Xu Hướng 2/2024 # Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công? # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công? được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Việc ban hành Luật về đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP) đúng lộ trình, để sớm có khung pháp lý cao nhất triển khai dự án PPP là rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện kết cấu hạ tầng của Việt Nam, nâng cao cạnh tranh trong thu hút vốn nước ngoài vào kết cấu hạ tầng với các nước khác trong khu vực vốn đang có thể chế về PPP khá hấp dẫn. Và để có dự án PPP thành công, Luật về PPP cần thiết kế các quy định để các bên cùng có lợi. Dự thảo Luật về PPP dự kiến được Quốc hội thông qua tới đây sẽ giúp huy động tốt nhất nguồn lực từ khu vực tư nhân, góp phần nâng cao chất lượng dịch vụ công.

Ông Ousmane Dione, Giám đốc quốc gia của Ngân hàng Thế giới (WB) tại Việt Nam nhận định, Dự thảo Luật PPP mới nhất phản ánh nhiều đặc điểm quan trọng của dự án PPP phù hợp thông lệ quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ hơn của Chính phủ, ví dụ về chia sẻ rủi ro doanh thu.

Tuy nhiên, phía WB khuyến nghị một số vấn đề để thực thi hiệu quả như giải quyết được các khoảng trống về pháp luật để đưa Luật vào thực tiễn; cần đảm bảo cơ chế 1 cửa cho nhà đầu tư; tối thiểu hóa việc tham chiếu đến các luật khác, nếu có tham chiếu thì Luật cần quy định trực tiếp, cụ thể; phân bổ rủi ro cho bên có khả năng quản lý tốt nhất. Đại diện WB cũng cho rằng với tính đa dạng của PPP, Luật cần soạn thảo ở mức tổng quan, có khả năng linh hoạt ở Nghị định hướng dẫn của Chính phủ…

Ngoài ra, cơ chế chia sẻ rủi ro doanh thu vẫn có lợi hơn cho Nhà nước. Ví dụ trường hợp giảm thu, Chính phủ vẫn có hạ tầng, còn nhà đầu tư rủi ro nhiều hơn;…

Ông Eric Sidgwick, Giám đốc quốc gia của ADB tại Việt Nam đề nghị giữ lại quy định về ưu tiên áp dụng Luật PPP khi có khác biệt với luật khác về một số vấn đề đặc thù của dự án PPP tại Điều 3 Dự thảo Luật cũ.

Ông Vũ Hồng Thanh – Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá, quá trình xây dựng Luật cơ quan soạn thảo đã tiếp thu rất nhiều ý kiến, với tinh thần chọn lọc, phù hợp với điều kiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. “Luật PPP là một luật mới, khó, phức tạp, động chạm tới nhiều luật khác trong hệ thống pháp luật. Vì thế xác định không cầu toàn, trong quá trình làm sẽ tiếp tục hoàn thiện”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế nêu quan điểm.

Theo một số ý kiến, nhiều quốc gia trong khu vực như Philippines, Indonesia có khung pháp lý về PPP với nhiều cơ chế hấp dẫn. Nếu Việt Nam coi phát triển hạ tầng là một trong ba đột phá, thì cũng phải có đột phá tư duy xây dựng Luật để thu hút tư nhân trong thời gian tới.

DĐDN sẽ tiếp tục thông tin về những vấn đề xung quanh dự thảo Luật về PPP.

Dự thảo Luật PPP đang được trình Quốc hội xem xét, được bố cục thành 11 chương với 102 điều, trên cơ sở kế thừa các quy định đang thực hiện hiệu quả tại Nghị định số 63/2024/NĐ-CP về PPP, đồng thời bổ sung một số chính sách, định hướng mới. Khác với Nghị định 63/2024/NĐ-CP không hạn chế lĩnh vực đầu tư, Luật PPP sẽ khu biệt, tránh đầu tư dàn trải, tập trung nguồn lực vào 7 lĩnh vực thiết yếu, và yêu cầu vốn lớn. Trong đó, khâu thẩm định cũng sẽ được siết chặt nhằm hạn chế thực trạng thẩm định sơ sài, mang tính thủ tục, không đúng bản chất như trước đây. Về loại hợp đồng được phân ra làm 3 nhóm, thứ nhất là thu phí trực tiếp từ người sử dụng; thứ hai là nhà nước thanh toán cho nhà đầu tư; thứ ba là dùng các tài sản công đổi công trình.

Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công: Các Bên Phải Cùng Có Lợi

(BĐT) – Việc ban hành Luật về đầu tư theo phương thức đối tác công – tư (PPP) đúng lộ trình, để sớm có khung pháp lý cao nhất triển khai dự án PPP là rất quan trọng nhằm đáp ứng nhu cầu hoàn thiện kết cấu hạ tầng của Việt Nam, nâng cao cạnh tranh trong thu hút vốn nước ngoài vào kết cấu hạ tầng với các nước khác trong khu vực vốn đang có thể chế về PPP khá hấp dẫn. Và để có dự án PPP thành công, Luật về PPP cần thiết kế các quy định để các bên cùng có lợi.

Kỳ vọng Luật được thực thi hiệu quả

Ông Ousmane Dione đánh giá, Dự thảo Luật PPP mới nhất phản ánh nhiều đặc điểm quan trọng của dự án PPP phù hợp thông lệ quốc tế, thể hiện cam kết mạnh mẽ hơn của Chính phủ, ví dụ về chia sẻ rủi ro doanh thu. Đại diện WB lưu ý thêm, dù Luật PPP là một luật tốt nhưng phải đảm bảo thực thi luật trong trong bối cảnh của Việt Nam. Trong đó, phía WB khuyến nghị một số vấn đề để thực thi hiệu quả như giải quyết được các khoảng trống về pháp luật để đưa Luật vào thực tiễn; cần đảm bảo cơ chế 1 cửa cho nhà đầu tư; tối thiểu hóa việc tham chiếu đến các luật khác, nếu có tham chiếu thì Luật cần quy định trực tiếp, cụ thể; phân bổ rủi ro cho bên có khả năng quản lý tốt nhất. Đại diện WB cũng cho rằng với tính đa dạng của PPP, Luật cần soạn thảo ở mức tổng quan, có khả năng linh hoạt ở Nghị định hướng dẫn của Chính phủ…

Theo một số ý kiến, nhiều quốc gia trong khu vực như Philippines, Indonesia có khung pháp lý về PPP với nhiều cơ chế hấp dẫn. Nếu Việt Nam coi phát triển hạ tầng là một trong ba đột phá, thì cũng phải có đột phá tư duy xây dựng Luật để thu hút tư nhân trong thời gian tới.

Luật khó, phức tạp, không thể cầu toàn

Thứ trưởng Vũ Đại Thắng chia sẻ có một số vấn đề Dự thảo Luật chưa thể đáp ứng hết các đề xuất. Ví dụ như đề xuất của ADB khuyến nghị về hạn mức bảo đảm chuyển đổi ngoại tệ. Khi Việt Nam mới thu hút đầu tư nước ngoài, nền kinh tế thị trường sơ khai, giao dịch quốc tế ít, quản lý ngoại hối chặt chẽ, nhà đầu tư nước ngoài yêu cầu có bảo lãnh chuyển đổi ngoại tệ. Nhưng đến nay nền kinh tế Việt Nam mở đến 200%, nếu vẫn đặt vấn đề này sẽ rất khó khăn cho cơ quan Chính phủ trong giải trình ra Quốc hội. Nếu Quốc hội chấp thuận ở mức 30% đã là mức ưu ái rất lớn cho dự án PPP…

Hay là kiến nghị của ADB đề xuất giữ lại Điều 3 tại Dự thảo Luật cũ, ông Nguyễn Đăng Trương, Cục trưởng Cục Quản lý đấu thầu, cho biết, với tinh thần đảm bảo sự yên tâm cho nhà đầu tư khi thực hiện dự án PPP, Dự thảo cũ có quy định về ưu tiên áp dụng Luật PPP tại Điều 3 đối với một số nội dung đặc thù của phương thức PPP. Chuyên gia kinh tế thì cho rằng quy định này cần thiết, nhưng chuyên gia pháp luật lại nói không được, phá vỡ tính tổng thể của hệ thống pháp luật. Vì thế, Dự thảo Luật mới nhất cố gắng giải quyết vấn đề một cách hài hòa, vấn đề nào ưu tiên, ưu đãi cho dự án PPP thì quy định ngay tại Luật PPP và áp dụng theo Luật này. “Ủy ban Thường vụ Quốc hội đã đồng ý trong trường hợp xung đột thì cho phép Luật PPP sửa ngay, quy định ngay tại nội dung Luật”, ông Nguyễn Đăng Trương cho biết.

Ông Vũ Hồng Thanh – Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội đánh giá, quá trình xây dựng Luật cơ quan soạn thảo đã tiếp thu rất nhiều ý kiến, với tinh thần chọn lọc, phù hợp với điều kiện hệ thống pháp luật, trình độ phát triển kinh tế của Việt Nam. “Luật PPP là một luật mới, khó, phức tạp, động chạm tới nhiều luật khác trong hệ thống pháp luật. Vì thế xác định không cầu toàn, trong quá trình làm sẽ tiếp tục hoàn thiện”, Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế nêu quan điểm.

Nhiều Ý Kiến Trái Chiều Xung Quanh Dự Án Luật Đầu Tư Theo Hình Thức Đối Tác Công Tư (Ppp)

Thu hẹp lĩnh vực đầu tư PPP để tập trung nguồn lực

Theo báo cáo của Chính phủ về tổng kết 20 năm thực hiện dự án PPP, đã có 336 dự án PPP đã được triển khai, trong đó tập trung chủ yếu vào lĩnh vực giao thông với 220 dự án; Một lĩnh vực khác cũng thu hút các dự án PPP là Lĩnh vực hạ tầng kỹ thuật (cấp, thoát nước, xử lý nước thải, rác thải; xây dựng nhà ở tái định cư, hạ tầng ký túc xá…) có 32 dự án. Ở các lĩnh vực khác như: năng lượng (xây dựng nhà máy điện) có 18 dự án; Lĩnh vực giáo dục có 06 dự án; và một số lĩnh vực khác.

Thể hiện sự chưa đồng thuận, đại biểu Tạ Văn Hạ- Đoàn ĐBQH tỉnh Bạc Liêu cho rằng, những quy định về lĩnh vực đầu tư dự án PPP mục tiêu chính là nhằm huy động những nguồn lực to lớn đang tiềm ẩn trong dân khi nguồn ngân sách nhà nước còn eo hẹp. Do đó, không nên hạn chế đầu tư trong lĩnh vực đầu tư PPP, nhất là lĩnh vực nhà máy điện. Đại biểu phân tích chúng ta đang có cơ hội phát triển kinh tế lớn khi nhu cầu về điện tăng lên thì cần tận dụng cơ hội này, đồng thời việc huy động đầu tư lĩnh vực này sẽ đảm bảo được an ninh năng lượng.

Bảo đảm chống thất thoát tài sản nhà nước trong các dự án PPP

Về vấn đề cần hay không cần kiểm toán trong các dự án PPP, đại biểu Quốc hội Bùi Văn Phương (Ninh Bình) nêu quan điểm, dự án PPP là đầu tư công vì dự án này do Nhà nước chủ trì, mời gọi nhà đầu tư tư nhân tham gia và dự án được lập ra dựa trên chiến lược, kế hoạch phát triển kinh tế- xã hội và yêu cầu phát triển đất nước. Nó chỉ khác là do Nhà nước chưa đủ tiền để làm ngay nên cần có sự hợp tác với tư nhân. PPP là dự án đầu tư công vì dự án này phải được cấp có thẩm quyền quyết định chủ trương đầu tư. Trong hợp tác công – tư thì phần tư Nhà nước phải trả tiền cho nhà đầu tư bằng giá trị công trình như hợp đồng BT hay bằng quyền thu phí để hoàn vốn trong hợp đồng BOT. Vì vậy, bản chất của hợp tác công – tư là đầu tư công và đã là đầu tư công thì phải tuân thủ việc thực hiện kiểm toán theo đúng quy định của Luật Kiểm toán Nhà nước.

Có cùng quan điểm, ĐBQH Nguyễn Thanh Hiền (Nghệ An) cho biết, bản chất của dự án đầu tư PPP là hợp đồng đầu tư của Nhà nước để thu hút nguồn lực đầu tư, huy động nguồn lực của tư nhân để đầu tư công trình công. Nhà nước thực hiện đầu tư qua hợp đồng PPP không trực tiếp trả kinh phí cho nhà đầu tư mà cho phép nhà đầu tư được thu phí với mức thu và thời hạn thu do Nhà nước quy định hoặc trả bằng giá trị quyền sử dụng đất. Do đó, nếu không kiểm toán phương án đầu tư, phương án tài chính và không kiểm toán toàn diện dự án PPP thì không thể xác định được mức thu phí, thời gian thu phí, không thể xác định chính xác giá đất để thanh toán cho nhà đầu tư. Vì vậy, dự thảo Luật cần quy định kiểm toán toàn diện đối với dự án PPP.

Giải trình thêm về vấn đề này, Bộ trưởng Bộ Kế hoạch và Đầu tư Nguyễn Chí Dũng thẳng thắn, chúng ta thống nhất cần có KTNN nhưng kiểm toán những gì, nội dung nào và thời điểm nào? Theo Bộ trưởng Nguyễn Chí Dũng, chỉ kiểm toán những phần thuộc ngân sách nhà nước và 4 nội dung như đã nêu trong dự thảo Luật, tập trung vào 3 vấn đề là tính tuân thủ của lựa chọn nhà đầu tư, chất lượng dịch vụ và giá trị khi chuyển giao cho nhà nước. Còn lại, tư nhân có quyền thuê kiểm toán độc lập để bảo đảm bình đẳng giữa hai bên, một bên nhà nước kiểm toán phần nhà nước, tư nhân có thể kiểm toán độc lập phần còn lại. Các quy định này đã bảo đảm chống thất thoát tài sản nhà nước.

Nhà nước cùng chia sẻ với nhà đầu tư

Thực tiễn, theo số liệu của Tổng cục đường bộ, năm 2024 trong số 52 dự án BOT giao thông đã đưa vào vận hành khai thác có đủ điều kiện đánh giá về doanh thu thực tế so với hợp đồng, có 27 dự án có doanh thu thực tế tăng so với phương án tài chính ban đầu (trung bình tăng khoảng 18%), 26 dự án có doanh thu thực tế thấp hơn so với phương án tài chính ban đầu (trung bình giảm khoảng 26%). Tuy nhiên, việc tăng, giảm doanh thu của các dự án này do nhiều nguyên nhân khác nhau (nguyên nhân khách quan do thị trường, lãi suất vay tăng, lạm phát tăng…) hay nguyên nhân chủ quan (tính toán sai lưu lượng, quản lý yếu kém của nhà đầu tư…), không chỉ vì nguyên nhân quy hoạch, chính sách pháp luật thay đổi như dự thảo Luật đang đề xuất. Vì vậy, các giá trị từ thực tiễn này chỉ mang tính tham khảo, cần phải tiếp tục nghiên cứu.

Trên cơ sở đó, về tỷ lệ 50%-50% Nhà nước cùng chia sẻ với nhà đầu tư phần tăng, giảm doanh thu: tại hồ sơ dự án Luật do Chính phủ trình Quốc hội tại Kỳ họp thứ 8, cơ chế này được đề xuất theo hướng Nhà nước chia sẻ không quá 50% phần hụt thu và nhà đầu tư chia sẻ không thấp hơn 50% phần tăng thu. Một số ý kiến cho rằng quy định như vậy không rõ, không bảo đảm sự bình đẳng trong mối quan hệ chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân, do đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội sẽ chỉnh sửa theo hướng cố định tỷ lệ 50%-50%.

Tương tự, về vấn đề chia sẻ lỗ lãi mà Nhà nước chia sẻ với nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP sẽ là 50% phần lỗ sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng. Hoặc nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án PPP sẽ chia sẻ với Nhà nước 50% phần lãi tăng thêm sau điểm hòa vốn so với phương án tài chính tại hợp đồng nhằm bảo đảm sự bình đẳng trong mối quan hệ chia sẻ giữa Nhà nước và tư nhân.

Đối với các quy định về hoạt động kiểm toán Nhà nước trong đầu tư theo phương thức PPP, nhiều đại biểu chỉ ra rằng bản chất dự án PPP là nhằm mục tiêu công nhưng có sự kết hợp công – tư trong đầu tư vốn, quản trị dự án, dự án đã trải qua quá trình lựa chọn nhà đầu tư với nhiều quy trình, thủ tục chặt chẽ. Cơ chế, chính sách pháp luật vừa phải bảo đảm chất lượng dịch vụ công nhưng đồng thời phải tạo điều kiện thu hút, huy động tối đa nguồn vốn từ khu vực tư nhân đầu tư vào các dự án PPP. Do đó các đại biểu cho rằng nếu quy định kiểm toán toàn bộ dự án, kể cả phần vốn đầu tư từ khu vực tư nhân sẽ khó thu hút, huy động được nguồn vốn từ khu vực tư nhân cho sự phát triển. Chính vì vậy, nhiều đại biểu tán thành như quy định về nội dung kiểm toán tại Điều 87 của Dự án Luật.

Dự Án Ppp Là Gì?

PPP là gì? Hiện tại có 5 hình thức PPP phổ biến đó là:

1. Xây dựng-Chuyển giao (BT: Build – Transfer): Trong các mô hình này, chính quyền đứng ra ký hợp đồng với 1 đối tác tư nhân để thiết kế và xây dựng 1 công trình đáp ứng các yêu cầu. Khi công trình hoàn thành, chính quyền sẽ chịu trách nhiệm vận hành và bảo dưỡng công trình đó.

2. Xây dựng-Cho thuê-Chuyển giao (BLT: Build – Lease – Transfer ): Mô hình này tương tự như Xây dựng-Chuyên giao, chỉ khác là sau khi hoàn thành, công trình được giao cho chính quyền thuê lại. Khi tiền thuê đã được thanh toán đủ công trình được chuyển giao cho phía chính quyền mà không yêu cầu thêm chi phí nào. Chính quyền có trách nhiệm vận hành trong thời gian thuê công trình.

3. Xây dựng-Vận hành-Chuyển giao (BOT: Build – Operate – Transfer) là hình thức đầu tư được ký giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư để thiết kế và xây dựng 1 công trình kết cấu hạ tầng. Sau đó, nhà đầu tư vận hành và bảo dưỡng công trình trong một thời hạn nhất định. Hết thời hạn, nhà đầu tư chuyển giao không bồi hoàn công trình đó cho Nhà nước, Nhà nước chịu trách nhiệm tiếp tục vận hành công trình.

4. Xây dựng – chuyển giao – vận hành (BTO: Build – Transfer – Operate) Là mô hình đầu tư được ký kết giữa nhà đầu tư và cơ quan Nhà nước có thẩm quyền để xây dựng công trình kết cấu hạ tầng; sau khi xây dựng xong, nhà đầu tư chuyển giao công trình đó cho Nhà nước nhưng nhà đầu tư vẫn giữ quyền kinh doanh công trình đó trong một thời hạn nhất định để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận.

5. Xây dựng – sở hữu – vận hành (BOO; Build – Own – Operate) Trong mô hình này, Nhà nước nhượng quyền cho một đơn vị tư nhân cấp tài chính, xây dựng, vận hành và bảo trì một dự án. Đơn vị này có quyền sở hữu dự án trong thời gian hoạt động của dự án.

Quyết Toán Dự Án Thành Phần, Tiểu Dự Án; Hạng Mục Công Trình Độc Lập Hoàn Thành

Quyết toán dự án thành phần, tiểu dự án; hạng mục công trình độc lập hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Xin chào Ban biên tập Thư Ký Luật, tôi là nhân viên kế toán tại một công ty xây dựng tại Ninh Bình, tôi có một thắc mắc muốn nhờ Ban biên tập Thư Ký Luật giải đáp giúp như sau: Quyết toán dự án thành phần, tiểu dự án; hạng mục công trình độc lập hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước được pháp luật quy định như thế nào? Tôi có thể tìm hiểu vấn đề này tại văn bản pháp luật nào? Mong sớm nhận được phản hồi từ Ban biên tập, chân thành cảm ơn! (xuanthach***@gmail.com)

Quyết toán dự án thành phần, tiểu dự án; hạng mục công trình độc lập hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước được pháp luật quy định tại Điều 4 Thông tư 09/2024/TT-BTC Quy định về quyết toán dự án hoàn thành thuộc nguồn vốn Nhà nước do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành như sau:

1. Đối với các dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, các chương trình dự án có nhiều dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập sử dụng (có quyết định phê duyệt dự án đầu tư riêng biệt) thì mỗi dự án thành phần hoặc tiểu dự án độc lập thực hiện lập báo cáo quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán như một dự án đầu tư độc lập theo quy định tại Thông tư này.

Sau khi toàn bộ dự án quan trọng quốc gia, dự án nhóm A, chương trình dự án hoàn thành; Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh được giao quản lý dự án thành phần chính chịu trách nhiệm Báo cáo kết quả tổng quyết toán toàn bộ dự án (theo Mẫu số 09/QTDA kèm theo Thông tư này) gửi Thủ tướng Chính phủ, Bộ Tài chính, Bộ Kế hoạch và Đầu tư; không phải kiểm toán quyết toán, thẩm tra và phê duyệt quyết toán lại các dự án thành phần hoặc tiểu dự án đã được thẩm tra và phê duyệt theo quy định.

Trân trọng!

Đầu Tư Theo Hình Thức Đối Tác Công Tư (Ppp)

Đầu tư theo hình thức đối tác công tư là một trong những hình thức đầu tư được ghi nhận trong Luật Đầu tư 2014 và được quy định chi tiết trong Nghị định 15/2024/NĐ-CP về đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 15/2024/NĐ-CP thì đây là hình thức đầu tư được thực hiện trên cơ sở hợp đồng giữa cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư, doanh nghiệp dự án để thực hiện, quản lý, vận hành dự án kết cấu hạ tầng, cung cấp dịch vụ công. Đây là một hình thức đầu tư ở tầm vĩ mô và dài hạn.

Thẩm quyền ký kết hợp đồng:

Cơ quan nhà nước có thẩm quyền: Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh ký kết hợp đồng dự án thuộc chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình. Các cơ quan này có thể ủy quyền ký kết hợp đồng cho các tổ chức thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh, Ủy ban nhân dân cấp huyện.

Nguồn vốn thực hiện dự án: Vì đây là hình thức đầu tư đối tác công tư nên có hai loại nguồn vốn:

Vốn chủ sở hữu: là vốn góp của nhà đầu tư để thực hiện dự án. Ngoài ra, nhà đầu tư có thể huy động thêm các nguồn vốn khác.

Tỷ lệ vốn chủ sở hữu của nhà đầu tư không được thấp hơn 15% tổng vốn đầu tư. Đối với dự án có tổng vốn đầu tư trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu được xác định theo nguyên tắc lũy tiến từng phần như sau:

Đối với phần vốn đến 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 15% của phần vốn này;

Đối với phần vốn trên 1.500 tỷ đồng, tỷ lệ vốn chủ sở hữu không được thấp hơn 10% của phần vốn này.

Lưu ý: Vốn đầu tư của Nhà nước tham gia thực hiện dự án không được tính vào tổng vốn đầu tư để xác định tỷ lệ vốn chủ sở hữu.

Hỗ trợ xây dựng công trình đối với dự án có hoạt động kinh doanh, thu phí từ người sử dụng, nhưng khoản thu không đủ để thu hồi vốn đầu tư và lợi nhuận;

Thanh toán cho nhà đầu tư cung cấp dịch vụ theo hợp đồng BTL, hợp đồng BLT và các hợp đồng tương tự khác;

Hỗ trợ xây dựng công trình phụ trợ, tổ chức bồi thường, giải phóng mặt bằng và tái định cư.

Quy trình thực hiện dự án đầu tư: Bước 1: Đề xuất dự án đầu tư

Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh hoặc nhà đầu tư có thể đề xuất dự án đầu tư.

Bước 2: Thẩm định và phê duyệt dự án

Các tiêu chí và trình tự thẩm định và phê duyệt dự án được quy định chi tiết tại Thông tư 02/2024/TT-BKHĐT hướng dẫn lựa chọn sơ bộ dự án, lập, thẩm định, phê duyệt đề xuất dự án và báo cáo nghiên cứu khả thi dự án đầu tư theo hình thức đối tác công tư. Thời hạn thẩm định và phê duyệt là 30 ngày kể từ ngày nhận đủ hồ sơ.

Bước 4: Lập, thẩm định, phê duyệt báo cáo nghiên cứu khả thi

Chủ thể thực hiện: Với dự án do Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh đề xuất thì Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh lập báo cáo nghiên cứu khả thi của dự án làm cơ sở để lập hồ sơ mời thầu lựa chọn nhà đầu tư và đàm phán hợp đồng dự án. Với dự án do nhà đầu tư đề xuất thì nhà đầu tư thực hiện báo cáo nghiên cứu khả thi trên cơ sở thỏa thuận bằng văn bản với Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Chủ thể thẩm định: Hội đồng thẩm định nhà nước hoặc các đơn vị đầu mối về PPP do Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Chủ thể phê duyệt: Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh.

Bước 5: Lựa chọn nhà đầu tư, ký kết thỏa thuận đầu tư, ký kết hợp đồng dự án

Cách thức lựa chọn nhà đầu tư: đấu thầu rộng rãi hoặc chỉ định thầu.

Bước 6: Đăng ký đầu tư và thành lập doanh nghiệp dự án

Nhà đầu tư thực hiện thủ tục xin cấp Giấy chứng nhận đăng ký đầu tư và thành lập doanh nghiệp dự án để thực hiện dự án theo pháp luật doanh nghiệp.

Bước 7: Triển khai thực hiện dự án Bước 8: Quyết toán và bàn giao dự án

Trong thời hạn 06 tháng kể từ ngày hoàn thành công trình dự án, nhà đầu tư thực hiện quyết toán vốn đầu tư xây dựng công trình. Việc kiểm toán giá trị vốn đầu tư được thực hiện bởi một tổ chức kiểm toán độc lập do cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư thỏa thuận lựa chọn.

Đối với các hợp đồng dự án có quy định về việc chuyển giao công trình dự án, cơ quan nhà nước có thẩm quyền và nhà đầu tư thỏa thuận trong hợp đồng dự án các điều kiện, thủ tục chuyển giao.

Cập nhật thông tin chi tiết về Công Thức Cho Dự Án Ppp Thành Công? trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!