Xu Hướng 12/2023 # Chương Trình Hành Động Số 44 # Top 19 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Chương Trình Hành Động Số 44 được cập nhật mới nhất tháng 12 năm 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

I. TÌNH HÌNH ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC VÀ CÔNG TÁC XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TỪ ĐỔI MỚI (NĂM 1986) ĐẾN NAY

Cùng với sự phát triển của đất nước, đội ngũ trí thức nói chung và trí thức thành phố những năm qua đã tăng nhanh về số lượng (từ 13.000 người vào năm 1975, đến nay đã có trên 350.000 người) từ nhiều nguồn khác nhau và đa số đã có những đóng góp tích cực, quan trọng vào sự phát triển của thành phố; góp phần tạo nên nhiều thành tựu trên các mặt đời sống kinh tế – văn hóa – xã hội, tăng năng suất lao động, đưa GDP thành phố năm 1985 chiếm 13% GDP cả nước, đến năm 2008 tăng lên 21,5%.

Lực lượng khoa học – công nghệ đẩy mạnh triển khai nghiên cứu, ứng dụng khoa học – công nghệ vào những ngành, lĩnh vực, sản phẩm chủ yếu phục vụ phát triển kinh tế – xã hội thành phố.

Lực lượng nghiên cứu khoa học xã hội nhân văn tập trung nghiên cứu các vấn đề cơ bản, bức xúc của thành phố để làm cơ sở khoa học cho việc hoạch định chính sách phát triển kinh tế – xã hội, văn hóa, xây dựng hệ thống chính trị.

Bộ phận trí thức tham gia công tác lãnh đạo, quản lý đã phát huy tốt vai trò, khả năng góp phần nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị, nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý Nhà nước. Đội ngũ trí thức trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh là lực lượng nòng cốt xây dựng lực lượng võ trang cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại.

Thông qua Liên hiệp các Hội khoa học và kỹ thuật thành phố, giới trí thức đã đóng góp ý kiến, tư vấn các vấn đề quan trọng của thành phố; thường xuyên tổ chức hội thảo, phổ biến kiến thức khoa học – kỹ thuật, tổ chức các lớp đào tạo nghiệp vụ ngắn hạn; chuyển giao công nghệ; tổ chức các hội thi olympic cho giới khoa học trẻ , sinh viên.

Đội ngũ thầy cô giáo, cán bộ quản lý giáo dục đã góp phần tích cực nâng cao chất lượng đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, nâng cao trình độ dân trí, góp phần hoàn thành phổ cập trình độ học vấn trung học cơ sở vào năm 2002 và đang tiếp tục nỗ lực phấn đấu hoàn thành và giữ vững phổ cập bậc trung học theo Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ VIII.

Đội ngũ bác sĩ, y sĩ đã đóng góp thiết thực vào việc xây dựng con người Việt Nam có trí lực, thể lực, đáp ứng được yêu cầu về chất lượng nguồn nhân lực; chủ động, sáng tạo tiếp thu kinh nghiệm nước ngoài trong các lĩnh vực mới, để làm chủ các kỹ thuật phức tạp, nâng cao chất lượng khám và điều trị bệnh cho nhân dân.

Đội ngũ cán bộ quản lý doanh nghiệp ngày càng được nâng cao trình độ chuyên môn và kiến thức quản lý, vừa góp phần nâng cao hiệu quả sản xuất – kinh doanh, phát triển kinh tế – xã hội, vừa tiếp tục góp phần khẳng định vai trò trung tâm kinh tế của thành phố đối với khu vực và cả nước, đẩy mạnh quá trình hội nhập kinh tế quốc tế.

Giới văn nghệ sĩ tiếp tục sáng tạo những công trình có giá trị tư tưởng và nghệ thuật, góp phần nâng cao đời sống văn hóa, tạo điều kiện cho nhân dân hưởng thụ những giá trị văn hóa truyền thống và hiện đại, phát huy những giá trị văn hóa tốt đẹp của dân tộc như lòng nhân ái, nghĩa tình, giúp đỡ người nghèo, năng động, sáng tạo. Văn học – nghệ thuật qua hơn 20 năm đổi mới đã có sự phát triển đa dạng và phong phú về đề tài, phương pháp sáng tác, phương thức thể hiện; đội ngũ văn nghệ sĩ trẻ được bổ sung.

Trí thức khoa học kiều bào bước đầu có những đóng góp thiết thực vào lĩnh vực khoa học – công nghệ, mở nhiều lớp huấn luyện và tư vấn trong lĩnh vực công nghệ thông tin, môi trường, vật liệu mới, tham gia trực tiếp và có hiệu quả các hoạt động nghiên cứu khoa học và đào tạo.

Một số chính sách được thực hiện để phát huy vai trò của đội ngũ trí thức

2.1. Công tác đào tạo và nâng cao năng lực đội ngũ trí thức trong các lĩnh vực được chú trọng

Trong những năm đổi mới, Đảng và Nhà nước đã có nhiều chủ trương, chính sách để đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng. Đối với thành phố, Thành ủy đã đề ra Chương trình đào tạo 300 thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2001 – 2006 (đã đào tạo được 254 thạc sĩ, tiến sĩ ở 14 quốc gia) và hiện nay, đang tiếp tục triển khai Chương trình đào tạo 500 thạc sĩ, tiến sĩ giai đoạn 2007 – 2010; đồng thời, thực hiện các chương trình đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng, bồi dưỡng ngoại ngữ cho cán bộ lãnh đạo và quản lý các cấp.

2.2. Mức đầu tư kinh phí cho sự nghiệp nghiên cứu khoa học ngày càng tăng

Kinh phí cho nghiên cứu khoa học, từ 38,7 tỷ đồng năm 2000, chiếm 1,48% đã tăng lên 110 tỷ đồng năm 2005, chiếm 2,15% và năm 2008 là 155 tỷ đồng, chiếm 1,73% chi thường xuyên ngân sách thành phố.

Thành phố đã ban hành giải thưởng tặng cá nhân và tập thể các nhà khoa học có những nghiên cứu và đóng góp xuất sắc cho thành phố; hình thành các quỹ nhằm đẩy mạnh nghiên cứu khoa học trong giới trẻ; lập quỹ bảo trợ tài năng trẻ; hình thành chương trình “Vườn ươm sáng tạo khoa học – kỹ thuật trẻ” nhằm xây dựng đội ngũ cán bộ khoa học – công nghệ trẻ cho thành phố.

2.3. Vai trò đội ngũ trí thức luôn được quan tâm phát huy

Ban Thường vụ Thành ủy đã ban hành Chỉ thị số 27-CT/TU ngày 16 tháng 7 năm 1999 để cụ thể hóa Chỉ thị 45-CT/TW của Bộ Chính trị nhằm phát huy vai trò của đội ngũ trí thức thành phố; đồng thời quan tâm tạo điều kiện cho hoạt động của Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố, tạo điều kiện để đội ngũ trí thức đóng góp ý kiến với Đảng, chính quyền. Thành phố đã giao Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố làm chủ đầu tư một số dự án lớn, phát huy vai trò tư vấn, phản biện và giám định xã hội, cung cấp những luận cứ khoa học, khách quan cho các cơ quan chuyên môn xem xét, phê duyệt các dự án quan trọng.

2.4. Không ngừng đầu tư cơ sở hạ tầng, trang thiết bị hiện đại phục vụ đào tạo nguồn nhân lực, nghiên cứu và triển khai

Trên địa bàn thành phố hiện nay có trên 90 Viện, Trung tâm nghiên cứu khoa học và trên 50 trường đại học – cao đẳng, 400 Phòng thí nghiệm. Thành phố đã cấp kinh phí để nâng cấp nơi làm việc của các nhà khoa học như hoàn thành xây mới tòa nhà Viện Nghiên cứu xã hội thành phố và đang triển khai xây trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố; đã và đang triển khai xây dựng Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm công nghệ sinh học, các phòng thí nghiệm trọng điểm, trung tâm thiết kế và chế tạo thiết bị mới phục vụ nghiên cứu khoa học kết hợp với đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao và giải quyết các vấn đề bức xúc của thành phố; xây dựng các đề án, dự án tăng cường đầu tư cơ sở hạ tầng và thành lập một số Viện, Trung tâm nghiên cứu mạnh để thu hút trí thức kiều bào về làm việc, nâng cao năng lực của đội ngũ trí thức phục vụ phát triển thành phố.

3. Hạn chế, yếu kém và nguyên nhân

Nhìn chung, trước yêu cầu của sự nghiệp đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng thành phố trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại thì trình độ của đội ngũ trí thức thành phố vẫn chưa đáp ứng yêu cầu và chưa ngang tầm với trình độ phát triển của các thành phố trong khu vực. Cơ cấu đội ngũ trí thức có những mặt bất hợp lý về ngành nghề, độ tuổi, giới tính,… chuyên gia đầu ngành còn thiếu nghiêm trọng; đội ngũ kế cận còn hụt hẫng; chưa có nhiều tập thể khoa học mạnh, có uy tín ở khu vực và quốc tế. Tinh thần hợp tác, gắn kết đội ngũ trong nghiên cứu khoa học nhìn chung còn yếu, do vậy chưa tạo nên được những thành tựu lớn trong khoa học. Trong lĩnh vực khoa học tự nhiên và công nghệ, số công trình được công bố ở các tạp chí có uy tín trên thế giới và số sáng chế được đăng ký quốc tế còn ít. Lĩnh vực khoa học xã hội và nhân văn còn yếu trong dự báo và định hướng, chưa giải đáp thuyết phục được nhiều vấn đề do thực tiễn đổi mới đặt ra, chưa có những công trình sáng tạo lớn, nhiều công trình còn sơ lược. Trong lĩnh vực văn học – nghệ thuật, còn ít tác phẩm có giá trị xứng tầm với những thành tựu của đất nước, thành phố và sự sáng tạo, hy sinh lớn lao của nhân dân ta trong sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc; lĩnh vực lý luận phê bình văn học, nghệ thuật còn nhiều hạn chế.

Tỷ lệ giáo sư và cán bộ giảng dạy ở hệ cao đẳng, đại học có trình độ trên đại học vẫn còn thấp; tỷ lệ giảng viên trên sinh viên còn thấp; tỷ lệ các nhà khoa học trẻ, các văn nghệ sĩ trẻ tham gia các hội chuyên ngành còn ít (tại Liên hiệp các hội Văn học – Nghệ thuật thành phố, số hội viên từ 50 tuổi trở lên chiếm gần 60%).

Một bộ phận trí thức còn thiếu ý chí phấn đấu, không thường xuyên nghiên cứu và học tập dẫn đến tụt hậu về chuyên môn, nghiệp vụ; một số giảm sút đạo đức nghề nghiệp, thiếu ý‎ thức trách nhiệm, có biểu hiện chạy theo bằng cấp, thiếu trung thực; một số trí thức trẻchạy theo lợi ích trước mắt, thiếu ý chí phấn đấu vươn lên về chuyên môn; một số có tư tưởng “sùng ngoại”, thiếu tin tưởng ở nội lực.

Nguyên nhân của những hạn chế

– Nền kinh tế nước ta vẫn trong tình trạng lạc hậu, trình độ khoa học và công nghệ còn thấp; việc áp dụng khoa học và công nghệ vào sản xuất và đời sống chưa cao; thị trường khoa học và công nghệ, sản phẩm văn học, nghệ thuật đang trong quá trình hình thành.

– Tác động tiêu cực của mặt trái kinh tế thị trường đã ảnh hưởng khá mạnh đến hoạt động của trí thức, văn nghệ sĩ.

– T hành phố chưa có chiến lược tổng thể về đội ngũ trí thức ; c ông tác thống kê, cập nhật đội ngũ trí thức thời gian qua chưa làm tốt , nên chưa xây dựng được lộ trình đào tạo, bồi dưỡng , phát huy đội ngũ trí thức trẻ một cách căn cơ . Chủ trương xây dựng thành phố trở thành thành phố xã hội chủ nghĩa, văn minh, hiện đại chưa được quán triệt trong chính sách đào tạo nguồn nhân lực.

– Về công tác lãnh đạo và quản lý, mặc dù thành phố luôn quan tâm và tạo điều kiện để phát huy đội ngũ trí thức, nhưng chủ yếu giao cho từng đầu mối quản lý theo lĩnh vực; các đầu mối quản lý cũng chủ yếu quản lý theo lối hành chính, không phù hợp với đặc điểm và tính đặc thù của lao động trí óc, lao động sáng tạo, chưa đề ra những biện pháp lâu dài. Cơ chế quản lý và chính sách phát triển khoa học, đầu tư nghiên cứu còn dàn trải; cơ chế quyết toán tài chính, phát huy kết quả công trình nghiên cứu,… chưa tạo điều kiện thuận lợi và khuyến khích giới trí thức tham gia sáng tạo.

– Một số cán bộ đảng và chính quyền chưa nhận thức sâu sắc vai trò, vị trí của trí thức; chưa coi trọng nguồn nhân lực có trình độ cao; còn có hiện tượng ngại tiếp xúc, đối thoại, lúng túng về biện pháp cụ thể phát huy vai trò trí thức trong phản biện những chủ trương, chính sách, những dự án do cơ quan lãnh đạo, quản lý đưa ra.

– Những cơ chế, chính sách đã ban hành chưa đủ mạnh để trí thức yên tâm cống hiến, phát triển; chưa có chính sách thỏa đáng tôn vinh các kết quả chuyên môn, nghề nghiệp; thiếu những cơ chế thích hợp để phát hiện, tuyển chọn, bồi dưỡng, trọng dụng nhân tài. Môi trường hoạt động của trí thức còn nhiều hạn chế.

– Hệ thống giáo dục còn lạc hậu, nhất là ở bậc đại học còn bất cập, chưa đủ sức đáp ứng nhu cầu về số lượng và chất lượng nguồn nhân lực trình độ cao, dẫn đến tình trạng sản phẩm đào tạo vừa thừa, vừa thiếu.

– Chưa có chính sách thỏa đáng để thu hút đông đảo trí thức người Việt Nam ở nước ngoài tham gia nghiên cứu, đào tạo, giải quyết những vấn đề bức xúc và cơ bản của thành phố.

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước nêu rõ vai trò của đội ngũ trí thức “Trong mọi thời đại, tri thức luôn là nền tảng tiến bộ xã hội, đội ngũ trí thức là lực lượng nòng cốt sáng tạo và truyền bá tri thức. Ngày nay, cùng với sự phát triển nhanh chóng của cách mạng khoa học và công nghệ hiện đại, đội ngũ trí thức trở thành nguồn lực đặc biệt quan trọng, tạo nên sức mạnh của mỗi quốc gia trong chiến lược phát triển”. Để quán triệt và thực hiện có hiệu quả mục tiêu, quan điểm, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X về xây dựng đội ngũ trí thức trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước; Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đề ra Chương trình hành động như sau :

A. MỤC TIÊU XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC

– Ðến năm 2023, xây dựng đội ngũ trí thức thành phố lớn mạnh, đạt chất lượng cao, số lượng và cơ cấu hợp lý, đáp ứng yêu cầu phát triển của thành phố và đất nước, từng bước tiến lên ngang tầm với trình độ của trí thức các nước tiên tiến trong khu vực và thế giới; đảm bảo sự phát triển nhanh và bền vững của thành phố theo hướng phát triển các lĩnh vực khoa học – công nghệ cao, tiếp cận nền kinh tế tri thức; gắn bó vững chắc giữa Ðảng và chính quyền với trí thức, giữa trí thức với Ðảng và chính quyền, tăng cường khối đại đoàn kết toàn dân tộc trên nền tảng liên minh công – nông – trí.

– Từ nay đến năm 2010, phấn đấu thực hiện có hiệu quả Chương trình đào tạo 500 thạc sĩ, tiến sĩ; đồng thời tiếp tục có chính sách và giải pháp nhằm phát huy có hiệu quả tiềm năng của đội ngũ trí thức thành phố trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; xây dựng chiến lược phát triển đội ngũ trí thức thành phố đến năm 2023.

B.NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP XÂY DỰNG ĐỘI NGŨ TRÍ THỨC TRONG THỜI KỲ ĐẨY MẠNH CÔNG NGHIỆP HÓA, HIỆN ĐẠI HÓA

1. Tăng cường và nâng cao chất lượng lãnh đạo của Đảng trong công tác xây dựng đội ngũ trí thức

– Tiếp tục nâng cao nhận thức của các cấp ủy và chính quyền về vai trò, vị trí quan trọng của trí thức trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước và hội nhập kinh tế quốc tế; xác định công tác trí thức là nhiệm vụ quan trọng và thường xuyên của cấp ủy, chính quyền các cấp; qua đó làm tốt công tác tư tưởng để đội ngũ trí thức nhận thức sâu sắc trách nhiệm đối với đất nước, dân tộc, đoàn kết phấn đấu, lao động sáng tạo hoàn thành tốt trọng trách trong thời kỳ mới.

– Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thường xuyên nắm bắt được tâm tư, nguyện vọng của đội ngũ trí thức,phản ảnh kịp thời, chủ động đề xuất các giải pháp nhằm phát huy vai trò củađội ngũ trí thức.

– Các cấp ủy, chính quyền chỉ đạo tiến hành thống kê đội ngũ trí thức trên địa bàn, rà soát biện pháp và kết quả huy động, sử dụng trí thức trong thời gian qua tại địa phương, đơn vị; trong khu vực cơ quan Nhà nước, xem xét nghiêm túc, phân tích nguyên nhânkém thu hút trí thức được đào tạo căn cơ và hiện tượng “chảy máu chất xám” đội ngũ trí thức sang khu vực ngoài Nhà nước và khu vực có yếu tố nước ngoài.

– Trong khu vực giáo dục – đào tạo và nghiên cứu khoa học cần tiến hành thống kê, phân tích trình độ đội ngũ, sự phân bố ngành nghề, đánh giá hiệu quả đào tạo, bố trí, sử dụng, tạo môi trường làm việc, đãi ngộ vật chất,… để xây dựng và phát huy đội ngũ trí thức trong thời gian tới đúng với tinh thần Nghị quyết số 27-NQ/TW và Chương trình hành động của Thành ủy.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố, các quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sởchỉ đạo thực hiện).

2. Đẩy mạnh đào tạo, bồi dưỡng nhằm xây dựng đội ngũ trí thức phát triển nhanh về số lượng và nâng lên về chất lượng

– Tổng kết Chương trình phát triển nguồn nhân lực, từ đó xây dựng kế hoạch đào tạo nguồn nhân lực thành phố đến năm 2023.

– Đẩy mạnh thực hiện có hiệu quả Chương trình đào tạo thạc sĩ, tiến sĩ với nội dung, đối tượng đào tạo phù hợp nhằm bổ sung nguồn cán bộ lãnh đạo, quản lý có trình độ cao, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và hội nhập kinh tế quốc tế của thành phố.

– Lập quỹ nghiên cứu khoa học từ huy động nguồn lực của các doanh nghiệp để phát huy đội ngũ trí thức trong doanh nghiệp, tạo sự gắn kết giữa doanh nghiệp với các trường, viện; khuyến khích lập quỹ đầu tư nguồn lực để doanh nghiệp cùng chia sẻ chi phí đào tạo với các trường cao đẳng, đại học.

– Thu hút các nguồn lực từ nước ngoài cho đào tạo đại học, sau đại học, cao đẳng, trung cấp chuyên nghiệp và dạy nghề, tạo ra cơ cấu lao động có trình độ tay nghề cao, có kỹ năng nghề nghiệp thành thạo và biết ngoại ngữ.

– Củng cố và phát huy vai trò của Hội đồng Đại học thành phố nhằm phối hợp trong dự báo nhu cầu, trong công tác đào tạo nguồn nhân lực, bồi dưỡng nhân tài và khai thác, sử dụng cơ sở vật chất, phòng thí nghiệm, tư liệu… có hiệu quả nhất.

– Tổng kết rút kinh nghiệm và nhân rộng mô hình đào tạo kỹ sư, cử nhân tài năng để phấn đấu đến năm 2023 thành phố có được đội ngũ cán bộ khoa học đạt trình độ chuyên gia quốc tế. Đào tạo đội ngũ cán bộ kỹ thuật, khoa học xã hội và nhân văn giỏi, những văn nghệ sĩ tài ba; đồng thời đào tạo đội ngũ trí thức giỏi làm công tác quản lý, tham mưu, hoạch định chính sách. Tăng cường đầu tư cho các trường trung học phổ thông chuyên để phát triển, bồi dưỡng nhân tài, tạo nguồn đào tạo đội ngũ trí thức trẻ.

– Xây dựng chính sách hỗ trợ kinh phí cho cán bộ khoa học để nâng cao trình độ (dự hội nghị khoa học ở nước ngoài, thông báo trên các tạp chí khoa học quốc tế, đăng ký patent ở nước ngoài, mua tạp chí khoa học,…).

(Giao Ban Tổ chức Thành ủy và Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố phối hợp thực hiện)

3. Tạo lập, hoàn thiện môi trường để phát huy vai trò đội ngũ trí thức

– Phát huy dân chủ trong sáng tạo hoạt động khoa học – công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và văn nghệ, tạo điều kiện để trí thức tự khẳng định, cống hiến.

– Tổ chức thực hiện nhiệm vụ khoa học và công nghệ gắn kết chặt chẽ với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, bảo vệ thành phố; hoàn thiện phương thức tuyển chọn tổ chức, cá nhân thực hiện nhiệm vụ khoa học – công nghệ theo cơ chế công khai, dân chủ dựa trên các tiêu chí lựa chọn rõ ràng; đồng thời phát huy cơ chế đặt hàng từ thực tiễn thành phố và giao nhiệm vụ căn cứ trên các lĩnh vực chuyên môn, áp dụng cơ chế khoán kinh phí nghiên cứu khoa học; có cơ chế đặc thù cho các nhà khoa học đầu ngành.

– Xây dựng cơ chế khai thác, sử dụng hiệu quả tiềm lực của đội ngũ trí thức phục vụ phát triển thành phố, bao gồm liên kết giữa nghiên cứu và sử dụng, liên kết sử dụng chung cơ sở vật chất, hợp tác với nước ngoài.

– Tăng cường đầu tư phát triển tiềm năng khoa học – công nghệ, nhất là lĩnh vực công nghệ cao (thông tin, sinh học, tự động hóa, năng lượng, môi trường, vật liệu mới,…); có chính sách xã hội thu hút đầu tư cho khoa học – công nghệ.

– Thiết lập cơ chế tài chính phù hợp nhằm thu hút các chuyên gia, các nhà khoa học giỏi (trong nước, trí thức kiều bào); cho phép cơ quan quản lý được quyền ký kết hợp đồng trực tiếp với đối tượng được sử dụng và mức chi trả theo thỏa thuận của hai bên; chi trả bản quyền sử dụng tác phẩm thỏa đáng.

– Đẩy mạnh hội nhập, hợp tác quốc tế, tiếp thu có chọn lọc tri thức khoa học, chuyển giao công nghệ, thu hút nguồn lực nước ngoài phục vụ phát triển khoa học và công nghệ. Nghiên cứu cơ chế cho phép sử dụng trí thức nước ngoài tham gia quản lý các đơn vị nghiên cứu khoa học trong nước để tận dụng thế mạnh liên kết, mở rộng điều kiện học tập cho các nhà khoa học trong nước.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố chủ trì, phối hợp với Ban Tuyên giáo Thành ủy, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

4. Thực hiện trọng dụng, đãi ngộ và tôn vinh trí thức

– Đổi mới công tác cán bộ đối với trí thức theo hướng nêu cao trách nhiệm và quyền hạn của các tổ chức khoa học và công nghệ, các trường đại học trong việc bổ nhiệm lãnh đạo và các chức danh trên cơ sở các tiêu chuẩn chung của Đảng và Nhà nước.

– Rà soát các chính sách hiện có và bổ sung, hoàn thiện, ban hành các chính sách mới theo thẩm quyền; đồng thời kiến nghị với các cơ quan có thẩm quyền ban hành các cơ chế, chính sách nhằm bảo đảm trí thức được hưởng đầy đủ lợi ích vật chất, tinh thần tương xứng với giá trị kết quả lao động của mình.

– Có chính sách ưu đãi, nhất là điều kiện làm việc đối với trí thức đầu ngành; thực hiện nghiêm các quy định, các chính sách về tuổi lao động và các chế độ khác để động viên và tiếp tục sử dụng về chuyên môn, nghiệp vụ đối với những trí thức đã hết tuổi lao động, nhưng có trình độ cao và sức khỏe tốt; có chính sách ưu đãi đối với trí thức nữ và trí thức người dân tộc thiểu số.

– Thành lập và duy trì các giải thưởng chính thức của thành phố về khoa học – công nghệ và văn học – nghệ thuật.

– Xây dựng chính sách thu hút, tập hợp trí thức trong và ngoài nước, nhất là trí thức Việt kiều tham gia tích cực vào đào tạo, nghiên cứu khoa học, chuyển giao công nghệ.

5. Tạo điều kiện để đội ngũ trí thức phát huy vai trò, trách nhiệm, góp sức vào sự nghiệp đổi mới và phát triển

– Xây dựng quy chế tiếp xúc định kỳ giữa lãnh đạo thành phố với trí thức, tạo điều kiện để giới trí thức trao đổi thông tin, góp ý kiến với lãnh đạo thành phố xây dựng các chủ trương, quyết sách và các biện pháp thực hiện những đề án ảnh hưởng trực tiếp đến lợi ích công dân và an sinh xã hội.

– Tiếp tục củng cố và tăng cường hệ thống tổ chức, hoạt động của Liên hiệp các H ội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Liên hiệp các H ội Văn học – Nghệ thuật thành phố ; nâng cao chất lượng sinh hoạt Hội định kỳ; tạo điều kiện thuận lợi để phát triển các hội thành viên và kết nạp hội viên mới, trong đó chú trọng kết nạp trí thức trẻ, văn nghệ sĩ trẻ vào Hội. Mở rộng việc mời gọi chuyên gia đầu ngành tham gia tổ chức Hội và tăng cường trao đổi chuyên môn, truyền bá kinh nghiệm cho đội ngũ trí thức trẻ, văn nghệ sĩ trẻ.

(Giao Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

– Thể chế hóa hoạt động tư vấn, phản biện và giám định xã hội . Xác định các định mức giá trị công trình, dự án bắt buộc phải được giám định xã hội hoặc các công trình, dự án quan trọng do Hội đồng nhân dân thành phố xem xét cần tổ chức phản biện xã hội. Thực hiện quy chế dân chủ trong hoạt động khoa học và công nghệ, giáo dục và đào tạo, văn hóa và văn nghệ.

( Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố thực hiện)

6. Những nhiệm vụ cụ thể

– Đẩy mạnh các chương trình trọng điểm phục vụ phát triển các ngành công nghệ mũi nhọn của thành phố.Hoàn thiện bộ máy tổ chức, nhân sự và tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động nghiên cứu, ứng dụng của Khu công nghệ cao, Khu nông nghiệp kỹ thuật cao, Trung tâm công nghệ sinh học thành phố.

– Tiếp tục đẩy nhanh tiến độ thực hiện công trình xây dựng trụ sở Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố và trụ sở Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố hoàn thành vào năm 2010 để tạo điều kiện thuận lợi cho hoạt động của các Liên hiệp Hội và các Hội thành viên.

(Giao Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo và kiểm tra thực hiện)

– Chỉ đạo, định hướng hoạt động thông tin trên các cơ quan báo chí nhằm tăng cường giáo dục và nâng cao nhận thức thẩm mỹ về văn học – nghệ thuật của công chúng, tạo sự đồng thuận trong các tầng lớp nhân dân về hưởng thụ văn học – nghệ thuật nhân bản, phục vụ sự nghiệp đổi mới phát triển đất nước do Đảng lãnh đạo; đồng thời tạo dư luận mạnh mẽ lên án, phê phán và đẩy lùi các loại văn hóa phẩm xấu, độc hại, đi ngược lại lợi ích, truyền thống, văn hóa dân tộc.

(Giao Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố thực hiện)

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

Các ban Thành ủy, ban cán sự đảng, đảng đoàn, quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở và cơ sở trực thuộc Thành ủy hoàn tất tổ chức quán triệt Chương trình hành động của Thành ủy trong năm 2008; đồng thời xây dựng chương trình, kế hoạch thực hiện cụ thể (hoàn thành cuối tháng 12 năm 2008), đảm bảo Nghị quyếtsố 27-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X và Chương trình hành động của Thành ủy sớm đi vào cuộc sống và đạt hiệu quả thiết thực.

Ban Tuyên giáo Thành ủy chủ trì, phối hợp với các ban Thành ủy, Ban cán sự đảng Ủy ban nhân dân thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Khoa học – Kỹ thuật thành phố, Đảng đoàn Liên hiệp các Hội Văn học – Nghệ thuật thành phố theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc, kiểm tra việc thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện cho Ban Thường vụ Thành ủy và giúp Ban Thường vụ Thành ủy tổ chức sơ kết vào các năm 2010, 2023 và tổng kết vào năm 20 20./.

Chương Trình Hành Động Số 43

Quán triệt quan điểm, đường lối đổi mới của Đảng và Nhà nước, hơn hai mươi năm qua, Đảng bộ và chính quyền thành phố đã đề ra nhiều chủ trương, giải pháp lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông nghiệp, nông dân, nông thôn theo đúng định hướng chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động trong chiến lược phát triển kinh tế – xã hội thành phố, bước đầu đạt một số kết quả thiết thực. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế dịch vụ – công nghiệp – nông nghiệp, tuy diện tích đất canh tác giảm nhưng lĩnh vực nông nghiệp tiếp tục tăng trưởng khá cao ( giai đoạn 1996 – 2000 tăng bình quân 1,14%/năm; giai đoạn 2001 – 2008 tăng 5,9%/năm), giá trị sản xuất nông nghiệp, doanh thu bình quân 1 hecta đất sản xuất tăng (31 triệu đồng năm 2000 lên 63 triệu đồng năm 2005, 120 triệu đồng năm 2007) và phát triển theo hướng nông nghiệp đô thị, nông nghiệp công nghệ cao, nông nghiệp sinh thái; việc chuyển giao khoa học – kỹ thuật, ứng dụng công nghệ sinh học vào sản xuất được chú trọng, gắn với đổi mới phương thức liên kết giữa nông dân với doanh nghiệp, cơ quan quản lý nhà nước và các nhà khoa học theo hướng liên kết sản xuất nông nghiệp – côngnghiệp – dịch vụ và phát triển các làng nghề với du lịch và xuất khẩu; có chính sách hỗ trợ các hợp tác xã, tổ hợp tác phát triển; tăng đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông thôn, đặc biệt tại các xã – phường nghèo, cho nông dân vay vốn ưu đãi để phát triển sản xuất, miễn giảm thu thủy lợi phí, quỹ phòng chống lụt bão cho nông dân nghèo,… qua đó, xóa đói giảm nghèo đạt kết quả rất đáng khích lệ, từng bước cải thiện diện mạo nông thôn và đời sống nông dân; hệ thống chính trị ở nông thôn được củng cố, tăng cường vai trò của Hội Nông dân và dân chủ cơ sở được phát huy, chính trị ổn định, an ninh trật tự an toàn xã hội được giữ vững, góp phần quan trọng vào việc thực hiện mục tiêu phát triển thành phố.

Tuy nhiên, những thành tựu đạt được trên lĩnh vực nông nghiệp, nông dân, nông thôn chưa tương xứng với vai trò, vị trí và tiềm năng của thành phố; nông nghiệp phát triển chưa bền vững, một số nơi chưa khai thác hết quỹ đất nông nghiệp hoặc đất đã chuyển mục đích sang xây dựng đô thị nhưng triển khai thực hiện rất chậm; tình trạng sản xuất nhỏ, phân tán còn phổ biến, sức cạnh tranh thấp; việc nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao khoa học – công nghệ còn hạn chế; công nghiệp, dịch vụ phục vụ nông nghiệp chưa đáp ứng yêu cầu chuyển dịch cơ cấu kinh tế; các hình thức tổ chức sản xuất nông nghiệp chậm đổi mới, chưa đủ sức phát triển sản xuất hàng hóa mạnh ở nông thôn; đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng phục vụ sản xuất và đời sống vẫn chưa đáp ứng yêu cầu; tình trạng triều cường, mưa lớn gây ngập úng kéo dài ở một số nơi; ô nhiễm môi trường gia tăng; đời sống của một bộ phận dân cư ở nông thôn còn khó khăn, không ổn định, khoảng cách chênh lệch mức sống giữa dân cư ngoại thành và nội thành còn lớn.

Nguyên nhân chủ yếu do việc triển khai thực hiện các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về nông nghiệp, nông dân, nông thôn có lúc, có nơi chưa được các cấp ủy, chính quyền nhận thức sâu sắc để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra đúng mức; việc quy hoạch sản xuất nông nghiệp còn chậm; chưa có những cơ chế, chính sách mang tính đột phá trong phát triển nông nghiệp và nông thôn.

Để quán triệt và thực hiện có hiệu quả quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp Nghị quyết số 26-NQ/TW của Ban chấp hành Trung ương khóa X về nông nghiệp, nông dân, nông thôn ; Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đề ra Chương trình hành động như sau :

I. MỤC TIÊU

– Đầu tư nâng cấp mạng lưới trường học đạt chuẩn quy định; phát triển hệ thống đào tạo nghề đáp ứng nhu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa lĩnh vực nông nghiệp; nâng cấp các thiết chế văn hóa cơ sở, nhất là các trung tâm, các tụ điểm sinh hoạt văn hóa, thể dục – thể thao; nâng cao trình độ giác ngộ và vị thế chính trị của giai cấp nông dân, tạo điều kiện để nông dân tham gia đóng góp và thụ hưởng những thành tựu đạt được trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố. Phấn đấu hoàn thành phổ cập giáo dục bậc trung học ở 5 huyện vào cuối năm 2008; đến năm 2010, có 10 bác sĩ/10.000 dân; đến năm 2023, hoàn thành mức chuẩn nghèo theo tiêu chí thu nhập bình quân dưới 12 triệu đồng/người/năm; 100% hộ dân có đủ nước sạch sinh hoạt. Hàng năm tỷ lệ lao động qua đào tạo nghề trên tổng số lao động đang làm việc đạt trên 65%; giải quyết việc làm cho 40.000 – 50.000 lao động nông thôn; mức thu nhập bình quân ở nông thôn đạt 4.500 USD/người/năm (bình quân thành phố đạt 6.000 USD/người/năm); có 40 – 50% hộ sản xuất nông nghiệpđạt danh hiệu Nông dân sản xuất – kinh doanh giỏi; 80% hộ nông dân đạt danh hiệu Gia đình văn hóa.

3. Mục tiêu đến năm 2010

Ưu tiên hàng đầu trong giai đoạn này là tăng đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn (giao thông, thủy lợi, điện, nước, trường học, trạm y tế, chợ,…), nhất là các vùng nông thôn còn nhiều khó khăn; tạo chuyển biến mạnh trong việc nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả sản xuất nông nghiệp và phát triển kinh tế nông nghiệp; đẩy mạnh ứng dụng và chuyển giao khoa học – công nghệ tiên tiến, khắc phục rõ rệt ô nhiễm môi trường, tạo tiền đề phát triển nhanh và bền vững nông nghiệp trong những năm tiếp theo; xây dựng và triển khai thực hiện chương trình xây dựng nông thôn mới, tập trung giải quyết các vấn đề xã hội bức xúc, giữ vững ổn định chính trị, cải thiện nâng cao đời sống dân cư nông thôn. Phấn đấu nâng tốc độ tăng trưởng giá trị gia tăng bình quân từ 5%/năm trở lên, giá trị sản xuất nông – lâm – ngư nghiệp trên 6%/năm; hoàn thành chương trình xóa đói giảm nghèo theo tiêu chí 6 triệu đồng/người/năm trước năm 2010; bảo đảm trên 95% hộ dân ở nông thôn sử dụng nước sạch, 100% hộ dân có nhà tiêu hợp vệ sinh, 80% hộ chăn nuôi xây dựng hầm biogas xử lý chất thải; tỷ lệ che phủ cây xanh trên 38%.

1. Xây dựng nền nông nghiệp đô thị theo hướng hiện đại và phát triển mạnh công nghiệp, dịch vụ ở nông thôn

a) Đẩy nhanh tiến độ quy hoạch sản xuất nông nghiệp phù hợp với quy hoạch chung của thành phố và trên cơ sở nhu cầu thị trường , gắn với việc sử dụng đất tiết kiệm, hiệu quả để phát triển nông nghiệp

b) Đẩy mạnh chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng công nghiệp hóa, hiện đại hóa

-Về trồng trọt : ứng dụng công nghệ sinh học trong việc chọn, lai tạo và s ản xuất kết hợp với nhập khẩu giống, chuyển giao công nghệ để sản xuất các loại giống cây trồng sạch , có năng suất, chất lượng cao ; đẩy nhanh tiến độ xây dựng Khu Nông nghiệp công nghệ cao, Trung tâm Công nghệ sinh học và các dự án sản xuất giống đi vào hoạt động trước năm 2010 , tạo đột phá phát triển ngành nông nghiệp công nghệ cao. – Về chăn nuôi : n âng cao hiệu quả công tác thú y, chủ động phòng chống dịch bệnh, xây dựng vùng an toàn dịch bệnh trên địa bàn; t ăng cường công tác quản lý, kiểm định giống , ứng dụng các phương pháp, công nghệ mới để đánh giá tiềm năng di truyền ; xây dựng các trại giống hạt nhân , nhập khẩu giống và công nghệ mới để chọn, lai tạo và nâng cao chất lượng ó cơ chế , chính sách hỗ trợ đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng (đường, điện hạ thế, nước sản xuất, xử lý chất thải , …) để phát triển các trang trại, cơ sở chăn nuôi tập trung theo phương pháp công nghiệp, an toàn sinh học .

– Về nuôi trồng thủy sản : quy hoạch, đầu tư xây dựng đồng bộ kết cấu hạ tầng vùng nuôi, trồng; ưu tiên đầu tư thủy lợi, kiểm soát nguồn nước; mở rộng việc ứng dụng quy trình luân canh và công nghệ sinh sản nhân tạo; tăng cường công tác thú y thủy sản, bảo đảm an toàn dịch bệnh, kiểm soát chặt chẽ chất lượng con giống, thức ăn. Nâng cao hiệu quả chương trình khai thác hải sản theo Chiến lược kinh tế biển, gắn nhiệm vụ phát triển kinh tế với bảo đảm quốc phòng – an ninh; cơ cấu lại lực lượng đánh bắt ven bờ; có chính sách hỗ trợ các hình thức liên kết, hợp tác đánh bắt với quy mô phù hợp, hỗ trợ chuyển đổi nghề, tạo việc làm, tăng thu nhập để cải thiện đời sống cho ngư dân; phát triển đồng bộ cơ sở hạ tầng, dịch vụ hậu cần nghề cá, Trung tâm Thủy sản thành phố, khu neo đậu tàu thuyền, hệ thống thông tin liên lạc, tìm kiếm cứu nạn; hiện đại hóa các cơ sở chế biến.

d iêm nghiệp : q uy hoạch ổn định vùng sản xuất muối , đầu tư, nâng cấp các ruộng muối theo hướng công nghiệp hóa , hiện đại hóa cơ sở hạ tầng phục vụ nghề muối ( hệ thống đê bao thủy lợi kết hợp giao thông, nạo vét kênh rạch tiêu thoát nước ruộng muối ,…) , giao thông nội đồng, kho dự trữ và bảo quản muối; khuyến khích sản xuất muối sạch theo phương pháp kết tinh trên ruộng trải bạt , có chính sách hỗ trợ giá muối để diêm dân ổn định cuộc sống.

– Triển khai t hực hiện đề án phát triển ngành cơ khí phục vụ nông nghiệp, nông thôn; nghiên cứu có chính sách hỗ trợ nông dân đầu tư máy móc thiết bị phục vụ sản xuất nông nghiệp.

– Đẩy mạnh x úc tiến thương mại và tiêu thụ nông sản , phát triển chuỗi các ngành hàng, liên kết giữa tổ chức sản xuất với các kênh tiêu thụ sản phẩm ; xây dựng và triển khai chương trình hỗ trợ xây dựng thương hiệu hàng hóa mỗi nhà nông một website; đ ầu tư xây dựng và đưa vào hoạt động Trung tâm giao dịch, triển lãm nông sản.

– K huyến khích phát triển các doanh nghiệp nhỏ và vừa phục vụ nông nghiệp, nông thôn; đa dạng hóa các hoạt động thương mại theo các hình thức hợp tác, liên kết, hiệp hội ngành hàng.

– Có chính sách hỗ trợ các thành phần kinh tế đầu tư ứng dụng khoa học – công nghệ , nhập khẩu công nghệ mới, chế biến nông sản, bao tiêu sản phẩm, sản xuất máy móc thiết bị phục vụ cơ giới hóa sản xuất nông nghiệp; nâng cao năng lực hệ thống khuyến nông, khuyến lâm, khuyến ngư, thú y, bảo vệ thực vật và các dịch vụ khác ở nông thôn; xây dựng các vùng sản xuất nông sản an toàn, công nghệ cao.

– Tăng cường đào tạo, bồi dưỡng kiến thức khoa học – kỹ thuật nông nghiệp tiên tiến, hiện đại cho nông dân; có chính sách thu hút thanh niên, trí thức trẻ về công tác, lao động tại nông thôn, nhất là các ngành nông nghiệp, giáo dục, y tế .

Tập trung xây dựng kết cấu hạ tầng nông thôn gắn với phát triển các đô thị vệ tinh, thị trấn

– Lập và triển khai q uy hoạch không gian , kiến trúc để xây dựng diện mạo mới cho nông thôn ; trong đó, chú trọng quy hoạch nhà ở nông thôn với kết cấu phù hợp, chống chịu thiên tai, bão, lũ , sạt lở và quy hoạch phát triển mô hình làng đô thị sinh thái gắn với du lịch.

– Tăng đầu tư ngân sách cho nông nghiệp, nông thôn từ nay đến năm 2023 theo hướng 5 năm sau cao gấp 2 lần 5 năm trước. Trước mắt, trong năm 2009, tăng vốn đầu tư cho ngoại thành gấp 2 lần so với năm 2008 và nâng mức vốn phân cấp cho các huyện gấp 3 lần hiện nay.

a) Có chính sách khuyến khích doanh nghiệp, hợp tác xã, tổ hợp tác và hộ nông dân liên kết, mở rộng quy mô sản xuất các ngành nông nghiệp hiệu quả cao; b ổ sung , hoàn chỉnh cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu sản xuất nông nghiệp và chính sách bồi thường, hỗ trợ , tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất.

b) Rà soát, điều chỉnh cơ cấu đầu tư , tăng nguồn vốn đầu tư từ ngân sách để phát triển khu vực nông nghiệp, nông thôn từ năm 2009 và những năm tiếp theo .

e) Nâng cao chất lượng cuộc vận động “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa ” , xây dựng các hương ước, phát huy truyền thống tốt đẹp, tương thân , tương ái, tình làng nghĩa xóm, bài trừ các hủ tục, thực hiện nếp sống văn hóa ở nông thôn .

g) Đẩ y mạnh đ ấu tranh phòng chống tội phạm và tệ nạn xã hội , giữ vững an ninh, trật tự an toàn xã hội, giải quyết kịp thời các vụ việc khiếu kiện của nhân dân, không để phát sinh các điểm nóng ở nông thôn.

Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, quản lý của Nhà nước, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị – xã hội ở nông thôn, nhất là hội nông dân

– Tiếp tục đẩy mạnh chương trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông thôn, chương trình giống cây , giống con chất lượng cao để đáp ứng yêu cầu công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn; phòng, chống có hiệu quả các loại dịch hại cây trồng, vật nuôi; bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm ; t ập trung thực hiện đề án c hiến lược phát triển chăn nuôi tạo nguồn thực phẩm bình ổn giá.

– Bổ sung, hoàn thiện các cơ chế, chính sách hỗ trợ chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp và chính sách bồi thường, hỗ trợ , tái định cư , dạy nghề, chuyển đổi nghề khi Nhà nước thu hồi đất.

– Bảo đảm tiến độ, hiệu quả thực hiện các chương trình mục tiêu quốc gia trên địa bàn, nhất là chương trình giảm nghèo, dạy nghề, giải quyết việc làm, nước sạch, vệ sinh môi trường, vệ sinh an toàn thực phẩm, dân số – kế hoạch hóa gia đình, phòng, chống bệnh dịch nguy hiểm; đẩy mạnh xã hội hóa việc đầu tư xây dựng các điểm sinh hoạt văn hóa, góp phần cải thiện đời sống vật chất và văn hóa cho cư dân nông thôn.

– Tổ chức thực hiện có hiệu quả chương trình hành động của Thành ủy thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 khóa X về nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; củng cố bộ máy quản lý Nhà nước về nông nghiệp ở các huyện.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các cấp ủy, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể nhân dân tổ chức quán triệt, nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò của nông nghiệp, nông dân và nông thôn trong quá trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa thành phố và xây dựng kế hoạch thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy phù hợp với yêu cầu nhiệm vụ và tình hình thực tiễn của từng địa phương, đơn vị; định kỳ hàng năm sơ kết rút kinh nghiệm, bổ sung kế hoạch thực hiện trong thời gian tới.

2. Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố có kế hoạch cụ thể hóa Chương trình hành động của Thành ủy và có lộ trình triển khai thực hiện, với sự đầu tư mạnh mẽ để phát triển nông nghiệp, nông thôn tương xứng với khả năng thành phố, gắn với việc thực hiện chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội của thành phố; chỉ đạo các sở – ngành, quận – huyện xây dựng kế hoạch thực hiện và thường xuyên kiểm tra việc triển khai thực hiện của các cấp, các ngành; định kỳ hàng năm báo cáo kết quả thực hiện cho Thành ủy.

3. Ban Tuyên giáo Thành ủy chỉ đạo các cơ quan báo chí quán triệt các quan điểm, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp của Nghị quyết Trung ương và Chương trình hành động của Thành ủy trong nội dung hoạt động của từng cơ quan báo chí; tăng các chuyên mục thông tin, tuyên truyền nhằm tạo sự thống nhất nhận thức trong cán bộ, đảng viên và nhân dân về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, để tích cực tham gia thực hiện có hiệu quả nhiệm vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, góp phần thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển thành phố./.

Chương Trình Hành Động Số 39

Đội ngũ cán bộ, đảng viên đã có bước chuyển biến tích cực, tăng thêm về số lượng và chất lượng; trình độ, kiến thức về các mặt được nâng lên. Phần lớn đảng viên được rèn luyện, thử thách và trưởng thành qua thực tiễn công tác; kiên định lập trường giai cấp công nhân, trung thành với chủ nghĩa Mác-Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, thể hiện rõ bản lĩnh chính trị vững vàng trước những diễn biến phức tạp của tình hình trong nước và thế giới; tin tưởng và quyết tâm thực hiện đường lối đổi mới của Đảng; gương mẫu và tuyên truyền vận động nhân dân thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; có tinh thần trách nhiệm, khắc phục khó khăn, hoàn thành nhiệm vụ được giao, được nhân dân tin cậy. Công tác kết nạp đảng viên được cấp ủy các cấp quan tâm chỉ đạo chặt chẽ từ khâu tạo nguồn, bồi dưỡng đến giao việc, thử thách. Tỷ lệ đảng viên là đoàn viên thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh, là nữ, công nhân, giáo viên, sinh viên, người Hoa, người có đạo… được kết nạp tăng dần qua các năm, góp phần cải thiện cơ cấu đội ngũ đảng viên.

Có được những tiến bộ trên là do Thành ủy, Ban Thường vụ Thành ủy và nhiều cấp ủy đã quan tâm đầu tư cho hệ thống chính trị ở cơ sở, có nhiều chủ trương, giải pháp tập trung chỉ đạo xây dựng tổ chức cơ sở đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; vận dụng sáng tạo các nghị quyết, chỉ thị của Đảng và chính sách, chế độ của Nhà nước, tạo điều kiện thuận lợi để xây dựng và phát triển cơ sở. Nhiều quận ủy, huyện ủy và đảng ủy cấp trên cơ sở đã quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra việc xây dựng tổ chức cơ sở đảng trong sạch vững mạnh, củng cố cơ sở đảng yếu kém, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên. Các cấp ủy cơ sở nhận thức đầy đủ hơn về vai trò, chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng và chăm lo công tác xây dựng đảng. Đa số cán bộ, đảng viên đã được rèn luyện, thử thách qua thực tiễn, thể hiện vai trò tiên phong, gương mẫu, giữ gìn tư cách đảng viên.

Tuy nhiên, năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên vẫn còn yếu kém, khuyết điểm. Không ít tổ chức cơ sở đảng chưa nhận thức và thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng; công tác giáo dục chính trị tư tưởng, đạo đức, lối sống cho cán bộ, đảng viên ở cơ sở chưa đúng mức; năng lực lãnh đạo, khả năng nhận thức, vận dụng, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước và của cấp ủy cấp trên còn hạn chế, chưa đủ sức phát hiện, giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở, nhất là những vấn đề nhạy cảm, thiết thân đến đời sống nhân dân, như quyền lợi của người lao động, tranh chấp đất đai, bồi thường, tái định cư khi giải phóng mặt bằng. Nhiều cấp ủy, đảng bộ, chi bộ chưa thực hiện nghiêm túc chế độ sinh hoạt Đảng; nội dung sinh hoạt Đảng chậm được đổi mới, còn nghèo nàn, trùng lắp với nội dung của chuyên môn, đảng viên ít phát biểu ý kiến hoặc ý kiến không đi sâu vào những vấn đề thiết thân của cơ sở để đề xuất, hiến kế giải quyết và tham gia giải quyết; chưa coi trọng đổi mới phương thức lãnh đạo và phong cách làm việc; bệnh thành tích còn nặng và khá phổ biến; đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên chưa đúng thực chất. Công tác kết nạp đảng viên tuy có tăng hơn trong những năm gần đây, nhưng chưa tương xứng với tiềm năng và thế mạnh của một thành phố là trung tâm kinh tế của cả nước, trong đó tỷ lệ đảng viên là công nhân, trí thức, giáo viên, sinh viên,… được kết nạp vẫn còn thấp. Lãnh đạo một số đơn vị chưa nhận thức đầy đủ về công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng cán bộ nên có khó khăn khi bố trí cán bộ thay thế; công tác đào tạo, bồi dưỡng cán bộ chưa theo quy hoạch.

Những yếu kém, khuyết điểm nêu trên do nhiều nguyên nhân, trong đó chủ yếu là do còn nhiều cấp ủy chưa thật sự coi trọng vị trí then chốt của công tác xây dựng Đảng; chưa dành thời gian, công sức để tập trung chỉ đạo xây dựng, củng cố tổ chức cơ sở đảng; chưa quán triệt và nắm chắc chức năng, nhiệm vụ của tổ chức cơ sở đảng. Sự lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát của cấp ủy cấp trên đối với tổ chức cơ sở đảng chưa thường xuyên, có nơi còn buông lỏng; việc phổ biến, quán triệt đường lối, chủ trương, chính sách, quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước còn chưa sâu, chưa kỹ, tính thuyết phục chưa cao. Công tác bồi dưỡng về kỹ năng, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng chậm được đổi mới. Việc cập nhật những kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên chưa được quan tâm thường xuyên. Chế độ, chính sách đối với cán bộ cơ sở còn nhiều bất hợp lý.

II. MỤC TIÊU, NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP

Để khắc phục những tồn tại, hạn chế nêu trên và thực hiện tốt Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 02 tháng 02 năm 2008 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về “Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng và chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên”; Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố đề ra Chương trình hành động như sau :

1. Mục tiêu trong 5 năm tới (2008 – 2013)

– Tập trung xây dựng, củng cố, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo sự chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng, nhất là tổ chức cơ sở đảng ở phường, xã, thị trấn, doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, doanh nghiệp tư nhân, đơn vị sự nghiệp ngoài công lập, các trường học. Xây dựng tổ chức cơ sở đảng thực sự trong sạch vững mạnh, làm cầu nối giữa Đảng với nhân dân, lãnh đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị và kịp thời giải quyết các vấn đề phức tạp xảy ra ở cơ sở.

2. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu 2.1 Tăng cường công tác giáo dục chính trị tư tưởng, xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên có bản lĩnh chính trị vững vàng, có trí tuệ, phẩm chất đạo đức cách mạng, có ý thức tổ chức kỷ luật, thực sự tiên phong gương mẫu, đủ năng lực hoàn thành nhiệm vụ được giao.

Đảng ủy cấp trên cơ sở và cấp ủy cơ sở phải quan tâm làm tốt công tác chính trị tư tưởng, chủ động dự báo tình hình để kịp thời trang bị những thông tin có định hướng của Đảng cho cán bộ, đảng viên; chú ý bồi dưỡng cho cán bộ, đảng viên năng lực lãnh đạo, chỉ đạo giải quyết những tình huống xảy ra ở cơ sở. Chủ động khắc phục những biểu hiện phai nhạt lý tưởng; chống giảm sút niềm tin đối với chủ nghĩa xã hội, chủ trương, nghị quyết và sự lãnh đạo của Đảng; kiên quyết đấu tranh với những luận điệu tuyên truyền xuyên tạc, phản động, góp phần làm thất bại mọi âm mưu “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch. Xây dựng đoàn kết thống nhất trong cấp ủy, đảng bộ, chi bộ. Cấp ủy cơ sở phải nắm chắc tình hình tư tưởng, phát hiện kịp thời những cán bộ, đảng viên vi phạm đạo đức, lối sống; có biện pháp cụ thể để phòng ngừa, giáo dục, giúp đỡ và xử lý nghiêm đối với những cán bộ, đảng viên sai phạm.

Quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở, đảng ủy cơ sở thống kê trình độ chính trị, học vấn của đảng viên là cán bộ đương chức để có kế hoạch bồi dưỡng thích hợp. Các cấp ủy tăng cường giáo dục truyền thống, bồi dưỡng tình cảm cách mạng cho cán bộ, đảng viên trẻ bằng các hình thức thích hợp.

Trong sinh hoạt chi bộ định kỳ cần có nội dung kiểm điểm đánh giá tình hình tư tưởng của đảng viên, dư luận nhân dân trong địa phương, cơ quan, đơn vị; chủ động giải quyết những vấn đề thuộc chức năng, nhiệm vụ của cơ sở hoặc phản ánh chính xác, trung thực đến cấp trên xem xét giải quyết, đề ra nhiệm vụ công tác tư tưởng cho thời gian tới; chủ động thông tin cho cán bộ, đảng viên về tình hình của thành phố, trong nước và trên thế giới, góp phần củng cố quan điểm lập trường, lòng tin của cán bộ, đảng viên đối với Đảng; tổ chức sinh hoạt chuyên đề về công tác chính trị tư tưởng trong chi bộ, nêu cao ý thức kỷ luật trong phát ngôn của đảng viên. Các cấp ủy phải quan tâm củng cố bộ máy làm công tác tư tưởng ở địa phương, cơ quan, đơn vị.

Tích cực thực hiện Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”. Trong sinh hoạt chi bộ phải có nội dung kiểm tra, đánh giá việc thực hiện của đảng viên và định kỳ có tổ chức sơ kết; hàng năm trong phân tích chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên phải gắn với kết quả thực hiện Cuộc vận động.

2.2 Hoàn thiện mô hình tổ chức của các loại hình cơ sở đảng theo hướng gắn tổ chức cơ sở đảng với lãnh đạo thực hiện nhiệm vụ chính trị và lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội; chăm lo kết nạp đảng viên, nhất là ở những địa bàn, đơn vị chưa có tổ chức đảng, có ít hoặc chưa có đảng viên.

Đối với khu vực phường, xã, thị trấn, tiến hành sắp xếp mô hình tổ chức của đảng bộ, chi bộ, chính quyền và các tổ chức chính trị – xã hội trên địa bàn dân cư theo hướng: dưới đảng bộ phường, xã, thị trấn nói chung là chi bộ khu phố, ấp. Những khu phố, ấp có đông đảng viên thì thành lập đảng bộ bộ phận, có các chi bộ trực thuộc. Nghiên cứu sắp xếp tổ chức đảng theo tổ hoặc liên tổ dân phố theo tinh thần của Nghị quyết 22-NQ/TW.

Đối với các khu chế xuất – khu công nghiệp, sơ kết, rút kinh nghiệm việc thành lập các đảng bộ cơ sở, các chi bộ ở doanh nghiệp ngoài quốc doanh để tiến tới thành lập đảng bộ cơ sở ở từng khu chế xuất, khu công nghiệp trực thuộc Đảng ủy các khu chế xuất – khu công nghiệp thành phố.

Đối với doanh nghiệp tư nhân, doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài có từ 300 lao động trở lên và có đông đảng viên thì thành lập tổ chức cơ sở đảng trực thuộc quận ủy, huyện ủy; những doanh nghiệp có từ 100 đến dưới 300 lao động và có đủ đảng viên thì thành lập chi bộ trực thuộc đảng ủy cơ sở khối doanh nghiệp ngoài quốc doanh quận, huyện; những doanh nghiệp có dưới 100 lao động và có đủ đảng viên thì thành lập chi bộ trực thuộc đảng ủy phường, xã, thị trấn. Ban Thường vụ quận ủy, huyện ủy căn cứ vào đặc điểm, tính chất, số lượng đảng viên của từng doanh nghiệp mà quyết định sự phân cấp.

Đối với doanh nghiệp cổ phần có vốn nhà nước, các cấp ủy cần tập trung làm tốt công tác quy hoạch, đào tạo cán bộ; chọn cử những cán bộ, đảng viên có phẩm chất, năng lực và có đủ điều kiện đại diện phần vốn của Nhà nước để tham gia cấp ủy và hội đồng quản trị của công ty.

Xây dựng các biện pháp củng cố, kiện toàn tổ chức đảng ở các tổng công ty hoạt động theo mô hình công ty mẹ – công ty con để tăng cường vai trò lãnh đạo của cấp ủy, bảo đảm sự lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện tốt nhiệm vụ chính trị, công tác cán bộ và xây dựng, lãnh đạo các tổ chức chính trị – xã hội trong tổng công ty.

Đối với các loại hình tổ chức đảng lực lượng võ trang, đơn vị sự nghiệp, cơ quan hành chính…, các cấp ủy tiếp tục rà soát về chức năng, nhiệm vụ theo quy định của Ban Bí thư Trung ương để xây dựng hoặc bổ sung quy chế hoạt động cho phù hợp. Ở các trường đại học cần nghiên cứu, thí điểm xây dựng các chi bộ sinh viên phù hợp với phương thức tổ chức đào tạo và điều kiện học tập của sinh viên.

Những địa phương có trường học và doanh nghiệp đông lao động nhưng chưa có tổ chức đảng, chưa có đảng viên hoặc có đảng viên nhưng chưa đủ để thành lập tổ chức đảng thì cấp ủy cấp trên trực tiếp phân công cấp ủy viên và đảng viên là cán bộ lãnh đạo các ban, ngành, đoàn thể phụ trách từng đơn vị để chỉ đạo công tác kết nạp đảng viên, xây dựng tổ chức đảng và các tổ chức chính trị – xã hội; cấp ủy cấp trên cơ sở giao nhiệm vụ cụ thể cho các chi bộ phân công đảng viên thực hiện việc bồi dưỡng, giáo dục quần chúng phấn đấu vào Đảng hoặc luân chuyển cán bộ, đảng viên có năng lực, có uy tín từ nơi khác đến để thành lập chi bộ và thực hiện nhiệm vụ giáo dục, bồi dưỡng quần chúng, tạo nguồn kết nạp đảng viên; củng cố Ban chỉ đạo và tổ công tác xây dựng Đảng, đoàn thể doanh nghiệp ngoài quốc doanh, tăng thêm kinh phí hỗ trợ hoạt động cho các tổ chức đảng và kinh phí xác minh lý lịch kết nạp Đảng.

Các cấp ủy cơ sở và cấp trên trực tiếp cơ sở tiến hành rà soát những đảng viên đã làm việc ổn định, lâu dài (từ 1 năm trở lên) trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, các trường học, bệnh viện ngoài công lập nhưng vẫn đang sinh hoạt đảng ở nơi cư trú phải chuyển sinh hoạt đảng về tổ chức đảng nơi đang làm việc (nếu nơi đó có tổ chức đảng) hoặc chuyển về chi bộ xây dựng đảng ngoài quốc doanh của quận, huyện hoặc xã, phường, thị trấn (tùy theo quy mô lao động), tạo điều kiện thuận lợi nhất để đảng viên tham gia sinh hoạt đảng, thực hiện nhiệm vụ đảng viên và góp phần xây dựng tổ chức cơ sở đảng nơi làm việc (thực hiện xong vào cuối tháng 10 năm 2008).

2.3 Đẩy mạnh thực hiện chủ trương trẻ hóa, tiêu chuẩn hóa, thể chế hóa và từng bước nhất thể hóa chức danh cán bộ; tạo bước chuyển có tính đột phá về xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức cơ sở.

Thực hiện chặt chẽ việc tuyển dụng cán bộ, công chức phường, xã, thị trấn theo đúng tiêu chuẩn, quy định của thành phố; đánh giá, phân loại đội ngũ công chức hiện có để có kế hoạch bồi dưỡng chuẩn hóa hoặc giải quyết chính sách.

Có kế hoạch hướng dẫn và kiểm tra các quận ủy, huyện ủy định kỳ rà soát, bổ sung quy hoạch các chức danh chủ chốt ở cơ sở theo Nghị quyết số 42-NQ/TW của Bộ Chính trị; qua đó có giải pháp tăng cường đào tạo, luân chuyển, đề bạt cán bộ theo quy hoạch.

Đổi mới nội dung, hình thức đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức ở phường, xã, thị trấn theo từng chức danh, trong đó chú trọng bồi dưỡng kiến thức, nghiệp vụ, kỹ năng giải quyết các tình huống cụ thể ở cơ sở.

Xây dựng chính sách giải quyết “đầu ra” đối với những cán bộ công tác ở phường, xã, thị trấn chưa được chuẩn hóa, hạn chế về năng lực, nhưng chưa đủ tuổi, đủ năm công tác để nghỉ theo chế độ.

Nghiên cứu việc thực hiện phụ cấp công tác cho tất cả cán bộ, công chức công tác tại phường, xã, thị trấn; tiếp tục thực hiện tốt chế độ tiền lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với cán bộ, công chức phường, xã, thị trấn; thực hiện chế độ phụ cấp trách nhiệm đối với các cấp ủy viên phường, xã, thị trấn theo quy định của Trung ương.

Sơ kết việc thực hiện khoán biên chế và kinh phí hành chính ở phường, xã, thị trấn nhằm phát huy mặt tích cực và hạn chế mặt tiêu cực của cơ chế khoán; đảm bảo lực lượng công chức làm việc chiếm tỷ lệ ít nhất 85% so với tổng số biên chế cho phép.

Sơ kết việc thực hiện Quyết định số 140/2005/QĐ-UBND ngày 5 tháng 8 năm 2005 của Ủy ban nhân dân thành phố về chế độ, chính sách khuyến khích người có trình độ đại học công tác ở phường, xã, thị trấn. Nghiên cứu bổ sung chính sách hỗ trợ nhằm thu hút cán bộ trẻ tốt nghiệp đại học chính quy, có trình độ, năng lực và phẩm chất về công tác ở phường, xã, thị trấn.

Cho phép mỗi quận – huyện có biên chế dự phòng 15% so với biên chế chính thức để thực hiện việc đào tạo, bồi dưỡng, luân chuyển, tăng cường cán bộ trẻ về cơ sở.

Thống nhất thực hiện chủ trương thủ trưởng hoặc phó thủ trưởng trực tiếp làm bí thư đảng ủy cơ sở, bí thư chi bộ ở cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp. Đối với doanh nghiệp nhà nước có hội đồng quản trị thì chủ tịch hội đồng quản trị đồng thời làm bí thư cấp ủy; doanh nghiệp không có hội đồng quản trị thì tổng giám đốc (hoặc giám đốc) đồng thời làm bí thư cấp ủy. Thủ trưởng đơn vị cơ sở thuộc Công an nhân dân đồng thời làm bí thư cấp ủy, đồng chí cấp phó làm phó bí thư và phụ trách xây dựng lực lượng. Những nơi hiện nay bí thư cơ sở là trưởng, phó phòng, bộ phận thuộc doanh nghiệp, cơ quan, đơn vị thì đảng ủy cấp trên cơ sở cần chuẩn bị nhân sự để thực hiện đúng theo cơ cấu khi đại hội nhiệm kỳ mới (nếu có điều kiện thuận lợi thì thực hiện điều chỉnh ngay). Mỗi quận, huyện chọn 1 đến 2 phường hoặc xã để thực hiện thí điểm việc bí thư đảng ủy đồng thời là chủ tịch ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn, sau đó rút kinh nghiệm trước khi triển khai diện rộng.

2.4. Nâng cao chất lượng, đổi mới mạnh mẽ nội dung, phương thức hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng theo hướng vừa mở rộng dân chủ, vừa tăng cường kỷ cương, kỷ luật; khắc phục tính hình thức, đơn điệu trong sinh hoạt, bảo đảm tính lãnh đạo, tính giáo dục, tính chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng.

Tập trung củng cố, xây dựng tổ chức cơ sở đảng vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của cấp ủy, chi bộ, nhất là trong việc chuẩn bị nghị quyết và chương trình hội nghị; đảm bảo nội dung sinh hoạt đảng được súc tích, đạt hiệu quả cao. Xây dựng quy chế làm việc của cấp ủy, chi bộ; thường xuyên kiểm tra việc thực hiện quy chế để uốn nắn, điều chỉnh kịp thời cho phù hợp với điều kiện thực tế của địa phương, đơn vị và quy định của cấp trên; xây dựng chương trình , kế hoạch cụ thể trong từng thời gian nhằm thực hiện tốt nghị quyết đại hội đảng bộ cơ sở và chi bộ đề ra.

Định kỳ 6 tháng một lần, cấp ủy cấp trên trực tiếp của tổ chức cơ sở đảng kiểm tra việc thực hiện nền nếp, nội dung, chất lượng sinh hoạt của các chi bộ và thông báo kết quả kiểm tra trong toàn đảng bộ. Đảng viên là cán bộ lãnh đạo, quản lý phải thực sự gương mẫu trong sinh hoạt chi bộ; phải chăm lo công tác xây dựng Đảng nơi mình đang sinh hoạt và phải chịu trách nhiệm khi tổ chức cơ sở đảng nơi mình sinh hoạt yếu kém.

Các chi bộ cần thực hiện tốt việc phân công đảng viên làm công tác vận động nhân dân theo tinh thần Quy định số 1043-QĐ/TU của Ban Thường vụ Thành ủy. Kết quả thực hiện công tác vận động nhân dân là cơ sở để đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên. Tăng cường giáo dục, bồi dưỡng đảng viên để giúp đảng viên nâng cao bản lĩnh chính trị, rèn luyện phẩm chất đạo đức, lối sống, nắm vững nội dung và thực hiện tốt nhiệm vụ đảng viên; quan tâm tổ chức, kiểm tra, tạo điều kiện cho đảng viên học tập nâng cao nhận thức gắn với Cuộc vận động “Học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh”, trọng tâm là làm theo tấm gương đạo đức của Bác Hồ.

Đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên mới, quan tâm giáo dục lý tưởng cách mạng, bồi dưỡng phẩm chất đạo đức, tình cảm cách mạng, gắn với giao việc thử thách để đánh giá đúng động cơ và năng lực hoàn thành nhiệm vụ của quần chúng phấn đấu vào Đảng trước khi chi bộ xem xét, quyết định kết nạp. Chú ý kết nạp đảng viên mới trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh, đơn vị sự nghiệp, xóa dần số cơ sở chưa có chi bộ, có ít hoặc chưa có đảng viên. Tăng tỷ lệ đảng viên là công nhân, trí thức trẻ, đảng viên nữ. Gắn công tác kết nạp đảng viên với công tác quy hoạch và đào tạo cán bộ cho yêu cầu trước mắt và lâu dài.

2.5 Tăng cường công tác lãnh đạo, chỉ đạo, kiểm tra, giám sát; dựa vào dân để xây dựng Đảng.

Các quận ủy, huyện ủy và đảng ủy cấp trên cơ sở phải nắm chắc tình hình cơ sở, phân công cấp ủy viên trực tiếp phụ trách cơ sở, kịp thời tháo gỡ khó khăn, giải quyết các vấn đề xảy ra ở cơ sở. Các văn bản chỉ đạo và hướng dẫn của cấp ủy cấp trên phải có nội dung ngắn gọn, dễ hiểu, dễ nhớ và dễ quy trách nhiệm. Cán bộ lãnh đạo, quản lý và cấp ủy viên cấp trên của tổ chức cơ sở đảng phải bố trí thời gian để gặp gỡ đảng viên và nhân dân tại cơ sở; giải quyết kịp thời những kiến nghị của đảng viên và nhân dân; bảo vệ những cán bộ tốt, trung thực, thẳng thắn đấu tranh chống tiêu cực.

Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Hội nghị lần thứ 5 Ban chấp hành Trung ương khóa X và Chương trình hành động số 25-CTr/TU của Thành ủy về tăng cường công tác kiểm tra, giám sát của Đảng; Quy định số 94-QĐ/TW ngày 15 tháng 10 năm 2007 về xử lý đảng viên vi phạm; Quy định số 115-QĐ/TW ngày 07 tháng 12 năm 2007 của Bộ Chính trị về những điều đảng viên không được làm; Quyết định số 58-QĐ/TWcủa Bộ Chính trị ban hành quy chế về chế độ kiểm tra, giám sát công tác cán bộ; các hướng dẫn của Ủy ban Kiểm tra Trung ương về công tác giám sát của cấp ủy, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ. Cấp ủy cơ sở phải giám sát đảng viên về các mặt, kể cả đảng viên là cán bộ do cấp ủy cấp trên quản lý. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội trong việc vận động nhân dân tham gia xây dựng Đảng, chính quyền, làm tốt việc giám sát cán bộ, đảng viên ở địa bàn dân cư; tổ chức tốt việc kiểm điểm công tác, lấy phiếu tín nhiệm hằng năm đối với các chức danh Chủ tịch, Phó Chủ tịch hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn.

Hàng năm, các tổ chức cơ sở đảng phải đăng ký phấn đấu thực hiện các nhiệm vụ với cấp ủy cấp trên, trong đó có nội dung cam kết không có cán bộ, đảng viên tham nhũng, tiêu cực, lãng phí và kiên quyết đấu tranh chống tham nhũng, tiêu cực, lãng phí. Cuối năm cấp ủy cấp trên căn cứ vào nội dung đăng ký phấn đấu để kiểm tra, đánh giá chất lượng tổ chức cơ sở đảng và đảng viên.

III. TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1.Ban Tuyên giáo Thành ủy tham mưu giúp Ban Thường vụ Thành ủy xây dựng kế hoạch và tổ chức quán triệt Nghị quyết Trung ương 6 khóa X và Chương trình hành động của Thành ủy đến các quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở và cơ sở trực thuộc, hoàn tất trong tháng 8 năm 2008; hướng dẫn các cấp ủy có kế hoạch triển khai, quán triệt đến cấp ủy cơ sở và đảng viên trước ngày 20 tháng 7 năm 2008 và tiếp tục theo dõi, đánh giá việc tổ chức thực hiện các quận, huyện, đảng ủy cấp trên cơ sở và cơ sở.

2. Các quận ủy, huyện ủy, đảng ủy cấp trên cơ sở tổ chức đánh giá tình hình tổ chức cơ sở đảng và đảng viên, đồng thời xây dựng kế hoạch hoặc chương trình hành động cụ thể để thực hiện phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương, cơ quan, đơn vị; ban hành chậm nhất giữa tháng 8 năm 2008 và tổ chức thực hiện.

3. Đảng đoàn Hội đồng nhân dân thành phố căn cứ Chương trình hành động của Thành ủy thể chế hóa thành Nghị quyết của Hội đồng nhân dân thành phố tại các kỳ họp phù hợp, để thực hiện.

4. Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố căn cứ vào các quy định của Chính phủ về chính sách, chế độ, tiêu chuẩn cán bộ, công chức và tổ chức bộ máy ở phường, xã, thị trấn để tham mưu, đề xuất cho Ban Thường vụ Thành ủy vận dụng phù hợp với đặc điểm tình hình của thành phố trong quý III năm 2008 và tiếp tục xem xét, hoàn thiện cho sát hợp với sự vận động, phát triển của cơ sở.

6. Ban Dân vận Thành ủy, Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội thành phố theo chức năng, nhiệm vụ có kế hoạch hướng dẫn cấp dưới thực hiện việc tham gia xây dựng Đảng, giám sát cán bộ, đảng viên; ban hành trong quý III năm 2008 và tiếp tục theo dõi việc thực hiện để sơ kết, bổ sung, hoàn thiện.

7. Ban Tổ chức Thành ủy chủ trì, phối hợp với các ban Thành ủy hướng dẫn cụ thể những nội dung về xây dựng Đảng và công tác cán bộ theo Chương trình hành động của Thành ủy, ban hành trong quý III năm 2008; nghiên cứu đề xuất kế hoạch thí điểm bí thư đảng ủy kiêm chủ tịch ủy ban nhân dân phường, xã, thị trấn và chế độ phụ cấp cho các đồng chí kiêm nhiệm bí thư, phó bí thư đảng bộ cơ sở, chi bộ đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp và doanh nghiệp, hoàn tất trong tháng 10 năm 2008; theo dõi, đôn đốc và phối hợp với Ủy ban Kiểm tra Thành ủy lập kế hoạch tiến hành kiểm tra việc thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy; định kỳ 6 tháng, năm báo cáo Ban Thường vụ Thành ủy; tổ chức sơ kết vào năm 2010 và tổng kết vào năm 2013.

Chương Trình Hành Động Số 08

Trang chủ ” Thông tin – Tuyên truyền ” Chỉ đạo – Hướng dẫn – Nghiệp vụ

Thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng (sau đây viết tắt là Nghị quyết Đại hội XII của Đảng); căn cứ tình hình thực tế của tỉnh, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, như sau:

1- Tạo sự thống nhất cao về nhận thức và hành động của các cấp ủy đảng, chính quyền, các ngành đoàn thể và cán bộ, đảng viên, nhân dân trong việc quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

2- Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh; tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền và nhân dân; phát huy mọi nguồn lực và sức mạnh tổng hợp của toàn dân; chú trọng phát triển văn hoá – xã hội; giữ vững quốc phòng, an ninh; tăng cường công tác phòng, chống tham nhũng, lãng phí; đảm bảo an sinh xã hội, nâng cao đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để Hưng Yên sớm trở thành tỉnh công nghiệp.

3- Tập trung thực hiện ba khâu đột phá, đó là: (1) Tập trung thu hút đầu tư, phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp có giá trị gia tăng cao, hiện đại. (2) Huy động các nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội và đô thị, nhất là xây dựng giao thông. (3) Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, thực hiện công tác đào tạo, đánh giá, sử dụng cán bộ thông qua việc đẩy mạnh luân chuyển cán bộ giữa các cấp và luân chuyển ở các ngành trong cùng cấp.

II- NHIỆM VỤ VÀ GIẢI PHÁP CHỦ YẾU

Cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền, Mặt trận Tổ quốc và đoàn thể các cấp, các ngành, các cơ quan, đơn vị tổ chức tốt việc tuyên truyền, quán triệt, học tập, nghiên cứu Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và nghị quyết đại hội đảng bộ các cấp, nhằm tạo sự đồng thuận, thống nhất cao trong nhận thức, tư tưởng của cán bộ, đảng viên và nhân dân về đường lối, quan điểm, chủ trương, mục tiêu, nhiệm vụ của Đảng; tập trung thực hiện tốt những nội dung, nhiệm vụ cơ bản, chủ yếu sau:

1- Đẩy mạnh phát triển kinh tế

– Đẩy mạnh việc thực hiện các biện pháp nhằm ổn định để phát triển kinh tế, duy trì tốc độ tăng trưởng cao và bền vững. Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Thực hiện tốt nhiệm vụ thu ngân sách, tiết kiệm chi thường xuyên, tập trung đầu tư cho các công trình quan trọng, cấp bách của tỉnh. Tăng cường quản lý thị trường, đáp ứng các mặt hàng thiết yếu cho sản xuất và đời sống… Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển công nghiệp, tiểu thủ công nghiệp giai đoạn 2023 – 2023, định hướng đến năm 2025. Phấn đấu tăng trưởng bình quân năm: GRDP tăng từ 7,5 – 8%; GDP bình quân đầu người đạt 75 triệu đồng, tổng thu ngân sách trên địa bàn đạt trên 13.000 tỷ đồng đến năm 2023.

– Tập trung thu hút đầu tư, phát huy hiệu quả các khu, cụm công nghiệp tạo nền tảng cho công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Trong đó, tập trung thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các giải pháp, cải thiện môi trường đầu tư; có cơ chế, chính sách tạo vốn đầu tư hạ tầng, phát triển các khu, cụm công nghiệp, đặc biệt ưu tiên phát triển các khu, cụm công nghiệp lớn để thu hút các dự án công nghiệp công nghệ cao, tiên tiến, hiện đại, công nghiệp sạch; đẩy nhanh tiến độ xây dựng, hoàn thiện đồng bộ và có chất lượng hạ tầng các khu công nghiệp… Thực hiện triển khai có hiệu quả Đề án cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư, nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh giai đoạn 2023 – 2023. Phấn đấu đến năm 2023: Có 2 – 3 khu công nghiệp mới và 10 cụm công nghiệp được đầu tư xây dựng hạ tầng đi vào hoạt động; tổng số dự án đầu tư trên địa bàn tỉnh có vốn đăng ký trên 10 tỷ USD.

– Triển khai thực hiện hiệu quả Chương trình phát triển giao thông tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023, định hướng đến năm 2030. Huy động cao nhất các nguồn lực xã hội và ngân sách tỉnh để tập trung đầu tư xây dựng đồng bộ hạ tầng kinh tế – xã hội đáp ứng nhu cầu phát triển. Tăng cường quản lý đầu tư công, đầu tư trung hạn, bảo đảm chất lượng và tiến độ công trình. Thực hiện có hiệu quả cơ chế hỗ trợ xi măng để xây dựng đường giao thông nông thôn. Phấn đấu đến năm 2023: Trên 80% km đường tỉnh đạt cấp đường quy hoạch; 100% các tuyến đường huyện, đường liên xã được cứng hóa trải nhựa bê tông; 100% đường trong thôn, xóm và các tuyến chính đường nội đồng được cứng hóa, cơ bản hoàn thành tiêu chí giao thông nông thôn trong xây dựng nông thôn mới. Phối hợp với các bộ, ngành Trung ương và các tỉnh bạn để hoàn thành tuyến đường, cầu nối 2 đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng và cầu Giẽ – Ninh Bình; nâng cấp quốc lộ 38 đoạn qua tỉnh Hưng Yên; xây dựng các tuyến đường vành đai 3,5, vành đai 4 của Thủ đô qua địa bàn tỉnh và các tuyến đường, công trình quan trọng khác của tỉnh…Quy hoạch chung xây dựng dọc hai bên đường cao tốc Hà Nội – Hải Phòng, trục đường kinh tế Bắc – Nam của tỉnh gắn với quy hoạch phát triển khu công nghiệp và phát triển khu đô thị ở các huyện, thành phố trong tỉnh.

Triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình phát triển đô thị tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023, định hướng đến năm 2030; phấn đấu đến năm 2023: Bình quân diện tích nhà ở 25m 2/sàn/người; tỷ lệ đô thị hóa đạt 40,5%; xây dựng thành phố Hưng Yên đạt đô thị loại II, huyện Mỹ Hào trở thành thị xã Mỹ Hào đạt đô thị loại III…

– Triển khai thực hiện Chương trình phát triển nông nghiệp theo hướng công nghiệp hoá, hiện đại hoá, giá trị gia tăng cao, bền vững gắn với xây dựng nông thôn mới tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023, định hướng đến năm 2030. Đẩy mạnh thực hiện Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp phát triển toàn diện theo hướng hiện đại, nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững. Tích cực chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi có giá trị kinh tế cao gắn với thị trường tiêu thụ, đa dạng hóa sản phẩm. Tập trung chuyển đổi đất trồng lúa kém hiệu quả sang trồng cây hàng năm có hiệu quả kinh tế cao, kết hợp với chăn nuôi, nuôi trồng thủy sản…Chuyển từng bước từ hộ sản xuất riêng lẻ sang hộ liên kết trong mô hình hợp tác xã kiểu mới và liên kết doanh nghiệp; có cơ chế cụ thể hỗ trợ nông dân thực hiện đồng bộ, hiệu quả để hiện đại hóa, cơ giới hóa và nâng cao hiệu quả sản xuất…Triển khai thực hiện tốt Đề án xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2023 – 2023. Tập trung nguồn lực xã hội đẩy mạnh thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2023 có 70% số xã, từ 02 đến 03 huyện, thành phố đạt chuẩn nông thôn mới.

– Tiếp tục đa dạng hóa các loại hình và nâng cao chất lượng dịch vụ. Tích cực thu hút đầu tư phát triển các ngành dịch vụ, nhất là các dịch vụ chất lượng cao. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng và hoàn thành các trung tâm thương mại, chợ đầu mối theo quy hoạch; phấn đấu tại trung tâm các huyện đều có trung tâm thương mại hoặc siêu thị vừa và nhỏ. Khuyến khích, hỗ trợ các thành phần kinh tế, nhất là các doanh nghiệp đầu tư phát triển du lịch, dịch vụ; đẩy mạnh loại hình du lịch văn hóa, tâm linh gắn với Khu di tích Quốc gia đặc biệt Phố Hiến…

– Tiếp tục khai thác tốt các nguồn thu; hoàn thành và vượt kế hoạch thu ngân sách hàng năm. Tăng cường quản lý thuế; đẩy mạnh cải cách hành chính thuế, phấn đấu 100% kê khai thuế qua mạng và thúc đẩy việc nộp thuế điện tử. Tiếp tục thực hiện chủ trương tiết kiệm chi thường xuyên; tăng cường quản lý tài sản công, các loại quỹ ngoài ngân sách…

– Tăng cường công tác quản lý nhà nước về đất đai, tài nguyên thiên nhiên, bảo vệ môi trường và ứng phó với biến đổi khí hậu. Thực hiện có hiệu quả Đề án bảo vệ môi trường, phòng chống biến đổi khí hậu tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023. Điều chỉnh kịp thời quy hoạch và kế hoạch sử dụng đất đến năm 2023. Quản lý chặt chẽ diện tích trồng lúa kém hiệu quả chuyển sang trồng cây hàng năm có hiệu quả kinh tế cao, đảm bảo đúng mục đích; tăng cường sử lý đất dôi dư; quản lý chặt chẽ việc khai thác cát trên các tuyến sông Hồng, sông Luộc…

Tăng cường quản lý tài nguyên nước, ứng phó với biến đổi khí hậu. Chủ động ngăn ngừa, hạn chế mức độ gia tăng ô nhiễm, suy thoái môi trường; hoàn thành xử lý các điểm ô nhiễm môi trường nghiêm trọng. Đẩy mạnh hoạt động bảo vệ môi trường nông thôn…

– Chỉ đạo công tác lập và triển khai quy hoạch lưới điện tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023, có xét đến 2025 để đáp ứng đầy đủ, kịp thời nguồn và lưới điện phục vụ cho các nhiệm vụ phát triển kinh tế, chính trị, văn hoá xã hội trên địa bàn tỉnh.

2- Phát triển lĩnh vực văn hoá – xã hội

– Tập trung lãnh đạo tốt việc thực hiện Chương trình phát triển giáo dục – đào tạo tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023 nhằm đáp ứng ngày càng tốt hơn nhu cầu học tập, nâng cao dân trí của nhân dân, góp phần nâng cao chất lượng nguồn nhân lực cho sự nghiệp công nghiệp hoá, hiện đại hoá đất nước. Tăng cường công tác quản lý nhà nước về giáo dục – đào tạo; thực hiện đồng bộ các giải pháp để đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, theo hướng chuyển mạnh quá trình giáo dục chủ yếu từ trang bị kiến thức sang phát triển năng lực và phẩm chất của học sinh, sinh viên. Chú trọng giáo dục nhân cách, đạo đức, lối sống, kiến thức pháp luật, ý thức công dân; phát huy tính tích cực, chủ động và ý thức tự học của học sinh, sinh viên. Củng cố, nâng cao chất lượng phổ cập giáo dục mầm non, phổ thông các cấp. Đổi mới, nâng cao chất lượng giáo dục nghề nghiệp. Có thêm cơ chế ưu đãi thu hút các trường đại học về Khu Đại học Phố Hiến… Phấn đấu đến năm 2023, thu hút thêm 3 – 4 trường đại học về đầu tư.

Đẩy mạnh chuyển giao, ứng dụng các tiến bộ khoa học và công nghệ vào sản xuất và phục vụ đời sống nhân dân; ưu tiên khuyến khích các hoạt động nghiên cứu và triển khai ứng dụng trong lĩnh vực công nghiệp, nông nghiệp, tiểu thủ công nghiệp và bảo vệ môi trường. Xây dựng chiến lược phát triển khoa học và công nghệ tỉnh Hưng Yên đến năm 2023, định hướng 2030. Tăng cường xây dựng, quản lý và khai thác hiệu quả các nhãn hiệu thuộc sở hữu trí tuệ, đảm bảo quyền lợi người sản xuất và tiêu dùng; tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra…

– Lãnh đạo tốt việc triển khai thực hiện Chương trình bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khoẻ nhân dân tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023. Xây dựng hệ thống y tế phát triển toàn diện theo hướng hiện đại và chuyên sâu, đáp ứng nhu cầu khám, chữa bệnh, chăm sóc và nâng cao sức khỏe nhân dân. Tiếp tục đẩy mạnh và tăng cường công tác y tế dự phòng, phòng chống dịch bệnh. Thực hiện xã hội hóa lĩnh vực y tế, phát triển các dịch vụ chăm sóc sức khỏe tại nhà, dịch vụ y tế tư nhân, từng bước hình thành các viện dưỡng lão. Tăng cường công tác quản lý, thanh tra, kiểm tra, giám sát theo đúng quy định của pháp luật. Củng cố và phát triển hệ thống y dược học cổ truyền, kết hợp với y học hiện đại. Tập trung chỉ đạo công tác an toàn thực phẩm, duy trì tỷ lệ tiêm chủng mở rộng. Thực hiện có hiệu quả chính sách dân số – kế hoạch hóa gia đình; duy trì mức sinh hợp lý, giảm tỷ lệ sinh con thứ ba và mất cân bằng giới tính khi sinh. Phấn đấu đến năm 2023: 100% xã, phường, thị trấn đạt chuẩn quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt trên 80%.

– Xây dựng và phát triển văn hóa, con người Hưng Yên đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững. Triển khai thực có hiệu quả Đề án đầu tư xây dựng thiết chế văn hoá tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023. Đẩy mạnh phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa”; thực hiện nếp sống văn minh trong việc cưới, việc tang và lễ hội. Từng bước xây dựng Khu di tích Phố Hiến thành điểm du lịch quốc gia, kết nối với các tour, tuyến du lịch trong và ngoài nước. Tăng cường hiệu quả hoạt động của hệ thống thiết chế văn hoá, nhất là ở cơ sở. Tổ chức tốt các hoạt động văn hóa, văn nghệ; phát triển phong trào thể thao quần chúng; nâng cao thể thao thành tích cao, chú trọng xây dựng các môn thể thao mũi nhọn của tỉnh. Khuyến khích xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể thao, du lịch để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển.

– Thực hiện tốt các chính sách xã hội, chăm lo gia đình chính sách và người có công. Huy động nguồn lực xã hội cùng với Nhà nước chăm lo tốt hơn đời sống của những đối tượng chính sách; quan tâm giúp đỡ người già; hỗ trợ người tàn tật, người không nơi nương tựa, nạn nhân chất độc da cam, người nghèo; ngăn ngừa tình trạng trẻ em lang thang, trẻ em bị xâm hại và trẻ em phải lao động nặng nhọc…Hoàn thành Chương trình hỗ trợ xây mới, sửa chữa nhà ở cho người có công với cách mạng. Chú trọng công tác hướng nghiệp, đào tạo nghề, tư vấn, hỗ trợ giải quyết việc làm cho người lao động, nhất là ở nông thôn và các đối tượng thuộc hộ nghèo, gia đình chính sách; tiếp tục thực hiện có hiệu quả các đề án hỗ trợ vay vốn giải quyết việc làm. Phấn đấu đến năm 2023: Trung bình mỗi năm giải quyết việc làm cho 20.000 người; tỷ lệ hộ nghèo mỗi năm giảm 2% (theo tiêu chuẩn nghèo đa chiều).

3- Tăng cường quốc phòng, an ninh

– Tăng cường xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân. Tập trung xây dựng các công trình phòng thủ gắn với phát triển kinh tế – xã hội. Triển khai có hiệu quả Đề án xây dựng các công trình trong khu vực phòng thủ tỉnh giai đoạn 2023-2023 và định hướng đến 2035. Phòng, chống có hiệu quả mọi âm mưu, diễn biến hòa bình, bạo loạn lật đổ của các thế lực thù địch. Xây dựng lực lượng vũ trang tỉnh vững mạnh về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Xây dựng lực lượng dân quân tự vệ, dự bị động viên đủ số lượng biên chế, đúng quy định và có chất lượng tốt. Hoàn thành tốt kế hoạch giao quân hàng năm.

Đẩy mạnh phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, bảo đảm an ninh trật tự trên địa bàn tỉnh, chú trọng đảm bảo an ninh nông thôn. Chủ động triển khai thực hiện các giải pháp phòng ngừa, đấu tranh, phát hiện, ngăn chặn kịp thời mọi âm mưu phá hoại, bảo đảm an ninh chính trị, an ninh kinh tế, văn hóa tư tưởng và an ninh xã hội, an ninh tôn giáo. Tăng cường kiểm tra, xử lý vi phạm, kiềm chế và giảm thiểu tai nạn giao thông. Đẩy mạnh cải cách tư pháp, thực hành công tố, kiểm sát các hoạt động tư pháp; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử đúng người, đúng tội, không oan sai, góp phần giữ nghiêm kỷ cương pháp luật. Đẩy mạnh công tác thi hành án dân sự, hạn chế vụ việc có điều kiện thi hành tồn đọng kéo dài.

4- Nâng cao chất lượng, hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp; đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo; phát huy vai trò và hiệu quả hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội

– Tổ chức và triển khai hoạt động của Hội đồng nhân dân theo đúng quy định của Hiến pháp, Luật Tổ chức chính quyền địa phương và Luật Hoạt động giám sát của Quốc hội và Hội đồng nhân dân. Tổ chức thành công cuộc bầu cử đại biểu Quốc hội khoá XIV và đại biểu Hội đồng nhân dân các cấp tỉnh Hưng Yên, nhiệm kỳ 2023 – 2023. Tập trung rà soát chức năng, nhiệm vụ, cơ cấu tổ chức các cơ quan hành chính nhà nước để xây dựng bộ máy theo hướng tinh gọn, hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục thực hiện thu hút sinh viên tốt nghiệp đại học chính quy về làm công chức dự bị ở cấp xã; bác sỹ, dược sỹ cao cấp về tỉnh công tác. Tập trung xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có phẩm chất đạo đức, năng lực, trách nhiệm và trình độ chuyên môn cao; chú trọng đào tạo, bồi dưỡng theo chức danh, vị trí việc làm. Nâng cao chất lượng công tác tuyển dụng, đề bạt, bổ nhiệm cán bộ, công chức, đảm bảo công khai, minh bạch. Tăng cường công tác thanh tra công vụ… Tập trung thực hiện cải cách hành chính. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ thông tin, phấn đấu đến năm 2023, 100% các trao đổi thông tin gửi, nhận văn bản giữa các cơ quan Đảng từ cấp huyện trở lên được thực hiện qua mạng thông tin diện rộng của Đảng và các cơ quan Nhà nước từ cấp huyện trở lên được thực hiện qua mạng Internet. Thực hiện tốt công tác tiếp công dân, giải quyết đơn thư khiếu nại, tố cáo ngay từ cơ sở. Định kỳ 6 tháng, hàng năm đánh giá sự hài lòng của nhân dân, doanh nghiệp đối với các cơ quan công quyền nhằm nâng cao chỉ số năng lực cạnh tranh, cải thiện môi trường đầu tư của tỉnh.

– Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng nguyên tắc hiệp thương dân chủ trong tổ chức và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc các cấp. Phát huy vai trò, tính tích cực, chủ động trong tư vấn, giám sát và phản biện xã hội của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội.

5- Tăng cường xây dựng Đảng bộ trong sạch vững mạnh

– Tăng cường công tác chính trị tư tưởng; rèn luyện phẩm chất đạo đức cho cán bộ, đảng viên. Triển khai có hiệu quả Đề án tiếp tục đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quán triệt, học tập, triển khai thực hiện chỉ thị, nghị quyết của Đảng trong cán bộ, đảng viên. Tổ chức các hoạt động giáo dục truyền thống nhân dịp kỷ niệm các ngày lễ lớn của đất nước, của tỉnh. Lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện có hiệu quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh.

– Đổi mới mạnh mẽ công tác cán bộ, đẩy mạnh xây dựng tổ chức đảng trong sạch vững mạnh, nâng cao chất lượng đảng viên. Rà soát, xây dựng và thực hiện nghiêm túc, có nền nếp Quy chế làm việc; việc các đồng chí cấp ủy viên tăng cường đi cơ sở và dự sinh hoạt chi bộ. Tiếp tục thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh. Thực hiện quy hoạch cán bộ lãnh đạo, quản lý, có cơ cấu hợp lý để chuẩn bị tốt nguồn nhân sự bầu cử đại biểu Quốc hội và Hội đồng nhân dân các cấp nhiệm kỳ 2023 – 2023. Tiếp tục thực hiện công tác luân chuyển cán bộ theo Đề án số 05- ĐA/TU của Ban Thường vụ Tỉnh uỷ. Xây dựng và triển khai thực hiện Đề án bồi dưỡng, luân chuyển cán bộ diện Ban Thường vụ Tỉnh uỷ quản lý và Đề án tinh giản biên chế, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức tỉnh Hưng Yên giai đoạn 2023 – 2023. Nâng cao chất lượng đảng viên, bồi dưỡng nghiệp vụ công tác đảng viên, tăng cường hướng dẫn, đôn đốc thành lập và xây dựng tổ chức cơ sở đảng, phát triển đảng viên, nhất là khu vực nông thôn và trong các doanh nghiệp ngoài quốc doanh. Triển khai thực hiện tốt Đề án nâng cao chất lượng sinh hoạt chi bộ thôn (khu phố), gắn với mối quan hệ phối hợp công tác giữa bí thư chi bộ và trưởng thôn (khu phố).

– Nâng cao hiệu quả công tác dân vận, tăng cường mối quan hệ máu thịt giữa Đảng với nhân dân. Thực hiện tốt Đề án nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện công tác dân vận ở cơ quan nhà nước giai đoạn 2023 – 2023. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng trong việc thực hiện có hiệu quả công tác dân vận, quy chế giám sát và phản biện xã hội… Tăng cường công tác dân vận chính quyền. Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả thực hiện quy chế dân chủ trong các loại hình cơ sở.

– Đẩy mạnh công tác nội chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Thực hiện nghiêm túc, hiệu quả các chỉ thị, nghị quyết của Đảng về công tác nội chính và phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tăng cường và đảm bảo công tác khởi tố, điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án trên địa bàn. Xử lý nghiêm minh, kịp thời, đồng bộ cả về kỷ luật Đảng, hành chính, kinh tế và hình sự các vụ việc, vụ án tham nhũng, tiêu cực theo quy định.

1- Các cấp ủy, tổ chức đảng lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt Nghị quyết Đại hội lần thứ XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, gắn với nghị quyết đại hội đảng bộ cấp mình và Chương trình hành động của Tỉnh ủy đến cán bộ, đảng viên, nhân dân; xây dựng Chương trình hành động (hoặc kế hoạch thực hiện) một cách cụ thể, thiết thực, phù hợp với đặc điểm tình hình của địa phương, đơn vị.

2- Các Ban Đảng Tỉnh ủy căn cứ Chương trình hành động này, theo chức năng, nhiệm vụ, tham mưu giúp Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và Ban Thường vụ Tỉnh ủy nhằm thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII.

3- Đảng đoàn HĐND tỉnh, Ban cán sự đảng UBND tỉnh chỉ đạo rà soát, bổ sung, ban hành văn bản mới, theo chức năng, nhiệm vụ tham mưu cho Ban Thường vụ Tỉnh ủy xây dựng và triển khai thực hiện các chương trình, đề án của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh và của Ban Thường vụ Tỉnh ủy thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; đồng thời cụ thể hóa Chương trình hành động của Tỉnh ủy; chỉ đạo các sở, ngành, ủy ban nhân dân huyện, thành phố khẩn trương triển khai thực hiện.

4- Đảng đoàn Ủy ban Mặt trận Tổ quốc Việt Nam tỉnh và các đoàn thể chính trị – xã hội tỉnh xây dựng chương trình hành động (hoặc kế hoạch thực hiện) và phổ biến, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện Chương trình hành động của Tỉnh ủy.

5- Giao Ban Tuyên giáo Tỉnh ủy chủ trì, phối hợp với các Ban Đảng và Văn phòng Tỉnh ủy thường xuyên theo dõi, đôn đốc, kiểm tra việc triển khai thực hiện Chương trình hành động, định kỳ hàng năm báo cáo Ban Thường vụ Tỉnh ủy kết quả thực hiện.

Chương Trình Hành Động Số 18

Trong những năm qua, Chương trình cải cách hành chính của thành phố đã đạt được nhiều thành tựu quan trọng: thành phố đã chú trọng đổi mới và nâng cao chất lượng công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật; cải tiến lề lối làm việc, đẩy mạnh kiểm soát thủ tục hành chính, công khai, minh bạch quy trình, thủ tục hành chính, ứng dụng công nghệ thông tin, đáp ứng tốt hơn nhu cầu của các tổ chức, công dân và doanh nghiệp; kiện toàn tổ chức bộ máy, đẩy mạnh phân cấp, phát huy mạnh mẽ vai trò điều hành, phân định rõ thẩm quyền, trách nhiệm của người đứng đầu cấp ủy, chính quyền ở địa phương, cơ quan, đơn vị; tăng cường phối hợp giữa thành phố với các bộ, ngành Trung ương, kiến nghị cơ quan có thẩm quyền ban hành, sửa đổi, bổ sung cơ chế, chính sách, quy định pháp luật tạo sự đột phá trong xây dựng và phát triển thành phố; thực hiện nề nếp chế độ tiếp xúc, đối thoại trực tiếp với nhân dân của cán bộ chủ chốt, cán bộ dân cử các cấp; tăng cường kỷ luật, kỷ cương hành chính, mở rộng sự giám sát, trực tiếp đánh giá của công dân và doanh nghiệp đối với cán bộ công chức; tăng cường kiểm tra, chấn chỉnh thái độ tiếp xúc, trách nhiệm của cán bộ, công chức khắc phục tình trạng né tránh, sợ trách nhiệm, thái độ thờ ơ, vô cảm; nâng cao hiệu quả công tác phát hiện, xử lý nghiêm minh và kịp thời hành vi tham ô, nhũng nhiễu, vòi vĩnh của cán bộ, công chức trong thực thi công vụ, qua đó góp phần nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, cải thiện chất lượng môi trường đầu tư, thu hút nguồn lực đầu tư, tạo động lực thúc đẩy thành phố phát triển ổn định.

So với mục tiêu, yêu cầu, nhiệm vụ, giải pháp cải cách hành chính của quốc gia, Chương trình cải cách hành chính của thành phố trong thời gian qua vẫn còn một số hạn chế: một số kinh nghiệm trong sơ kết, tổng kết thực hiện chương trình đột phá về cải cách hành chính thực hiện nghị quyết đại hội của các nhiệm kỳ trước chưa được đánh giá cụ thể và rút kinh nghiệm thấu đáo; một số giải pháp chưa bám sát yêu cầu thực tiễn cải cách hành chính; hệ thống các cơ quan hành chính Nhà nước từ thành phố đến cơ sở chưa vận hành thông suốt văn bản điện tử; số lượng cung cấp dịch vụ công trực tuyến ở mức độ 3 và mức độ 4 còn ít; xã hội hóa dịch vụ công chưa thực hiện sâu, rộng; cải cách hành chính trong đảng chưa đồng bộ với cải cách hành chính trong chính quyền; một số doanh nghiệp công nghệ cao chủ lực của thành phố chưa quan tâm đầu tư, đồng hành cùng thành phố xây dựng chính quyền điện tử;…

Để tiếp tục phát huy những kết quả đạt được và khắc phục những tồn tại, hạn chế khi thực hiện Chương trình hành động của Thành ủy về cải cách hành chính giai đoạn 2011 – 2023; căn cứ Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố xây dựng Chương trình hành động về cải cách hành chính giai đoạn 2023 – 2023, cụ thể như sau:

1. Cải cách hành chính tiến hành trên cơ sở đồng bộ với thực hiện các nghị quyết và nguyên tắc của Đảng về xây dựng hệ thống chính trị, đổi mới phương thức và nâng cao vai trò lãnh đạo của Đảng.

2. Đẩy mạnh cải cách hành chính nhằm xây dựng một nền hành chính dân chủ, trong sạch, chuyên nghiệp, hiện đại, năng động, ứng dụng có hiệu quả thành tựu phát triển khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ thông tin; chú trọng cải cách thủ tục hành chính, đảm bảo thuận lợi nhất cho nhân dân và doanh nghiệp, góp phần tích cực phòng, chống quan liêu, tham nhũng, lãng phí; huy động và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực và sự tham gia của mọi người dân vào công tác cải cách hành chính.

3. Xây dựng tổ chức bộ máy tinh gọn, hoạt động có hiệu lực, hiệu quả, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ, phân định rõ trách nhiệm giữa các cơ quan, giữa các cấp chính quyền; xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức có đủ phẩm chất chính trị, trình độ chuyên môn nghiệp vụ, tinh thần trách nhiệm và tận tụy phục vụ nhân dân; đáp ứng tốt yêu cầu xây dựng, phát triển bền vững và hội nhập quốc tế, xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

4. Xây dựng chính quyền điện tử phù hợp với đô thị đặc biệt tương thích với mô hình Chính phủ điện tử, có mô hình hiệu quả cho từng cấp, đảm bảo công khai minh bạch; tạo môi trường kinh doanh bình đẳng, thông thoáng, thuận lợi nhằm giảm thiểu về thời gian và chi phí của các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế trong việc tuân thủ thủ tục hành chính.

5. Phấn đấu Chỉ số Cải cách hành chính (PAR index) của thành phố nằm trong nhóm 05 địa phương dẫn đầu của cả nước.

Cấp ủy đảng các cấp, thủ trưởng các sở, ban – ngành, chủ tịch Ủy ban nhân dân quận, huyện là những người đứng đầu phải chịu trách nhiệm chỉ đạo thống nhất việc triển khai thực hiện Chương trình này trong phạm vi quản lý của mình; xác định thực hiện cải cách hành chính là nhiệm vụ trọng tâm, xuyên suốt của cả nhiệm kỳ công tác; xây dựng kế hoạch thực hiện cụ thể trong từng thời gian, từng lĩnh vực; phân công rõ trách nhiệm của từng cơ quan, tổ chức và cán bộ, công chức, viên chức; tăng cường kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện Chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2023 – 2023. Tập trung thực hiện 07 giải pháp trọng tâm sau:

a. Tăng cường lãnh đạo, chỉ đạo, quán triệt, tuyên truyền, giáo dục thực hiện Nghị quyết số 17-NQ/TW ngày 01 tháng 8 năm 2007 của Ban Chấp hành Trung ương khóa X về đẩy mạnh cải cách hành chính, nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý của bộ máy chính quyền thành phố, bảo đảm sự nhận thức sâu sắc và thống nhất hành động trong các tổ chức đảng, trong cán bộ, đảng viên toàn Đảng bộ thành phố về nhiệm vụ cải cách hành chính; quyết định các mục tiêu, quan điểm, chủ trương và giải pháp lớn về cải cách hành chính; tập trung lãnh đạo xây dựng các thể chế, ban hành văn bản quy phạm pháp luật, cơ chế, chính sách phù hợp với thực tế và chủ trương, nghị quyết của Đảng; giới thiệu cán bộ, đảng viên có đủ phẩm chất và năng lực để cơ quan có thẩm quyền xem xét, bổ nhiệm giữ các chức vụ trong bộ máy Nhà nước, thông qua đó bảo đảm việc thực hiện cải cách hành chính theo đúng các chủ trương, quan điểm của Đảng; tăng cường lãnh đạo, kiểm tra, đôn đốc, sơ kết, uốn nắn kịp thời việc thực hiện các chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác cải cách hành chính.

b. Các cấp ủy đảng lãnh đạo cơ quan chính quyền xây dựng chương trình, kế hoạch cải cách hành chính, đặc biệt là cải cách thủ tục hành chính phục vụ nhân dân, doanh nghiệp; thông qua kết quả cải cách hành chính, xem xét, đánh giá, sử dụng cán bộ, đảng viên.

c. Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra công vụ, phát huy tối đa vai trò giám sát của hội đồng nhân dân, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội các cấp, các cơ quan báo chí, cấp trên giám sát cấp dưới, đặc biệt là giám sát của nhân dân, doanh nghiệp đối với hoạt động của các cơ quan hành chính.

a. Xây dựng cơ chế đột phá cho thành phố theo Nghị quyết số 16-NQ/TW ngày 10 tháng 8 năm 2012 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2023 để xây dựng thành phố có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình, có vai trò động lực trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Thực hiện đồng bộ cải cách hành chính trong đảng, trong quan hệ giữa thành phố với các ban của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chính phủ, các Bộ, Ban – Ngành Trung ương, Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội Trung ương.

b. Đổi mới và nâng cao chất lượng công tác góp ý, thẩm định, ban hành văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của Hội đồng nhân dân thành phố, Ủy ban nhân dân thành phố, gắn với công tác kiểm soát thủ tục hành chính; có cơ chế hợp lý để nhân dân tham gia ý kiến, nhất là các đối tượng chịu sự điều chỉnh của văn bản quy phạm pháp luật do thành phố ban hành. Chú trọng việc đánh giá tác động của các chính sách; đảm bảo kiểm soát chặt chẽ tính thống nhất, đồng bộ, khả thi của văn bản quy phạm pháp luật thuộc thẩm quyền của thành phố. Tăng cường theo dõi, đôn đốc, giám sát việc xây dựng, ban hành văn bản quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành các văn bản quy phạm pháp luật của Trung ương.

c. Nghiên cứu, kiến nghị sửa đổi, bổ sung các quy định của pháp luật về xã hội hóa theo hướng quy định rõ trách nhiệm của Nhà nước, phân cấp mạnh cho thành phố, có cơ chế để phát triển thành phố và chăm lo tốt hơn đời sống vật chất và văn hóa tinh thần của nhân dân; khuyến khích, tạo điều kiện, môi trường thuận lợi để đẩy mạnh xã hội hóa, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia cung ứng các dịch vụ tốt nhất cho người dân thành phố, chính quyền thành phố có chính sách, kiểm tra, giám sát và khen thưởng.

a. Tập trung đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, xem đây là khâu đột phá để tạo môi trường thuận lợi, minh bạch cho hoạt động của người dân và doanh nghiệp. Tiến hành rà soát các thủ tục hành chính trên tất cả các lĩnh vực, kịp thời phát hiện những thủ tục, quy định pháp luật còn mâu thuẫn và chồng chéo, không phù hợp, để kiên quyết sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ. Đây là khâu cản trở sự phát triển và gây nhiều bức xúc trong nhân dân, cần tập trung chỉ đạo tạo sự chuyển biến mạnh mẽ trong lĩnh vực này.

b. Chủ động rà soát, kiến nghị Trung ương sửa đổi, bổ sung, thay thế, bãi bỏ, hủy bỏ các thủ tục hành chính không còn phù hợp, gây phiền hà cho người dân và doanh nghiệp; công khai, minh bạch, rút ngắn thời gian thực hiện quy trình giải quyết thủ tục hành chính, nhất là thủ tục xây dựng, nhà đất, cấp phép đầu tư, thành lập doanh nghiệp, kê khai nộp thuế, hải quan, phí, lệ phí, bảo hiểm xã hội, hộ tịch, khiếu nại, tố cáo.

c. Thực hiện có hiệu quả các giải pháp chấn chỉnh, kiểm soát thủ tục hành chính. Đề cao trách nhiệm người đứng đầu các cơ quan hành chính các cấp trong thực hiện công tác cải cách thủ tục hành chính; xử lý nghiêm những cá nhân, tổ chức tùy tiện đặt ra các quy định trái pháp luật, thẩm quyền, gây khó khăn, phiền hà cho nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp. Thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong nội bộ từng cơ quan, đơn vị và giữa các cơ quan, đơn vị ở các cấp với nhau.

d. Thực hiện việc công bố, cập nhật, niêm yết công khai các thủ tục hành chính theo quy định và bằng nhiều hình thức phù hợp với đặc thù của thành phố để nhân dân biết, thuận lợi trong thực hiện và nâng cao hiệu quả, vai trò giám sát các cơ quan, đơn vị trong quá trình tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính.

a. Tổ chức thực hiện có hiệu quả Luật Tổ chức Chính quyền địa phương; tiếp tục thực hiện sắp xếp hợp lý các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân thành phố theo Nghị định số 24/2014/NĐ-CP ngày 04 tháng 4 năm 2014 của Chính phủ và các cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân quận – huyện theo Nghị định số 37/2014/NĐ-CP ngày 05 tháng 5 năm 2014 của Chính phủ phù hợp với điều kiện của một đô thị đặc biệt. Nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện quy định của pháp luật về phân quyền, phân cấp trên các lĩnh vực phù hợp với điều kiện phát triển của đô thị đặc biệt. Quy định và thực hiện nghiêm trách nhiệm và cơ chế giải trình của các cơ quan Nhà nước.

b. Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế theo Nghị quyết số 39-NQ/TW của Bộ Chính trị và Nghị định số 108/2014/NĐ-CP của Chính phủ; tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước của các cấp chính quyền theo hướng tinh, gọn, chuyên nghiệp, đáp ứng theo yêu cầu phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội và xây dựng thành phố Hồ Chí Minh có chất lượng sống tốt, văn minh, hiện đại, nghĩa tình.

c. Hoàn thiện chức năng, nhiệm vụ và quy chế phối hợp để nâng cao vai trò, trách nhiệm của từng cơ quan và cả hệ thống chính trị thành phố; đẩy mạnh phân công, phân cấp rõ ràng, đẩy mạnh cải cách thủ tục hành chính, phục vụ tốt nhất cho nhân dân và chịu sự giám sát chặt chẽ của nhân dân. Nêu cao tính tiên phong, gương mẫu và chịu trách nhiệm của người đứng đầu địa phương, cơ quan, đơn vị thực hiện cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực, đặc biệt là khi để xảy ra tiêu cực, phiền hà, nhũng nhiễu. Bảo đảm quản lý thống nhất về quy hoạch và định hướng phát triển; tăng cường kiểm tra, giám sát, bảo đảm sự lãnh đạo tập trung thống nhất, đồng thời phát huy tính chủ động, sáng tạo của các cấp, các ngành trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ được giao.

d. Đổi mới mô hình tổ chức và phương thức hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công, tăng cường đầu tư và đổi mới cơ chế quản lý của Nhà nước để các đơn vị sự nghiệp công lập phát triển mạnh mẽ, có hiệu quả, chất lượng dịch vụ từng bước được nâng cao, nhất là trong lĩnh vực giáo dục, y tế; bảo đảm sự hài lòng của cá nhân đối với dịch vụ do đơn vị sự nghiệp công cung cấp trong lĩnh vực giáo dục, y tế đạt trên mức 80% vào năm 2023. Đồng thời, chính quyền thành phố rà soát, bổ sung các chính sách ưu đãi về đất đai, tín dụng, thông tin,… để thúc đẩy xã hội hóa tối đa các dịch vụ công.

a. Thực hiện nghiêm Luật Cán bộ, công chức, Luật Viên chức; chỉ đạo xuyên suốt việc đẩy mạnh rèn luyện nâng cao đạo đức cách mạng, học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh; nâng cao vai trò của cấp ủy đảng trong đào tạo, bồi dưỡng đạo đức công vụ, đạo đức nghề nghiệp, xây dựng kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức theo Chương trình nâng cao chất lượng nguồn nhân lực giai đoạn 2023 – 2023.

– Đổi mới nội dung và phương thức đào tạo, bồi dưỡng kiến thức chuyên môn nghiệp vụ cho cán bộ, công chức theo yêu cầu vị trí công tác sát với thực tế, hướng vào các vấn đề thiết thực đặt ra từ quá trình thực thi công vụ, thực hiện chế độ đào tạo trước khi bổ nhiệm các chức vụ lãnh đạo, quản lý trong các cơ quan quản lý hành chính.

– Có chính sách đào tạo, bồi dưỡng, đãi ngộ, khen thưởng, thu hút cán bộ, chuyên gia có trình độ cao trong và ngoài nước tham gia phát triển thành phố.

b. Phân tích, đánh giá, dự báo nguồn nhân lực trong giai đoạn tiếp theo để có kế hoạch tuyển dụng, đào tạo, bố trí cán bộ, công chức, viên chức trẻ, giỏi, có tâm, đồng thời thực hiện tinh giản biên chế theo hướng thay thế ngay những người không đáp ứng được yêu cầu, nhiệm vụ, không có trách nhiệm với dân; thực hiện chính sách đưa ra khỏi bộ máy đối với những người không đủ tiêu chuẩn cán bộ, công chức.

– Làm tốt công tác quy hoạch và thực hiện quy hoạch cán bộ; xác định rõ vị trí, cơ cấu và tiêu chuẩn chức danh công chức trong từng cơ quan để làm căn cứ tuyển dụng và bố trí, sử dụng cán bộ, công chức.

– Quy định rõ chức năng, nhiệm vụ, trách nhiệm và thẩm quyền giải quyết công việc của cán bộ, công chức phù hợp với yêu cầu xây dựng bộ máy chính quyền các cấp. Triển khai thực hiện thí điểm cơ chế thi tuyển chức danh cấp phó sở, ban – ngành; chức danh trưởng, phó phòng chuyên môn của sở, ban – ngành, ủy ban nhân dân quận – huyện.

– Nâng cao chất lượng đánh giá cán bộ, công chức, viên chức. Thủ trưởng cơ quan hành chính các cấp chịu trách nhiệm kiểm tra, thanh tra việc thực hiện công vụ và chịu trách nhiệm về những vi phạm trong thực thi công vụ của cán bộ, công chức thuộc phạm vi mình quản lý. Cơ quan hành chính quản lý trực tiếp cán bộ, công chức chịu trách nhiệm đánh giá, phân loại cán bộ, công chức. Việc đánh giá, phân loại cán bộ công chức phải căn cứ vào kết quả thực hiện nhiệm vụ được giao. Thông qua việc đánh giá, phân loại cán bộ, công chức, xác định rõ những người đủ và không đủ tiêu chuẩn; xây dựng đội ngũ cán bộ lãnh đạo, quản lý có bản lĩnh chính trị vững vàng, phẩm chất đạo đức, năng lực tốt, gắn bó, hết lòng, hết sức phục vụ nhân dân.

c. Nghiên cứu, kiến nghị hoàn thiện quy định pháp luật về tuyển dụng; bố trí, phân công nhiệm vụ phù hợp với trình độ, năng lực, sở trường của công chức, viên chức trúng tuyển; thực hiện đúng quy định về thi tuyển công chức, viên chức theo nguyên tắc cạnh tranh.

d. Xây dựng hình ảnh người cán bộ, công chức, viên chức thực sự thân thiện, gần dân, tận tụy phục vụ nhân dân. Nâng cao trách nhiệm, kỷ luật, kỷ cương hành chính và đạo đức công vụ của cán bộ, công chức, viên chức. Tăng cường kiểm tra, thanh tra công vụ, góp phần phòng ngừa quan liêu, tham nhũng, lãng phí trong các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công lập. Xử lý nghiêm cán bộ, công chức, viên chức có thái độ vô cảm, thiếu ý thức phục vụ nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp, có hành vi nhũng nhiễu, trả hồ sơ nhiều lần, giải quyết hồ sơ trễ hạn,…

a. Tăng cường các biện pháp để quản lý nguồn thu và bồi dưỡng nguồn thu, tập trung huy động các nguồn lực trong xã hội chi đầu tư phát triển. Thực hiện cân đối ngân sách thành phố theo hướng tích cực, đảm bảo tỷ lệ hợp lý cho đầu tư phát triển, thực hiện tiết kiệm triệt để, chống lãng phí trong sử dụng nguồn vốn ngân sách, đảm bảo các chính sách an sinh xã hội.

b. Thực hiện chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính theo Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ và Nghị định số 117/2013/NĐ-CP ngày 07 tháng 10 năm 2013 của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 130/2005/NĐ-CP ngày 17 tháng 10 năm 2005 của Chính phủ quy định chế độ tự chủ, tự chịu trách nhiệm về sử dụng biên chế và kinh phí quản lý hành chính đối với các cơ quan Nhà nước; tiếp tục thực hiện cơ chế tự chủ của đơn vị sự nghiệp công lập theo Nghị định số 16/2023/NĐ-CP ngày 14 tháng 02 năm 2023 của Chính phủ; đẩy mạnh việc giao quyền tự chủ, tự chịu trách nhiệm của các đơn vị sự nghiệp dịch vụ công; thực hiện thí điểm cơ chế cấp ngân sách theo kết quả công việc đối với các cơ quan hành chính, đơn vị sự nghiệp công theo Đề án của Chính phủ; từng bước mở rộng, đa dạng hóa các loại hình cung ứng dịch vụ, bảo đảm chi tiêu tiết kiệm, hiệu quả.

c. Nghiên cứu, đề xuất những chính sách và giải pháp nhằm thực hiện sâu rộng hơn chủ trương xã hội hóa lĩnh vực xây dựng hạ tầng kỹ thuật đô thị, khoa học và công nghệ, hành chính – tư pháp, y tế, giáo dục, văn hóa, thể thao để thu hút các nguồn lực đầu tư phát triển thành phố. Phát huy trách nhiệm và tính sáng tạo, chủ động của các đơn vị này nhằm cung cấp các dịch vụ công ngày càng có chất lượng cao, đáp ứng nhu cầu của nhân dân, đồng thời tạo động lực cho đội ngũ cán bộ, viên chức làm việc.

d. Nghiên cứu đổi mới phương thức chi kinh phí hoạt động của các tổ chức chính trị – xã hội theo hướng xét cấp theo “chương trình mục tiêu”.

a. Thực hiện có hiệu quả kế hoạch ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước thành phố theo Nghị quyết số 36-NQ/TW ngày 01 tháng 7 năm 2014 của Bộ Chính trị về “Đẩy mạnh ứng dụng phát triển công nghệ thông tin đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững và hội nhập quốc tế”, Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước giai đoạn 2023 – 2023, Quy hoạch công nghệ thông tin thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2025 với mục tiêu:

– Xây dựng và thiết lập cơ sở dữ liệu tập trung của thành phố; thành lập và tổ chức hoạt động có hiệu quả Trung tâm nghiên cứu phân tích thông tin thành phố Hồ Chí Minh phục vụ phân tích thực trạng và dự báo định hướng phát triển các ngành kinh tế, xã hội, đô thị của thành phố.

– Xây dựng cơ chế quản trị hiện đại, xây dựng chính quyền điện tử thành phố từ phường, xã – thị trấn đến quận – huyện, thành phố theo một mô hình hiệu quả với nhiều dịch vụ mạng, đáp ứng yêu cầu của người dân và doanh nghiệp.

– Bảo đảm hệ thống thông tin chỉ đạo, điều hành, trao đổi thông tin thông suốt, kịp thời từ Ủy ban nhân dân thành phố đến các sở, ban – ngành, quận – huyện và phường, xã – thị trấn; 100% các văn bản, tài liệu (trừ tài liệu mật) chính thức trao đổi giữa các cơ quan hành chính Nhà nước được thực hiện dưới dạng điện tử vào năm 2023.

– Đến năm 2023, hầu hết các dịch vụ công được cung cấp trực tuyến trên mạng thông tin điện tử của thành phố ở mức độ 3 và 4, đáp ứng nhu cầu thực tế, phục vụ người dân và doanh nghiệp mọi lúc, mọi nơi, dựa trên nhiều phương tiện khác nhau; phấn đấu vượt tất cả các chỉ tiêu ứng dụng công nghệ thông tin phục vụ người dân và doanh nghiệp và ứng dụng công nghệ thông tin trong nội bộ cơ quan Nhà nước theo Chương trình quốc gia về ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của cơ quan Nhà nước giai đoạn 2023 – 2023.

b. Mở rộng ứng dụng hệ thống quản lý chất lượng theo tiêu chuẩn TCVN ISO 9001:2008 kết hợp ứng dụng công nghệ thông tin (ISO điện tử) đến phường, xã – thị trấn theo từng lĩnh vực phù hợp; từng bước liên thông, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác quản lý Nhà nước và cung cấp các dịch vụ công trên mạng cho nhân dân.

c. Quy hoạch chuẩn hóa công sở văn minh, sạch đẹp, hiện đại, thân thiện; trang bị đầy đủ các trang thiết bị điện tử, phương tiện làm việc cho cơ quan hành chính các cấp, để phục vụ tốt nhất cho nhân dân, tổ chức và doanh nghiệp đến liên hệ giải quyết công việc.

8. Nâng cao nhận thức và trách nhiệm của mỗi cán bộ, đảng viên đối với công tác cải cách hành chính

a. Tăng cường công tác tư tưởng, nâng cao nhận thức và ý thức chấp hành kỷ luật, kỷ cương của tổ chức đảng, đảng viên, cán bộ, công chức, viên chức trong hệ thống chính trị về cải cách hành chính, đặc biệt là nâng cao trách nhiệm công vụ và cải cách thủ tục hành chính.

b. Xây dựng chương trình hành động thiết thực, cụ thể về cải cách hành chính trong từng cơ quan hành chính Nhà nước. Tập trung chỉ đạo thực hiện có trọng tâm, trọng điểm và có sơ kết, uốn nắn trong từng thời gian. Bảo đảm cho công tác cải cách hành chính thật sự là một khâu đột phá trong phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội và là một nhiệm vụ trọng tâm thường xuyên của các cấp ủy và cơ quan hành chính Nhà nước.

Kết quả thắng lợi của chương trình cải cách hành chính giai đoạn 2023 – 2023 là kinh tế thành phố phát triển, phúc lợi xã hội được nâng cao, người dân và doanh nghiệp thật sự hài lòng với cơ quan công quyền.

Chương trình hành động này được phổ biến đến tận chi bộ. /.

Chương Trình Hành Động Số 14

Tuy nhiên, tình hình trật tự an toàn giao thông trên địa bàn thành phố còn diễn biến phức tạp, tai nạn giao thông dù đã giảm nhưng vẫn ở mức cao, ùn tắc giao thông đô thị chưa được khắc phục tốt và có dấu hiệu diễn biến phức tạp, đang là vấn đề gây bức xúc đối với người dân và doanh nghiệp, ảnh hưởng tiêu cực đến quá trình phát triển bền vững về kinh tế, văn hóa, xã hội của thành phố.

Trên cơ sở phát huy các kết quả đạt được, rút kinh nghiệm các hạn chế, tồn tại trong quá trình thực hiện nhiệm vụ bảo đảm trật tự an toàn giao thông và khắc phục ùn tắc giao thông trên địa bàn thành phố giai đoạn 2011 – 2023, để đáp ứng tình hình và mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội trong giai đoạn 2023 – 2023, Ban Chấp hành Đảng bộ thành phố xây dựng Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ Thành phố lần thứ X về giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông giai đoạn 2023 – 2023 như sau:

Tập trung phát triển đồng bộ hệ thống cơ sở hạ tầng giao thông đô thị bao gồm đường bộ, đường sắt, đường hàng không, đường thủy nội địa gắn với nâng cao năng lực quản lý nhà nước về giao thông đô thị. Ưu tiên đầu tư xây dựng các tuyến đường vành đai, đường xuyên tâm, đường hướng tâm, đường trên cao, các tuyến đường sắt đô thị và các công trình giao thông tĩnh; kết nối tốt hệ thống giao thông thành phố với các tỉnh trong vùng kinh tế trọng điểm phía Nam. Phát triển nhanh vận tải hành khách công cộng, đặc biệt là giao thông công cộng có sức chở lớn; đẩy mạnh công tác tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông và nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người tham gia giao thông; hoàn thành công tác lập lại trật tự lòng đường, lề đường, vỉa hè; giải quyết cơ bản tình trạng ùn tắc giao thông và giảm tai nạn giao thông.

Phấn đấu đến năm 2023, làm mới đưa vào sử dụng 272 km đường bộ; 76 cây cầu(4); mật độ đường giao thông đạt 2,2km/km²; tỷ lệ đất dành cho giao thông đạt 12,2% đất xây dựng đô thị; khối lượng vận tải hành khách công cộng đạt từ 15% đến 20% nhu cầu giao thông đô thị (trong đó hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và taxi phấn đấu đạt từ 15% đến 17%(5)); kìm hãm và giảm dần số vụ ùn tắc giao thông; số vụ, số người chết và số người bị thương do tai nạn giao thông hàng năm giảm 5% so với năm liền kề trước đó.

a. Tiếp tục rà soát, điều chỉnh các quy hoạch tổng thể giao thông vận tải thành phố Hồ Chí Minh gắn với Vùng kinh tế trọng điểm phía Nam; tổ chức lập và thực hiện các quy hoạch chi tiết: các nút giao thông trọng điểm, các trục giao thông chính đô thị; hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông tĩnh; mạng lưới đường thủy và cảng, bến khu vực thành phố Hồ Chí Minh; mạng lưới vận tải hành khách công cộng đa phương thức, liên thông trong nội đô và kết nối với các đô thị vệ tinh, các công trình đầu mối vận tải đối ngoại trọng yếu (bến cảng, nhà ga, sân bay, bến xe ô tô liên tỉnh, cảng nội địa – ICD).

b. Xây dựng, đề xuất và hoàn thiện các cơ chế, chính sách về bảo đảm trật tự an toàn giao thông; các cơ chế, chính sách đột phá, đặc thù trong việc huy động tối đa các nguồn lực trong và ngoài nước, khuyến khích mọi thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng, khai thác cơ sở hạ tầng giao thông và vận tải trên địa bàn thành phố; phát huy tốt vai trò của Công ty Đầu tư tài chính Nhà nước thành phố Hồ Chí Minh, tạo đột phá trong huy động vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng giao thông đô thị; xây dựng các cơ chế chỉ định thầu, chỉ định nhà đầu tư, cơ chế vừa thiết kế, vừa thi công, cơ chế thực hiện công tác giải phóng mặt bằng,… để thực hiện nhanh các dự án cấp bách kéo giảm ùn tắc giao thông, giảm tai nạn giao thông; xây dựng và hoàn thiện các chính sách về công tác quản lý hoạt động vận tải.

a. Nâng cao năng lực quản lý và khai thác hiệu quả hệ thống hạ tầng giao thông vận tải hiện hữu; tiếp tục rà soát, tổ chức lại giao thông khoa học, hợp lý tại các khu vực có nguy cơ xảy ra ùn tắc giao thông; ngay trong năm 2023, rà soát và bổ sung đầy đủ hệ thống báo hiệu đường bộ, các tiện ích phục vụ người bộ hành.

b. Kiểm tra, phát hiện và xử lý nhanh các sự cố, bảo trì tốt kết cấu hạ tầng giao thông đô thị, hệ thống giao thông nông thôn, đảm bảo giao thông thông suốt, an toàn. Đẩy mạnh xã hội hóa công tác quản lý, bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông.

d. Tổ chức đánh giá tác động giao thông khi triển khai quy hoạch các dự án đầu tư xây dựng công trình có quy mô lớn, tập trung đông người, không để phát sinh ùn tắc giao thông trong nội đô và dọc các tuyến đường trục chính ra, vào thành phố; đánh giá tác động của giao thông đối với các cơ sở tập trung đông người hiện hữu khu vực nội đô có nguy cơ gây ùn tắc giao thông để điều chỉnh phương án tổ chức giao thông kết nối hoặc xem xét, điều chỉnh chức năng hoạt động của các cơ sở này cho phù hợp.

c. Quy định rõ trách nhiệm của cá nhân, đơn vị chậm trễ trong công tác giải phóng mặt bằng và tái định cư làm ảnh hưởng đến tiến độ thi công các dự án giao thông trọng điểm. Chấm dứt tình trạng chậm tiến độ các công trình giao thông theo kế hoạch được duyệt.

d. Việc phát triển các cao ốc, khu đô thị, trung tâm thương mại, bệnh viện, trường học… cần phải thực hiện phù hợp với hiện trạng và lộ trình đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng giao thông xung quanh theo quy hoạch được duyệt và phải kiểm soát chặt chẽ; đồng thời phải kết hợp bố trí kết nối với vận tải hành khách công cộng (trạm, nhà ga).

đ. Kết hợp chặt chẽ với các Chương trình đột phá thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ thành phố lần thứ X, đặc biệt là Chương trình chỉnh trang và phát triển đô thị; Chương trình giảm ngập nước; Chương trình giảm ô nhiễm môi trường.

a. Rà soát, tổ chức, sắp xếp lại hợp lý nhất mạng lưới vận tải hành khách công cộng trên địa bàn thành phố; tập trung triển khai đầu tư đổi mới xe buýt theo đề án đã được phê duyệt trong giai đoạn 2014 – 2023 và xây dựng cơ chế, chính sách mới để tiếp tục đầu tư xe buýt mới đến năm 2023 phù hợp với đặc tính đô thị và thân thiện môi trường; tiếp tục xây dựng và triển khai áp dụng các cơ chế, chính sách hỗ trợ phát triển mạnh mẽ hoạt động vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt. Đẩy mạnh phát triển loại hình xe buýt đưa rước học sinh và sinh viên.

b. Tiếp tục cải thiện, đổi mới mô hình quản lý của các hợp tác xã vận tải xe buýt hướng đến việc phát triển doanh nghiệp vận tải theo mô hình quản lý tập trung, quản lý tốt hoạt động của các doanh nghiệp xe buýt và nâng cao chất lượng dịch vụ xe buýt. Chấn chỉnh, nâng cao hoạt động của loại hình vận tải hành khách công cộng bằng taxi. Tập trung phát triển vận tải hành khách công cộng bằng đường thủy nội địa.

c. Ưu tiên phát triển cơ sở hạ tầng cho phát triển vận tải hành khách công cộng như: xây dựng đường dành riêng cho xe buýt; rà soát, xác định vị trí, địa điểm, pháp lý về đất đai, quy mô diện tích cụ thể các địa điểm xây dựng bến bãi cho xe buýt trên địa bàn thành phố theo quy hoạch; tập trung ưu tiên đầu tư xây dựng và nâng cấp các bến bãi, điểm trung chuyển xe buýt và các bãi đỗ xe tại các khu vực cửa ngõ thành phố, khu vực trung tâm thành phố. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng các bến xe liên tỉnh mới, nâng cao năng lực quản lý, kết nối đồng bộ các bến xe liên tỉnh để phục vụ yêu cầu giao thông thông suốt giữa thành phố và các tỉnh lân cận.

d. Chuẩn bị nguồn nhân lực, tổ chức bộ máy cho việc quản lý, khai thác có hiệu quả các phương thức vận tải hành khách công cộng khối lượng lớn.

đ. Nghiên cứu, triển khai một số chính sách quản lý nhu cầu giao thông cá nhân và kiểm soát phương tiện giao thông cá nhân; xây dựng phương án, lộ trình cụ thể, khả thi và tổ chức thực hiện có hiệu quả thông qua các giải pháp trực tiếp (quản lý các phương tiện đăng ký mới) và những giải pháp gián tiếp (thu phí lưu thông vào khu vực trung tâm, hạn chế một số loại phương tiện giao thông lưu thông vào một số tuyến đường, khu vực hoặc trong các thời điểm nhất định; thu phí đậu xe trên đường theo thời gian…).

e. Khai thác hiệu quả hoạt động vận tải thông qua việc kết nối liên thông các loại hình vận tải bằng đường hàng không, đường sắt, đường thủy nội địa, đường bộ,… nhằm giảm bớt áp lực giao thông đường bộ. Tập trung phát triển vận tải đường thủy nội địa, hàng hải; phát triển hệ thống cảng biển, cảng đường thủy nội địa; phát triển các hình thức trung chuyển hàng hóa giữa thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận; xây dựng mối liên kết giao thông và hỗ trợ hữu hiệu giữa vận tải đường bộ và vận tải đường thủy nội địa thông qua hệ thống cảng với các khu công nghiệp và các khu đô thị mới.

g. Xây dựng khu đô thị cảng, phát triển nhanh, đồng bộ cụm cảng biển Hiệp Phước. Tập trung đẩy nhanh tiến độ di dời các cảng trên sông Sài Gòn, di dời cảng Trường Thọ; di dời hệ thống các trường đại học, cao đẳng, bệnh viện trong nội thành ra các khu vực cửa ngõ của thành phố.

h. Thành lập sàn giao dịch vận tải khu vực thành phố Hồ Chí Minh và các tỉnh lân cận để nâng cao hiệu quả kết nối giữa các phương thức vận tải, giữa đơn vị vận tải và chủ hàng nhằm giảm thiểu lưu lượng phương tiện chạy rỗng ra vào các cảng, nhà ga và trên mạng lưới giao thông đường bộ và đường thuỷ nội địa của thành phố.

a. Ứng dụng công nghệ hiện đại, tiên tiến phù hợp với đặc thù đô thị trong công tác quản lý đầu tư xây dựng các công trình giao thông vận tải (chương trình quản lý thông tin xây dựng – BIM, các công nghệ về khoan kích ngầm, gia cố công trình,…).

b. Đẩy mạnh ứng dụng công nghệ trong quản lý bảo trì kết cấu hạ tầng giao thông, quản lý cơ sở dữ liệu và tổ chức khai thác hạ tầng giao thông trên địa bàn thành phố (số hóa dữ liệu hạ tầng đường bộ, bản đồ thu thập dữ liệu về lưu lượng phương tiện, tốc độ lưu thông trên các tuyến đường, xây dựng mô hình và tính toán dự báo tình hình giao thông và nghiên cứu phương án tổ chức giao thông,…).

c. Ưu tiên bố trí nguồn vốn ngân sách để đẩy nhanh kết nối hệ thống điều khiển tín hiệu giao thông, camera giám sát giao thông hiện hữu để thu thập thông tin giao thông nhằm sớm phát hiện điểm ùn tắc giao thông và khắc phục ngay các sự cố về giao thông, giảm thời gian ùn tắc giao thông; phát hiện vi phạm trật tự an toàn giao thông, đẩy mạnh xử phạt vi phạm qua hình ảnh trong năm 2023.

d. Đẩy mạnh việc ứng dụng công nghệ trong quản lý điều hành vận tải trên địa bàn thành phố như: sử dụng vé điện tử(7), thu phí không dừng, quản lý các phương tiện vận tải bằng công nghệ thông tin,… khuyến khích các đơn vị vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt chủ động đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trong hoạt động của đơn vị, nhằm nâng cao chất lượng và giảm chi phí quản lý; tích hợp hệ thống điều hành vận tải hành khách công cộng, hệ thống giám sát thông tin trực tuyến từ dữ liệu của thiết bị giám sát hành trình gắn trên xe ô tô, đảm bảo khả năng giám sát, điều tiết hoạt động vận tải.

đ. Huy động các nguồn vốn xây dựng hoàn thành Trung tâm Điều hành giao thông thông minh thành phố trước năm 2023.

e. Đẩy mạnh việc thực hiện các dịch vụ công trực tuyến trên các lĩnh vực; ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý phương tiện và người lái (cơ giới đường bộ, đường thủy nội địa, giấy phép lái xe).

a. Huy động cả hệ thống chính trị trong công tác tuyên truyền, giáo dục, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật về trật tự an toàn giao thông (Luật Giao thông đường bộ, Luật giao thông đường thủy nội địa…), văn hóa giao thông và mỹ quan đô thị; đổi mới phương thức tuyên truyền, giáo dục pháp luật về trật tự an toàn giao thông, thực hiện thường xuyên, liên tục nhằm phát huy hiệu quả sâu rộng đến từng đối tượng cụ thể.

b. Các cơ quan báo chí thành phố mở chuyên trang, chuyên mục về trật tự an toàn giao thông định kỳ (ít nhất 1 tuần/lần) để tuyên truyền, định hướng, giáo dục ý thức và trách nhiệm công dân trong công tác bảo đảm trật tự an toàn giao thông.

c. Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội các cấp vận động đoàn viên, hội viên và nhân dân tích cực tham gia theo dõi, giám sát và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông.

a. Nghiên cứu, hoàn thiện mô hình tổ chức bộ máy quản lý ngành hiệu quả, khắc phục sự chồng chéo về chức năng, nhiệm vụ, xác định rõ đầu mối trách nhiệm, quản lý thông suốt, đồng bộ hệ thống hạ tầng giao thông của thành phố; tập trung nâng cao trách nhiệm, đạo đức trong thực thi công vụ của lực lượng cảnh sát giao thông, thanh tra giao thông; kiên quyết xử lý nghiêm những cá nhân có hành vi tiêu cực, nhũng nhiễu khi thi hành nhiệm vụ.

b. Các lực lượng chức năng từ thành phố đến quận, huyện, phường – xã, thị trấn tập trung tối đa lực lượng để thực hiện công tác điều hòa giao thông vào các giờ cao điểm nhằm phòng chống và hạn chế tình trạng ùn tắc tại các nút giao thông chính, các vị trí thường xuyên xảy ra ùn tắc giao thông; xử phạt nghiêm các hành vi vi phạm về trật tự an toàn giao thông; kiểm soát chặt chẽ tình trạng xe quá tải và các hành vi vi phạm quy định thi công trên đường bộ đang khai thác.

c. Xây dựng các phương án để lấy ý kiến của nhân dân nhằm tạo sự đồng thuận, kiên quyết thực hiện lập lại trật tự lòng đường, lề đường, vỉa hè; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm, lấn chiếm và tái lấn chiếm trái phép vỉa hè, lòng đường, đấu nối trái phép vào đường bộ đang khai thác; triển khai quy hoạch, sắp xếp lại các khu vực, các tuyến đường được phép kinh doanh buôn bán mặt tiền đường và cơ chế thực hiện nhằm giải quyết căn cơ tình trạng này; xử lý quyết liệt, triệt để tình trạng bến bãi hoạt động vận tải trái phép trên địa bàn thành phố và xử lý dứt điểm tình trạng mất an ninh trật tự trước cổng các bệnh viện, trường học.

d. Các đồng chí lãnh đạo chủ chốt quận, huyện (đồng chí bí thư quận ủy, huyện ủy, đồng chí chủ tịch ủy ban nhân dân quận, huyện) chịu trách nhiệm trước đồng chí Bí thư Thành ủy và đồng chí Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố nếu trên địa bàn còn để xảy ra tình trạng buôn bán lấn chiếm trái phép lòng đường, lề đường, vỉa hè; tình trạng bến bãi hoạt động vận tải trái phép.

2. Ban Cán sự Đảng Ủy ban nhân dân thành phố chỉ đạo Ủy ban nhân dân thành phố xây dựng kế hoạch cụ thể để triển khai thực hiện có hiệu quả Chương trình hành động, đồng bộ với kế hoạch phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội giai đoạn 2023 – 2023; bảo đảm yêu cầu đột phá, tạo chuyển biến rõ rệt ngay trong năm 2023 – 2023; định kỳ hàng năm tổ chức sơ kết, đến giữa năm 2023 tổng kết, báo cáo kết quả thực hiện Chương trình hành động cho Ban Thường vụ Thành ủy.

3. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội thành phố có kế hoạch tuyên truyền, giáo dục, vận động đoàn viên, hội viên và các tầng lớp nhân dân tích cực thực hiện tốt Chương trình hành động này; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, huy động mọi nguồn lực tham gia giám sát thực hiện, phát huy vai trò giám sát của Mặt trận Tổ quốc trong thực hiện chương trình.

4. Ban Tuyên giáo Thành ủy chỉ đạo các cơ quan báo chí thành phố xây dựng kế hoạch tuyên truyền có hiệu quả, thiết thực, góp phần nâng cao nhận thức, trách nhiệm của cộng đồng trong thực hiện pháp luật về giao thông đô thị; phê phán các hành vi vi phạm, kịp thời biểu dương, nhân rộng các điển hình trên lĩnh vực đảm bảo trật tự an toàn giao thông.

Chương trình hành động này được phổ biến đến chi bộ.

(1) Diện tích đất giao thông trên đất xây dựng đô thị chỉ đạt 8,2%.

(2) Vận tải hành khách công cộng năm 2023 đảm nhận 575 triệu lượt hành khách (đáp ứng 9,3% tổng nhu cầu đi lại).

(3) Tính đến cuối năm 2023, thành phố quản lý 7.451.536 phương tiện, gồm 562.185 xe ô tô, 6.889.351 xe mô tô.

(4) Dự kiến nguồn vốn đầu tư cho giai đoạn 2023-2023: vốn Ngân sách Thành phố khoảng 37.832 tỷ đồng, vốn ODA khoảng 72.367 tỷ đồng, vốn Trung ương khoảng 79.363 tỷ đồng, vốn theo hình thức PPP khoảng 125.401 tỷ đồng.

(5) Tương ứng với khối lượng vận tải hành khách công cộng bằng xe buýt và taxi đến năm 2023 đạt từ 1.037 đến 1.175 triệu lượt hành khách/năm.

(6) Tập trung thực hiện các công trình theo Mục II, Phụ lục II của Quyết định số 2631/QĐ-TTg ngày 31 tháng 12 năm 2013 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội thành phố Hồ Chí Minh đến năm 2023, tầm nhìn đến năm 2025.

(7) Tập trung đẩy nhanh tiến độ đầu tư để đưa vào khai thác trong năm 2023

Cập nhật thông tin chi tiết về Chương Trình Hành Động Số 44 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!