Xu Hướng 2/2024 # Chuyện Xúc Động Về Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng” # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Chuyện Xúc Động Về Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng” được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(Mặt trận Lào Cai – 20/2/1979).

Nhà thơ Dương Soái từng xuất hiện trong chương trình “Giai điệu tự hào”.

Nhà thơ Dương Soái sinh năm 1950 ở vùng quê chiêm trũng Hà Nam. Bước vào tuổi 18, nhà thơ thoát ly gia đình, gia nhập đoàn công nhân địa chất Hoàng Liên Sơn (Ngày nay thuộc địa phận hai tỉnh Lào Cai và Yên Bái).

Khi cuộc chiến tranh bảo vệ biên giới phía Bắc nổ ra, nhà thơ Dương Soái đang là phóng viên của Đài Phát thanh Hoàng Liên Sơn. Ông được ban lãnh đạo Đài cử lên mặt trận ngay trong tháng 2/1979. Tại nơi tạm nghỉ trong các trận đánh, ông đã được gặp các chiến sĩ và người dân vừa từ mặt trận trở về.

“Đến mặt trận, tôi gặp các đồng chí, chiến sĩ. Có người trở về sau trận đánh máu vẫn còn chảy ròng ròng ở viết thương. Người về trước, người về sau, nhưng trông thấy nhau là… khóc vì “tưởng mày chết rồi!”.

Khi biết tôi là nhà báo, các chiến sĩ nói với tôi rằng: “Anh là nhà báo, anh phải nói với mọi người rằng: Còn chúng em, thì còn biên giới”. Đặc biệt, ngay sau đó, các chiến sĩ nhờ tôi gửi những lá thư của họ về gia đình.

Người thì gửi những lá thư đã cho vào phong bì gián tem, người thì gửi lá thư vừa viết vội chưa kịp cho vào phong bì mà chỉ mới kịp gấp làm 3. Thậm chí, có người chỉ kịp xin tôi một tờ giấy để ghi vội vài dòng ngắn ngủi nhắn nhủ cho người thân ở nhà biết họ vẫn đang bình yên hoặc đưa cho tôi địa chỉ rồi nhờ tôi đánh điện về nhà báo tin họ vẫn còn sống.

Giai đoạn đó, phóng viên đi đưa tin không có phương tiện gì để truyền về ngoài trực tiếp về tại cơ quan. Vì vậy, sau khi thu đầy các cuốn băng về các mẩu chuyện – câu chuyện chiến đấu thì tôi trở về phố Lu – Lào Cai. Thời điểm đó, người ta dồn tất cả các loại tàu lại để chở những người sơ tán từ biên giới vào sâu trong nội địa.

Trong lúc ngồi chờ đoàn tàu tiếp theo ở ga phố Lu, tôi mới có thời gian lần dở những lá thư mà người nơi chiến trận đã gửi cho mình. Hoá ra, trong những lá thư đó, đa phần là địa chỉ ở Hà Sơn Bình, Hà Nam Ninh, Vĩnh Phú, Hải Hưng… tức toàn những cái tên ở phía cuối sông Hồng cả.

Điều này làm cho tôi dấy lên suy nghĩ, cuộc chiến này tập hợp rất nhiều con em ở dọc sông Hồng lên bảo vệ biên giới. Cộng với nỗi niềm của bản thân, một người cũng sinh ra bên cạnh sông Hồng… đã làm tôi cảm tác để viết nên bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Bài thơ sau đó được Hội Văn học Nghệ thuật Hoàng Liên Sơn in, sau đó báo Văn nghệ in”, nhà thơ Dương Soái kể.

Một năm sau, 1980, nhạc sĩ Thuận Yến tình cờ đọc được bài “Gửi em ở cuối sông Hồng”. Ông đã phổ nhạc cho bài thơ, trở thành bài hát nổi tiếng.

Nhà thơ Dương Soái kể, vài năm sau đó, ông mới gặp nhạc sĩ Thuận Yến. Nhạc sĩ họ Đoàn kể với nhà thơ rằng, trong một chuyến ngược lên biên giới sau chiến tranh, ông đã gặp vợ chồng một chiến sĩ.

Vợ ở Thái Bình, còn chiến sĩ đang chốt ở biên giới Bát Xát, phía con sông Hồng. Nhạc sĩ Thuận Yến được kể rằng, đó là người vợ trẻ, vừa lấy chồng thì chồng ra ngay biên giới. Ông bố giao cho chị phải lên biên giới để gặp chồng.

Nhà thơ Dương Soái đã lấy tên bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” để đặt tên cho tập thơ của mình.

Gặp hoàn cảnh như vậy, nhạc sĩ Thuận Yến rất xúc động nhưng lúc đó ông chưa viết được ra bài hát ấp ủ, mãi đến khi gặp bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” ca khúc mới ra đời.

Nhà thơ Dương Soái tâm sự: “Trong điều kiện chiến tranh ngày ấy, câu thơ: “Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt” có nghĩa đây là đất của ta, đất của chúng ta, của tôi – một lời tuyên ngôn “Nam quốc sơn hà…”.

Tuy nhiên, trong hoàn cảnh cụ thể của người chiến sĩ ở mặt trận Lào Cai, “Gửi em ở cuối sông Hồng” nhấn mạnh địa danh: Anh ở Lào Cai/ Nơi con sông Hồng chảy vào đất Việt. Nhưng Dương Soái vẫn biết ơn nhạc sĩ Thuận Yến đã sửa giúp 2 chữ “Lào Cai” trong bài thơ ra chữ “biên cương”. Chính hai chữ “biên cương” mang một tầm rộng lớn hơn, phổ quát hơn, bay rộng hơn trên khắp dải biên cương Tổ quốc.

Cũng theo nhà thơ Dương Soái, đầu tiên nhạc sĩ Thuận Yến viết “Gửi em ở cuối sông Hồng” đơn ca theo bài thơ gốc của Dương Soái nhưng NSƯT Thanh Hương – vợ nhạc sĩ Thuận Yến đã bảo chồng phải viết song ca cho ca sĩ có đất để giao lưu nên nhạc sĩ đã biến “Gửi em ở cuối sông Hồng” thành bài song ca với 2/3 lời 2 trong ca khúc là của nhạc sĩ Thuận Yến.

Năm 1999, 20 năm sau khi “Gửi em ở cuối sông Hồng ra đời”, ca khúc đã được Bộ Tư lệnh Biên phòng trao giải thưởng Bài hát được các chiến sĩ bộ đội biên phòng bình chọn là hay nhất.

Nhà văn Hoàng Mạnh Quân – Hội Liên hiệp Văn học nghệ thuật tỉnh Yên Bái cho rằng: “Bài thơ “Gửi em ở cuối sông Hồng” của Dương Soái đã nói được tâm tư, tình cảm… của những người ở biên cương nói chung. Con sông Hồng chảy vào đất Việt vốn được nói nhiều trước đây nhưng khi chiến tranh nổ ra con sống lại mang một ý nghĩa rất khác.

Người ta cảm thấy tình cảm của những người ở biên cương gửi về người phương xa trong thời điểm “nước sôi lửa bỏng” có gì đó rất đỗi thiêng liêng, mãnh liệt… Nhất là tình yêu của những người lính đang ở biên cương bảo vệ tổ quốc gửi cho người yêu, người vợ của mình.

Cái đó đã đi sâu vào lòng người và dấy lên trong tâm hồn người ta những xúc cảm mạnh mẽ”. Bên cạnh “Gửi em ở cuối sông Hồng”, nhà thơ Dương Soái còn có nhiều bài thơ viết về cuộc chiến bảo vệ biên giới phía Bắc được đăng trên nhiều tờ báo, tạp chí…

Hà Tùng Long

Hoàn Cảnh Ra Đời Của Chinh Phụ Ngâm Hay Nhất.

Đề bài: Hoàn cảnh ra đời tác phẩm Chinh phụ ngâm của Đặng Trần Côn

Bài văn mẫu

Văn học Việt Nam giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến giữa thế kỉ XIX phát triển trong hoàn cảnh xã hội có nhiều biến động. Chế độ phong kiến đi từ khủng hoảng đến suy thoái, đất nước rơi vào tình trạng loạn lạc. Chiến tranh giữa hai tập đoàn phong kiến Lê, Trịnh với Nguyễn dẫn đất nước đến tình trạng chia cắt lâu dài. Nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra và đỉnh cao là khởi nghĩa như bão táp của người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã đánh tan ba tập đoàn phong kiến đàng trong, người anh hùng áo vải Nguyễn Huệ đã đánh tán ba tập đoàn phong kiến đàng trong, đàng ngoài và các cuộc xâm lăng cùa ngoại bang ở phía Nam cũng như phía Bắc. Nhà Tây Sơn chỉ tồn tại trong một thời gian rất ngắn bị nhà Nguyễn lật đổ, khôi phục chế độ phong kiến chuyên chế và đưa đất nước vào hiểm họa xâm lăng.

Được phong trào dân tộc, dân chủ nâng đỡ văn học Việt Nam phát triển mạnh mẽ chưa từng có. Bao trùm lên cả giai đoạn văn học là cảm hứng nhân đạo. Nổi bật trong sáng tác là tiếng nói đòi quyền sống, đòi hanh phúc và đấu tranh giải phóng con người, trong đó có phần con người cá nhân nhất là người phụ nữ.

Thời kì Đặng Trần Côn sống có nhiều cuộc khởi nghĩa nông dân nổ ra ở quanh kinh thành Thăng Long. Triều đình cất quân đánh dẹp, nhiều trai tráng phải từ giã người thân ra trận. Nhân dân lâm vào cảnh tan tác loạn li. Oán ghét chiến tranh phi nghĩa, cảm thương cho những nỗi khổ đau, mất mát {trong đó có mất mát về tình yêu, hạnh phúc lứa đôi) của con người nhất là những người phụ nữ có chồng đi lính. Đặng Trần Côn đã viết Chinh phụ ngâm.

Ngâm là một thể loại văn học cổ, xuất hiện và phát triển mạnh ở Việt Nam vào giai đoạn từ thế kỉ XVIII đến nửa dầu thế kỉ XIX mà hai thành tựu nổi bật là Chinh phụ ngăm (Khúc ngâm về nỗi lòng của người vợ có chồng ra trộn) của Đặng Trần Côn và Cung oán ngâm (Khúc ngâm về nỗi oán sầu của người cung nữ) của Nguyễn Gia Thiều.

Chinh phụ ngâm là tác phẩm được viết bằng chữ Hán, theo thể trường đoản cú (các câu thơ dài ngắn không đều nhau), thuộc loại thơ trữ tình, cần phải hiểu đặc trưng của thơ trữ tình. Nếu tự sự kể lại, miêu cả sự kiện diễn ra bên ngoài một cách khách quan thì trữ tình là miêu tả thế giới nội tâm với các diễn biến bên trong tâm hồn. Trong thơ trữ tình có thể kể sự việc nhưng kể việc cũng chỉ để diễn tả cảm xúc, nội tâm nhân vật mà thôi. Nhiệm vụ của nhà văn nhà thơ là tả sao cho cái vô tả ngoại cảnh, tả thiên nhiên, tả nội tâm qua ngoại hình, và hành động, cử chỉ…

Đoạn Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ được trích trong bản diễn Nôm của Đoàn Thị Điểm. Dịch giả dịch sang tiếng Việt (chữ Nôm) theo thể song thất lục bát (gồm 2 câu 7 chữ và 2 câu lục bát nối tiếp nhau). Tên đoạn trích do các nhà biên soạn đặt.

Đã có app VietJack trên điện thoại, giải bài tập SGK, SBT Soạn văn, Văn mẫu, Thi online, Bài giảng….miễn phí. Tải ngay ứng dụng trên Android và iOS.

Nhóm học tập facebook miễn phí cho teen 2k5: chúng tôi

Theo dõi chúng tôi miễn phí trên mạng xã hội facebook và youtube:

tinh-canh-le-loi-cua-nguoi-chinh-phu.jsp

Bài Văn Em Hãy Cho Biết Hoàn Cảnh Ra Đời Của Văn Bản Thuế Máu

Tìm hiểu về hoàn cảnh ra đời của văn bản Thuế máu, các em không chỉ hiểu được hoàn cảnh sáng tác mà còn thấy được bối cảnh lịch sử, tình hình chính trị Việt Nam- thời điểm mà người sáng tác. Mặt khác, qua việc tìm hiểu hoàn cảnh sáng tác, các em có thêm những thông tin hữu ích cho việc tìm hiểu và phân tích bài Thuế máu của Nguyễn Ái Quốc.

Đề bài: Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của văn bản Thuế máu

Bài văn mẫu Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của văn bản Thuế máu

Bài làm:

Văn bản “Thuế máu” được trích từ chương I cuốn Bản án chế độ thực dân Pháp – một tác phẩm chính luận của Nguyễn Ái Quốc viết bằng tiếng Pháp, xuất bản lần đầu tiên tại Pa-ri năm 1925, xuất bản lần đầu tiên ở Việt Nam năm 1946. Tác phẩm Bản án chế độ thực dân Pháp ra đời trong thời kì chủ nghĩa thực dân Pháp thực hiện âm mưu “khai thác triệt để thuộc địa. Sau đại chiến thứ nhất, bọn đế quốc Pháp phản bội mọi lời hứa hẹn tốt đẹp với nhân dân thuộc địa. Hơn nữa, chúng ra sức tăng cường toàn bộ chính sách bóc lột, đàn áp hết sức dã man, với những kế hoạch quy mô, những tổ chức có hệ thống về mọi mặt: kinh tế, chính trị, văn hóa. Hầm mỏ, nhà máy, đồn điền cao su tập trung hàng nghìn công nhân là những địa ngục trần gian. Thuế má nặng nề, phi lí, rượu cồn, thuốc phiện…, giam hãm người nông dân trong cảnh bần cùng, đói rét. Bộ máy quan lại được củng cố, trở thành những công cụ đắc lực, bắt bớ những người yêu nước và bóc lột đến tận cái khố rách của nhân dân thuộc địa. Chúng thi hành mọi chính sách thâm hiểm và trắng trợn chống lại nền văn hóa dân tộc. Nấp sau chiêu bài “Bình đẳng, Bác ái”, và nhiều khi không cần chiêu bài gì, chúng muốn biến những dân tộc bị áp bức thành những dân tộc đời đời làm nô lệ. Để thực hiện những âm mưu ấy, chủ nghĩa đế quốc Pháp xuất khẩu những tên thực dân sang thuộc địa. Bọn này hùng hổ kéo từng đoàn, từng lũ sang thuộc địa để vơ vét, chém giết, dưới khẩu hiệu lừa bịp “khai hóa “. Dù che giấu dưới cái vẻ hào nhoáng nào, chúng vẫn lộ nguyên hình là những con quỷ dữ. Đó là hình ảnh cụ thể nhất của chủ nghĩa đế quốc “ăn bám” và “thối nát”. Bản án chế độ thực dân Pháp của Hồ Chủ tịch đã miêu tả quá trình tiêu vong của chủ nghĩa tư bản trong giai đoạn giãy chết của nó, qua hình tượng những tên thực dân dưới nhiều hình dáng.

Sau khi đã Em hãy cho biết hoàn cảnh ra đời của văn bản Thuế máu các em có thể đi vào Viết đoạn văn cho biết kết quả sự hi sinh của những người dân các nước thuộc địa trong văn bản Thuế máu hoặc tham khảo Cái nhìn của Nguyễn Ái Quốc đối với các dân tộc bị áp bức thể hiện qua Bản án chế độ thực dân Pháp nhằm củng cố kiến thức của mình.

https://thuthuat.taimienphi.vn/em-hay-cho-biet-hoan-canh-ra-doi-cua-van-ban-thue-mau-41672n.aspx

em hay cho biet hoan canh ra doi cua van ban thue mau

, the loai cua van ban thue mau, y nghia van ban thue mau,

Hoàn Cảnh Sáng Tác Bài Thơ Ánh Trăng

1. Hoàn cảnh sáng tác bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy:

-Nguyễn Duy viết bài thơ “Ánh trăng” vào năm 1978 ,tại thành phố Hồ Chí Minh -nơi đô thị của cuộc sống tiện nghi hiện đại, nơi những người từ trận đánh trở về đã để lại sau lưng cuộc chiến gian khổ mà nghĩa tình.

– In trong tập thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy -tập thơ đạt giải A của Hội nhà Văn Việt Nam năm 1984.

*Bài thơ là câu chuyện nhỏ được kể theo trình tự thời gian từ quá khứ đến hiện tại gắn với các mốc sự kiện trong cuộc đời con người. Theo dòng tự sự ấy mạch cảm xúc đi từ quá khứ đến hiện tại và lắng kết trong cái “giật mình” cuối bài thơ.

2. – Hình ảnh “trăng cứ tròn vành vạnh” là tượng trưng cho quá khứ nghĩa tình, thủy chung, đầy đặn, bao dung, nhân hậu.

3. Bài làm:

Qua ý nghĩa của bài thơ “Ánh trăng” của Nguyễn Duy, ta biết thêm rằng, uống nước phải nhớ đến nguồn. Bài thơ là một lời tự nhắc nhở của tác giả về những năm tháng gian lao của cuộc đời người lính gắn bó với thiên nhiên, đất nước bình dị, hiền hậu. Sinh ra là một người lính, dũng cảm mà hiền hòa, cuộc đời của mỗi người lính không chỉ riêng tác giả đều gắn bó với núi rừng, làm bạn với trăng sao, ngày đêm chiến đấu giành lại hòa bình độc lập. Với tư thế “ngửa mặt lên nhìn mặt” người đọc cảm nhận sự lặng im, thành kính và trong phút chốc cảm xúc dâng trào khi gặp lại vầng trăng: “có cái gì rưng rưng”. Rưng rưng của những niềm thương nỗi nhớ, của những lãng quên lạnh nhạt với người bạn cố tri; của một lương tri đang thức tỉnh sau những ngày đắm chìm trong cõi u mê mộng mị; rưng rưng của nỗi ân hận ăn năn về thái độ của chính mình trong suốt thời gian qua. Một chút áy náy, một chút tiếc nuối, một chút xót xa đau lòng, tất cả đã làm nên cái “rưng rưng”,cái thổn thức trong sâu thẳm trái tim người lính. Bạn có thấy tự hào không khi bản thân mỗi chúng ta đang được sống hạnh phúc dưới thời bình không một bóng giặc, ngày ngày la lượn cánh chim câu bay giữa bầu trời quang đãng.

Lòng biết ơn, tri ân, gìn giữ, phát huy những thành quả vật chất hoặc tinh thần do con người tạo ra để ta hưởng thụ chính là sự “nhớ nguồn”. “Nhớ nguồn” là sự biết ơn tổ tiên, cội nguồn dân tộc, biết ơn chạ mẹ đã sinh thành, nuôi dưỡng, biết ơn thầy cô đã cung cấp cho ta kiến thức, biết ơn người lao động đã đem lại những cái ta cần, biết ơn những người đã chiến đấu, hi sinh để bảo vệ quê hương, bảo yệ cuộc sống của chúng ta.. Lòng biết ,ơn đó phải thể hiện bằng việc làm cụ thể ở mỗi con người.

Truyền thống tốt đẹp đó đã và đang tồn tại, nó cần được giữ gìn và phát huy, đặc biệt là trong chĩnh trái tim của những người con gắn bó với quê hương, xứ sở. Nhan đề bài thơ ngắn gọn vậy mà hình ảnh thơ chân thực, trong sáng, lại gợi lên cho mỗi chúng ta một quá khứ đẹp và vô cùng đặc biệt đối với ai là những người lính. Thật sâu sắc và bồi hồi cảm động biết bao!

Bài thơ không chỉ hay, nó còn là những bài học bổ ích, dạy ta hãy biết”uống nước nhớ nguồn”, yêu cha yêu mẹ, yêu anh chị em, yêu ông bà, yêu những người chiến sĩ đã ngã gục vì non sông, yêu quê hương đất nước, yêu ánh trăng vàng đêm khuya…. Tác giả thật tài hoa dưới ngòi bút văn học, cho ra đời những ý tưởng mà đời người chưa hẳn ai đã biết đến.

Trình Bày Ngắn Gọn Những Hiểu Biết Về Hoàn Cảnh Ra Đời Và Tác Giả, Dịch Giả Của Chinh Phụ Ngâm… 3. Trình Bày Đặc Điểm Nghệ Thuật Của Văn Bản Tình Cảnh Lẻ Loi Của Người Chinh Phụ

1. Trình bày ngắn gọn những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời và tác giả, dịch giả của Chinh phụ ngâm… 3. Trình bày đặc điểm nghệ thuật của văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ Đề bài:

1. Trình bày ngắn gọn những hiểu biết về hoàn cảnh ra đời và tác giả, dịch giả của Chinh phụ ngâm.

2. Tâm trạng của người chinh phụ trong đoạn trích Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

3. Trình bày đặc điểm nghệ thuật của văn bản Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ.

Hướng dẫn:

1. Hoàn cảnh ra đời của Chinh phụ ngâm:

Chế độ phong kiến Việt Nam bước vào thời kì khủng hoảng trầm trọng. Nội bộ giai cấp phong kiến lục đục, tranh giành quyền lợi. Sự giằng co Lê – Mạc, Trịnh – Nguyễn kéo dài khiến cho nhân dân cực khổ, lầm than, sông trong cảnh huynh đệ tương tàn. Mâu thuẫn giữa tầng lớp giai cấp thông trị và nhân dân càng trở nên gay gắt, làm nên cả “thế kỉ nông dân khởi nghĩa”. Cảnh loạn li, chinh chiến là hiện thực dội vào nhiều tác phẩm. Chinh phụ ngâm đã ra đời trong bối cảnh lịch sử, văn hóa như vậy.

Tác giả Đặng Trần Côn sống vào khoảng nửa đầu thế kỉ XVIII, quê ở Nhân Mục, nay là quận Thanh Xuân, Hà Nội. Là người miệt mài học tập từ thuở nhỏ nhưng ông không nặng nề chuyện thi cử đỗ đạt. Con đường khoa cử của ông tuy không thật lừng lẫy nhưng tác phẩm Chinh phụ ngâm lại gắn liền với tên tuổi của ông suốt mấy thế kỉ qua. Chinh phụ ngâm vượt ra khỏi khuôn khổ “tập cổ” (vì tác phẩm của ông lấy ý hoặc phỏng theo những câu thơ trong Nhạc phủ, Đường thi của Trung Quốc) sáo mòn, đơn điệu nhờ cảm xúc dồi dào, chan chứa tinh thần nhân đạo.

Hiện có nhiều bản dịch Chinh phụ ngâm của những dịch giả khác nhau. Bản dịch hiện hành thường được cho là của Đoàn Thị Điểm.

Dịch giả Đoàn Thị Điểm (1705 – 1748), quê ở Giai Phạm, huyện Văn Giang, xứ Kinh Bắc (nay thuộc tỉnh Hưng Yên). Đoàn Thị Điểm nổi tiếng thông minh, hay chữ, có bản lĩnh và giàu nghị lực. Sau khi từ chối nhiều người quyền quý, năm 37 tuổi, bà nhận lời lấy tiến sĩ Nguyễn Kiều. Sáng tác của Đoàn Thị Điểm gồm có thơ chữ Hán, chữ Nôm, tập Truyền kì tân phả. Có thể vì cảnh ngộ riêng (ngay sau khi lấy vợ, ông Nguyễn Kiều phải đi sứ 3 năm) mà nữ sĩ Đoàn Thị Điểm đã chuyển dịch thành công Chinh phụ ngâm.

2. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một đoạn trích diễn tả sâu sắc tâm trạng người chinh phụ. Nghị luận về nội dung này có thể có nhiều cách khác nhau, tương ứng với những dàn ý khác nhau, ớ đây chỉ nêu một gợi ý phân tích tâm trạng nhân vật trữ tình trong văn bản.

Trong đoạn trích, tác giả đã miêu tả:

– Tình cảnh người chinh phụ:

+ Khi dạo ngoài hiên vắng, trước đèn, đốt hương, khi lại soi gương, đánh đàn… trong mọi việc, nàng đều chỉ có một mình, cô đơn.

+ Cảm giác cô đơn cùng cực là khi nàng đánh đàn và “dây uyên kinh đứt” – chi tiết thể hiện sự bế tắc, tuyệt vọng.

– Cảnh vật:

+ Không gian rộng dài xa xôi. Nói cách khác, không gian ấy “đo” khoảng cách ngăn giữa người thiếu phụ và người chinh phu.

+ Buồn thương, héo tàn.

– Niềm khát khao, mong ước hạnh phúc lứa đôi.

3. Tình cảnh lẻ loi của người chinh phụ là một minh chứng cho sự thành công về nghệ thuật của tác giả Chinh phụ ngâm trong việc miêu tả tâm trạng con người. Bản dịch vừa thể hiện được thành công đó, vừa có những sáng tạo:

– Về thể loại – thể thơ song thất lục bát:

+ Là một thể thơ dân tộc gần gũi với cảm nhận của quần chúng;

+ Có khả năng lớn trong việc thể hiện giọng điệu buồn thương, đau đớn triền miên, không dứt.

– Ngôn ngữ: sử dụng nhiều từ láy, các hình ảnh so sánh trong việc miêu tả cảnh vật và diễn tả tâm trạng nhân vật.

+ Được lựa chọn thể hiện tinh tế những cung bậc của cảm xúc, tâm trạng nhân vật.

+ Được sử dụng nhằm mục đích biểu cảm.

+ Sử dụng các biện pháp tu từ làm tăng giá trị nghệ thuật.

chúng tôi

Bối Cảnh Ra Đời Của Luật Thương Mại Năm 2005

Vai trò của các tổ chức tài chính quốc tế như Tổ chức Tiền tệ Quốc tế (IMF), Ngân hàng Thế giới (WB) trong nền kinh tế thế giới được củng cố và mở rộng phạm vi ảnh hưởng. Sự phát triển mạnh mẽ của các thể chế kinh tế quốc tế, các công ty đa quốc gia cũng là một biểu hiện quan trọng cho xu thế toàn cầu hóa nền kinh tế thế giới.

Bên cạnh sự phát triển kinh tế thế giới , kết thúc thế kỷ XX và bước sang thế kỷ XXI, tình hình thế giới và khu vực có nhiều diễn biến phức tạp . Sự kiện khủng bố ngày 11/9/2001 tại New York , chiến tranh và những diễn biến không lường trước được ở Trung Đông , giá dầu mỏ liên tục tăng cao , tình hình thiên tai , dịch bệnh… đã khiến cho các quốc gia trên toàn thế giới lâm vào tình trạng khó khăn

Như vậy, bối cảnh thế giới với những cơ hội và thách thức lớn đều thúc đẩy Việt Nam đổi mới để hội nhập sâu hơn vào nền kinh tế thế giới . Yêu cầu hội nhập đòi hỏi ở Việt Nam một hệ thống pháp luật hoàn chỉnh , hiệu quả , đặc biệt là pháp luật về thương mại.

Bối cảnh trong nước – Việt Nam trong thời kỳ đổi mới

Tháng 4 năm 2001, Đại Hội Đảng toàn quốc lần thứ IX đã thông qua chiến lược phát triển kinh tế-xã hội 2001-2010 và phương hướng, nhiệm vụ kế hoạch phát triển kinh tế-xã hội năm năm 2005-2010 nhằm đẩy nhanh tốc độ phát triển kinh tế và chất lượng phát triển xã hội của đất nước.

Chiến lược phát triển kinh tế – xã hội đề ra mục tiêu tổng quát là: “Đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển; nâng cao rõ rệt đời sống vật chất, văn hoá, tinh thần của nhân dân, tạo nền tảng để đến năm 2024 nước ta cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại. Nguồn lực con người, năng lực khoa học và công nghệ, kết cấu hạ tầng, tiềm lực kinh tế, quốc phòng, an ninh được tăng cường; thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa được hình thành về cơ bản; vị thế của nước ta trên trường quốc tế được nâng cao”4.

Thực hiện đường lối chính sách đó, Đảng, Nhà nước và Chính Phủ đã tập trung cải cách hành chính và tạo dựng môi trường kinh doanh lành mạnh, từng bước tích cực và chủ động hội nhập vào nền kinh tế quốc tế một cách có hiệu quả. Nhờ vậy, nền kinh tế Việt Nam đã duy trì được tốc độ phát triển nhanh và ổn định, tốc độ tăng trưởng kinh tế năm 2003 đạt 7,34%, năm 2004 đạt 7,79% và năm 2005 đạt 8,44%.5

Các thành phần kinh tế tiếp tục phát triển, kinh tế nhà nước tiếp tục được đổi mới, tuy còn chậm nhưng cũng đang từng bước nâng cao hiệu quả trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Các hình thức đổi mới doanh nghiệp Nhà nước cũng đa dạng hơn, tạo điều kiện thuận lợi cho việc đẩy nhanh tiến trình này.

Thành phần kinh tế tư nhân có bước phát triển mạnh mẽ và ngày càng mở rộng quy mô và ngành nghề. Luật Doanh nghiệp ban hành năm 1999 tạo điều kiện rất thuận lợi cho các doanh nghiệp hoạt động.

Khu vực kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài cũng phát triển mạnh. Tính đến 31/12/2005, Việt Nam đã thu hút được thêm tổng số trên 44 tỉ USD vốn FDI (vốn đăng ký)6. Các doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đã có nhiều đóng góp tích cực cho sự phát triển kinh tế, góp phần nâng cao chất lượng và tăng thêm sức cạnh tranh cho sản phẩm trong nước.

Kinh tế tập thể đang được tổ chức lại theo hướng hiệu quả hơn, giải quyết những tồn đọng, vướng mắc nhằm dổi mới phương thức hợp tác giữa các hộ gia đình, các làng nghề…đặc biệt là các vùng nông thôn.

Một nền kinh tế phát triển đòi hỏi hệ thống pháp luật mà trong đó là các đạo luật phải có sự thay đổi đáng kể phù hợp với tình hình để có thể điều chỉnh được các hoạt động thương mại phát sinh trong quan hệ hợp tác kinh tế với các nước trong khu vực và trên thế giới. Điều này đồng nghĩa với việc phải thường xuyên cập nhật, thay đổi các đạo luật. Ngoài ra, theo quy định tại Điều 16 khoản 4 của Hiệp định Marrakesh về Thành lập WTO, để gia nhập WTO, các nước muốn gia nhập phải sửa đổi pháp luật thương mại và các quy tắc của nước mình nhằm tạo tính tương thích với các quy định của WTO. Luật Thương mại năm 1997 bị các nước nước phê phán là có phạm vi điều chỉnh quá hẹp, có nhiều quy định không phù hợp với Luật của WTO. Do vậy, trong bối cảnh mới, việc sửa đổi Luật Thương mại 1997 là một yêu cầu cấp thiết.

Cập nhật thông tin chi tiết về Chuyện Xúc Động Về Hoàn Cảnh Ra Đời Của Bài Thơ “Gửi Em Ở Cuối Sông Hồng” trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!