cao nhận thức trong cộng đồng doanh nghiệp về vai trò động lực của công nghệ thông tin trong môi trường cạnh tranh, hội nhập; nâng cao nhận thức của mọi tầng lớp nhân dân về vai trò của công nghệ thông tin trong việc hình thành xã hội thông tin, xã hội học tập, kinh tế tri thức.

Nâng cao trách nhiệm của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu của các cấp, các ngành phải chịu trách nhiệm trực tiếp chỉ đạo việc ứng dụng,

phát triển công nghệ thông tin nhằm nâng cao năng lực lãnh đạo, quản lý, điều hành cơ quan, đơn vị, địa phương, doanh nghiệp được giao phụ trách; tập trung vào phát triển công nghệ thông tin ngay tại cơ quan, đơn vị theo các mục tiêu đề án đề ra. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện quyết liệt các chương trình, kế hoạch ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin đáp ứng được nhu cầu phát triển kinh tế- xã hội đồng thời bảo đảm quốc phòng- an ninh.

Ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin là nội dung bắt buộc trong từng quy hoạch, kế hoạch phát triển, cũng như trong từng đề án, dự án đầu tư của mỗi ngành, lĩnh vực, địa phương, đơn vị.

Xây dựng một số chương trình truyền hình và phát thanh của tỉnh, chuyên mục trên Báo Ninh Thuận để tuyên truyền, phổ biến thông tin, nâng cao nhận thức và kiến thức công nghệ thông tin-truyền thông cho nhân dân. Xây dựng và kịp thời nhân rộng các mô hình, điển hình, nhân tố mới trong ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin.

2- Triển khai kịp thời, có hiệu quả các cơ chế, chính sách pháp luật về ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin

Quảng bá, truyền thông sâu rộng đến người dân và doanh nghiệp về việc triển khai Chính quyền điện tử. Bảo đảm cho người dân và doanh nghiệp trên địa bàn tỉnh có thể tiếp cận sử dụng các dịch vụ được cung cấp bởi chính quyền điện tử. Tổ chức hợp tác với một số cơ quan, đơn vị truyền thông trong và ngoài nước để quảng bá, truyền thông về xây dựng chính quyền điện tử tỉnh Ninh Thuận.

Cụ thể hóa các văn bản pháp luật về ứng dụng và phát triển công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện của tỉnh, tạo môi trường pháp lý thuận lợi cho việc đẩy mạnh ứng dụng và phát triển Chính quyền điện tử; tạo môi trường đầu tư hấp dẫn, minh bạch, công khai, bình đẳng.

Xây dựng Quy hoạch tổng thể phát triển hạ tầng công nghệ thông tin của tỉnh, bảo đảm kết nối liên thông giữa các cấp, các ngành trong tỉnh với Trung ương; có cơ chế cung cấp, chia sẻ và khai thác thông tin. Phát triển công nghệ thông tin phải đi đôi với bảo đảm an toàn, an ninh mạng, an toàn thông tin.

Xây dựng hạ tầng thông tin đồng bộ, nâng cấp mạng, máy tính phù hợp điều kiện của tỉnh, đáp ứng nhu cầu quản lý,

lãnh đạo.

Xây dựng và hoàn thiện Trung tâm Tích hợp dữ liệu chung của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh bảo đảm theo chuẩn quốc gia, đáp ứng các yêu cầu về vận hành, sử dụng và bảo quản.

Hoàn thiện mạng diện rộng của các cơ quan Đảng, nhà nước; sử dụng mạng truyền số liệu chuyên dùng của cơ quan Đảng, nhà nước để kết nối mạng thông tin diện rộng của Đảng và kết nối Internet có quản lý nhằm bảo đảm cho các đơn vị khai thác hiệu quả các ứng dụng, dịch vụ dùng chung tại Trung tâm dữ liệu của Tỉnh ủy, Ủy ban nhân dân tỉnh. Đối với cấp xã dùng các giải pháp phù hợp để kết nối vào mạng thông tin diện rộng khối Đảng, hệ thống Chính quyền điện tử.

Xây dựng mạng cục bộ cho các đơn vị chưa có mạng diện rộng và nâng cấp cho các đơn vị có mạng cục bộ nhưng thiết bị quá cũ kỹ, lạc hậu, không còn đáp ứng được yêu cầu công việc.

Xây dựng Trung tâm Hành chính công cấp tỉnh, trang bị hệ thống máy chủ, lưu trữ và sao lưu phục vụ triển khai các ứng dụng của hệ thống Chính quyền điện tử. Nâng cấp, hoàn thiện hạ tầng kỹ thuật bảo đảm ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan đảng, nhà nước, bao gồm: thiết bị (máy tính, máy in…) và các giải pháp an toàn, an ninh thông tin.

Nâng cấp hệ thống hội nghị trực tuyến ở các điểm quan trọng, bảo đảm âm thanh, hình ảnh có chất lượng cao; triển khai hệ thống hội nghị trực tuyến từ tỉnh đến 7 huyện, thành phố.

4- Ứng dụng công nghệ thông tin rộng rãi, thiết thực, có hiệu quả cao

Phát triển các kênh thông tin bảo đảm truy cập thuận tiện tới các dịch vụ công qua nhiều hình thức khác nhau, bao gồm: Cổng thông tin, trung tâm hỗ trợ, điện thoại cố định, điện thoại di động, hệ thống gửi/nhận tin nhắn.

Nâng cấp thiết bị và một số phần mềm dùng chung cho các cơ quan Đảng; xây dựng giải pháp mã hóa đường truyền, đảm bảo an ninh mạng; tổ chức tập huấn, đào tạo để khai thác các tài nguyên cơ sở dữ liệu hiện có của khối Đảng.

Hoàn thiện hệ thống thư điện tử hiện tại của tỉnh, tăng dung lượng lưu trữ và nâng cấp hệ thống máy chủ, hệ thống bảo mật thư điện tử. Triển khai hệ thống quản lý văn bản và hồ sơ công việc đến tất cả các đơn vị thuộc phạm vi đề án, bảo đảm an toàn, an ninh, tính pháp lý của văn bản trao đổi, kết hợp việc triển khai ứng dụng chữ ký số. Triển khai hệ thống quản lý hành chính cấp tỉnh, huyện cho các đơn vị thuộc phạm vi đề án; thí điểm hệ thống quản lý hành chính cấp xã cho một số xã, phường, thị trấn.

5- Tạo điều kiện thuận lợi phát triển công nghệ thông tin, kinh tế tri thức

Đầu tư xây dựng khoảng 20 ứng dụng nghiệp vụ, hình thành một số nhóm cơ sở dữ liệu tương ứng.

Lồng ghép các chương trình, dự án về công nghệ thông tin của Trung ương; bố trí ngân sách hợp lý hàng năm cho việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin, đáp ứng hoàn thành các mục tiêu đề ra; thực hiện xã hội hóa trong ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin theo hướng nâng cấp hạ tầng, hệ thống mạng, cung ứng dịch vụ, hỗ trợ đào tạo.

Áp dụng mức ưu đãi cao nhất về thuế, đất đai, tín dụng cho hoạt động nghiên cứu, sản xuất và dịch vụ công nghệ thông tin; hỗ trợ nâng cao năng lực hoạt động, khả năng phát triển thị trường và sức cạnh tranh cho các doanh nghiệp. Ưu tiên, hỗ trợ đáp ứng các chuẩn kỹ năng, đầu tư phát triển đối với các doanh nghiệp công nghệ thông tin vừa và nhỏ. Xúc tiến kêu gọi đầu tư xây dựng một số doanh nghiệp công nghệ thông tin phù hợp với điều kiện của tỉnh; có chính sách khuyến khích, hỗ trợ các tổ chức, doanh nghiệp nội địa hợp tác, tiếp thu và nhận chuyển giao các thành tựu công nghệ.

Đầu tư nghiên cứu ứng dụng, phát triển các sản phẩm phần mềm sử dụng trong hệ thống thông tin, cơ sở dữ liệu của tỉnh, quốc phòng, an ninh và phục vụ mục tiêu bảo đảm an toàn, an ninh thông tin.

Xây dựng và phát triển thị trường trong tỉnh, đa dạng hóa thị trường ngoài tỉnh, khai thác có hiệu quả các thị trường

6- Phát triển nguồn nhân lực bảo đảm yêu cầu phát triển công nghệ thông tin

tiềm năng.

Hình thành đội ngũ cán bộ lãnh đạo và cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin chung cho toàn tỉnh tại Trung tâm tích hợp dữ liệu.

Tổ chức đào tạo, bồi dưỡng các kiến thức về chiến lược, tầm nhìn; kỹ năng quản lý công nghệ thông tin, Chính quyền điện tử cho các lãnh đạo công nghệ thông tin các đơn vị cấp sở, ngành, huyện, thành phố. Đào tạo các kiến thức, kỹ năng để quản trị, điều hành các hệ thống thông tin (hạ tầng, ứng dụng, an ninh, an toàn thông tin…) cho các cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin tại các đơn vị cấp sở, ngành, huyện, Trung tâm Tích hợp dữ liệu. Tổ chức cho cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp, các cán bộ chuyên trách về công nghệ thông tin của các sở, ngành, địa phương tham quan, khảo sát một số địa phương trong nước và nước ngoài để trao đổi, học tập kinh nghiệm về việc ứng dụng công nghệ thông tin và triển khai hệ thống Chính quyền điện tử.

7- Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin trong quốc phòng, an ninh, bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, nâng cao năng lực quản lý các mạng viễn thông, truyền hình, Internet

Ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực phục vụ quốc phòng-an ninh; tổ chức diễn tập ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ hỗ trợ giảm nhẹ thiên tai và các hoạt động đặc thù. Đào tạo công dân điện tử; phổ cập các kiến thức cơ bản về Chính quyền điện tử cho học sinh, sinh viên các trường trung học cơ sở, trung học phổ thông, trung học chuyên nghiệp, cao đẳng, đại học và dạy nghề trên địa bàn tỉnh.

Thực hiện có hiệu quả chủ trương số hóa, thông minh hóa, hiện đại hóa vũ khí, trang bị kỹ thuật quân sự, an ninh. Tăng cường ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin trong các hệ thống chỉ huy, điều hành, quản lý lực lượng vũ trang.

Gắn kết chặt chẽ việc ứng dụng, phát triển công nghệ thông tin với bảo đảm an toàn, an ninh và bảo mật hệ thống thông tin và cơ sở dữ liệu. Có biện pháp bảo đảm an toàn thông tin cho các hạ tầng thông tin trọng yếu. Phát huy vai trò các lực lượng chuyên trách bảo vệ an toàn, an ninh thông tin và bí mật nhà nước. Thực hiện cơ chế phối hợp chặt chẽ giữa các lực lượng công an, quân đội, ngoại giao, cơ yếu, thông tin và truyền thông.

Ưu tiên sử dụng các sản phẩm, giải pháp bảo đảm an toàn, an ninh thông tin, máy tính và mạng máy tính của các tổ chức, doanh nghiệp trong nước.

Xây dựng tiềm lực về công nghệ, cơ sở vật chất và nhân lực đủ khả năng bảo đảm an ninh chính trị, an toàn xã hội, bảo đảm an toàn mạng, an ninh thông tin. Tăng cường phòng, chống và ứng cứu các sự cố về an toàn, an ninh thông tin; phối hợp chặt chẽ giữa các cơ quan, sở, ngành, địa phương, đơn vị, các cơ quan chuyên trách để sẵn sàng, chủ động phòng ngừa và xử lý các tình huống phát sinh.

Tăng cường giám sát, phát hiện và kịp thời loại bỏ các thông tin phá hoại của các thế lực thù địch, thông tin trái chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước, của cấp ủy và chính quyền địa phương. Quản lý chặt chẽ báo chí điện tử và các loại hình truyền thông Internet, nhằm tận dụng tối đa tiềm năng, mặt tích cực, hạn chế mặt trái, tiêu cực.

8- Hợp tác và hội nhập về công nghệ thông tin

Xây dựng hệ thống an ninh bảo mật nhằm đảm bảo công tác an toàn, an ninh thông tin, bảo mật cho hệ thống chính quyền điện tử, bao gồm tất cả các giải pháp kỹ thuật, trình độ về an toàn bảo mật cho các cán bộ chuyên trách công nghệ thông tin, phụ trách quản trị hệ thống bảo mật. Nâng cao nhận thức và trang bị đầy đủ các kiến thức bảo mật cơ bản cho cán bộ, công chức, viên chức khi sử dụng chính quyền điện tử, ban hành các quy định, cơ chế chính sách về an toàn bảo mật sử dụng thông tin trong hệ thống chính quyền điện tử.

Chủ động, tích cực tham gia các chương trình hợp tác về công nghệ thông tin với các tỉnh lân cận, và các địa phương phát triển mạnh về công nghệ thông tin như: TP. Hồ Chí Minh, Hà Nội, Đà Nẵng…; tổ chức học tập kinh nghiệm, kết nối chia sẻ thông tin công nghệ thông tin với các tỉnh thành khác.

IV- Tổ chức thực hiện

Có cơ chế chính sách thu hút các nhà làm công nghệ thông tin, chuyên gia trình độ cao, các đơn vị công nghệ thông tin có uy tín trong nước tham gia, phối hợp thực hiện các nhiệm vụ công nghệ thông tin của tỉnh.

1- Cấp ủy đảng, chính quyền, Mặt trận và đoàn thể các cấp tổ chức tốt việc học tập, quán triệt và tuyên truyền sâu rộng trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về các nội dung cơ bản của Nghị quyết số 36-NQ/TW của Bộ Chính trị, Chương trình hành động của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ tạo sự thống nhất trong nhận thức và hành động. Xây dựng chương trình, kế hoạch cụ thể để tổ chức thực hiện đạt kết quả.

3- Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân tỉnh khẩn trương chỉ đạo xây dựng và triển khai kế hoạch thực hiện Chương trình hành động, Đề án của Ban Thường vụ Tỉnh ủy; thường xuyên theo dõi, kiểm tra, đánh giá tình hình thực hiện và kịp thời điều chỉnh các kế hoạch, giải pháp cụ thể phù hợp với yêu cầu thực tế, bảo đảm thực hiện Đề án trong các cơ quan Đảng, Nhà nước có hiệu quả.

Triển Khai Chương Trình Hành Động Thực Hiện Nghị Quyết Số 52 / 2023

Ban Thường vụ Tỉnh ủy Khánh Hòa vừa ban hành Chương trình hành động số 39-CTr/TU, ngày 24/6/2020 thực hiện Nghị quyết số 52-NQ/TW, ngày 27/9/2019 của Bộ Chính trị về “một số chủ trương, chính sách chủ động tham gia cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư” trên địa bàn tỉnh.

Theo đó, mục tiêu tổng quát của Chương trình hành động này là nắm bắt kịp thời, tận dụng hiệu quả các cơ hội do cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư đem lại để thúc đẩy quá trình cơ cấu kinh tế, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với thực hiện các đột phá chiến lược về công nghệ; hoàn thành quá trình chuyển đổi số, mà trọng tâm là đề án chính quyền điện tử, chính quyền số, đô thị thông minh; phát triển mạnh mẽ kinh tế số; huy động và sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực nhằm phát triển kinh tế – xã hội nhanh, bền vững dựa trên khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, thu hút và phát triển nguồn nhân lực chất lượng cao, đặc biệt là trong lĩnh vực công nghệ thông tin, điện tử, viễn thông; nâng cao chất lượng đời sống Nhân dân; bảo vệ môi trường sinh thái; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh.

Bên cạnh đó, Chương trình hành động đặt ra những mục tiêu cụ thể đến năm 2025 và đến năm 2030. Trong đó, phấn đấu đến năm 2025, có 100% doanh nghiệp nhà nước thuộc tỉnh và trên 50% số lượng doanh nghiệp vừa và nhỏ trên địa bàn tỉnh hoàn thành chuyển dịch lên nền tảng số; hoàn thành việc thiết lập hạ tầng để thành phố Nha Trang cơ bản đáp ứng các tiêu chí của đô thị thông minh. Phấn đấu đến năm 2030, hoàn thành xây dựng, cập nhật kiến trúc chính quyền điện tử cấp tỉnh phù hợp với Khung kiến trúc Chính phủ điện tử Việt Nam hướng tới nền chính phủ số, nền kinh tế số và xã hội số; phát triển mô hình đô thị thông minh trên địa bàn tỉnh, kết nối mạng lưới đô thị thông minh quốc gia. Đưa ngành du lịch, dịch vụ của tỉnh Khánh Hòa thuộc nhóm các địa phương dẫn đầu cả nước và khu vực Đông Nam Á về chất lượng dịch vụ, trải nghiệm khách hàng dựa trên nền tảng áp dụng, khai thác các công nghệ của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư kết hợp với khai thác tốt giá trị của cơ sở hạ tầng…

Để đạt được các mục tiêu trên, Chương trình hành động đề ra 08 nhóm nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu gồm: Đổi mới, nâng cao nhận thức, tăng cường vai trò lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, quản lý của chính quyền, phát huy sự tham gia của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội; Cụ thể hóa chủ trương của Đảng, pháp luật của Nhà nước phù hợp với thực tiễn của tỉnh để triển khai thực hiện các cơ chế, chính sách, chủ động tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư và quá trình chuyển đổi số; Đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng đồng bộ, nâng cao chất lượng, hiệu quả ứng dụng công nghệ thông tin; Triển khai các chính sách phát triển và nâng cao năng lực đổi mới sáng tạo; Triển khai thực hiện các chính sách phát triển nguồn nhân lực; Triển khai thực hiện chính sách phát triển các ngành và công nghệ ưu tiên; Tăng cường liên kết, hợp tác và hội nhập quốc tế; Thúc đẩy chuyển đổi số trong cơ quan Đảng, Nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị xã hội.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương Trình Hành Động Số 44 / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!