Xu Hướng 1/2023 # Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 # Top 1 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 # Top 1 View

Bạn đang xem bài viết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Toàn cảnh cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Chiều 14/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An để cho ý kiến vào dự thảo văn kiện và phương án nhân sự cấp ủy trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ chủ trì cuộc làm việc.

Dự cuộc làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Trương Thị Mai, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Võ Văn Thưởng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Hòa Bình – Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nguyễn Xuân Thắng – Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương; cùng đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành.

Tại cuộc làm việc, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý đã báo cáo tóm tắt dự thảo các văn kiện và phương án nhân sự cấp ủy trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Nghệ An đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực.

Kinh tế của tỉnh phát triển khá nhanh, GRDP bình quân giai đoạn 2016 – 2020 ước đạt 7,84%. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2020 ước đạt 44,34 triệu đồng, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2015. Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán được giao, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách ngày càng nâng lên. Trong đó, năm 2019 thu ngân sách đạt cao nhất nhiệm kỳ với số thu là 16.609,5 tỷ đồng. Năm 2020, Nghệ An phấn đấu thu ngân sách đạt khoảng 17.500 tỷ đồng, nhưng do bị tác động của đại dịch COVID-19 nên dự kiến đạt khoảng 14.620 tỷ đồng – số thu này gấp khoảng 1,7 lần so với năm 2015.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2016 – 2020 ước đạt hơn 314.000 tỷ đồng, gấp 1,74 lần so với giai đoạn 2011 – 2015. Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng vốn khu vực ngoài Nhà nước.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tiếp tục phát triển, tạo nền tảng tốt cho những năm tới.

Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, số xã, huyện đạt tiêu chí nông thôn mới vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2015 – 2020 và cao hơn mức bình quân cả nước. Đến hết năm 2019, toàn tỉnh có 265 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,48%; sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, toàn tỉnh có 245/411 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 59,61%.

Ước thực hiện đến hết năm 2020, có 68,37% số xã ở Nghệ An đạt chuẩn nông thôn mới (bình quân cả nước 54%), 4 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 674 thôn, bản được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí của tỉnh.

Hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp ngày càng đồng bộ. Diện mạo đô thị, nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại. Doanh nghiệp và kinh tế tập thể phát triển nhanh về số lượng, đa dạng các ngành, nghề, lĩnh vực. Cơ chế, chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện ngày càng tốt hơn.

Văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên; số học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhiều năm xếp trong tốp đầu cả nước, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tăng cường.

Nghệ An đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giải quyết việc làm, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội; đến cuối năm 2020, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 3%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội.

Công tác cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo khá toàn diện trên các nội dung, lĩnh vực; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện rõ qua từng năm, hiện đứng thứ 18 cả nước, đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ.

Quốc phòng được giữ vững, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển.

Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Nhiệm kỳ 2020 – 2025, Nghệ An đặt mục tiêu tổng quát là: Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa, con người xứ Nghệ, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên; chủ động đổi mới sáng tạo, đưa Nghệ An phát triển nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2025 Nghệ An trở thành tỉnh có trình độ phát triển khá trong khu vực phía Bắc, năm 2030 trở thành tỉnh có trình độ phát triển khá của cả nước.

Để thực hiện mục tiêu nhiệm kỳ 2020 – 2025, dự thảo Báo cáo chính trị được xây dựng 26 chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025 trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cũng đã xây dựng nhóm nhiệm vụ giải pháp đối với lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại và nhóm nhiệm vụ giải pháp về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cùng 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Đặc biệt, nhiệm kỳ mới, Nghệ An đặt ra 3 đột phá phát triển là: Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh gắn với cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành; Tiếp tục đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trọng điểm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Sau khi nghe Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An báo cáo và ý kiến của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các ban, bộ, ngành Trung ương, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc kết luận cuộc làm việc.

Thủ tướng ghi nhận công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX được triển khai thực hiện chu đáo, nghiêm túc, đúng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.

Thủ tướng Chính phủ cũng đã kết luận về nội dung, kết cấu, bố cục dự thảo Báo cáo chính trị; đồng thời gợi mở những nội dung quan trọng về nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ mới.

Theo đó, nhiệm kỳ qua, mặc dù có sự thay đổi lãnh đạo chủ chốt, cũng như bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Nghệ An đã phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, văn hóa, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh.

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh về tinh thần đoàn kết của Đảng bộ, lãnh đạo tỉnh Nghệ An trong nhiệm kỳ 2015 – 2020, qua đó tạo nền tảng để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, công tác xây dựng Đảng, quốc phòng, an ninh của tỉnh đạt được nhiều kết quả.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu kết luận cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới của tỉnh. Theo đó, Nghệ An cần tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, tinh thần đoàn kết, dự báo những khó khăn, thách thức, tình hình trong nước và quốc tế để xây dựng các chỉ tiêu phù hợp cho nhiệm kỳ mới. Đặc biệt, đến năm 2025, Nghệ An cần phấn đấu để tự cân đối được thu – chi ngân sách; phát triển thành trung tâm của khu vực Bắc Trung bộ trên các lĩnh vực như: y tế, giáo dục đào tạo, du lịch, tài chính; đồng thời tỉnh cần khai thác tốt kinh tế – xã hội khu vực miền Tây Nghệ An; chú trọng hợp tác liên kết vùng, phát huy các thế mạnh của tỉnh; tiếp tục quan tâm công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên.

Thủ tướng cũng yêu cầu tỉnh Nghệ An cần xây dựng Báo cáo chính trị sâu sắc, mẫu mực; thể hiện được tầm nhìn và quyết tâm bứt phá vươn lên. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An cần nghiên cứu, bám sát các quan điểm chỉ đạo của Trung ương đã nêu trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng và những quan điểm, mục tiêu của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/7/2013 và Thông báo số 55-TB/TW, ngày 20/4/2019 về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2020.

Thủ tướng cũng đánh giá, dự thảo Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII và dự thảo Nghị quyết được chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo, có tính chiến đấu; tuy nhiên cần ngắn gọn hơn.

Về nhân sự Đại hội, Thủ tướng nhất trí với số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; cơ cấu, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ như phương án nhân sự đề ra trong nhiệm kỳ 2020 – 2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng thống nhất Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX sẽ diễn ra từ ngày 14 – 16/10/2020, phiên khai mạc chính thức sẽ diễn ra vào sáng ngày 15/10.

Kết thúc cuộc làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương dành cho tỉnh.

Các ý kiến góp ý của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan Trung ương sẽ được tỉnh tiếp thu để hoàn chỉnh, nâng cao hơn nữa chất lượng các báo cáo trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2020 – 2025. Nghệ An sẽ quyết tâm tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và sẽ nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống ngay sau Đại hội, thực hiện thành công Nghị quyết./.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Yên Bái Lần Thứ Xix

CTTĐT – Sau 3 ngày làm việc (22 – 24/9), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX đã thành công rực rỡ. Đại hội đã ban hành Nghị quyết về thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2020 – 2025. Cổng Thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

(iii) Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc, đi đầu các tỉnh trong khu vực Tây Bắc. Chất lượng, hiệu quả văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, bảo đảm mọi người dân đều được chăm lo, thụ hưởng các chế độ, chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Yên Bái “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”. Giảm nghèo nhanh, bền vững với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, là điểm sáng của các tỉnh trong khu vực Tây Bắc; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; chủ động khắc phục nhanh chóng, kịp thời hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân.

2.1. Phương hướng phát triển:

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái 2.2. Mục tiêu: “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu :

Đ ến năm 2025

– Về kinh tế : (1) Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt trên 7,5%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt trên 65 triệu đồng.

– Về văn hóa – xã hội :

– Về môi trường :

Các bài khác

Yên Bái tổ chức Lễ hội chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (24/09/2020)

Tỉnh ủy Yên Bái: Họp báo tuyên truyền kết quả Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (24/09/2020)

Thông cáo báo chí kết quả tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (24/09/2020)

Toàn văn bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 của đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy khóa XIX (24/09/2020)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 thành công tốt đẹp (24/09/2020)

Tiểu sử đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái (24/09/2020)

Đồng chí Đỗ Đức Duy – Phó Bí thư Tỉnh ủy khóa XVIII, Chủ tịch UBND tỉnh đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (24/09/2020)

Yên Bái: Những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội sau một nhiệm kỳ (24/09/2020)

Hội nghị lần thứ Nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (23/09/2020)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX: 48 đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 (23/09/2020)

15 o C

Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Yên Bái Lần Thứ Xix, Nhiệm Kỳ 2022

Trong phiên làm việc chiều ngày 24/9, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 gồm 48 đồng chí đã ra mắt Đại hội. Đây là những đồng chí tiêu biểu về phẩm chất chính trị, đạo đức, năng lực, uy tín, bản lĩnh, trí tuệ, là trung tâm đoàn kết của Đảng bộ, đáp ứng yêu cầu sự nghiệp đổi mới, hội nhập và phát triển của tỉnh trong tình hình mới.

Phát biểu nhận nhiệm vụ, thay mặt Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa mới, đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy khóa XIX, Chủ tịch UBND tỉnh bày tỏ vinh dự, tự hào và trân trọng cảm ơn Đại hội đã tín nhiệm bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa mới, đồng thời hứa trước Đại hội: “Mỗi đồng chí Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh sẽ không ngừng rèn luyện, tu dưỡng, giữ gìn phẩm chất đạo đức, bản lĩnh chính trị; năng động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm; tích cực học tập nâng cao trình độ, năng lực, uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong tình hình mới; đồng thời phát huy cao độ truyền thống đoàn kết, thống nhất, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên, xây dựng tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ thực sự trong sạch, vững mạnh, hoàn thành xuất sắc trọng trách được Đại hội giao phó”.

Tiếp đó, Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng đã ra mắt Đại hội. Đây là những đồng chí đủ tiêu chuẩn, có khả năng đóng góp, tiếp thu, lĩnh hội nội dung của Đại hội để triển khai thực hiện hiệu quả vào thực tiễn địa phương trong giai đoạn mới.

Hầu hết các ý kiến tham gia đều nhất trí cao với nội dung trong dự thảo các văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng; đồng thời, tham gia, đề xuất một số nội dung cụ thể trên các lĩnh vực: kinh tế, văn hóa – xã hội, quốc phòng – an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị…

Đối với văn kiện trình Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh, hầu hết ý kiến đều nhất trí với Báo cáo chính trị và cho rằng, dự thảo đã đánh giá đúng mức, khách quan về những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua; xác định rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp đồng bộ, phù hợp, thể hiện khát vọng vươn lên trong nhiệm kỳ tới.

Đại hội cũng đã biểu quyết nhất trí thông qua Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 với 19 chỉ tiêu chủ yếu, trong đó:

Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2021-2025 đạt trên 7,5%;

Đến năm 2025: GRDP bình quân đầu người đạt trên 65 triệu đồng; Thu ngân sách nhà nước đạt trên 7.000 tỷ đồng; Tổng vốn đầu tư phát triển đạt 100.000 tỷ đồng; Tỷ lệ đô thị hóa đạt 28%; Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân 6,2%/năm; Tuổi thọ trung bình người dân đạt 74,5 tuổi; số năm sống khỏe đạt tối thiểu 68 năm; Chỉ số hạnh phúc của người dân tăng 15% so với năm 2020; Tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt trên 70%; Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân trên 4%/năm; Trên 78% tổng số xã đạt chuẩn nông thôn mới, trong đó 10% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; công nhận thêm huyện Văn Yên và Yên Bình đạt chuẩn nông thôn mới, thị xã Nghĩa Lộ hoàn thành xây dựng nông thôn mới; Hàng năm kết nạp từ 1.800 đảng viên trở lên; Số cán bộ, đảng viên thực hiện tốt trách nhiệm nêu gương hằng năm đạt từ 50% trở lên, trong đó cán bộ lãnh đạo trong hệ thống chính trị đạt từ 70% trở lên…

Nghị quyết cũng xác định 3 đột phá chiến lược và 7 nhiệm vụ trọng tâm, phấn đấu xây dựng tỉnh Yên Bái phát triển nhanh, bền vững trên 3 trụ cột: Kinh tế – xã hội – môi trường theo hướng “phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc”.

Phát biểu bế mạc Đại hội, đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XIX, Chủ tịch UBND tỉnh nhấn mạnh: Sau ba ngày làm việc nghiêm túc, trách nhiệm với tinh thần “Dân chủ – Đoàn kết – Đổi mới – Sáng tạo – Phát triển”, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ 19, nhiệm kỳ 2020 – 2025 đã hoàn thành tốt toàn bộ nội dung, chương trình đề ra.

Đại hội biểu thị sự thống nhất và ý chí, quyết tâm cao, khát vọng phát triển mạnh mẽ của Đảng bộ và nhân dân các dân tộc tỉnh Yên Bái trong những năm tới, là phải thực hiện bằng được mục tiêu: Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên…quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

Tân Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XIX nhấn mạnh: Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 19 hứa sẽ tiếp tục kế thừa, phát huy truyền thống vẻ vang của các thế hệ đi trước, đoàn kết một lòng, không ngừng rèn luyện, nâng cao năng lực, trình độ, bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, toàn tâm toàn ý, hết lòng hết sức cùng với Đảng bộ, nhân dân các dân tộc trong tỉnh thực hiện thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ to lớn Đại hội XIX Đảng bộ tỉnh đã đề ra./.

Trung Dũng, Nguyễn Hà, Trần Tiến, Viết Công

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xix, Nhiệm Kỳ 2022

NGHỊ QUYẾT ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH LẦN THỨ XIX, NHIỆM KỲ 2020 – 2025

Thực hiện Chỉ thị số 35-CT/TW ngày 30.5.2019 của Bộ Chính trị về đại hội đảng bộ các cấp tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng; Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2020 – 2025 họp từ ngày 24 tháng 10 đến ngày 26 tháng 10 năm 2020 tại thành phố Hưng Yên; 

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2015 – 2020 và mục tiêu, chỉ tiêu, phương hướng, nhiệm vụ 5 năm 2020 – 2025 nêu trong Báo cáo Chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình Đại hội, trong đó nhấn mạnh:

1- Đánh giá tổng quát thực hiện Nghị quyết Đại hội XVIII Đảng bộ tỉnh, Đại hội khẳng định:

Thực hiện Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, tiếp tục kế thừa những kết quả đạt được sau gần 20 năm tái lập tỉnh và kết quả đạt được của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII; 5 năm của nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh khóa XVIII, Hưng Yên đã không ngừng nỗ lực khắc phục khó khăn, tận dụng thời cơ, vượt qua thách thức, khơi dậy tiềm năng, phát huy lợi thế, xây dựng Hưng Yên ngày càng giàu đẹp.

Xây dựng Đảng luôn được Đảng bộ tỉnh xác định là nhiệm vụ then chốt. Công tác xây dựng Đảng về chính trị, tư tưởng được đặc biệt chú trọng. Giáo dục chính trị, tư tưởng cho cán bộ, đảng viên và nhân dân; định hướng tuyên truyền, đấu tranh với các luận điệu sai trái, thù địch, phòng, chống âm mưu “Diễn biến hòa bình” trên lĩnh vực tư tưởng – văn hóa được tập trung chỉ đạo và có nhiều chuyển biến tích cực. Ban Thường vụ Tỉnh ủy và các cấp ủy cử trên 7 nghìn học viên đào tạo, bồi dưỡng về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ; trên 67 nghìn lượt học viên được bồi dưỡng theo chức danh, nghiệp vụ công tác xây dựng Đảng và cập nhật kiến thức mới. Công tác xây dựng Đảng về tổ chức và đạo đức được đề cao. Tổ chức cơ sở Đảng được củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động; trên 80% số thôn, khu phố thực hiện chủ trương bí thư chi bộ đồng thời là trưởng thôn, khu phố; kết nạp trung bình 1.585 đảng viên/năm. Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh được thực hiện đồng bộ với các quy định của Trung ương về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là người đứng đầu các cấp, các ngành. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XI, khóa XII về xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh được đẩy mạnh đồng bộ, toàn diện gắn với xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Công tác kiểm tra, giám sát thực hiện nghiêm túc, có sự đổi mới, giữ nghiêm kỷ cương, kỷ luật của Đảng. Công tác nội chính, phòng, chống tham nhũng, lãng phí được tăng cường, chỉ đạo đồng bộ, hiệu quả. Công tác dân vận được đổi mới theo hướng bám sát thực tiễn, hướng mạnh về cơ sở; đẩy mạnh phong trào thi đua “Dân vận khéo”, công tác dân vận chính quyền, góp phần tăng cường mối quan hệ mật thiết giữa Đảng, chính quyền với nhân dân. Công tác giám sát, phản biện xã hội, tham gia góp ý xây dựng Đảng, xây dựng chính quyền của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội được chú trọng. Phương thức lãnh đạo của các cấp ủy, tổ chức đảng; tác phong, lề lối làm việc có sự đổi mới. Hiệu quả hoạt động của chính quyền các cấp có sự chuyển biến tích cực; chú trọng xây dựng chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ. Khối đại đoàn kết toàn dân tiếp tục được củng cố, tăng cường; niềm tin của Nhân dân đối với Đảng được nâng lên.

Phát triển kinh tế là trọng tâm, gắn liền với ổn định xã hội và bảo vệ môi trường. Kinh tế duy trì phát triển ổn định với chất lượng tăng trưởng được cải thiện, tiềm lực, quy mô tăng lên; năm 2020 đạt 102 nghìn tỷ đồng, tăng gấp 1,73 lần so với năm 2015. Tốc độ tăng trưởng kinh tế bình quân đạt 8,38%/năm; trong đó: Nông nghiệp – thủy sản tăng 2,78%/năm, công nghiệp – xây dựng tăng 10,3%/năm, thương mại – dịch vụ tăng 6,84%/năm; năm 2020, thu ngân sách nhà nước 14.865 tỷ đồng, trong đó thu nội địa 10.565 tỷ đồng, là một trong 16 tỉnh, thành phố bảo đảm tự cân đối thu chi và có đóng góp với ngân sách Trung ương; GRDP bình quân đầu người năm 2020 đạt 79,57 triệu đồng, gấp 1,64 lần so với năm 2015, đứng thứ 13/63 tỉnh, thành phố. Kim ngạch xuất khẩu bình quân tăng 16,19%/năm. Công nghiệp – xây dựng đang dần chiếm tỷ trọng ngày càng cao trong cơ cấu kinh tế, phù hợp với định hướng của tỉnh trong nhiều kỳ Đại hội gần đây: Năm 2020, công nghiệp – xây dựng 61,5%; nông nghiệp – thủy sản 9,65%; thương mại – dịch vụ 28,85%. Các đột phá chiến lược đã thu được kết quả nổi bật khi Hưng Yên là sự lựa chọn của nhiều nhà đầu tư trong và ngoài nước; thu hút 816 dự án, tăng 34,4% so với giai đoạn 2011- 2015. Các khu công nghiệp lớn được xây dựng và phát triển; Khu Công nghiệp, đô thị và dịch vụ Lý Thường Kiệt đang được hình thành, tạo bước đột phá trong quá trình phát triển công nghiệp ở tỉnh; thành lập mới 13 cụm công nghiệp. Xây dựng cơ sở hạ tầng, nhất là hệ thống giao thông được đầu tư lớn với trên 1.000 km ở các cấp đường, đã phát huy lợi thế của tỉnh trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng; hệ thống giao thông được tập trung đầu tư, tạo điều kiện thuận lợi để kết nối Hưng Yên với các tỉnh và Thủ đô Hà Nội, cảng biển và sân bay; giao thông phát triển tạo thêm sức hấp dẫn thu hút nhà đầu tư phát triển công nghiệp và xây dựng đô thị. Tỷ lệ đô thị hóa đạt 41%; thành lập thị xã Mỹ Hào; Khu vực phát triển đô thị trung tâm huyện Văn Lâm được công nhận đạt tiêu chí đô thị loại IV, có thêm 13 xã được công nhận đô thị loại V. Thương mại, dịch vụ và du lịch phát triển khá. Nông nghiệp phát triển theo hướng sản xuất hàng hóa hiệu quả cao, an toàn và bền vững, giá trị bình quân trên 1 ha canh tác đạt 210 triệu đồng, tăng 60 triệu đồng so với năm 2015; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc; năm 2019, 100% các xã đạt chuẩn nông thôn; năm 2020, đạt chuẩn nông thôn mới cấp huyện và cấp tỉnh. 

Quan tâm thực hiện các chính sách văn hóa – xã hội, người dân được xác định là trung tâm của quá trình phát triển. Thông qua nhiều chủ trương, chính sách và có cơ chế tài chính đảm bảo để chăm lo gia đình chính sách, người có công, gia đình thương binh liệt sỹ, giúp đỡ những người còn khó khăn, yếu thế trong xã hội: Hoàn thành Đề án hỗ trợ về nhà ở cho người có công và hộ nghèo; thực hiện trợ cấp hàng tháng cho người đủ 75 tuổi đến dưới 80 tuổi; nâng mức trợ cấp hàng tháng cho các đối tượng sống trong các cơ sở bảo trợ xã hội; hỗ trợ mua thẻ bảo hiểm y tế cho người cận nghèo, người khuyết tật… Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 1,8%; giải quyết việc làm thường xuyên cho 17,8 vạn lao động; tỷ lệ lao động qua đào tạo đạt 65%; 100% số xã, phường, thị trấn đạt chuẩn Quốc gia về y tế; tỷ lệ người dân có thẻ bảo hiểm y tế đạt 91,5%. Giáo dục được quan tâm đầu tư phát triển cân đối về quy mô, loại hình theo hướng chuẩn hóa; toàn tỉnh có thêm 163 trường đạt chuẩn Quốc gia so với năm 2015; chất lượng đội ngũ giáo viên và chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên. Tỷ lệ làng, khu phố văn hóa đạt 89%, gia đình văn hóa đạt 91,5%. Đời sống vật chất và tinh thần của người dân ở nông thôn cùng với các thị tứ, thị trấn, thị xã, thành phố và khu đô thị được nâng lên, diện mạo có nhiều thay đổi theo hướng sáng, xanh, sạch, đẹp. Quản lý nhà nước được tăng cường và nâng cao hiệu lực, hiệu quả, nhất là quản lý đất đai, hành lang giao thông, thủy lợi, quản lý quy hoạch, quản lý tài nguyên, khoáng sản và bảo vệ môi trường. Ứng phó kịp thời và giải quyết có hiệu quả với những tình huống khó, mới, phức tạp như dịch tả lợn Châu Phi và đại dịch Covid-19.

Chính trị xã hội ổn định, bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh với vị trí là tỉnh liền kề, tiếp giáp và là cửa ngõ phía Đông Nam của Thủ đô Hà Nội, tạo tiền đề để ổn định và giúp cho đầu tư ở Hưng Yên tiếp tục bứt phá trong những năm gần đây. 

Có 14/16 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII đạt, vượt và vượt trước, có chỉ tiêu vượt sớm, vượt cao so với kế hoạch.

* Cùng với những kết quả đạt được, với tinh thần tự phê bình và phê bình, Đại hội chỉ rõ một số hạn chế, yếu kém chủ yếu, cần phải có quyết tâm cao, nỗ lực lớn để khắc phục có hiệu quả, đó là: 

Về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: (1) Công tác nắm bắt, phản ánh, phân tích và dự báo tình hình tư tưởng, định hướng dư luận xã hội ở một số đơn vị chưa kịp thời. Việc bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng, đấu tranh phản bác các quan điểm sai trái, thông tin xấu, độc trên Internet có lúc, có nơi chưa đáp ứng yêu cầu. Kết quả thực hiện Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị và chuyên đề hàng năm ở một số địa phương, đơn vị còn hạn chế. (2) Công tác tổ chức, cán bộ và việc thực hiện Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW ở cấp huyện và cơ sở có nội dung còn chậm, còn gặp khó khăn. Công tác quản lý, giáo dục, rèn luyện đảng viên thông qua việc nêu gương tại một số cơ quan, đơn vị chưa được quan tâm thường xuyên. Năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của một số tổ chức đảng còn hạn chế; tinh thần tự phê bình và phê bình ở một số nơi còn yếu; có chi bộ ra nghị quyết trái pháp luật phải bị xử lý. (3) Công tác kiểm tra, giám sát còn có cuộc chất lượng giám sát chuyên đề chưa cao; kiểm tra tổ chức đảng và đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm còn ít; việc xử lý kỷ luật đảng viên vi phạm có nơi chưa kịp thời. (4) Công tác dân vận và thực hiện Quy chế dân chủ ở cơ sở một số nơi chưa được quan tâm đúng mức; sự phối hợp giữa các cơ quan trong thực hiện công tác dân vận có việc, có nơi chưa chặt chẽ, hiệu quả chưa cao; công tác dân vận chính quyền của một số cơ quan, đơn vị có mặt còn hạn chế. Hoạt động của một số đoàn thể, nhất là ở cơ sở còn gặp nhiều khó khăn; giám sát, phản biện xã hội có việc hiệu quả chưa cao.

Về lĩnh vực phát triển kinh tế – xã hội: (1) Công nghiệp phát triển chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế; thu hút đầu tư của doanh nghiệp vào nông nghiệp, nông thôn còn gặp nhiều khó khăn. (2) Xây dựng nhà ở xã hội cho công nhân và người lao động còn hạn chế. (3) Thương mại, dịch vụ nhiều mặt còn hạn chế, chưa phát huy được lợi thế để phát triển. (4) Công tác giải phóng mặt bằng còn khó khăn, tiến độ thực hiện nhiều dự án còn chậm. (5) Xử lý vi phạm về đất đai, tài nguyên, giao thông, thủy lợi ở một số nơi kết quả chưa cao, chưa triệt để; ô nhiễm môi trường còn xảy ra ở nhiều nơi, có thời điểm gây bức xúc. (6) Công tác đào tạo nghề chưa đáp ứng tốt yêu cầu phát triển; thu hút trường đại học về Khu Đại học Phố Hiến rất khó khăn. Khoa học – công nghệ chưa thực sự phát huy vai trò quan trọng trong phát triển kinh tế – xã hội. (7) Thành phố Hưng Yên chưa đạt đô thị loại II. (8)Tỷ lệ tăng dân số tự nhiên và tỷ lệ sinh con thứ 3 còn ở mức cao; việc triển khai thực hiện đề án, quy hoạch, kế hoạch về văn hóa, thể thao, du lịch, công tác khôi phục, bảo tồn và phát huy giá trị cổ của Phố Hiến xưa còn hạn chế. (9) Cải cách hành chính có mặt chưa đáp ứng tốt yêu cầu; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) cải thiện chậm. (10) An ninh trên một số địa bàn, lĩnh vực còn tiềm ẩn phức tạp; còn xảy ra một số vụ án hình sự đặc biệt nghiêm trọng. Đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí có lúc, có nơi còn hạn chế.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan: Do tác động tiêu cực từ diễn biến phức tạp của tình hình thế giới và trong nước; thiên tai và dịch bệnh nghiêm trọng, khó lường, đặc biệt là ảnh hưởng của dịch tả lợn Châu Phi, đại dịch Covid-19. Một bộ phận doanh nghiệp, người dân chưa kịp thời thích ứng với quá trình hội nhập sâu rộng và sự phát triển nhanh chóng của khoa học – công nghệ. Nguồn lực của tỉnh còn hạn hẹp trong khi nhu cầu đầu tư, bảo đảm an sinh xã hội và phòng, chống dịch bệnh lớn. Nhiều cơ chế, chính sách của Trung ương chậm được hướng dẫn, thiếu đồng bộ, dẫn tới khó khăn trong triển khai, nhất là các Luật về đầu tư công, đất đai, nhà ở, quy hoạch, xây dựng… Yêu cầu đổi mới trong công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị hiện nay cũng đặt ra nhiều vấn đề cần nghiên cứu giải quyết, có nội dung cần thêm thời gian và hướng dẫn cụ thể của Trung ương mới giải quyết được hiệu quả. Song, nguyên nhân chủ quan vẫn là chủ yếu, đó là: Năng lực cụ thể hóa chủ trương, nghị quyết và triển khai thực hiện ở một số cơ quan và địa phương có mặt còn hạn chế, có nơi thụ động, lúng túng; chỉ đạo, điều hành có lúc, có việc chưa sâu sát, quyết liệt. Chưa có giải pháp đột phá để tháo gỡ khó khăn, hỗ trợ người dân và doanh nghiệp; chưa thu hút được nhiều nguồn lực cho phát triển. Cấp ủy, chính quyền và đội ngũ cán bộ, đảng viên ở một số nơi chậm khắc phục những hạn chế, khuyết điểm trong lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành. Ý thức chấp hành pháp luật của một bộ phận doanh nghiệp và người dân còn hạn chế. Nhận thức của một bộ phận cán bộ, đảng viên về một số chủ trương, chính sách còn chưa toàn diện, thiếu thống nhất, chưa kịp thời nâng cao năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, thực hiện nhiệm vụ. Còn diễn ra tình trạng nói chưa đi đôi với làm, làm chưa hết trách nhiệm; người đứng đầu một số cơ quan, đơn vị chưa tập trung cao trong chỉ đạo công tác kiểm tra, giám sát; kỷ luật, kỷ cương ở một số nơi chưa nghiêm. Tính chủ động, sáng tạo, dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm, sự quyết liệt, chủ động trong công việc của một số cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, các ngành, địa phương, đơn vị còn hạn chế. Từ thực tiễn lãnh đạo, chỉ đạo, nhìn lại nhiệm kỳ 2015 – 2020, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh rút ra bài học kinh nghiệm:

Một là, Phát huy thành tựu đạt được trong quá trình Đổi mới của Đất nước, nhất là sau gần 20 năm tái lập tỉnh; đón nhận và cụ thể hóa sự quan tâm giúp đỡ của Trung ương Đảng, Quốc hội, Chủ tịch Nước, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, các Ban, Bộ, ngành, các đồng chí lãnh đạo Đảng, Nhà nước, kiên trì những định hướng lớn trong phát triển kinh tế – xã hội đã được nhiều nhiệm kỳ Đại hội Đảng bộ tỉnh thông qua. Chủ động khai thác các tiềm năng, lợi thế của tỉnh giáp Thủ đô Hà Nội, Trung tâm đồng bằng châu thổ sông Hồng, trong Vùng Kinh tế trọng điểm Bắc Bộ; tập trung trí tuệ với quyết tâm cao của Đảng bộ, chính quyền, quân và dân trong quá trình xây dựng và triển khai thực hiện Nghị quyết đại hội Đảng các cấp.

Hai là, Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch vững mạnh là nhiệm vụ then chốt, thường xuyên; thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tạo sự đoàn kết thống nhất và xây dựng trong tập thể lãnh đạo. Thực hiện tinh gọn bộ máy hệ thống chính trị phải đi đôi với nâng cao hiệu lực, hiệu quả hoạt động của các cơ quan, đơn vị; quyết tâm, quyết liệt trong chỉ đạo, điều hành thực hiện Nghị quyết. Người đứng đầu các cấp, các ngành, các lĩnh vực có tâm, đủ tầm, có năng lực nổi trội và uy tín để đảm bảo tính nêu gương trong quy tụ đoàn kết, chỉ đạo thực hiện; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, phẩm chất, có khát vọng cống hiến với đất nước, quê hương, vì Hưng Yên giàu đẹp, văn minh.

Xác định đúng những nội dung trọng tâm, khâu đột phá, xác định được việc khó, việc mới để phân công người chịu trách nhiệm, tập thể chịu trách nhiệm. Khi ban hành các chủ trương, nghị quyết, cần bám sát thực tiễn, tính khả thi và điều kiện để bảo đảm chủ trương, nghị quyết được thực hiện có hiệu quả.

2- Về mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu; các định hướng, nhiệm vụ trọng tâm, giải pháp thực hiện trong nhiệm kỳ 2020 – 2025, Đại hội nhất trí:

Đại hội đánh giá những kết quả nổi bật và toàn diện của tỉnh sau 24 năm tái lập, trong đó có 10 năm phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2011 – 2020; phân tích thời cơ, bối cảnh thuận lợi, nhận diện rõ những khó khăn, thách thức để đề ra mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2020 – 2025.

2.1- Mục tiêu tổng quát: Xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân; đẩy mạnh đổi mới, sáng tạo; bảo đảm quốc phòng, an ninh; xây dựng Hưng Yên thành tỉnh công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hiệu quả cao, phát triển nhanh và bền vững.

2.2- Các chỉ tiêu chủ yếu:

– Về kinh tế: (1) Tốc độ tăng trưởng kinh tế (GRDP) bình quân 5 năm 7,5 – 8%. Giá trị sản xuất nông nghiệp, thủy sản tăng 2 – 2,5%/năm. Chỉ số sản xuất công nghiệp tăng 9 – 10%/năm. Giá trị sản xuất thương mại, dịch vụ tăng 7 – 7,5%/năm. (2) GRDP bình quân đầu người 130 triệu đồng/năm. (3) Cơ cấu kinh tế: Nông nghiệp – thủy sản 6%; công nghiệp – xây dựng 66%; thương mại, dịch vụ 28%. (4) Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2021 – 2025 đạt 250 nghìn tỷ đồng. (5) Thu ngân sách trên địa bàn đạt 21.500 tỷ đồng (trong đó: thu nội địa đạt 16.500 tỷ đồng, thu nội địa không tính thu tiền sử dụng đất 14.500 tỷ đồng). (6) Kim ngạch xuất khẩu đạt 8,5 tỷ USD, tăng 9,5-10%/năm. (7) Tỷ lệ đô thị hóa đạt 47%; Thành phố Hưng Yên đạt đô thị loại II; Thị xã Mỹ Hào đạt đô thị loại III, cơ bản đạt tiêu chí thành phố; huyện Văn Giang, huyện Văn Lâm phấn đấu đạt tiêu chí đô thị loại III; đẩy mạnh phát triển Khu vực đô thị trung tâm các huyện Yên Mỹ, Khoái Châu đạt tiêu chí đô thị loại IV.

– Về xã hội: (8) Tỷ lệ hộ nghèo giảm còn dưới 1%. (9) Có 55 – 60 xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 25 – 30 xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; có ít nhất 01 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu. (10) Tỷ lệ lao động qua đào tạo 71%. (11) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế trên 95%, bảo hiểm xã hội 45%. (12) Tuổi thọ trung bình 75 tuổi; tỷ lệ tăng dân số tự nhiên hằng năm dưới 1%. (13) Duy trì tỷ lệ số xã đạt chuẩn quốc gia về y tế đạt 100%; 10 bác sỹ và 30 giường bệnh/1 vạn dân. (14) Tỷ lệ gia đình văn hoá trên 92%; cơ quan, đơn vị văn hoá trên 91%; làng, khu phố văn hoá trên 90%.

– Về môi trường: (15) Tỷ lệ hộ dân được sử dụng nước sạch 100%. (16)Tỷ lệ xử lý chất thải ở đô thị đạt 95%, ở nông thôn đạt 90%; 100% chất thải nguy hại được xử lý an toàn theo quy định. (17)100% khu công nghiệp, cụm công nghiệp có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt quy chuẩn; 100% cơ sở sản xuất, kinh doanh đáp ứng yêu cầu bảo vệ môi trường.

– Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị: (18) Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt mức xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 70% (trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 20%); kết nạp đảng viên mới 1.600 đảng viên/năm. (19) Tỷ lệ tổ chức chính trị – xã hội đạt mức xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trên 75% (trong đó hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ 20%). 2.3- Các quan điểm, định hướng phát triển giai đoạn 2020 – 2025:

Một là, Phát triển tỉnh Hưng Yên phù hợp với Chiến lược phát triển của cả nước và của Vùng đồng bằng sông Hồng thời kỳ 2021 – 2030, đồng bộ quy hoạch phát triển vùng và Quốc gia. Duy trì tăng trưởng kinh tế ổn định ở mức cao hơn bình quân chung cả nước và khu vực; cải thiện chất lượng tăng trưởng, nâng cao sức cạnh tranh của nền kinh tế, trên cơ sở tập trung thu hút đầu tư, nhất là tập đoàn đa quốc gia, các dự án công nghệ cao, tạo động lực phát triển; quan tâm đầu tư phát triển các khu công nghiệp hiện đại, khu đô thị lớn, nông nghiệp hàng hóa hiệu quả, giá trị gia tăng cao, an toàn và bền vững.

Hai là, Đẩy mạnh thực hiện các khâu đột phá của Trung ương và của tỉnh; chú trọng đột phá về cơ sở hạ tầng, trọng tâm là giao thông; tăng cường ứng dụng khoa học và công nghệ, nhất là những thành tựu của Cuộc cách mạng Công nghiệp lần thứ Tư; chú trọng đổi mới sáng tạo, ưu tiên phát triển một số ngành, lĩnh vực có thế mạnh; kịp thời tháo gỡ khó khăn, vướng mắc cho sản xuất, kinh doanh và thúc đẩy khởi nghiệp sáng tạo, khơi dậy khát vọng và tiềm năng, tạo động lực mới cho phát triển.

Ba là, Tiếp tục phát huy nội lực và lợi thế, tận dụng cơ hội, tăng cường thu hút mọi nguồn lực, phát triển toàn diện, nhanh và bền vững; quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; chú trọng xây dựng đô thị thông minh, nông thôn mới kiểu mẫu, từng bước chủ động quá trình đô thị hóa ở nông thôn.

Bốn là, Giữ vững định hướng phát triển trên cả 3 trụ cột: kinh tế, xã hội và môi trường. Ưu tiên phát triển công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp sạch; hướng tới đô thị thông minh; thương mại điện tử phát triển; tăng nhanh tỷ trọng kinh tế số trong GRDP; kết cấu hạ tầng phát triển đồng bộ với tầm nhìn dài hạn; nông nghiệp hàng hóa hiệu quả cao; ô nhiễm môi trường khu, cụm công nghiệp và lưu vực sông được kiểm soát. Bảo đảm nguồn lực phù hợp cho phòng, chống dịch bệnh. Quan tâm thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; đồng thuận của Nhân dân là sự bảo đảm thực hiện thắng lợi các nhiệm vụ chính trị ở địa phương. Xây dựng Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Giữ vững quốc phòng, an ninh. Tiếp tục mở rộng quan hệ đối ngoại và ngoại giao Nhân dân với các nước, các đối tác quốc tế.

2.4- Tầm nhìn, định hướng phát triển đến năm 2030, năm 2037, năm 2045

(1) Đến năm 2030: Xây dựng Hưng Yên giàu, đẹp, văn minh, có công nghiệp thuộc nhóm phát triển mạnh của cả nước; GRDP bình quân đầu người trong nhóm dẫn đầu cả nước, đạt trên 8.500 USD/người, thu nhập của người dân khu vực nông thôn cao gấp hơn 2 lần so với năm 2020; kinh tế số chiếm khoảng 30% GRDP; có các khu đô thị lớn, nông thôn mới kiểu mẫu; nông nghiệp hàng hóa hiệu quả cao, cơ bản trở thành thành phố trực thuộc Trung ương.

(2) Đến năm 2037, năm 2045: Trước năm 2037 – 40 năm tái lập tỉnh, Hưng Yên trở thành thành phố trực thuộc Trung ương; năm 2045, Hưng Yên là thành phố thông minh; phát huy đầy đủ những giá trị cốt lõi của văn hóa Phố Hiến xưa; là thành phố giàu đẹp, văn minh, hiện đại, giàu bản sắc văn hóa của Trung tâm vùng đồng bằng châu thổ sông Hồng.

2.5- Các nhiệm vụ trọng tâm, các khâu đột phá trong nhiệm kỳ 2020 – 2025

Một là, Tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh toàn diện, gắn trách nhiệm người đứng đầu; xây dựng Chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ; phát huy sức mạnh tổng hợp của toàn dân, chung sức, đồng lòng xây dựng tỉnh giàu đẹp, văn minh.

Đổi mới và nâng cao năng lực lãnh đạo của cấp ủy, tổ chức Đảng. Coi trọng nâng cao chất lượng công tác chính trị, tư tưởng. Tăng cường xây dựng tổ chức đảng trong sạch, vững mạnh; nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, đảng viên; tăng cường xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cán bộ chủ chốt đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Đảm bảo công tác nội chính, đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí thực hiện hiệu quả. Đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận và hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội và hội quần chúng. Xây dựng Chính quyền liêm chính, kiến tạo, hành động, phục vụ, hoạt động hiệu lực, hiệu quả, đáp ứng yêu cầu đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa.

Hai là, Đẩy nhanh phát triển kinh tế với công nghiệp hiện đại, nông nghiệp hàng hóa hiệu quả cao, kết hợp hài hòa giữa phát triển kinh tế với ổn định xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống Nhân dân theo định hướng: (1)Tập trung mọi nguồn lực xây dựng kết cấu hạ tầng, trọng tâm là giao thông; tăng cường thu hút đầu tư, phát triển mạnh công nghiệp; (2)Chú trọng phát triển nông nghiệp hàng hóa hiệu quả cao, an toàn và bền vững, nông dân khá giả, nông thôn văn minh. (3)Phát triển đồng bộ thương mại, dịch vụ và du lịch thúc đẩy chuyển dịch cơ cấu kinh tế. (4)Quản lý chặt chẽ công tác thu, chi ngân sách, bảo đảm tài chính bền vững. (5)Tăng cường quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường. (6)Nâng cao chất lượng cuộc sống của người dân, chăm lo sức khỏe cộng đồng, giáo dục và đào tạo, đời sống văn hóa tinh thần, an sinh xã hội được bảo đảm, tạo việc làm, tăng thu nhập góp phần quan trọng giữ ổn định xã hội.

Ba là, Bảo đảm giữ vững quốc phòng, an ninh; mở rộng quan hệ đối ngoại; đẩy mạnh cải cách tư pháp. Tăng cường chỉ đạo bảo vệ vững chắc quốc phòng – an ninh; qua đó, giữ vững và ổn định môi trường xã hội; đời sống tinh thần của nhân dân được bảo đảm an toàn, tạo môi trường xã hội tốt, là cơ sở để các nhà đầu tư yên tâm đầu tư tại Hưng Yên. Đẩy mạnh hoạt động đối ngoại; chú trọng xúc tiến đầu tư, thương mại, tạo đột phá trong thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài; mở rộng thị trường xuất khẩu hàng hóa và lao động. Tăng cường hợp tác thiết thực, hiệu quả với các địa phương trong khu vực đồng bằng sông Hồng và cả nước để thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội.

Bốn là, Đẩy mạnh thực hiện ba khâu đột phá chiến lược: (1) Xây dựng, quản lý và tổ chức thực hiện quy hoạch tỉnh. Tập trung thu hút đầu tư phù hợp quy hoạch; ưu tiên dự án quy mô lớn, công nghiệp công nghệ cao, công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp công nghệ số đóng góp tích cực cho tăng trưởng và ngân sách Nhà nước. (2) Tập trung tháo gỡ khó khăn, huy động các nguồn lực đầu tư kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội, thương mại – dịch vụ và đô thị, phát triển hạ tầng số, ưu tiên hạ tầng giao thông và các địa bàn trọng điểm để tạo động lực phát triển. (3) Trên cơ sở quy hoạch cán bộ, tăng cường công tác đào tạo, đánh giá, sử dụng thông qua việc đẩy mạnh luân chuyển giữa các cấp, các ngành; chú trọng xây dựng đội ngũ cán bộ kế cận, cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ có uy tín, năng lực nổi trội.

Đại hội thống nhất với dự kiến các Chương trình, Đề án trọng điểm và giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX nghiên cứu, tiếp thu, ban hành; đồng thời, tiếp tục nghiên cứu, xây dựng và triển khai các Chương trình, Đề án trọng điểm khác đáp ứng đòi hỏi của thực tiễn nhằm tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội.

II- Thông qua Báo cáo Kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVIII. Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX tiếp thu ý kiến của Đại hội, tiếp tục phát huy thành quả, ưu điểm, khắc phục những hạn chế, yếu kém của nhiệm kỳ trước, đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo, tác phong, lề lối làm việc để nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ 2020 – 2025.

IV– Thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX gồm 52 đồng chí; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng gồm 19 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết. 

Cập nhật thông tin chi tiết về Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!