Xu Hướng 12/2022 # Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công: Các Bên Phải Cùng Có Lợi / 2023 # Top 13 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công: Các Bên Phải Cùng Có Lợi / 2023 # Top 13 View

Bạn đang xem bài viết Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công: Các Bên Phải Cùng Có Lợi / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(BĐT) – Việc ban hành Luật về đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP) đúng lộ trình, để sớm có khung pháp lý cao nhất triển khai dự án PPP là rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện kết cấu hạ tầng của Việt Nam, nâng cao cạnh tranh trong thu hút vốn nước ngoài vào kết cấu hạ tầng với các nước khác trong khu vực vốn đang có thể chế về PPP khá hấp dẫn. Và để có dự án PPP thành công, Luật về PPP cần thiết kế các quy định để các bên cùng có lợi.

Kỳ vọng Luật được thực thi hiệu quả

Ông Ousmane Dione đánh giá, Dự thảo Luật PPP mới nhất phản ánh nhiều đặc điểm quan trọng của dự án PPP phù hợp thông lệ quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ hơn của Chính phủ, ví dụ về chia sẻ rủi ro doanh thu. Đại diện WB lưu ý thêm, dù Luật PPP là một luật tốt nhưng phải đảm bảo thực thi luật trong trong bối cảnh của Việt Nam. Trong đó, phía WB khuyến nghị một số vấn đề để thực thi hiệu quả như giải quyết được các khoảng trống về pháp luật để đưa Luật vào thực tiễn; cần đảm bảo cơ chế 1 cửa cho nhà đầu tư; tối thiểu hóa việc tham chiếu đến các luật khác, nếu có tham chiếu thì Luật cần quy định trực tiếp, cụ thể; phân bổ rủi ro cho bên có khả năng quản lý tốt nhất. Đại diện WB cũng cho rằng với tính đa dạng của PPP, Luật cần soạn thảo ở mức tổng quan, có khả năng linh hoạt ở Nghị định hướng dẫn của Chính phủ…

Theo một số ý kiến, nhiều quốc gia trong khu vực như Philippines, Indonesia có khung pháp lý về PPP với nhiều cơ chế hấp dẫn. Nếu Việt Nam coi phát triển hạ tầng là một trong ba đột phá, thì cũng phải có đột phá tư duy xây dựng Luật để thu hút tư nhân trong thời gian tới.

Luật khó, phức tạp, không thể cầu toàn

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng chia sẻ có một số vấn đề Dự thảo Luật chưa thể đáp ứng hết các đề xuất. Ví dụ như đề xuất của ADB khuyến nghị về hạn mức bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ. Khi Việt Nam mới thu hút đầu tư nước ngoài, nền kinh tế thị trường sơ khai, giao dịch quốc tế ít, quản lý ngoại hối chặt chẽ, nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu có bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ. Nhưng đến nay nền kinh tế Việt Nam mở đến 200%, nếu vẫn đặt vấn đề này sẽ rất khó khăn cho cơ quan Chính phủ trong giải trình ra Quốc hội. Nếu Quốc hội chấp thuận ở mức 30% đã là mức ưu ái rất lớn cho dự án PPP…

Hay là kiến nghị của ADB đề xuất giữ lại Điều 3 tại Dự thảo Luật cũ, ông Nguyễn Đăng Trương, Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu, cho biết, với tinh thần đảm bảo sự yên tâm cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án PPP, Dự thảo cũ có quy định về ưu tiên áp dụng Luật PPP tại Điều 3 đối với một số nội dung đặc thù của phương thức PPP. Chuyên gia kinh tế thì cho rằng quy định này cần thiết, nhưng chuyên gia pháp luật lại nói không được, phá vỡ tính tổng thể của hệ thống pháp luật. Vì thế, Dự thảo Luật mới nhất cố gắng giải quyết vấn đề một cách hài hòa, vấn đề nào ưu tiên, ưu đãi cho dự án PPP thì quy định ngay tại Luật PPP và áp dụng theo Luật này. “Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý trong trường hợp xung đột thì cho phép Luật PPP sửa ngay, quy định ngay tại nội dung Luật”, ông Nguyễn Đăng Trương cho biết.

Ông Vũ Hồng Thanh – Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá, quá trình xây dựng Luật cơ quan soạn thảo đã tiếp thu rất nhiều ý kiến, với tinh thần chọn lọc, phù hợp với điều kiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. “Luật PPP là một luật mới, khó, phức tạp, động chạm tới nhiều luật khác trong hệ thống pháp luật. Vì thế xác định không cầu toàn, trong quá trình làm sẽ tiếp tục hoàn thiện”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế nêu quan điểm.

Dự Án Thành Phần Là Gì? Tại Sao Phải Có Dự Án Thành Phần / 2023

content

 này được Ban biên tập Thư Ký Luật tư vấn 

như

 sau:

Quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước quy định tại khoản 2 Điều 1 Thông tư 64/2018/TT-BTC sửa đổi Thông tư 09/2016/TT-BTC quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc gốc vốn nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành, cụ thể giống như sau:

– so với các dự án cần thiết đất nước, dự án nhóm A, các chương trình dự án có nhiều dự án nguyên nhân, tiểu dự án độc lập có quyết định phê duyệt dự án đầu tư riêng biệt thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập thực hiện lập báo cáo quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán như một dự án đầu tư độc lập theo quy định tại Thông tư này.

Sau khi toàn bộ dự án quan trọng đất nước, dự án group A, chương trình dự án hoàn thành; Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý dự án yếu tố chính hoặc được giao làm đầu mối tổng hợp dự án chịu trách nhiệm Báo cáo kết quả tổng quyết toán toàn bộ dự án (theo Mẫu số 09/QTDA kèm theo Thông tư này) gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ plan và Đầu tư; chẳng hề kiểm toán quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán lại các dự án nguyên nhân hoặc tiểu dự án đã được thẩm tra và phê duyệt theo quy định.

– Dự án (hoặc chi phí) sẵn sàng đầu tư được sắp xếp kế hoạch vốn độc lập khi hoàn thành phải quyết toán như tiểu dự án độc lập và thống kê quyết toán dự án theo quy định tại khoản 1 Điều này. Trường hợp dự án dừng thực hiện vĩnh viễn hoặc refresh dẫn đến content sẵn sàng đầu tư không được sử dụng, phải sắp đặt vốn plan khác để thực hiện giai đoạn sẵn sàng đầu tư thì chi phí chuẩn bị đầu tư đã thực hiện được quyết toán như dự án dừng thực hiện vĩnh viễn.

– đối với dự án có tất cả dự án thành phần hoặc tiểu dự án hoặc hạng mục xây lắp và thiết bị vừa mới hoàn thiện bàn giao đưa vào khai thác dùng nhưng dự án yếu tố hoặc tiểu dự án hoặc hạng mục bồi thường, giải phóng mặt bằng chưa hoàn thành thì chủ đầu tư thực hiện lập báo cáo quyết toán dự án trình cơ quan thẩm tra, phê duyệt quyết toán trong đó dự án thành phần hoặc tiểu dự án hoặc hạng mục bồi thường, giải phóng mặt bằng được quyết toán là trị giá hợp pháp đã thực hiện. Trường hợp dự án thành phần hoặc tiểu dự án hoặc hạng mục bồi thường, giải phóng mặt bằng tiếp tục thực hiện bổ sung thì chủ đầu tư trình cơ quan thẩm tra, phê duyệt quyết toán bổ sung.”

Ban biên tập phản hồi thông tin đến bạn.

Nguồn: https://hoidap.thuvienphapluat.vn/

Hợp Đồng Ủy Quyền Giữa Hai Bên Có Phải Công Chứng Hay Không? / 2023

Hiện nay, chưa có văn bản nào quy định tập trung các trường hợp ủy quyền phải công chứng, chứng thực. Việc công chứng, chứng thực văn bản ủy quyền được quy định rải rác ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau.

1. Quy định chung của pháp luật về công chứng hợp đồng ủy quyền

Bộ luật Dân sự 2015 quy định chung về Hợp đồng uỷ quyềntại Điều 581như sau: “Hợp đồng uỷ quyền là sự thoả thuận giữa các bên, theo đó bên được uỷ quyền có nghĩa vụ thực hiện công việc nhân danh bên uỷ quyền, còn bên uỷ quyền chỉ phải trả thù lao, nếu có thoả thuận hoặc pháp luật có quy định”.

Về việc công chứng hợp đồng ủy quyền, pháp luật có quy định tại Điều 55 Luật công chứng 2014 như sau: “1. Khi công chứng các hợp đồng ủy quyền, công chứng viên có trách nhiệm kiểm tra kỹ hồ sơ, giải thích rõ quyền và nghĩa vụ của các bên và hậu quả pháp lý của việc ủy quyền đó cho các bên tham gia. -2. Trong trường hợp bên ủy quyền và bên được ủy quyền không thể cùng đến một tổ chức hành nghề công chứng thì bên ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng hợp đồng ủy quyền; bên được ủy quyền yêu cầu tổ chức hành nghề công chứng nơi họ cư trú công chứng tiếp vào bản gốc hợp đồng ủy quyền này, hoàn tất thủ tục công chứng hợp đồng ủy quyền.”

Như vậy, theo quy định của pháp luật hiện nay thì chưa có văn bản nào quy định tập trung các trường hợp ủy quyền phải được công chứng, chứng thực. Hợp đồng ủy quyền do các bên tự thỏa thuận và có giá trị pháp lý. Tuy nhiên,để hợp đồng ủy quyền có tính pháp lý cao thì các bên trong hợp đồng có thể tiến hành công chứng theo quy định tại Điều 55 Luật công chứng 2014 như ở trên.

2. Một số trường hợp hợp đồng ủy quyền cần phải công chứng, chứng thực

Trong một số văn bản quy phạm pháp luật, việc công chứng, chứng thực hợp đồng ủy quyền là điều bắt buộc, hợp đồng ủy quyền khi đó mới có giá trị pháp lý. Một số trường hợp ủy quyền cần công chứng có thể kể đến như:

-Người yêu cầu cấp bản sao trích lục hộ tịch, yêu cầu đăng ký các việc hộ tịch theo quy định uỷ quyền cho người khác thực hiện thay, trừ trường hợp đăng ký kết hôn, đăng ký lại việc kết hôn, đăng ký nhận cha, mẹ, con.Trường hợp người được ủy quyền là ông, bà, cha, mẹ, con, vợ, chồng, anh, chị, em ruột của người ủy quyền thì văn bản ủy quyền không phải công chứng, chứng thực, nhưng phải có giấy tờ chứng minh mối quan hệ với người uỷ quyền.(Khoản 2 Điều 6 Luật hộ tịch 2014 và Điều 2 Thông tư 15/2015/TT-BTP)

– Vợ chồng bên nhờ mang thai hộ ủy quyền cho nhau hoặc vợ chồng bên mang thai hộ ủy quyền cho nhau về thỏa thuận. (Văn bản ủy quyền trong trường hợp này phải có công chứng, lưu ý, việc ủy quyền cho người thứ ba không có giá trị pháp lý) (Khoản 2 Điều 96 Luật hôn nhân gia đình 2014)

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Dự Án Ppp Là Gì? / 2023

PPP là gì?

Hiện tại có 5 hình thức PPP phổ biến đó là:

1. Xây dựng-Chuyển giao (BT: Build – Transfer): Trong các mô hình này, chính quyền đứng ra ký hợp đồng với 1 đối tác tư nhân để thiết kế và xây dựng 1 công trình đáp ứng các yêu cầu. Khi công trình hoàn thành, chính quyền sẽ chịu trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng công trình đó.

2. Xây dựng-Cho thuê-Chuyển giao (BLT: Build – Lease – Transfer ): Mô hình này tương tự như Xây dựng-Chuyên giao, chỉ khác là sau khi hoàn thành, công trình được giao cho chính quyền thuê lại. Khi tiền thuê đã được thanh toán đủ công trình được chuyển giao cho phía chính quyền mà không yêu cầu thêm chi phí nào. Chính quyền có trách nhiệm vận hành trong thời gian thuê công trình.

3. Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao (BOT: Build – Operate – Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để thiết kế và xây dựng 1 công trình kết cấu hạ tầng. Sau đó, nhà đầu tư vận hành và bảo dưỡng công trình trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước, Nhà nước chịu trách nhiệm tiếp tục vận hành công trình.

4. Xây dựng – chuyển giao – vận hành (BTO: Build – Transfer – Operate) Là mô hình đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước nhưng nhà đầu tư vẫn giữ quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

5. Xây dựng – sở hữu – vận hành (BOO; Build – Own – Operate) Trong mô hình này, Nhà nước nhượng quyền cho một đơn vị tư nhân cấp tài chính, xây dựng, vận hành và bảo trì một dự án. Đơn vị này có quyền sở hữu dự án trong thời gian hoạt động của dự án.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công: Các Bên Phải Cùng Có Lợi / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!