Xu Hướng 3/2024 # Công Tác Xây Dựng Văn Bản Qppl Góp Phần Quan Trọng Vào Việc Hoàn Thiện Thể Chế, Cơ Chế, Chính Sách Phục Vụ Đổi Mới, Phát Triển, Kinh Tế # Top 7 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Công Tác Xây Dựng Văn Bản Qppl Góp Phần Quan Trọng Vào Việc Hoàn Thiện Thể Chế, Cơ Chế, Chính Sách Phục Vụ Đổi Mới, Phát Triển, Kinh Tế được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

     

Xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đồng bộ, thống nhất, khả thi, công khai, minh bạch; phát huy vai trò và hiệu lực của pháp luật để góp phần quản lý xã hội, giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế, hội nhập quốc tế, góp phần đưa nước ta trở thành nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2024 là mục tiêu lớn mà Nghị quyết 48-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật đến năm 2010, định hướng đến năm 2024 đã đề ra.

Quán triệt mục tiêu, quan điểm của Đảng, pháp luật của Nhà nước về công tác xây dựng pháp luật, trong những năm qua tỉnh Thái Nguyên đã không ngừng nỗ lực xây dựng và hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật. Kết quả là chúng ta đã có những bước tiến dài và thành công trong công tác xây dựng văn bản pháp luật, với một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật khá đồ sộ đã được ban hành và áp dụng trong thực tiễn (Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 637 văn bản quy phạm pháp luật tính từ năm 2011 đến nay).

Đồng chí Bùi Xuân Hòa, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng ban Chỉ đạo Cải cách tư pháp tỉnh 

phát biểu chỉ đạo tại Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24/5/2005 của Bộ Chính trị về

“Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2024”

Hệ thống văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh đã thể chế hóa đầy đủ và kịp thời các chủ trương, chính sách qua từng thời kỳ phát triển. Có giai đoạn chúng ta tập trung củng cố hệ thống chính trị, cải cách bộ máy hành chính, ổn định kinh tế – xã hội, trong những năm gần đây tỉnh chú trọng hoàn thiện các thể chế kinh tế đáp ứng yêu cầu vận động của kinh tế thị trường, thúc đẩy mạnh mẽ phát triển kinh tế – xã hội:

– Trong lĩnh vực kinh tế: tỉnh đặc biệt quan tâm hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật để bảo đảm quyền tự do kinh doanh, thu hút, khuyến khích đầu tư, xây dựng khu công nghiệp, giải phóng mặt bằng, hỗ trợ các thành phần kinh tế phát triển, phân cấp, phân quyền cho các đơn vị, bước đầu tạo hành lang pháp lý thông thoáng, thuận lợi cho hoạt động của doanh nghiệp, nhà đầu tư và hoạt động sản xuất kinh doanh của người dân, đồng thời góp phần tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong hoạt động sản xuất kinh doanh. Đến nay hầu hết các lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội như đầu tư, nông nghiệp, nông thôn, giáo dục, y tế… đều có chính sách hỗ trợ, thu hút, nhằm tạo điều kiện tạo bứt phá trong phát triển;

– Về xây dựng thể chế pháp lý, hoàn thiện tổ chức bộ máy nhà nước: Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành nhiều văn bản về cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực; tăng cường phân công, phân cấp quản lý nhằm tạo sự chủ động, linh hoạt cho các cấp chính quyền và nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước; quy định chế độ đào tạo, bồi dưỡng thu hút người có trình độ chuyên môn cao về công tác tại tỉnh, chính sách tinh giản biên chế, sắp xếp tổ chức bộ máy…

– Về lĩnh vực văn hoá, giáo dục, đào tạo, khoa học công nghệ, lao động việc làm, đảm bảo quốc phòng an ninh: tỉnh đã ban hành nhiều chính sách về đào tạo, hỗ trợ cho lao động nông thôn, chính sách về ứng dụng các thành tựu khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống; chính sách hỗ trợ cho giáo viên, học sinh, sinh viên; khám, chữa bệnh cho người nghèo; quy định về xây dựng lực lượng vũ trang quần chúng, về quản lý thống nhất các hoạt động đối ngoại, thông tin đối ngoại trên địa bàn tỉnh, quy định về bảo vệ bí mật nhà nước…

Cùng với hoạt động xây dựng thể chế, chính sách và văn bản pháp luật, tỉnh cũng đặc biệt quan tâm đến công tác triển khai, theo dõi thi hành pháp luật đảm bảo các chủ chương, chính sách, thể chế của tỉnh được tổ chức thi hành nghiêm túc, kịp thời và hiệu quả, hạn chế thấp nhất sự chồng chéo, vướng mắc trong quá trình thực hiện. Hoạt động kiểm tra, xử lý, rà soát, hệ thống hóa văn bản quy phạm pháp luật được duy trì thường xuyên, kịp thời và ngày càng có chiều sâu, góp phần đảm bảo tính hợp hiến, hợp pháp, khả thi của hệ thống văn bản (từ năm 2011 đến nay toàn tỉnh đã kiểm tra được 5285 lượt văn bản quy phạm pháp luật, kiến nghị xử lý 96 văn bản; soát 7043 lượt văn bản quy pham pháp luật, kiến nghị xử lý 566 văn bản); các thiết chế xây dựng và thi hành pháp luật được quan tâm tăng cường, tổ chức bộ máy thi hành pháp luật được củng cố, đảm bảo thực thi hiệu quả hệ thống thể chế, chính sách.

Để đạt được kết quả đó, trước hết là từ sự lãnh đạo, chỉ đạo đúng đắn của Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh; các cấp, các ngành đã nhận thức ngày càng đầy đủ và toàn diện hơn về công tác xây dựng pháp luật, từ đó có định hướng chiến lược, dài hạn hơn, gắn với thực tiễn công tác quản lý và tiến hành đồng bộ với cải cách hành chính, cải cách tư pháp. Một khía cạnh quan trọng nữa là quy trình xây dựng văn bản pháp luật được đổi mới và ngày càng hoàn thiện, gắn với tổng kết thực tiễn công tác quản lý, có sự đầu tư nghiên cứu sâu nội dung, chính sách, đánh giá cẩn trọng về thẩm quyền ban hành, tính khả thi, nguồn lực đảm bảo thực hiện, đánh giá lợi ích của tổ chức, cá nhân, lợi ích của nhà nước khi văn bản có hiệu lực thi hành, đây là yếu tố quyết định đến chất lượng hệ thống thể chế của tỉnh. Mặt khác, có thể nhận thấy vai trò của Ngành Tư pháp nhất là trong công tác tham mưu nâng cao chất lượng xây dựng văn bản quy phạm pháp luật ngày càng được thể hiện rõ nét: Sở Tư pháp đã tham mưu cho Ủy ban nhân dân tỉnh phê duyệt và triển khai thực hiện Đề án nâng cao chất lượng văn bản quy phạm pháp luật tỉnh Thái Nguyên giai đoạn 2024-2024 đạt kết quả cao; công tác thẩm định, tham gia ý kiến, tham gia giải quyết các vướng mắc trong thực thi chính sách, pháp luật cũng như công tác kiểm tra, rà soát, hệ thống hóa văn bản được Sở Tư pháp thực hiện ngày càng chất lượng và hiệu quả, thực sự là cơ quan “chủ lực” trong công tác xây dựng văn bản quy phạm pháp luật của tỉnh.

Đồng chí Vũ Thị Lệ Hằng – Giám đốc Sở Tư pháp chủ trì hội nghị kiểm tra văn bản quy phạm pháp luật tại huyện Định Hóa

Tuy nhiên bên cạnh kết quả đạt được, công tác xây dựng văn bản pháp luật vẫn còn những tồn tại, hạn chế cần được tiếp tục quan tâm khắc phục như: Có lúc, có nơi vẫn chưa thực sự chủ động trong việc đề xuất, xây dựng các cơ chế, chính sách, văn bản pháp luật thuộc trách nhiệm quản lý của ngành, đơn vị; một số bước trong xây dựng văn bản quy phạm pháp luật thực hiện còn lúng túng (lập đề nghị xây dựng nghị quyết, đánh giá tác động chính sách), hiệu quả của công tác lấy ý kiến chịu sự tác động của văn bản chưa cao; việc xử lý văn bản sau kiểm tra, rà soát còn chậm trễ (việc xử lý văn bản sau kỳ rà soát hệ thống hóa giai đoạn 2014-2024); công tác theo dõi, thi hành pháp luật chưa thực sự toàn diện, thiếu chiều sâu; việc kiện toàn đội ngũ cán bộ pháp chế ngành còn gặp nhiều khó khăn; chưa thu hút được chuyên gia, người có kinh nghiệm tham gia cùng chính quyền các cấp trong công tác xây dựng pháp luật.

Mặc dù còn những vấn đề cần tiếp tục nghiên cứu, hoàn thiện, nhưng nhìn nhận một cách tổng quan, có thể đánh giá trong thời gian qua, tỉnh Thái Nguyên đã xây dựng được một hệ thống văn bản pháp luật đáp ứng đầy đủ các lĩnh vực quản lý nhà nước, đã phát huy vai trò tích cực trong công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế xã hội của tỉnh, góp phần rất quan trọng đưa tỉnh Thái Nguyên từ địa phương có tốc độ tăng trưởng thấp, nay là tỉnh có tốc độ phát triển cao, số thu ngân sách và thu nhập bình quân đầu người tăng mạnh trong những năm gần đây.

Trong giai đoạn tiếp theo, đặc biệt là sau Đại hội Đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2024-2025 và Đại hội XIII của Đảng, chắc chắn rằng công tác xây dựng pháp luật sẽ có những định hướng, chiến lược mới phù hợp với tình hình xây dựng Đảng, Nhà nước trong thời kỳ mới. Do đó, với vai trò và trách nhiệm của mình, Ngành Tư pháp sẽ tham mưu cho Tỉnh ủy, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân tỉnh tiếp tục chỉ đạo tăng cường công tác xây dựng văn bản pháp luật, đề ra định hướng, lĩnh vực trọng điểm cần đầu tư để xây dựng và hoàn thiện pháp luật đáp ứng yêu cầu quản lý kinh tế – xã hội trong giai đoạn phát triển mới, đồng thời quan tâm nâng cao năng lực, vai trò tham mưu của cơ quan tư pháp các cấp, đầu tư nguồn lực phù hợp đảm bảo cho xây dựng, thực thi, tổng kết thi hành văn bản pháp luật của địa phương. Đối với các Sở, ngành, địa phương cấp huyện, cấp xã cần nâng cao hơn nữa tính chủ động trong xây dựng và hoàn thiện thể chế, chính sách, đồng thời làm tốt công tác áp dụng, theo dõi thi hành, phổ biến, quán triệt văn bản pháp luật của địa phương, đảm bảo hệ thống văn bản quy phạm pháp luật tiếp tục phục vụ tích cực cho công cuộc đổi mới và phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh./.

Hợp Tác Xã Đóng Góp Quan Trọng Vào Sự Phát Triển Kinh Tế Tỉnh Nhà

Ngày 11/4/1946, trong thư kêu gọi điển chủ nông gia Việt Nam tham gia Hợp tác xã Nông nghiệp, Bác Hồ viết: “Nông dân muốn giàu, nông nghiệp muốn thịnh thì phải có Hợp tác xã”, “Hợp tác xã là hợp vốn, hợp sức với nhau. Vốn nhiều, sức mạnh thì khó nhọc ít mà lợi ích nhiều”.

Sau đó, hàng loạt các cơ sở kinh tế hợp tác được hình thành, rồi đến hợp tác xã được phát triển mạnh mẽ vào những năm 50 – 60 của thế kỷ 20 cho đến nay. Trải qua các thời kỳ cách mạng, khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã luôn luôn có những đóng góp quan trọng vào sự nghiệp xây dựng và bảo vệ tổ quốc. Những năm gần đây, thực hiện đường lối đổi mới, phát triển, kinh tế hợp tác xã từng bước khẳng định vai trò, vị trí của mình trong xóa đói giảm nghèo, giải quyết việc làm và thực hiện chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới.

70 năm qua, khu vực kinh tế hợp tác, hợp tác xã Hà Tĩnh đã cùng đồng hành phát triển với hệ thống hợp tác xã cả nước. Hiện nay, Hà Tĩnh là một trong những tỉnh tốp đầu của cả nước về ban hành các chính sách hỗ trợ phát triển kinh tế tập thể tốt nhất, vì vậy, hợp tác xã Hà Tĩnh phát triển nhanh nhất về số lượng. Đến hết tháng 3 năm 2024, toàn tỉnh có 1.170 hợp tác xã hoạt động ở các ngành, lĩnh vực. Riêng năm 2024 và quý I năm 2024, toàn tỉnh đã thành lập mới được 1543 tổ hợp tác và 392 hợp tác xã.

Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Trần Nam Hồng trao giải thưởng cho các tập thể, cá nhân.

Tuy vậy, chất lượng hoạt động của kinh tế tập thể nói chung và hợp tác xã nói riêng của Hà Tĩnh vẫn còn nhiều hạn chế, chưa đáp ứng yêu cầu của sự nghiệp đổi mới, của thời kỳ hội nhập và phát triển. Việc chuyển đổi hoạt động theo Luật Hợp tác xã năm 2012 còn chậm.

Phát biểu tại lễ kỷ niệm, Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Trần Nam Hồng – Trưởng ban chỉ đạo Đổi mới và phát triển kinh tế tập thể tỉnh biểu dương những đóng góp quan trọng của kinh tế tập thể Hà Tĩnh. Phó Bí thư Thường trực Tỉnh ủy Trần Nam Hồng cũng thẳng thắn chỉ ra những hạn chế, tồn tại của kinh tế tập thể Hà Tĩnh.

Chị Hoàng Thị Hoa – Phòng kế hoạch hỗ trợ, Liên minh HTX Hà Tĩnh dành giải Đặc biệt cuộc thi tìm hiểu Luật HTX năm 2012.

Phát triển mạnh mô hình kinh tế hộ, trang trại, gia trại, tổ hợp tác để làm vệ tinh thúc đẩy phát triển hợp tác xã, gắn với thực hiện tái cơ cấu ngành nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Thực hiện liên doanh liên kết giữa kinh tế hộ với hợp tác xã và với các doanh nghiệp trong quá trình sản xuất kinh doanh. Quan tâm tới công tác tập huấn, bồi dưỡng kiến thức quan lý hợp tác xã cho đội ngũ cán bộ quản lý,…

Tại lễ kỷ niệm, Liên minh Hợp tác xã đã trao thưởng cho 16 tập thể đạt giải cuộc thi tìm hiểu Luật hợp tác xã 2012, trong đó giải nhất tập thể thuộc về Liên minh HTX, giải nhì thuộc huyện Cẩm Xuyên, Sở Nông nghiệp và Phát triển nông thôn. Ban tổ chức cũng đã trao 37 giải cho các cá nhân đạt giải trong cuộc thi, trong đó giải đặc biệt thuộc về chị Hoàng Thị Hoa – Phòng kế hoạch hỗ trợ, Liên minh HTX Hà Tĩnh; giải nhất thuộc về chị Nguyễn Thị Ngọc Ánh – Chi cục Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, 5 giải nhì, 10 giải 3. UBND tỉnh cũng đã trao thưởng cho các tập thể và cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong việc triển khai tổ chức cuộc thi.

Nhân dịp này, Liên minh HTX cũng đã triển khai kế hoạch của UBND tỉnh tổ chức cuộc thi tìm hiểu các loại mô hình hợp tác xã kiểu mới. Cuộc thi được tổ chức nhằm nâng cao nhận thức về mô hình hợp tác xã kiểu mới, triển khai, phát huy hiệu quả trong lĩnh vực các chủ trương, chính sách của Đảng, nhà nước về phát triển hợp tác xã.

Mỹ Dung

Hoàn Thiện Cơ Chế, Chính Sách Phát Triển Ktxh Vùng Dân Tộc Thiểu Số Và Miền Núi

(Chinhphu.vn) – Phó Thủ tướng Thường trực Trương Hòa Bình yêu cầu các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai Chương trình MTQG Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi giai đoạn 2024-2030.

Thời gian qua, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ đã quyết liệt chỉ đạo, hoàn thiện cơ bản hệ thống chính sách dân tộc, bao gồm: ban hành mới 01 Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Chính phủ, 03 Quyết định quy phạm pháp luật của Thủ tướng Chính phủ, xây dựng 01 Chương trình mục tiêu quốc gia riêng cho vùng đồng bào dân tộc thiểu số và miền núi (DTTS và MN) với tổng số vốn bố trí giai đoạn 2024 – 2025 hơn 134 nghìn tỷ đồng và 41 chương trình, chính sách mang tính chiến lược, có ý nghĩa quan trọng, tác động đến mọi lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh vùng đồng bào DTTS và MN.

Giai đoạn 2024 – 2024, tốc độ tăng trưởng kinh tế của các địa phương vùng đồng bào DTTS và MN khá cao, đạt bình quân 7% và tăng dần hàng năm, cao hơn bình quân chung cả nước. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Bước đầu hình thành vùng sản xuất nông lâm nghiệp hàng hóa. Kết cấu hạ tầng vùng đồng bào DTTS và MN từng bước hoàn thiện, gắn liền với sự nghiệp phát triển kinh tế – xã hội từng vùng, từng bước nâng cao và đáp ứng nhu cầu của người dân. Hộ nghèo ở các huyện nghèo, các xã đặc biệt khó khăn giảm nhanh. Đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân được cải thiện rõ rệt; bản sắc văn hóa của cộng đồng các DTTS được quan tâm bảo tồn, phát huy. Cơ bản giải quyết được những vấn đề nổi cộm về di cư tự do, hoạt động tôn giáo trái pháp luật, góp phần bảo đảm quốc phòng, an ninh, ổn định trật tự, an toàn xã hội vùng đồng bào DTTS và MN…

Tuy nhiên, một số chính sách về dân tộc còn chậm triển khai do thiếu vốn; một số vấn đề bức xúc đặt ra trong thực tiễn như: Kết cấu hạ tầng ở các vùng sâu, vùng xa còn thiếu thốn; di cư tự phát, thiếu đất ở, đất sản xuất, nước sinh hoạt,… chậm được giải quyết; việc giữ gìn và phát huy bản sắc văn hóa tốt đẹp của các DTTS còn hạn chế; chất lượng giáo dục, y tế, văn hóa tuy được cải thiện nhưng vẫn còn ở mức trung bình thấp; tình hình an ninh, trật tự, tôn giáo ở vùng đồng bào DTTS và MN còn tiềm ẩn nhiều yếu tố phức tạp.

Phó Thủ tướng Thường trực Chính phủ Trương Hòa Bình yêu cầu yêu cầu trong giai đoạn tới, các Bộ, ngành, địa phương rà soát, xây dựng Kế hoạch, hoàn thiện các cơ chế, chính sách, chuẩn bị đầy đủ nguồn lực để kịp thời triển khai thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và MN trong năm 2024 theo đúng Nghị quyết số 12/NQ-CP ngày 15 tháng 02 năm 2024 của Chính phủ về triển khai thực hiện Nghị quyết số 88/2024/QH14 ngày 18 tháng 11 năm 2024 của Quốc hội khóa XIV và Quyết định số 1409/QĐ-TTg ngày 15 tháng 9 năm 2024 của Thủ tướng Chính phủ phê duyệt Kế hoạch triển khai Nghị quyết số 120/2024/QH14 ngày 19 tháng 6 năm 2024 của Quốc hội khóa XIV ngay sau khi Quốc hội phê duyệt Kế hoạch vốn đầu tư công trung hạn và Thủ tướng Chính phủ phê duyệt quyết định đầu tư Chương trình.

Ủy ban Dân tộc và các Bộ, ngành, cơ quan thành viên Ban Chỉ đạo Trung ương phối hợp với Bộ Nông nghiệp và Phát triển nông thôn, Bộ Lao động – Thương binh và Xã hội khẩn trương hoàn thiện hồ sơ báo cáo đề xuất chủ trương đầu tư 02 Chương trình mục tiêu quốc gia về xây dựng nông thôn mới, giảm nghèo và an sinh xã hội bền vững giai đoạn 2024 – 2025, trình Chính phủ để báo cáo Quốc hội xem xét, phê duyệt theo đúng quy định, bảo đảm không trùng lắp với Chương trình mục tiêu quốc gia Phát triển kinh tế – xã hội vùng đồng bào DTTS và MN giai đoạn 2024 – 2030.

Vũ Phương Nhi

Văn Kiện Đại Hội Xii Của Đảng: Điểm Mới Về Hoàn Thiện Thể Chế, Phát Triển Kinh Tế Thị Trường Định Hướng Xhcn

Đại hội XII đã có bước phát triển mới rất rõ nét, xác định đặc trưng cơ bản của nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam như sau: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam là nền kinh tế vận hành đầy đủ, đồng bộ theo các quy luật của kinh tế thị trường, đồng thời bảo đảm định hướng XHCN phù hợp với từng giai đoạn phát triển của đất nước. Đó là nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; Có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN, do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo, nhằm mục tiêu “dân giàu, nước mạnh, dân chủ, công bằng, văn minh”.Văn kiện Đại hội cũng đã nêu khái quát những nội dung quan trọng về các bộ phận cấu thành, vai trò của thị trường, vai trò của Nhà nước, vai trò của nhân dân và mục tiêu bảo đảm tiến bộ và công bằng xã hội trong phát triển nền kinh tế thị trường định hướng XHCN: “Nền kinh tế thị trường định hướng XHCN Việt Nam có quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp với trình độ phát triển của lực lượng sản xuất; có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế, trong đó kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo, kinh tế tư nhân là một động lực quan trọng của nền kinh tế; các chủ thể thuộc các thành phần kinh tế bình đẳng, hợp tác và cạnh tranh theo pháp luật; thị trường đóng vai trò chủ yếu trong huy động và phân bổ có hiệu quả các nguồn lực phát triển, là động lực chủ yếu để giải phóng sức sản xuất; Các nguồn lực nhà nước được phân bổ theo chiến lược, quy hoạch, kế hoạch phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước đóng vai trò định hướng, xây dựng và hoàn thiện thể chế kinh tế, tạo môi trường cạnh tranh bình đẳng, minh bạch và lành mạnh; Sử dụng các công cụ, chính sách, các nguồn lực của Nhà nước để định hướng và điều tiết nền kinh tế, thúc đẩy sản xuất kinh doanh và bảo vệ môi trường; Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển. Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế- xã hội”.Cách thể hiện như trên đã khái quát rõ nét những vấn đề cơ bản kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, trong đó vấn đề định hướng xã hội chủ nghĩa thể hiện ở năm điểm: có sự quản lý của Nhà nước pháp quyền XHCN; Do Đảng Cộng sản Việt Nam lãnh đạo; Phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển kinh tế – xã hội; Xác lập quan hệ sản xuất tiến bộ phù hợp để thúc đẩy phát triển mạnh lực lượng sản xuất; và nhất là: Thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội trong từng bước, từng chính sách phát triển.Vấn đề “kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo” đã được thống nhất nêu rõ trong Cương lĩnh và Hiến pháp. Trong khi khẳng định nền kinh tế thị trường định hướng XHCN có nhiều hình thức sở hữu, nhiều thành phần kinh tế thì cũng xác định: “Kinh tế nhà nước giữ vai trò chủ đạo”. Kinh tế nhà nước gồm nguồn lực nhà nước và doanh nghiệp nhà nước. Doanh nghiệp nhà nước, cũng như doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế khác nhau đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật.

Đại hội XII xác định mục tiêu đến năm 2024 là: “Phấn đấu cơ bản hoàn thiện đồng bộ hệ thống thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa theo các tiêu chuẩn phổ biến của nền kinh tế thị trường hiện đại và hội nhập quốc tế; Bảo đảm tính đồng bộ giữa thể chế kinh tế và thể chế chính trị, giữa Nhà nước và thị trường; Bảo đảm sự hài hoà giữa tăng trưởng kinh tế với phát triển văn hoá, phát triển con người, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, bảo vệ môi trường, phát triển xã hội bền vững; Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế gắn với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ; Bảo đảm tính công khai, minh bạch, tính dự báo được thể hiện trong xây dựng và thực thi thể chế kinh tế, tạo điều kiện ổn định, thuận lợi cho phát triển KTXH”.

Để đạt được mục tiêu đó, Đại hội yêu cầu phải: “Tập trung hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường đồng bộ, hiện đại trên cơ sở tuân thủ đầy đủ các quy luật của kinh tế thị trường và hội nhập kinh tế quốc tế sâu rộng. Tiếp tục hoàn thiện khung pháp lý, cơ chế, chính sách, thực hiện đồng bộ các giải pháp để phát triển, vận hành thông suốt, hiệu quả, đồng bộ và khả thi các loại thị trường và bảo đảm cạnh tranh bình đẳng, minh bạch. Việc xây dựng chiến lược, quy hoạch, kế hoạch, phân bổ nguồn lực cho sản xuất kinh doanh và quản lý giá phải theo cơ chế thị trường. Đồng thời, Nhà nước sử dụng thể chế, nguồn lực, công cụ điều tiết, cơ chế, chính sách phân phối, phân phối lại để phát triển văn hóa, thực hiện dân chủ, tiến bộ, công bằng xã hội, bảo đảm an sinh xã hội, giảm nghèo, từng bước nâng cao phúc lợi xã hội và đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân”.Đại hội XII đề ra phương hướng tiếp tục hoàn thiện thể chế về sở hữu, phát triển các thành phần kinh tế, các loại hình doanh nghiệp như sau:Thể chế hóa quyền tài sản (bao gồm quyền sở hữu, quyền sử dụng, quyền định đoạt và hưởng lợi từ sử dụng tài sản) của Nhà nước, tổ chức và cá nhân đã được quy định trong Hiến pháp năm 2013. Bảo đảm công khai, minh bạch về nghĩa vụ và trách nhiệm trong thủ tục hành chính nhà nước và dịch vụ công để quyền tài sản được giao dịch thông suốt. Bảo đảm quyền quản lý, thu lợi của Nhà nước đối với tài sản công và quyền bình đẳng trong việc tiếp cận, sử dụng tài sản công của mọi chủ thể trong nền kinh tế. Nâng cao năng lực của các thiết chế và hoàn thiện cơ chế giải quyết tranh chấp dân sự, tranh chấp kinh tế trong bảo vệ quyền tài sản.Mọi doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều phải hoạt động theo cơ chế thị trường, bình đẳng và cạnh tranh theo pháp luật. Khuyến khích đẩy mạnh quá trình khởi nghiệp kinh doanh. Có chính sách thúc đẩy phát triển các doanh nghiệp Việt Nam cả về số lượng và chất lượng, thật sự trở thành lực lượng lòng cốt, đi đầu trong sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa. Bảo đảm quyền tự do kinh doanh các lĩnh vực mà pháp luật không cấm; Xây dựng, thực thi đồng bộ, hiệu quả cơ chế hậu kiểm, tiếp tục hoàn thiện pháp luật về cạnh tranh, tăng cường tính minh bạch đối với độc quyền nhà nước và độc quyền doanh nghiệp, kiểm soát độc quyền kinh doanh. Hoàn thiện thể chế bảo vệ nhà đầu tư, quyền sở hữu và quyền tài sản. Hoàn thiện pháp luật phá sản doanh nghiệp theo cơ chế thị trường.Thực hiện đồng bộ các giải pháp cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước, nâng cao hiệu quả hoạt động theo cơ chế thị trường, bảo đảm thực hiện tốt nhiệm vụ được giao. Đẩy mạnh cổ phần hóa, bán vốn mà Nhà nước không cần nắm hoặc không cần giữ cổ phần chi phối, kể cả những doanh nghiệp đang kinh doanh có hiệu quả; Hoàn thiện thể chế định giá đất đai, tài sản hữu hình và tài sản vô hình (tài sản trí tuệ, thương hiệu,…) trong cổ phần hóa theo nguyên tắc thị trường. Tách bạch nhiệm vụ sản xuất kinh doanh và nhiệm vụ chính trị công ích. Tiếp tục đổi mới nội dung và phương thức hoạt động của kinh tế tập thể, kinh tế hợp tác xã; Đẩy mạnh liên kết và hợp tác dựa trên quan hệ lợi ích, áp dụng phương thức quản lý tiên tiến, phù hợp với cơ chế thị trường. Nhà nước có cơ chế, chính sách hỗ trợ về tiếp cận nguồn vốn, đào tạo nguồn nhân lực, chuyển giao kỹ thuật, công nghệ, hỗ trợ phát triển thị trường, tạo điều kiện phát triển kinh tế hợp tác xã trên cơ sở phát triển và phát huy vai trò của kinh tế hộ.Khuyến khích phát triển các loại hình doanh nghiệp, các hình thức tổ chức sản xuất kinh doanh với sở hữu hỗn hợp, nhất là các doanh nghiệp cổ phần.Tạo mọi điều kiện thuận lợi phát triển mạnh doanh nghiệp tư nhân để tạo động lực nâng cao năng lực cạnh tranh của nền kinh tế. Hoàn thiện cơ chế, chính sách khuyến khích, tạo thuận lợi phát triển mạnh kinh tế tư nhân ở hầu hết các ngành và lĩnh vực kinh tế, trở thành một động lực quan trọng của nền kinh tế. Hoàn thiện chính sách hỗ trợ phát triển doanh nghiệp nhỏ và vừa, doanh nghiệp khỏi nghiệp. Khuyến khích hình thành tập đoàn kinh tế tư nhân đa sở hữu và tư nhân góp vốn vào các tập đoàn kinh tế nhà nước.Nâng cao hiệu quả thu hút đầu tư trực tiếp của nước ngoài, chú trọng chuyển giao công nghệ, trình độ quản lý tiên tiến và thị trường tiêu thụ sản phẩm; Chủ động lựa chọn và có chính sách ưu đãi đối với các dự án đầu tư nước ngoài có trình độ quản lý và công nghệ hiện đại, có vị trí hiệu quả trong chuỗi giá trị toàn cầu, có liên kết với doanh nghiệp trong nước. Tăng cường liên kết giữa doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài với doanh nghiệp trong nước nhằm phát triển công nghiệp hỗ trợ và công nghiệp quy mô lớn, chất lượng cao, gắn với các chuỗi giá trị khu vực và toàn cầu. Khuyến khích thành lập các trung tâm nghiên cứu – triển khai của doanh nghiệp đầu tư nước ngoài tại Việt Nam.Trong quản lý và phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, cần phát huy mặt tích cực có lợi cho đất nước, đồng thời kiểm tra, giám sát, kiểm soát, thực hiện công khai, minh bạch, ngăn chặn, hạn chế mặt tiêu cực.Đại hội XII đề ra phương hướng phát triển đồng bộ các yếu tố thị trường và các loại thị trường như sau:Thực hiện nhất quán cơ chế giá thị trường; Bảo đảm tính đúng, tính đủ và công khai, minh bạch các yếu tố hình thành giá đối với hàng hóa, dịch vụ công thiết yếu; Đồng thời có chính sách hỗ trợ phù hợp cho đối tượng chính sách và người nghèo. Không lồng ghép các chính sách xã hội trong giá. Hoàn thiện pháp luật về phí, lệ phí; Rà soát, chuyển đổi chính sách phí, lệ phí; Rà soát, chuyển đổi chính sách phí, lệ phí đối với một số dịch vụ công sang áp dụng chế độ gia dịch vụ. Mở rộng cơ chế đấu thầu, đấu giá, thẩm định giá. Xây dựng và thực hiện nghiêm các quy định về trách nhiệm xã hội của doanh nghiệp đối với người tiêu dùng và đối với môi trường. Đẩy mạnh hoàn thiện thể chế bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng kiên quyết đấu tranh chống buôn lậu, gian lận thương mại; phát huy đầy đủ, đúng đắn vai trò của người tiêu dùng, các hội bảo vệ quyền lợi người tiêu dùng trong nền kinh tế.Tiếp tục phát triển đồng bộ và vận hành thông suốt các loại thị trường. Đa dạng hóa và nâng cao hiệu quả hoạt động của thị trường hàng hóa, dịch vụ, tài chính, tiền tệ, bất động sản, lao động, khoa học, công nghệ…đáp ứng yêu cầu phát triển KTXH. Khuyến khích sản xuất, tiêu dùng trong nước và phát triển đồng bộ, hiệu quả hệ thống phân phối.Đại hội XII xác định phương hướng đẩy mạnh, nâng cao hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế như sau:Tiếp tục nghiên cứu, đàm phán, ký kết, chuẩn bị kỹ các điều kiện thực hiện các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, tham gia các điều ước quốc tế trong các lĩnh vực kinh tế, thương mại, đầu tư,…Chủ động, tích cực hội nhập kinh tế quốc tế; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ kinh tế quốc tế, tránh lệ thuộc vào một thị trường, một đối tác cụ thể; kết hợp hiệu quả ngoại lực và nội lực, gắn hội nhập kinh tế quốc tế với xây dựng nền kinh tế độc lập, tự chủ…Rà soát, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cơ chế, chính sách nhằm thực thi có hiệu quả các hiệp định thương mại tự do mà Việt Nam đã ký kết. Hoàn thiện thể chế để tận dụng cơ hội và phòng ngừa, giảm thiểu các thách thức do tranh chấp quốc tế, nhất là tranh chấp thương mại, đầu tư quốc tế. Hoàn thiện pháp luật về tương trợ tư pháp phù hợp với pháp luật quốc tế.Đại hội XII đề ra phương hướng nâng cao năng lực lãnh đạo của Đảng, hiệu quả quản lý của Nhà nước về KTXH và phát huy vai trò làm chủ của nhân dân trong phát triển KTXH như sau:Nâng cao năng lực hoạch định đường lối, chủ trương phát triển KTXH của Đảng; Tăng cường lãnh đạo việc thể chế hóa việc tổ chức thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về KTXH; Tăng cường công tác kiểm tra, giám sát, sơ kết, tổng kết thực hiện đường lối, chủ trương, nghị quyết của Đảng; Lãnh đạo việc bố trí, chủ trương, nghị quyết của Đảng; Lãnh đạo việc bố trí cán bộ và lãnh đạo việc thực hiện của đội ngũ cán bộ hoạt động trong các lĩnh vực KTXH. Nâng cao năng lực và hiệu quả công tác tham mưu về KTXH ở các cấp, các ngành.Nhà nước thể chế hóa nghị quyết của Đảng, xây dựng tổ chức thực hiện chính sách, pháp luật, bảo đảm các loại thị trường ngày càng hoàn thiện và vận hành thông suốt, cạnh tranh công bằng, bình đẳng và kiểm soát độc quyền kinh doanh; Tiếp tục đẩy mạnh cải cách hành chính, cải cách tư pháp, cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh.Đổi mới, hoàn thiện cơ chế, chính sách để phát huy vai trò làm chủ của nhân dân; bảo đảm quyền tự do, dân chủ trong hoạt động kinh tế của người dân theo quy định của Hiến pháp, pháp luật và sự tham gia có hiệu quả của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị xã hội trong xây dựng và giám sát việc thực hiện thể chế kinh tế và phát triển KTXH.

Thực Hiện Tốt Quy Chế Dân Chủ Ở Cơ Sở: Góp Phần Xây Dựng Quan Hệ Lao Động Hài Hòa, Phát Triển

Hội nghị người lao động tại Công ty TNHH Điện tử Asti Hà Nội

Theo Phó Chủ tịch Tổng LĐLĐ Việt Nam Ngọ Duy Hiểu, tham gia xây dựng và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở tại nơi làm việc là nhiệm vụ quan trọng của tổ chức Công đoàn, nhằm phát huy quyền làm chủ, nâng cao năng suất lao động, trình độ, kỹ năng nghề nghiệp… của đoàn viên công đoàn và người lao động.

Đây cũng được coi là công cụ để tổ chức Công đoàn, nhất là CĐCS trong thực hiện trách nhiệm chăm lo, bảo vệ quyền và lợi ích cho đoàn viên và người lao động tại doanh nghiệp, đồng thời là nhịp cầu kết nối, thúc đẩy và xây dựng quan hệ lao động hài hòa, ổn định và tiến bộ tại doanh nghiệp.

Để phù hợp với yêu cầu thực tiễn, (dự thảo Bộ luật Lao động 2012 sửa đổi, bổ sung, Hiệp định thương mại tự do thế hệ mới (CPTPP) và các Công ước Quốc tế Việt Nam đang chuẩn bị ký kết…), ngày 7/11/2024, Chính phủ ban hành Nghị định số 149/2024/NĐ-CP quy định chi tiết Khoản 3, Điều 63 Bộ luật Lao động về thực hiện dân chủ cơ sở tại nơi làm việc (gọi tắt là Nghị định 149) thay thế Nghị định số 60/ 2013/NĐ-CP (gọi tắt là Nghị định 60) .

Tuy nhiên, Nghị định 149 không còn quy định chi tiết, cụ thể về các quyền của người lao động (quyền được biết, được làm, được bàn, được kiểm tra, giám sát) như Nghị định 60 mà chỉ quy định các nội dung mang tính nguyên tắc chung, nội dung cơ bản.

Tương tự như vậy, các nội dung về đối thoại tại nơi làm việc và tổ chức Hội nghị người lao động cũng được quy định rất ngắn gọn, lược bỏ toàn bộ các quy định về quy trình, các bước, cách thức, nội dung… đối thoại tại nơi làm việc và tổ chức hội nghị người lao động tại doanh nghiệp…

Vậy, làm thế nào để các quyền dân chủ cơ sở của người lao động được thực hiện có hiệu quả? Làm thế nào công đoàn bảo vệ được các quyền và lợi ích của đoàn viên và người lao động thông qua việc tham gia hay xây dựng thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc? nhưng đồng thời đảm bảo hài hòa lợi ích của các bên?… thực sự đây là vấn đề thách thức đối với tổ chức Công đoàn, nhất là CĐCS.

Nên giữ đối thoại định kỳ 3 tháng/1 lần

Thừa nhận việc đối thoại giữa CĐCS với người sử dụng lao động nhiều nơi vẫn còn hình thức, đại diện Công đoànTập đoàn Than – Khoáng sản Việt Nam đề xuất: Để đối thoại có hiệu quả, CĐCS cần tham khảo nội dung, các bước tổ chức đối thoại thực hiện theo hướng dẫn.

Từ thực tế hoạt động, ông Nguyễn Đức Nhân – Chủ tịch Công đoàn Công ty TNHH Điện tử Asti Hà Nội (doanh nghiệp 100% vốn Nhật Bản đóng tại Khu Công nghiệp Quang Minh, Hà Nội) cho biết: Tại Công ty chúng tôi, đối thoại được thực hiện hàng tháng. Ban Chấp hành Công đoàn lên lịch với Ban Giám đốc từ ngày 10-15 hàng tháng.

Thành phần đối thoại gồm Chủ tịch Công đoàn và 2 đồng chí Phó Chủ tịch Công đoàn, Ban Giám đốc có 3 người – cùng nhau trao đổi về những kiến nghị, ý kiến hai bên đang vướng mắc. Tất nhiên, trước khi đối thoại, Ban Chấp hành Công đoàn đã lấy ý kiến từ tổ Công đoàn, người lao động nên tạo được sự đồng thuận khá cao.

Theo ông Nhân, các cuộc đối thoại trong năm thường không vấn đề gì, nhưng sẽ căng thẳng hơn vào cuối năm do yêu cầu mong muốn tăng lương, thưởng cho người lao động. Điển hình như năm 2024, CĐCS đã phải tiến hành đối thoại, thương lượng 5 buổi mới ra được mức thưởng như mong muốn từ phía người lao động là thưởng gần 3 tháng lương.

Về Hội nghị người lao động, trước khi Hội nghị diễn ra khoảng 1 tháng, Công đoàn tổ chức lấy ý kiến người lao động, tập hợp gửi Ban Giám đốc. Tại Hội nghị, Ban Giám đốc sẽ giải đáp kiến nghị từ người lao động và trả lời câu hỏi trực tiếp phát sinh tại Hội nghị. Từ thực tế tại cơ sở, ông Nhân khẳng định sự việc tổ chức đối thoại định kỳ nên giữ nguyên theo quy định hiện hành và cần thiết phải ban hành một hướng dẫn chung về quy trình, các bước tiến hành Hội nghị người lao động để CĐCS triển khai thuận tiện.

Khẳng định sự cần thiết phải ban hành hướng dẫn để Công đoàn cơ sở tổ chức thực hiện Quy chế dân chủ cơ sở tại nơi làm việc, ông Nguyễn Đình Thắng – Phó Chủ tịch Công đoàn các Khu công nghiệp – chế xuất Hà Nội kiến nghị: Cần tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Quy chế dân chủ tại cơ sở.

Theo ông Nguyễn Đình Thắng, phần lớn là doanh nghiệp trong khu công nghiệp là doanh nghiệp FDI, 100% doanh nghiệp đều thực hiện tốt quy định về Quy chế dân chủ ở cơ sở, mục đích hướng tới xây dựng quan hệ lao động hài hòa tại nơi làm việc. Qua hoạt động thực tế, ngoài việc đối thoại định kỳ, hiện nhiều doanh nghiệp trong khu công nghiệp thực hiện đối thoại đột xuất, hàng tháng.

Theo ông Thắng, về thành phần đối thoại, người tham gia đối thoại phải có năng lực, trình độ nhất định; nội dung đối thoại phải tập hợp thành nhóm vấn đề, biết ưu tiên đưa vấn đề gì trước để phù hợp với tình hình hiện tại của doanh nghiệp.

“Đối thoại thế nào phải để hai bên cùng thắng. Công đoàn luôn đồng hành, chia sẻ với doanh nghiệp, và đồng hành với người lao động chứ không phải sau đối thoại là đối kháng, do vậy, vai trò và năng lực người tham gia đối thoại giữ vai trò rất quan trọng; đồng thời cần thiết có quy định về thời gian làm việc tại Công ty bởi nếu một người mới vào doanh nghiệp làm việc, sẽ không thể nắm hết các quy định của Công ty để đối thoại hay tháo gỡ những vướng mắc, bổ sung, sửa đổi những nội dung chưa phù hợp với người lao động”, ông Nguyễn Định Thắng nhấn mạnh.

(laodongthudo.vn)

Các Cơ Chế, Chính Sách Của Hđnd Tỉnh Góp Phần Thúc Đẩy Phát Triển Nông Nghiệp, Nông Thôn Của Tỉnh

Cùng với đó, những năm qua tỉnh đã tiếp tục thực hiện và có nhiều cơ chế, chính sách mới nhằm khuyến khích, hỗ trợ phát triển sản xuất nông, lâm nghiệp, thủy sản. Kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách này đã thúc đẩy mạnh sản xuất nông nghiệp hàng hóa; góp phần xây dựng nông thôn mới trên địa bàn tỉnh. Xin được điểm qua kết quả thực hiện một số cơ chế chính sách chủ yếu như sau:

2. Nghị quyết số 12/2014/NQ-HĐND, ngày 22/7/2014 của HĐND tỉnh về cơ chế, chính sách hỗ trợ sản xuất hàng hóa đối với một số cây trồng, vật nuôi trên địa bàn tỉnh: Đến hết tháng 5/2024 đã giải ngân 202.343,3 triệu đồng/4.048 hộ. Trong đó: Hỗ trợ nuôi trâu: 184.124,0 triệu đồng/3.726 hộ; hỗ trợ trồng mía: 81,0 triệu đồng/08 hộ; trồng cam sành: 4.367,3 triệu đồng/164 hộ; phát triển cây chè đặc sản: 50,0 triệu đồng/01 hộ; nuôi cá: 13.623,0 triệu đồng/148 hộ;  hỗ trợ lãi suất tiền vay và đăng ký nhãn hiệu sản phẩm: 21.316,46 triệu đồng (Trong đó: Hỗ trợ lãi suất tiền vay 21.218,46 triệu đồng, hỗ trợ đăng ký nhãn hiệu sản phẩm 98,0 triệu đồng).

 4. Nghị quyết số 05/2024/NQ-HĐND ngày 13/7/2024 của HĐND tỉnh về chính sách khuyến khích phát triển hợp tác xã nông, lâm nghiệp, thủy sản trên địa bàn tỉnh: Đến nay, theo tổng hợp đề nghị của các huyện, thành phố có 59 Hợp tác xã đã thực hiện các nội dung hỗ trợ từ chính sách, với kinh phí đề nghị 2,932 tỷ đồng: Hỗ trợ lãi suất vốn vay cho 04 HTX đầu tư vào sản xuất hàng hóa; tổng số vốn vay 2,767 tỷ đồng (HTX vay vốn nhiều nhất 1,2 tỷ đồng).  Kinh phí đề nghị hỗ trợ lãi suất là 52,24 triệu đồng, gồm: Hỗ trợ thành lập mới 51 HTX tổ chức sản xuất hàng hóa theo chuỗi giá trị, kinh phí đề nghị hỗ trợ 2,0 tỷ đồng. Hỗ trợ xây dựng, cấp giấy chứng nhận sản xuất an toàn áp dụng theo tiêu chuẩn cho 02 HTX, kinh phí thực hiện 200 triệu đồng để thực hiện sản xuất và cấp giấy sản xuất theo tiêu chuẩn VietGAP. Hỗ trợ kinh phí xúc tiến thương mại, tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đối với sản phẩm đã được đăng ký nhãn hiệu, chất lượng sản phẩm hàng hóa cho 10 HTX, kinh phí đề nghị hỗ trợ 500 triệu đồng. Hỗ trợ 09 HTX tìm kiếm thị trường tiêu thụ sản phẩm đã được đăng ký nhãn hiệu hàng hóa tại Cục Sở hữu trí tuệ – Bộ Khoa học và Công nghệ, với tổng kinh phí thực hiện là 180 triệu đồng.

5. Nghị quyết số 03/2024/NQ-HĐND ngày 25/7/2024 của HĐND tỉnh về chính sách hỗ trợ giống cây lâm nghiệp chất lượng cao trên địa bàn tỉnh, giai đoạn 2024-2024: Sau 02 năm thực hiện chính sách (2024-2024), toàn tỉnh đã hỗ trợ trồng được 2.062,88 ha rừng bằng cây giống chất lượng cao, trong đó trồng rừng bằng cây Keo lai mô: 1468,51 ha; trồng bằng cây Keo tai tượng (hạt ngoại): 594,37 ha; Tổng số hộ gia đình được hỗ trợ: 1.455 hộ; tổng kinh phí hỗ trợ khoảng trên 7 tỷ đồng.

Cùng với các chính sách trên, đã tiếp tục triển khai thực hiện Quyết định số 10/2024/QĐ-UBND ngày 17/7/2024 của UBND tỉnh Ban hành Quy định về hỗ trợ khuyến khích phát triển hợp tác, liên kết sản xuất gắn với tiêu thụ nông sản, xây dựng cánh đồng lớn; quy mô diện tích tối thiểu đối với Dự án cánh đồng lớn trên địa bàn tỉnh; Quyết định số 03/2024/QĐ-UBND ngày 10/4/2024 của UBND tỉnh Quy định chi tiết nội dung thực hiện Quyết định số 50/2014/QĐ-TTg ngày 04/9/2014 của Thủ tướng Chính phủ về chính sách hỗ trợ nâng cao hiệu quả chăn nuôi nông hộ giai đoạn 2024-2024, trên địa bàn tỉnh giai đoạn 2024-2024.  

Kết quả thực hiện các cơ chế, chính sách trên đã góp phần thực hiện hiệu quả Đề án tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị và phát triển bền vững; tạo những chuyển biến tích cực trong sản xuất nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới. Những năm qua, sản xuất nông nghiệp của tỉnh tiếp tục phát triển, tốc độ tăng giá trị sản xuất bình quân đạt 4%/năm; cơ cấu cây trồng, vật nuôi chuyển dịch mạnh theo hướng sản xuất hàng hóa; duy trì tỷ lệ che phủ rừng trên 64% và đang tích cực triển khai việc cấp chứng chỉ quản lý rừng bền vững (FSC), nâng cao giá trị gỗ rừng trồng. Đến nay đã có 30 xã về đích xây dựng nông thôn mới; số tiêu chí bình quân toàn tỉnh tăng từ 10 tiêu chí/xã năm 2024, lên 13,06 tiêu chí/xã năm 2024; nhiều tiêu chí đã đạt và vượt chỉ tiêu kế hoạch đến năm 2024. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn tăng từ 18,7 triệu đồng/người năm 2024 lên trên 28,4 triệu đồng/người năm 2024; giảm tỷ lệ hộ nghèo từ 27,81% năm 2024 xuống còn 15,38% năm 2024.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Tác Xây Dựng Văn Bản Qppl Góp Phần Quan Trọng Vào Việc Hoàn Thiện Thể Chế, Cơ Chế, Chính Sách Phục Vụ Đổi Mới, Phát Triển, Kinh Tế trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!