Xu Hướng 3/2024 # Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Toàn cảnh cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Chiều 14/9, tại Trụ sở Trung ương Đảng, Bộ Chính trị làm việc với Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An để cho ý kiến vào dự thảo văn kiện và phương án nhân sự cấp ủy trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc, Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ chủ trì cuộc làm việc.

Dự cuộc làm việc có các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị: Tòng Thị Phóng, Phó Chủ tịch Thường trực Quốc hội; Trương Thị Mai, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Dân vận Trung ương; Võ Văn Thưởng, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng ban Tuyên giáo Trung ương; Ngô Xuân Lịch, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

Cùng dự có các đồng chí Bí thư Trung ương Đảng: Phan Đình Trạc, Trưởng ban Nội chính Trung ương; Nguyễn Hòa Bình – Chánh án Tòa án nhân dân tối cao; Nguyễn Xuân Thắng – Giám đốc Học viện Chính trị Quốc gia Hồ Chí Minh, Chủ tịch Hội đồng lý luận Trung ương; cùng đại diện lãnh đạo các ban, bộ, ngành.

Tại cuộc làm việc, Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý đã báo cáo tóm tắt dự thảo các văn kiện và phương án nhân sự cấp ủy trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025.

Thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2024 – 2024, Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân Nghệ An đã đoàn kết, nỗ lực phấn đấu, đạt được nhiều kết quả quan trọng, khá toàn diện trên các lĩnh vực.

Kinh tế của tỉnh phát triển khá nhanh, GRDP bình quân giai đoạn 2024 – 2024 ước đạt 7,84%. GRDP bình quân đầu người đến cuối năm 2024 ước đạt 44,34 triệu đồng, tăng gấp 1,5 lần so với năm 2024. Thu ngân sách hàng năm đều đạt và vượt dự toán được giao, tỷ trọng thu nội địa trong tổng thu ngân sách ngày càng nâng lên. Trong đó, năm 2024 thu ngân sách đạt cao nhất nhiệm kỳ với số thu là 16.609,5 tỷ đồng. Năm 2024, Nghệ An phấn đấu thu ngân sách đạt khoảng 17.500 tỷ đồng, nhưng do bị tác động của đại dịch COVID-19 nên dự kiến đạt khoảng 14.620 tỷ đồng – số thu này gấp khoảng 1,7 lần so với năm 2024.

Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2024 – 2024 ước đạt hơn 314.000 tỷ đồng, gấp 1,74 lần so với giai đoạn 2011 – 2024. Cơ cấu vốn đầu tư chuyển dịch theo hướng tăng dần tỷ trọng vốn khu vực ngoài Nhà nước.

Cơ cấu kinh tế tiếp tục chuyển dịch đúng hướng. Công nghiệp – xây dựng và dịch vụ tiếp tục phát triển, tạo nền tảng tốt cho những năm tới.

Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, số xã, huyện đạt tiêu chí nông thôn mới vượt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội nhiệm kỳ 2024 – 2024 và cao hơn mức bình quân cả nước. Đến hết năm 2024, toàn tỉnh có 265 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 61,48%; sau khi sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã, toàn tỉnh có 245/411 xã đạt chuẩn nông thôn mới, đạt 59,61%.

Ước thực hiện đến hết năm 2024, có 68,37% số xã ở Nghệ An đạt chuẩn nông thôn mới (bình quân cả nước 54%), 4 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng nông thôn mới; 674 thôn, bản được công nhận đạt chuẩn nông thôn mới theo tiêu chí của tỉnh.

Hệ thống kết cấu hạ tầng tiếp tục được đầu tư xây dựng, nâng cấp ngày càng đồng bộ. Diện mạo đô thị, nông thôn ngày càng văn minh, hiện đại. Doanh nghiệp và kinh tế tập thể phát triển nhanh về số lượng, đa dạng các ngành, nghề, lĩnh vực. Cơ chế, chính sách, môi trường đầu tư, kinh doanh được cải thiện ngày càng tốt hơn.

Văn hóa, xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Chất lượng giáo dục toàn diện được nâng lên; số học sinh giỏi quốc gia, quốc tế nhiều năm xếp trong tốp đầu cả nước, đứng đầu các tỉnh Bắc Trung bộ. Công tác bảo vệ, chăm sóc và nâng cao sức khỏe Nhân dân được tăng cường.

Nghệ An đã thực hiện đồng bộ các giải pháp nhằm giải quyết việc làm, giảm nghèo và bảo đảm an sinh xã hội; đến cuối năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo toàn tỉnh giảm xuống còn 3%, đạt chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội.

Công tác cải cách hành chính được quan tâm chỉ đạo khá toàn diện trên các nội dung, lĩnh vực; Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI) được cải thiện rõ qua từng năm, hiện đứng thứ 18 cả nước, đứng đầu khu vực Bắc Trung bộ.

Quốc phòng được giữ vững, an ninh và trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác xây dựng Đảng được tăng cường, hệ thống chính trị từ tỉnh đến cơ sở ngày càng được củng cố và phát triển.

Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý phát biểu tại cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Nhiệm kỳ 2024 – 2025, Nghệ An đặt mục tiêu tổng quát là: Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa, con người xứ Nghệ, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên; chủ động đổi mới sáng tạo, đưa Nghệ An phát triển nhanh, bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2025 Nghệ An trở thành tỉnh có trình độ phát triển khá trong khu vực phía Bắc, năm 2030 trở thành tỉnh có trình độ phát triển khá của cả nước.

Để thực hiện mục tiêu nhiệm kỳ 2024 – 2025, dự thảo Báo cáo chính trị được xây dựng 26 chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025 trên các lĩnh vực kinh tế, văn hóa – xã hội, môi trường, quốc phòng, an ninh, xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh cũng đã xây dựng nhóm nhiệm vụ giải pháp đối với lĩnh vực kinh tế – xã hội, quốc phòng – an ninh, đối ngoại và nhóm nhiệm vụ giải pháp về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị, cùng 6 nhiệm vụ trọng tâm.

Đặc biệt, nhiệm kỳ mới, Nghệ An đặt ra 3 đột phá phát triển là: Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh gắn với cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý điều hành; Tiếp tục đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao; Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trọng điểm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

Sau khi nghe Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An báo cáo và ý kiến của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, của các ban, bộ, ngành Trung ương, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc kết luận cuộc làm việc.

Thủ tướng ghi nhận công tác chuẩn bị Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX được triển khai thực hiện chu đáo, nghiêm túc, đúng theo tinh thần Chỉ thị số 35-CT/TW của Bộ Chính trị và các văn bản chỉ đạo, hướng dẫn của Trung ương.

Thủ tướng Chính phủ cũng đã kết luận về nội dung, kết cấu, bố cục dự thảo Báo cáo chính trị; đồng thời gợi mở những nội dung quan trọng về nhiệm vụ phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội, xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị cần tập trung thực hiện trong nhiệm kỳ mới.

Theo đó, nhiệm kỳ qua, mặc dù có sự thay đổi lãnh đạo chủ chốt, cũng như bối cảnh tình hình quốc tế, trong nước còn nhiều khó khăn, thách thức nhưng Đảng bộ, chính quyền và Nhân dân tỉnh Nghệ An đã phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, văn hóa, quê hương Chủ tịch Hồ Chí Minh, đoàn kết, nỗ lực phấn đấu đạt được những thành tựu quan trọng, thúc đẩy sự phát triển toàn diện của tỉnh.

Đặc biệt, Thủ tướng Chính phủ nhấn mạnh về tinh thần đoàn kết của Đảng bộ, lãnh đạo tỉnh Nghệ An trong nhiệm kỳ 2024 – 2024, qua đó tạo nền tảng để lãnh đạo, chỉ đạo phát triển kinh tế – xã hội, công tác xây dựng Đảng, quốc phòng, an ninh của tỉnh đạt được nhiều kết quả.

Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc phát biểu kết luận cuộc làm việc. Ảnh: Thành Duy

Thủ tướng Nguyễn Xuân Phúc nhấn mạnh một số nhiệm vụ trọng tâm trong nhiệm kỳ mới của tỉnh. Theo đó, Nghệ An cần tiếp tục phát huy truyền thống yêu nước, cách mạng, tinh thần đoàn kết, dự báo những khó khăn, thách thức, tình hình trong nước và quốc tế để xây dựng các chỉ tiêu phù hợp cho nhiệm kỳ mới. Đặc biệt, đến năm 2025, Nghệ An cần phấn đấu để tự cân đối được thu – chi ngân sách; phát triển thành trung tâm của khu vực Bắc Trung bộ trên các lĩnh vực như: y tế, giáo dục đào tạo, du lịch, tài chính; đồng thời tỉnh cần khai thác tốt kinh tế – xã hội khu vực miền Tây Nghệ An; chú trọng hợp tác liên kết vùng, phát huy các thế mạnh của tỉnh; tiếp tục quan tâm công tác xây dựng Đảng, phát triển đảng viên.

Thủ tướng cũng yêu cầu tỉnh Nghệ An cần xây dựng Báo cáo chính trị sâu sắc, mẫu mực; thể hiện được tầm nhìn và quyết tâm bứt phá vươn lên. Bên cạnh đó, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Nghệ An cần nghiên cứu, bám sát các quan điểm chỉ đạo của Trung ương đã nêu trong dự thảo văn kiện trình Đại hội XIII của Đảng và những quan điểm, mục tiêu của Bộ Chính trị tại Nghị quyết số 26-NQ/TW, ngày 30/7/2013 và Thông báo số 55-TB/TW, ngày 20/4/2024 về sơ kết 5 năm thực hiện Nghị quyết số 26-NQ/TW của Bộ Chính trị khóa XI về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2024.

Thủ tướng cũng đánh giá, dự thảo Báo cáo kiểm điểm của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII và dự thảo Nghị quyết được chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo, có tính chiến đấu; tuy nhiên cần ngắn gọn hơn.

Về nhân sự Đại hội, Thủ tướng nhất trí với số lượng Ủy viên Ban Chấp hành Đảng bộ, Ban Thường vụ Tỉnh ủy; cơ cấu, tỷ lệ cán bộ trẻ, cán bộ nữ như phương án nhân sự đề ra trong nhiệm kỳ 2024 – 2025.

Bộ Chính trị, Ban Bí thư Trung ương Đảng thống nhất Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX sẽ diễn ra từ ngày 14 – 16/10/2024, phiên khai mạc chính thức sẽ diễn ra vào sáng ngày 15/10.

Kết thúc cuộc làm việc, Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý trân trọng cảm ơn sự quan tâm của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Thủ tướng Chính phủ và các bộ, ngành Trung ương dành cho tỉnh.

Các ý kiến góp ý của các đồng chí Ủy viên Bộ Chính trị, Ban Bí thư, các cơ quan Trung ương sẽ được tỉnh tiếp thu để hoàn chỉnh, nâng cao hơn nữa chất lượng các báo cáo trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2024 – 2025. Nghệ An sẽ quyết tâm tổ chức thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX và sẽ nhanh chóng đưa Nghị quyết vào cuộc sống ngay sau Đại hội, thực hiện thành công Nghị quyết./.

Bế Mạc Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix

Tại phiên họp, 64 đồng chí vừa được bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XIX nhiệm kỳ 2024 -2025 ra mắt Đại hội.

Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý cũng cho biết, Đại hội đã bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa 19, nhiệm kỳ 2024 – 2025 gồm 64 đồng chí, tiêu biểu cho trí tuệ, phẩm chất đạo đức, năng lực, sức chiến đấu của Đảng bộ, đảm bảo tính liên lục, tính kế thừa và phát triển, đảm đương trách nhiệm lãnh đạo và tổ chức thực hiện thắng lợi nghị quyết đại hội. Đại hội đã bầu 29 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết đại diện cho tiếng nói của hơn 19 vạn Đảng viên của Đảng bộ, dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ 13 của Đảng.

Tại Hội nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh lần thứ nhất, khóa 19, đã bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 16 đồng chí, bầu Bí thư và các Phó Bí thư Tỉnh ủy, bầu Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy, Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy. Kết quả của các phiên bầu cử tại Đại hội và bầu cử tại phiên họp đầu tiên của Ban Chấp hành Đảng bộ đều đạt số phiếu cao, tập trung, thể hiện sự tin tưởng, đoàn kết nhất trí cao trong toàn Đảng bộ.

Đại hội vinh dự được Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc thay mặt Bộ Chính trị về dự và phát biểu chỉ đạo Đại hội. Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc đã động viên, ghi nhận những kết quả của Đảng bộ và nhân dân toàn tỉnh đạt được trong nhiệm kỳ qua, định hướng những vấn đề trọng tâm, nhiệm vụ trước mắt và lâu dài đối với Đảng bộ và nhân dân Nghệ An cần thực hiện trong nhiệm kỳ mới và những năm tiếp theo với mong muốn Nghệ An phát triển tương xứng là quê hương của Bác Hồ kính yêu. Đại hội giao Ban Chấp hành Đảng bộ khóa mới tiếp thu nghiêm túc, đầy đủ ý kiến phát biểu chỉ đạo của Thủ tướng Chính phủ và góp ý của các đại biểu; chỉnh lý để ban hành chính thức các Văn kiện của Đại hội.

“Ngay từ những tháng đầu năm 2024, dịch bệnh Covid 19 diễn biến phức tạp, các địa phương, đơn vị trong toàn tỉnh vừa phải chỉ đạo tổ chức phòng chống dịch bệnh, vừa duy trì, khôi phục phát triển kinh tế, vừa tổ chức Đại hội Đảng các cấp đảm bảo theo quy định. Bằng tinh thần đoàn kết, chủ động, sáng tạo, toàn Đảng bộ đã vượt qua khó khăn, thử thách, trong đó đã tổ chức tốt đại hội các cấp từ cơ sở lên đến cấp trên cơ sở; Đã chuẩn bị nghiêm túc, chu đáo cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức, tạo cơ sở, tiền đề quan trọng để Đại hội hôm nay được tổ chức thành công. Quá trình chuẩn bị đại hội đã tạo ra những đợt sinh hoạt chính trị sâu rộng, tổ chức nhiều phong trào thi đua yêu nước sôi nổi trong cán bộ, đảng viên và quần chúng nhân dân hướng về Đại hội. Đại hội nhiệt liệt biểu dương và ghi nhận các tổ chức Đảng, tổ chức quần chúng, toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sỹ, nhân dân tỉnh nhà trong nhiều tháng qua đã giành tình cảm, sự quan tâm và nhiệt tình đóng góp công sức, trí tuệ cho Đại hội”- Bí thư Tỉnh ủy Nghệ An Thái Thanh Quý nhấn mạnh.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix, Nhiệm Kỳ 2024

QUYẾT NGHỊ

I- Tán thành những nội dung cơ bản về đánh giá 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII và phương hướng, mục tiêu, chỉ tiêu, nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu 5 năm 2024 – 2025 nêu trong Báo cáo chính trị trình Đại hội.

1. Đánh giá tổng quát 5 năm thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ VIII

Nhiệm kỳ 2024 – 2024, việc thực hiện Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh gặp nhiều tác động bất lợi của tình hình thế giới và khu vực, sự cố ô nhiễm biển miền Trung năm 2024, đại dịch Covid-19. Trong bối cảnh đó, Đảng bộ đã lãnh đạo chính quyền, hệ thống chính trị và Nhân dân đoàn kết khắc phục khó khăn, nỗ lực phấn đấu đạt được những kết quả quan trọng trên các lĩnh vực.

Kinh tế phát triển khá nhanh, toàn diện, theo hướng bền vững. Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2024 – 2024 đạt 7,20%; GRDP bình quân đầu người tăng 1,5 lần so với đầu nhiệm kỳ. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng. Xây dựng nông thôn mới đạt nhiều kết quả quan trọng, diện mạo nông thôn khởi sắc, đời sống người dân được nâng lên. Hệ thống kết cấu hạ tầng phát triển ngày càng đồng bộ. Giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội, khoa học và công nghệ có bước phát triển. Công tác quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường được tăng cường. Các chính sách người có công, an sinh xã hội, giải quyết việc làm tiếp tục thực hiện hiệu quả, tỷ lệ hộ nghèo giảm nhanh. Quốc phòng – an ninh được giữ vững, trật tự an toàn xã hội bảo đảm. Quan hệ đối ngoại với các đối tác truyền thống, nhất là các tỉnh của nước bạn Lào có chung đường biên giới tiếp tục được củng cố, phát huy. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị đạt nhiều kết quả quan trọng.

Tuy vậy, một số chỉ tiêu kinh tế – xã hội chưa đạt mục tiêu đề ra. Sức cạnh tranh của nền kinh tế còn thấp. Thu hút đầu tư chưa đạt yêu cầu, chưa có các dự án lớn tác động mạnh mẽ đến chuyển dịch cơ cấu kinh tế và thu ngân sách. Thành phố Vinh phát triển chưa tương xứng với tiềm năng và mục tiêu đề ra. Một hạn chế, yếu kém trong lĩnh vực giáo dục và đào tạo, y tế, văn hóa, xã hội chưa được khắc phục hiệu quả. Công tác bảo vệ môi trường, quản lý tài nguyên, khoáng sản có nơi chưa tốt. Tình hình tội phạm và trật tự xã hội còn tiềm ẩn yếu tố phức tạp. Công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị có mặt chưa đạt yêu cầu đề ra.

2. Mục tiêu tổng quát, các chỉ tiêu chủ yếu và nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2024 – 2025

Xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh. Phát huy truyền thống lịch sử, văn hóa, con người xứ Nghệ, ý chí tự cường và khát vọng vươn lên; chủ động đổi mới sáng tạo, đưa Nghệ An phát triển nhanh và bền vững; bảo đảm vững chắc quốc phòng, an ninh; phấn đấu đến năm 2025 Nghệ An trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc, năm 2030 trở thành tỉnh khá của cả nước.

2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu đến năm 2025

– Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trong tỉnh (GRDP) bình quân giai đoạn 2024 – 2025 đạt 9,5 – 10,5%/năm.

– GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt khoảng 83 triệu đồng.

– Cơ cấu kinh tế: Nông, lâm, ngư nghiệp 19 – 20%; công nghiệp và xây dựng 38 – 39%; dịch vụ 42 – 43%.

– Kim ngạch xuất khẩu đến năm 2025 đạt 1,765 tỷ USD.

– Thu ngân sách đến năm 2025 đạt 26.000 – 30.000 tỷ đồng.

– Tổng vốn đầu tư toàn xã hội giai đoạn 2024 – 2025 đạt khoảng 500 ngàn tỷ đồng.

– Tỷ lệ đô thị hóa toàn tỉnh đến năm 2025 đạt 36%.

b. Về văn hóa – xã hội

– Tỷ lệ làng, bản, khối phố văn hoá: 71 – 73%; tỷ lệ xã, phường, thị trấn có thiết chế văn hoá, thể thao đạt tiêu chí theo quy định của Bộ Văn hóa, Thể thao và Du lịch: 82%.

– Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2025: 75 – 78%.

– Đến năm 2025, có 13 bác sĩ và 39 giường bệnh trên 1 vạn dân; 93% xã, phường đạt tiêu chí quốc gia về y tế, 90% trạm y tế xã có bác sĩ công tác.

– Tốc độ tăng dân số tự nhiên bình quân hàng năm 1,2%.

– Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2025 đạt 71,5%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ 31%. Bình quân hàng năm giải quyết việc làm cho khoảng 37 – 38 ngàn lao động. Tỷ lệ thất nghiệp ở khu vực thành thị năm 2025 dưới 3%.

– Tỷ lệ hộ nghèo đa chiều giảm mỗi năm khoảng 1 – 1,5%, trong đó vùng miền núi 2 – 3%.

– Đến năm 2025, tỷ lệ người dân tham gia bảo hiểm y tế đạt 95%; tỷ lệ lực lượng lao động tham gia bảo hiểm xã hội đạt 26 – 27%.

– Đến năm 2025, có 82% số xã đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó, 20% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao, 5% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu) và 11 đơn vị cấp huyện được công nhận hoàn thành nhiệm vụ xây dựng, đạt chuẩn nông thôn mới (trong đó, có 1 huyện đạt huyện nông thôn mới kiểu mẫu).

c. Về môi trường

– Tỷ lệ người dân đô thị loại IV trở lên được dùng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung đạt 93 – 95%. Tỷ lệ người dân đô thị loại V được dùng nước sạch từ hệ thống cấp nước tập trung đạt 85 – 87%. Tỷ lệ sử dụng nước hợp vệ sinh của dân cư nông thôn đạt 90%.

– Tỷ lệ khu công nghiệp đang hoạt động có hệ thống xử lý nước thải tập trung đạt tiêu chuẩn môi trường đến năm 2025 đạt 100%.

– Tỷ lệ cơ sở gây ô nhiễm môi trường nghiêm trọng được xử lý đến năm 2025 đạt 100%.

– Tỷ lệ thu gom chất thải rắn sinh hoạt phát sinh tại các đô thị đạt 97%. Tỷ lệ chất thải thu gom được xử lý đảm bảo tiêu chuẩn, quy chuẩn đáp ứng yêu cầu về bảo vệ môi trường 90%.

– Tỷ lệ che phủ rừng 58%.

d. Về quốc phòng, an ninh

– Đến năm 2025, 100% đơn vị cấp huyện có tiềm lực và thế trận khu vực phòng thủ vững chắc; trên 90% đơn vị cấp xã vững mạnh toàn diện, an toàn làm chủ.

e. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

– Hàng năm có 90% số tổ chức cơ sở đảng được xếp loại hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên, phấn đấu không có tổ chức cơ sở đảng bị xếp loại không hoàn thành nhiệm vụ.

– Đến năm 2025, phấn đấu 100% khối, xóm, bản có tổ chức đảng; 99% khối, xóm, bản có đảng viên tại chỗ; 90% khối, xóm, bản trở lên có xóm trưởng là đảng viên.

– Kết nạp mới bình quân hàng năm 4.500 – 5.000 đảng viên.

– Xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp đáp ứng tiêu chuẩn chức danh, vị trí việc làm và khung năng lực theo quy định. Phấn đấu đến năm 2025:

+ Cấp tỉnh: Có từ 10 – 15% cán bộ lãnh đạo, quản lý dưới 40 tuổi; từ 10 – 15% cán bộ lãnh đạo, quản lý đủ khả năng làm việc trong môi trường quốc tế; phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên, có cán bộ nữ trong ban thường vụ.

+ Cấp huyện: Có từ 10 – 15% cán bộ lãnh đạo chủ chốt và ủy viên ban thường vụ cấp ủy cấp huyện dưới 40 tuổi; cơ bản hoàn thành việc bố trí bí thư cấp ủy cấp huyện không phải là người địa phương; phấn đấu đạt tỷ lệ cấp ủy viên nữ từ 15% trở lên và có cán bộ nữ trong ban thường vụ.

+ Đối với cán bộ chuyên trách cấp xã: 100% có trình độ đại học, cao đẳng và được chuẩn hóa về lý luận chính trị, chuyên môn, nghiệp vụ, kỹ năng công tác.

2.3. Nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu a. Phát triển kinh tế

– Đến năm 2025, chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX) nằm trong 15 tỉnh, thành phố đứng đầu cả nước.

Khai thác tiềm năng, lợi thế của địa phương, thúc đẩy chuyển đổi mô hình tăng trưởng từ phát triển chiều rộng sang chiều sâu và có tầm nhìn dài hạn. Đẩy mạnh phát triển khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo, chuyển đổi số, phát triển kinh tế số. Tận dụng thời cơ từ các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới để phát triển sản xuất, kinh doanh và mở rộng thị trường.

Tiếp tục đẩy mạnh cơ cấu lại ngành nông nghiệp trên cơ sở áp dụng tiến bộ khoa học kỹ thuật, chuyển dịch cơ cấu cây trồng, vật nuôi theo hướng phát triển ngành nông nghiệp đa chức năng, hội nhập quốc tế, thích ứng với biến đổi khí hậu. Thu hút doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn, nâng cao hiệu quả hoạt động của hợp tác xã; phát triển sản xuất nông nghiệp theo chuỗi giá trị từ nuôi trồng, thu hoạch, bảo quản, chế biến đến tổ chức tiêu thụ. Tiếp tục thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới theo hướng nâng cao chất lượng, thực chất, hiệu quả và bền vững. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm lĩnh vực nông, lâm, thủy sản giai đoạn 2024 – 2025 đạt 4,5 – 5,0%.

Tập trung phát triển các ngành công nghiệp, xây dựng có lợi thế của tỉnh; chú trọng phát triển một số ngành công nghiệp chế biến, chế tạo có hàm lượng khoa học – công nghệ, ứng dụng công nghệ cao. Phát triển công nghiệp hỗ trợ, công nghiệp xanh, tiết kiệm năng lượng, thân thiện môi trường. Thu hút đầu tư các dự án năng lượng tái tạo, thân thiện môi trường; phát triển hạ tầng cung cấp điện phù hợp với quy hoạch và yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Phấn đấu tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị tăng thêm lĩnh vực công nghiệp – xây dựng giai đoạn 2024 – 2025 đạt 14,5 – 15,5%; tốc độ tăng trưởng giá trị tăng thêm ngành công nghiệp đạt 16,5 – 17,5%.

Đẩy mạnh xúc tiến thương mại, du lịch và quảng bá thương hiệu sản phẩm của tỉnh. Phát triển dịch vụ với tốc độ nhanh, bền vững, đưa Nghệ An trở thành trung tâm dịch vụ thương mại, tài chính, du lịch của vùng Bắc Trung Bộ. Phấn đấu đến năm 2025, kim ngạch xuất khẩu đạt 1,765 tỷ USD; doanh thu du lịch đạt trên 11.000 tỷ đồng; tốc độ tăng trưởng bình quân giá trị tăng thêm lĩnh vực dịch vụ giai đoạn 2024 – 2025 đạt 9 – 10%.

Triển khai đồng bộ các giải pháp phát triển doanh nghiệp tư nhân, nâng cao hiệu quả kinh tế tập thể, hộ gia đình; liên kết xây dựng hệ sinh thái khởi nghiệp đổi mới sáng tạo vùng Bắc Trung Bộ. Phấn đấu đến 2025, có trên 30.000 doanh nghiệp, trong đó có khoảng 20.000 doanh nghiệp hoạt động.

Khai thác bền vững tiềm năng, lợi thế nhằm đẩy nhanh tốc độ tăng trưởng kinh tế biển và vùng ven biển. Kết hợp chặt chẽ phát triển kinh tế biển, đảo gắn với bảo vệ chủ quyền lãnh thổ. Đẩy nhanh xây dựng, phát triển khu kinh tế, khu công nghiệp, dịch vụ logistics, khu đô thị ven biển theo hướng tiếp cận mô hình sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư.

b. Phát triển văn hóa – xã hội; quản lý đất đai, tài nguyên và bảo vệ môi trường

Tiếp tục bổ sung cơ chế, chính sách và ưu tiên nguồn lực phát triển 03 vùng kinh tế trọng điểm: Phát triển thành phố Vinh – thị xã Cửa Lò, các huyện Đông Nam của tỉnh gắn với vùng Nam Nghệ An – Bắc Hà Tĩnh; phát triển vùng Hoàng Mai gắn với vùng Nam Thanh Hóa – Bắc Nghệ An; phát triển vùng miền Tây Nghệ An, trọng tâm là Thái Hòa – Nghĩa Đàn – Đô Lương – Tân Kỳ – Con Cuông – Quỳ Hợp.

Tiếp tục thực hiện đồng bộ, hiệu quả các giải pháp nâng cao chất lượng giáo dục – đào tạo và giáo dục nghề nghiệp. Phát triển các trường đại học, cao đẳng và cơ sở đào tạo theo hướng đa ngành, đa lĩnh vực, hội nhập quốc tế, trở thành trung tâm đào tạo nguồn nhân lực vùng Bắc Trung Bộ.

Hoàn thiện cơ chế, chính sách, tạo thuận lợi phát triển mạnh mẽ khoa học, công nghệ và đổi mới sáng tạo. Thực hiện tốt khâu đột phá ứng dụng khoa học công nghệ, những thành quả của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ tư nhằm nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Phấn đấu đến năm 2025, trình độ công nghệ của các doanh nghiệp đạt mức khá so với cả nước, tỷ lệ đổi mới công nghệ 35 – 38%.

Xây dựng con người văn hóa, gia đình văn hóa Nghệ An đáp ứng yêu cầu hội nhập và phát triển. Bảo tồn và phát huy giá trị các di sản văn hóa tiêu biểu; giữ gìn, phát huy bản sắc văn hóa con người xứ Nghệ; tạo điều kiện để văn học – nghệ thuật phát triển đúng định hướng. Phát triển các loại hình thông tin truyền thông theo hướng đồng bộ, hiện đại. Đẩy mạnh phong trào thể dục thể thao quần chúng và phát triển thể thao thành tích cao, phấn đấu đến năm 2025 thể thao Nghệ An nằm trong tốp 10 – 15 cả nước.

Tiếp tục tăng cường năng lực y tế dự phòng. Phát triển Bệnh viện Hữu nghị đa khoa và một số bệnh viện chuyên khoa tuyến tỉnh thành cơ sở y tế chất lượng cao khu vực Bắc Trung Bộ. Đẩy mạnh xã hội hóa y tế; phát triển bệnh viện chuyên khoa ngoài công lập. Nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước về hành nghề y, dược, vệ sinh an toàn thực phẩm.

Thực hiện có hiệu quả chương trình giảm nghèo, gắn phát triển kinh tế với giảm nghèo bền vững. Thực hiện tốt chế độ đối với người có công và chính sách trợ giúp đối tượng bảo trợ xã hội. Chăm lo công tác bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế, bảo đảm các chế độ cho người lao động; công tác bảo vệ, chăm sóc và giáo dục trẻ em; công tác dân số – gia đình, người cao tuổi; chính sách bình đẳng giới và vì sự tiến bộ phụ nữ; công tác phòng, chống các tệ nạn xã hội.

c. Về quốc phòng, an ninh, đối ngoại

Quản lý, bảo vệ, khai thác, sử dụng tiết kiệm, hợp lý, có hiệu quả và bền vững tài nguyên trên địa bàn. Thực hiện tốt công tác bảo vệ môi trường, nhất là môi trường biển; chủ động ứng phó biến đổi khí hậu, giữ đất, giữ rừng góp phần phát triển bền vững.

d. Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân vững mạnh. Nâng cao chất lượng xây dựng cơ sở vững mạnh toàn diện và phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh toàn diện, lực lượng dự bị động viên hùng hậu, lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh, rộng khắp; không ngừng nâng cao chất lượng tổng hợp, trình độ, khả năng sẵn sàng chiến đấu, đáp ứng tốt yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Giữ vững an ninh chính trị, đấu tranh hiệu quả với các loại tội phạm và tệ nạn xã hội, bảo đảm trật tự an toàn xã hội.

Nâng cao hiệu quả công tác đối ngoại, chủ động, sáng tạo và tích cực hội nhập toàn diện, sâu rộng. Tiếp tục củng cố, phát huy quan hệ hữu nghị hợp tác với các địa phương và đối tác truyền thống, thúc đẩy quan hệ với các đối tác tiềm năng, thu hút nguồn lực phát triển kinh tế – xã hội.

Cùng với thực hiện các nhiệm vụ, giải pháp chủ yếu, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo 3 đột phá phát triển:

Tiếp tục đổi mới và nâng cao hiệu quả công tác chính trị tư tưởng. Tạo chuyển biến mới về năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của Đảng bộ. Thực hiện tốt Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng gắn với Chỉ thị số 05-CT/TW của Bộ Chính trị về học tập và làm theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh và các quy định về nêu gương. Xây dựng tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả. Tiếp tục củng cố tổ chức đảng, nhất là vùng đặc thù và trong các loại hình doanh nghiệp. Xây dựng đội ngũ cán bộ, nhất là cán bộ chủ chốt có tư duy đổi mới, khát vọng phát triển, dám nghĩ, dám làm và dám đương đầu với khó khăn, thách thức. Nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của cấp ủy, tổ chức đảng và ủy ban kiểm tra các cấp. Thực hiện tốt công tác dân vận của cả hệ thống chính trị. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh phòng, chống tham nhũng, lãng phí. Tiếp tục đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hệ thống chính trị và các lĩnh vực đời sống xã hội.

Nâng cao hiệu lực quản lý, điều hành của chính quyền các cấp. Đẩy mạnh cải cách hành chính, tăng cường kỷ luật, kỷ cương và đạo đức công vụ trong các cơ quan nhà nước. Tiếp tục đổi mới hoạt động của Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân, tạo sự đồng thuận của xã hội cùng hướng tới thực hiện thành công mục tiêu phát triển của tỉnh.

– Cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh gắn với cải cách hành chính, tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành.

– Tiếp tục đào tạo, phát triển và thu hút nguồn nhân lực, nhất là nhân lực chất lượng cao.

– Tiếp tục phát triển hệ thống kết cấu hạ tầng trọng điểm thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

II- Thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII, trình Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX tiếp thu ý kiến của Đại hội, phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo trong nhiệm kỳ tới.

III- Thông qua Báo cáo tổng hợp ý kiến góp ý của các cấp ủy, tổ chức đảng và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh vào dự thảo các văn kiện trình Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX tiếp thu ý kiến Đại hội, bổ sung, hoàn chỉnh, báo cáo Ban Chấp hành Trung ương.

V- Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX căn cứ Nghị quyết Đại hội và quán triệt sâu sắc Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng, ban hành chương trình hành động, các kế hoạch công tác để lãnh đạo thực hiện hiệu quả.

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XIX là mốc đánh dấu bước chuyển giai đoạn quan trọng, với tầm nhìn xa hơn trong tiến trình phát triển theo đường lối đổi mới của Đảng. Đại hội thể hiện ý chí, khát vọng vươn lên mạnh mẽ hơn của Đảng bộ và Nhân dân để đạt tới mục tiêu trở thành tỉnh khá trong khu vực phía Bắc vào năm 2025. Đảng bộ, chính quyền, Nhân dân, các lực lượng vũ trang toàn tỉnh nguyện đoàn kết, nỗ lực nhiều hơn, quyết tâm cao hơn, phát huy truyền thống và mọi tiềm năng, tận dụng cơ hội, vượt qua khó khăn, thách thức, đổi mới sáng tạo, thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đề ra./.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Yên Bái Lần Thứ Xix

CTTĐT – Sau 3 ngày làm việc (22 – 24/9), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX đã thành công rực rỡ. Đại hội đã ban hành Nghị quyết về thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2024 – 2025. Cổng Thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

(iii) Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc, đi đầu các tỉnh trong khu vực Tây Bắc. Chất lượng, hiệu quả văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, bảo đảm mọi người dân đều được chăm lo, thụ hưởng các chế độ, chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Yên Bái “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”. Giảm nghèo nhanh, bền vững với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, là điểm sáng của các tỉnh trong khu vực Tây Bắc; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; chủ động khắc phục nhanh chóng, kịp thời hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân.

2.1. Phương hướng phát triển:

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái 2.2. Mục tiêu: “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu :

Đ ến năm 2025

– Về kinh tế : (1) Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2024-2025 đạt trên 7,5%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt trên 65 triệu đồng.

– Về văn hóa – xã hội :

– Về môi trường :

Các bài khác

Yên Bái tổ chức Lễ hội chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Tỉnh ủy Yên Bái: Họp báo tuyên truyền kết quả Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Thông cáo báo chí kết quả tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Toàn văn bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 của đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy khóa XIX (24/09/2024)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 thành công tốt đẹp (24/09/2024)

Tiểu sử đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái (24/09/2024)

Đồng chí Đỗ Đức Duy – Phó Bí thư Tỉnh ủy khóa XVIII, Chủ tịch UBND tỉnh đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Yên Bái: Những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội sau một nhiệm kỳ (24/09/2024)

Hội nghị lần thứ Nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (23/09/2024)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX: 48 đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (23/09/2024)

15 o C

Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xviii

Sáng 13/10, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2024 – 2024 được khai mạc trọng thể. Đồng chí Nguyễn Xuân Phúc – Uỷ viên Bộ Chính trị, Phó Thủ tướng Chính phủ thay mặt Bộ Chính trị, Ban bí thư Trung ương Đảng về dự và chỉ đạo Đại hội. Về dự Đại hội còn có đồng chí Trần Đức Lương – Nguyên Uỷ viên Bộ Chính trị, Nguyên Chủ tịch nước. Các đồng chí: Nguyễn Phú Trọng – Tổng Bí thư BCH Trung ương Đảng, Trương Tấn Sang – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch nước, Nguyễn Tấn Dũng – Ủy viên Bộ Chính trị, Thủ tướng Chính phủ, Nguyễn Sinh Hùng – Ủy viên Bộ Chính trị, Chủ tịch Quốc hội gửi lẵng hoa chúc mừng Đại hội.Đại hội cũng vinh dự được đón đại diện lãnh đạo các Bộ, ban, ngành Trung ương và các tỉnh bạn.

Đoàn Chủ tịch do Đại hội bầu ra trong phiên trù bị (chiều 12/10) gồm 15 đồng chí, trong đó có các đồng chí: Hồ Đức Phớc – Bí thư Tỉnh uỷ; Trần Hồng Châu – Phó Bí thư Thường trực Tỉnh uỷ, Chủ tịch HĐND tỉnh; Nguyễn Xuân Đường – Phó Bí thư Tỉnh uỷ, Chủ tịch UBND tỉnh; Lê Quang Huy – Phó Bí thư Tỉnh uỷ. Đại hội có sự tham gia của 450 đại biểu đến từ các đảng bộ trực thuộc Tỉnh uỷ và 350 đại biểu khách mời.

Tại Đại hội, Bí thư Tỉnh uỷ Hồ Đức Phớc trình bày tóm tắt Báo cáo chính trị của Đảng bộ trình Đại hội khoá XVIII. Trong đó đánh giá kết quả thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVII với những thành tựu đáng chú ý trên mọi lĩnh vực.

Kinh tế tăng trưởng khá và chuyển dịch đúng hướng. Tốc độ tăng trưởng bình quân cả nhiệm kỳ đạt 7,89%; thu nhập bình quân đầu người cuối nhiệm kỳ tăng gần gấp 2 lần so với đầu nhiệm kỳ; thu ngân sách năm 2024 dự kiến đạt 10.034 tỷ đồng, gấp 2,5 lần so với năm 2010. Hạ tầng kinh tế được chú trọng đầu tư đồng bộ, đặc biệt là hạ tầng giao thông, công nghiệp với nhiều công trình, dự án lớn trong nhiệm kỳ như: đường Tây Nghệ An; đường Châu Thôn – Tân Xuân; cầu Bến Thủy 2; 6 cầu vượt; cảng Cửa Lò (nâng cấp cho tàu trên 1 vạn tấn vào ra); Cảng hàng không quốc tế Vinh; Khu công nghiệp, đô thị và dịch vụ VSIP Nghệ An; Nhà máy xi măng Sông Lam 1 và 2; Nhà máy Tôn Hoa Sen; Nhà máy sữa TH; Nhà máy chế biến thực phẩm Massan; Nhà máy chế biến cá Royal Foods; Nhà máy điện tử BSE;…Hạ tầng nông thôn được nâng cấp với 27% số xã đạt chuẩn nông thôn mới, dự kiến hết năm 2024 có 1 đơn vị cấp huyện đạt chuẩn.

Văn hoá – xã hội có nhiều chuyển biến tích cực, đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân được nâng lên. Đặc biệt, ngành giáo dục của tỉnh đạt được nhiều thành tích nổi bật trong các kỳ thi học sinh giỏi quốc gia, khu vực, quốc tế và các kỳ thi phổ thông. Năm 2024, 65% các trường đạt chuẩn quốc gia, đạt mục tiêu đề ra.

Công tác chăm sóc sức khoẻ nhân dân, lao động việc làm, an sinh xã hội có nhiều chuyển biến tích cực. Đến năm 2024, tỷ lệ hộ nghèo còn 7,5 – 8%, vượt mục tiêu 10% Nghị quyết đề ra.

Dân ca ví, giặm Nghệ Tĩnh được UNESCO công nhận là Di sản văn hoá phi vật thể đại diện của nhân loại cũng là một trong những dấu ấn nổi bật của nhiệm kỳ.

Bên cạnh đó, Đại hội cũng khách quan nhìn nhận những tồn tại, hạn chế trong nhiệm kỳ 2010 – 2024, phân tích nguyên nhân và bàn các giải pháp để nâng cao tốc độ tăng trưởng, phát triển của kinh tế – xã hội tỉnh nhà trong nhiệm kỳ 2024 – 2024, hoàn thành thắng lợi mục tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII, trở thành tỉnh khá, tỉnh công nghiệp, là trung tâm của khu vực Bắc Trung Bộ như Nghị quyết 26 của Bộ Chính trị đề ra.

“Hôm nay, tôi rất vui mừng về quê hương Bác Hồ kính yêu dự Đại hội lần thứ XVIII Đảng bộ tỉnh Nghệ An. Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt chào mừng và chúc các đồng chí đại biểu và các vị khách quý của Đại hội mạnh khoẻ, hạnh phúc, chúc Đại hội thành công tốt đẹp.

… Chúng ta vui mừng nhận thấy trong nhiệm kỳ qua, mặc dù tình hình của tỉnh gặp không ít khó khăn do tác động của tình hình thế giới và khu vực, tình hình biển Đông diễn biến phức tạp và khó lường, kinh tế trong nước phục hồi chậm, thiên tai, dịch bệnh, biến đổi khí hậu bất thường, tác động không thuận lợi đến hoạt động sản xuất, kinh doanh và đời sống nhân dân, song với quyết tâm cao, Đảng bộ và nhân dân Nghệ An đã nỗ lực phấn đấu, tranh thủ thời cơ, phát huy lợi thế, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, giành được nhiều thành tựu quan trọng, đạt và vượt nhiều chỉ tiêu do Đại hội XVII Đảng bộ tỉnh đề ra… Thay mặt Bộ Chính trị, Ban Bí thư, tôi nhiệt liệt biểu dương và chúc mừng Đảng bộ và nhân dân Nghệ An về những thành tựu quan trọng đã đạt được trong nhiệm kỳ qua.

Thứ nhất, cần tập trung thực hiện có hiệu quả Nghị quyết số 26 của Bộ Chính trị về phương hướng, nhiệm vụ phát triển tỉnh Nghệ An đến năm 2024, với mục tiêu tổng quát là nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức Đảng, tăng cường đoàn kết, thống nhất, phát huy nội lực, tận dụng thu hút mọi nguồn lực, phấn đấu xây dựng Nghệ An trở thành tỉnh khá khu vực phía Bắc, tạo cơ sở đến năm 2024 cơ bản trở thành một tỉnh công nghiệp, có hệ thống kết cấu hạ tầng đồng bộ, từng bước hiện đại, đời sống vật chất tinh thần của nhân dân được nâng cao, có nền văn hóa tiên tiến, đậm đà bản sắc xứ Nghệ, quốc phòng an ninh vững mạnh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm.

Vì vậy, cần triển khai tốt quy hoạch đề án đã được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt, quy hoạch tổng thể phát triển KT-XH Nghệ An đến năm 2024, quy hoạch thành phố Vinh đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2050, đề án phát triển KT-XH miền Tây Nghệ An đến năm 2024, xây dựng và triển khai thực hiện các quy hoạch cần đồng bộ khoa học với tầm nhìn dài hạn, trên cơ sở quy hoạch, cần xây dựng kế hoạch triển khai cân đối nguồn lực cụ thể, xác định đúng thứ tự ưu tiên theo yêu cầu giải quyết trước các vấn đề cấp bách, nhanh chóng phát huy hiệu quả, tạo nguồn lực và có cơ sở để thực hiện các bước đi tiếp theo.

Thứ hai, đẩy nhanh tiến trình tái cơ cấu kinh tế gắn với đổi mới mô hình tăng trưởng theo yêu cầu năng cao sức cạnh tranh, phát triển nhanh, bền vững, hết sức coi trọng tái cơ cấu ngành nông nghiệp theo hướng phát triển một nền nông nghiệp đa chức năng, nông nghiệp sinh thái, ứng dụng công nghệ cao để nâng cao giá trị gia tăng và phát triển bền vững.

Khuyến khích, tạo điều kiện để doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn phát triển các vùng sản xuất tập trung quy mô lớn gắn với công nghiệp chế biến và xuất khẩu, góp phần tạo bước đột phá trong chuyển dịch cơ cấu nông nghiệp. Tăng nhanh tỷ trọng giá trị chăn nuôi. Phát triển mạnh, nâng cao hiệu quả nuôi trồng, đánh bắt và chế biến thủy sản. Phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới, trở thành một phong trào cách mạng, có nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả để thu hút nguồn lực xã hội trong phát triển nông nghiệp nông thôn.

Tập trung phát triển công nghiệp chế biến theo hướng đầu tư thiết bị, công nghệ chế biến hiện đại, chế biến các mặt hàng xuất khẩu, tập trung vào các ngành mũi nhọn có lợi thế so sánh. Thu hút đầu tư phát triển các dự án công nghiệp công nghệ cao, công nghệ thông tin, công nghiệp hỗ trợ, trọng tâm là công nghiệp phần mềm, phần cứng và công nghiệp nội dung số. Đầu tư chiều sâu, hiện đại, nâng cao hiệu quả khai thác chế biến khoáng sản, bảo vệ tài nguyên môi trường. Xây dựng Khu kinh tế Đông Nam thành khu kinh tế đa ngành, đa chức năng. Đẩy nhanh tiến độ xây dựng hạ tầng khu kinh tế, các khu công nghiệp. Tập trung thu hút nhà đầu tư vào Khu công nghiệp, dịch vụ và đô thị VSIP Nghệ An, Khu công nghiệp Hoàng Mai 1, Khu công nghiệp Đông Hồi…

Phát triển các ngành dịch vụ, du lịch và thương mại với tốc độ nhanh, bền vững. Nâng cao hơn nữa vai trò của dịch vụ đối với nền kinh tế, hỗ trợ, thúc đẩy các ngành, lĩnh vực khác phát triển. Tập trung phát triển các lĩnh vực dịch vụ tài chính ngân hàng, đào tạo nguồn nhân lực, y tế, du lịch, thương mại, vận tải và thông tin truyền thông trở thành trung tâm của vùng Bắc Trung Bộ, có khả năng kết nối với Lào và Đông Bắc Thái Lan.

Thứ ba, phát huy truyền thống cần cù, ham học của người xứ Nghệ, chăm lo đào tạo nguồn nhân lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao cho quản lý nhà nước, quản trị doanh nghiệp, phát triển đủ cán bộ kỹ thuật, lao động có tay nghề, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh và công tác nguồn nhân lực cho cả nước. Đồng thời, khai thác tốt các nhân tài, nguồn lực tài chính của con em Nghệ An đang sinh sống, làm việc ở ngoại tỉnh để phục vụ sự nghiệp phát triển toàn diện của tỉnh nhà.

Thứ tư, phát triển kinh tế phải gắn liền với phát triển văn hoá – xã hội, bảo vệ môi trường. Thực hiện có hiệu quả các Nghị quyết của Trung ương về đổi mới căn bản và toàn diện giáo dục, đào tạo, nâng cao chất lượng nguồn nhân lực; đẩy mạnh phát triển, ứng dụng khoa học – công nghệ; xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam, gắn với đặc điểm văn hóa và con người xứ Nghệ, làm nền tảng phát triển kinh tế xã hội.

Làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe cho nhân dân; bảo đảm an sinh xã hội, thực hiện tốt chính sách lao động, việc làm, thu nhập, chính sách đối với người có công; xây dựng môi trường sống lành mạnh, an ninh, an toàn, nâng cao chất lượng cuộc sống của nhân dân, thực hiện tiến bộ công bằng xã hội. Tăng cường quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường; chủ động phòng, chống thiên tai, ứng phó biến đổi khí hậu.

Thứ năm, tăng cường quốc phòng, an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội; chủ động phòng chống tội phạm, nhất là các loại tội phạm về ma túy, các loại tội phạm phát sinh ở khu vực biên giới. Làm tốt công tác tiếp dân, giải quyết khiếu kiện, tố cáo, nắm chắc tình hình để kịp thời giải quyết ngay tại cơ sở, không để hình thành “điểm nóng” phức tạp kéo dài. Tăng cường quan hệ hợp tác, hữu nghị toàn diện với các địa phương giáp biên giới với Lào, thực hiện tốt chính sách đoàn kết dân tộc, tôn giáo.

Thứ sáu, tăng cường công tác xây dựng Đảng cả về chính trị, tư tưởng và tổ chức. Tiếp tục thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Trung ương 4 gắn với việc đẩy mạnh học tập và làm theo tấm đạo đức Hồ Chí Minh; khắc phục tư tưởng bảo thủ, ỷ lại, chủ quan, nóng vội, tự thỏa mãn. Đổi mới hơn nữa phương thức lãnh đạo, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức đảng, tính tiền phong, gương mẫu của cán bộ, đảng viên; tăng cường kỷ luật, kỷ cương, giữ vững nguyên tắc tập trung dân chủ, giữ gìn sự đoàn kết, thống nhất trong Đảng. Nâng cao năng lực quản lý và điều hành của chính quyền các cấp, đẩy mạnh cải cách hành chính, tinh giản biên chế, xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức có trình độ chuyên môn, phẩm chất đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ trong thời kỳ mới.

Nghệ An phải xây dựng được bộ máy công quyền, đội ngũ công chức thực sự phục vụ người dân và doanh nghiệp. Làm được điều này sẽ trả lời được câu hỏi tại sao người Nghệ An khi ra nước ngoài, khi làm việc ở Trung ương và các tỉnh khác thì thành danh, trong khi ở quê nhà thì khó phát triển. Tỉnh cũng cần tiếp tục đổi mới, nâng cao hiệu quả công tác dân vận; sát dân, sát cơ sở hơn nữa, nâng cao chất lượng hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội.

Một nhiệm vụ rất quan trọng của Đại hội là bầu ra BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVIII (nhiệm kỳ 2024 – 2024). Tôi đề nghị các đại biểu nêu cao tinh thần trách nhiệm, dân chủ, sáng suốt giới thiệu, lựa chọn những đồng chí đủ tiêu chuẩn, thực sự tiêu biểu về phẩm chất đạo đức, có năng lực đảm đương trọng trách được giao để bầu vào Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh. Đồng thời, Đại hội cần phát huy trí tuệ, đóng góp vào các văn kiện của Trung ương và bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội toàn quốc lần thứ XII của Đảng.

Ngay sau khi kết thúc Đại hội, đề nghị Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khẩn trương xây dựng kế hoạch, chương trình hành động, phân công cụ thể tổ chức và cá nhân chịu trách nhiệm để triển khai thực hiện từng mảng công việc, từng chương trình của Nghị quyết Đại hội ngay từ đầu nhiệm kỳ.

Phát huy những kết quả đạt được trong nhiệm kỳ qua, với sự nỗ lực phấn đấu, sự quyết tâm đổi mới, dưới sự lãnh đạo, quan tâm của Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư tin tưởng rằng, Đảng bộ và nhân dân tỉnh Nghệ An sẽ thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, xây dựng Nghệ An ngày càng giàu đẹp, người dân ngày càng ấm no, hạnh phúc, sớm đưa Nghệ An thành một tỉnh giàu mạnh, gương mẫu như lời dạy của Bác Hồ kính yêu và khát khao của đồng chí, đồng bào cả nước.”

Chiều 13/10, trong phiên họp thứ 2 bắt đầu lúc 13h30, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nghệ An tiến hành bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XVIII.

Danh sách BTV, BCH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVIII – nhiệm kỳ 2024 -2024 Danh sách Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy khóa XVIII – nhiệm kỳ 2024 – 2024

Sáng 14/10, Đại hội Đảng bộ tỉnh Nghệ An khoá XVIII tiến hành bầu đại biểu dự Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Đại hội được nghe thông báo kết quả bầu Ban Thường vụ, Bí thư, các Phó Bí thư; Uỷ ban Kiểm tra và Chủ nhiệm Uỷ ban Kiểm tra Tỉnh uỷ khoá XVIII. Đồng chí Hồ Đức Phớc tái đắc cử Bí thư Tỉnh uỷ nhiệm kỳ 2024 – 2024, các đồng chí Nguyễn Xuân Sơn, Nguyễn Xuân Đường, Lê Quang Huy giữ chức Phó Bí thư Tỉnh uỷ.

Đại hội đã biểu quyết thông qua danh sách dự kiến dự Đại hội lần thứ XII của Đảng với 29 đại biểu chính thức và 2 đại biểu dự khuyết. Tiếp đó, đại hội đã tiến hành bầu đại biểu dự Đại hội lần thứ XII của Đảng.

Đại hội cũng tiếp tục nghe các ý kiến tham luận đóng góp vào các Văn kiện Đại hội Đảng bộ tỉnh khoá XVIII như: “Nâng cao công tác vận động quần chúng, góp phần phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng an ninh tuyến biên giới phía Tây”; “Công tác bảo tồn, phát huy giá trị các di tích lịch sử văn hoá, cảnh quan thiên nhiên gắn với phát triển du lịch”…

29 đại biểu chính thức đi dự Đại hội Đảng toàn quốc khóa XIII gồm:

Ông Xổm-Kốt Măng-Nò-Mệch – Bí thư, Tỉnh trưởng tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) phát biểu chúc mừng ĐH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XVIII Đoàn công tác tỉnh Xiêng Khoảng (Lào) tặng hoa chúc mừng ĐH Đảng bộ tỉnh Nghệ An khóa XVIII thành công tốt đẹp Ông Nguyễn Xuân Sơn – Phó Bí thư Tỉnh ủy, Phó Chủ tịch HĐND tỉnh Bí thư Tỉnh ủy Hồ Đức Phớc tặng hoa cho 15 đ/c ủy viên BCH không tái cử nhiệm kỳ mới Ra mắt BCH Đảng bộ tỉnh khóa XVIII – nhiệm kỳ 2024 – 2024

Theo chúng tôi và chúng tôi

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nam Định Lần Thứ Xix

Như tin đã đưa, ngày 25-9-2024, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã thông qua Nghị quyết của Đại hội. Báo Nam Định trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết. NGHỊ QUYẾT Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX

chấp hành Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX được tiến hành từ ngày 22 đến ngày 25-9-2024. Dự Đại hội có 350 đại biểu chính thức (trong tổng số 350 đại biểu được triệu tập).

Đại hội đã làm việc nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh.

ĐẠI HỘI QUYẾT NGHỊ

I. Nhất trí thông qua những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2024 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2024-2024 được nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình Đại hội:

1. Về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2024

Đại hội khẳng định: Năm năm qua, trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng còn nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh đã đoàn kết, quyết tâm, chủ động, tích cực phát huy truyền thống, kế thừa thành tựu, kinh nghiệm tích lũy của nhiều nhiệm kỳ, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết và sự chỉ đạo của Trung ương, tập trung tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ chính trị theo Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra.

– Những kết quả chủ yếu:

+ Kinh tế của tỉnh có bước phát triển mới. Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 1994) bình quân đạt 12,5%/năm. Quy mô kinh tế được mở rộng, so với thời kỳ 2006-2010: tổng GRDP gấp hơn 2,5 lần; GRDP bình quân đầu người gấp 2,74 lần; thu ngân sách từ kinh tế địa phương năm 2024 ước đạt 3.000 tỷ đồng; vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,7 lần. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; năm 2024, công nghiệp – xây dựng chiếm 41%, dịch vụ chiếm 35%, nông nghiệp chiếm 24% trong tổng GRDP.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 22,3%/năm. Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa, giá trị sản xuất tăng bình quân 3,2%/năm. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt, đồng bộ; dự kiến đến hết năm 2024, toàn tỉnh có khoảng 100/209 xã, thị trấn (47,8%) đạt và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới. Huyện Hải Hậu đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Các ngành dịch vụ tăng trưởng khá, giá trị tăng bình quân 12,5%/năm. Tích cực huy động các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần cải thiện vị thế địa kinh tế, tạo diện mạo mới, tác động lâu dài tới sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Hoàn thành vượt kế hoạch về thời gian nâng cấp Thành phố Nam Định lên đô thị loại I trực thuộc tỉnh, từng bước hình thành một số chức năng trung tâm của vùng Nam đồng bằng sông Hồng.

+ Các lĩnh vực văn hoá – xã hội được quan tâm, đạt nhiều thành tích mới. Ngành Giáo dục và Đào tạo giữ vững thành tích 21 năm liên tục được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Cờ thi đua “Đơn vị tiêu biểu xuất sắc”. Công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ đạt được những kết quả tích cực. Mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân được nâng lên. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo năm 2024 giảm còn 2,5%. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao hơn.

+ Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được coi trọng, có nhiều chuyển biến. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, vai trò hạt nhân chính trị của các tổ chức Đảng và đảng viên, chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đã được nâng lên. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bước đầu đã có chuyển biến trong chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội. Ảnh: Thanh Tuấn

Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, năng lực chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp có chuyển biến rõ nét hơn. Hoạt động của HĐND các cấp có nhiều đổi mới. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành.

+ Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân được củng cố vững chắc. Khu vực phòng thủ được tăng cường; bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh tuyến biển. An ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược cải cách tư pháp; tăng cường phối hợp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

– Nguyên nhân chính của kết quả:

+ Có sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, hành động trong các cấp ủy và toàn Đảng bộ. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đã cố gắng vừa đảm bảo đồng bộ, toàn diện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tiễn cơ sở. Chính quyền các cấp đã tích cực cụ thể hoá sự lãnh đạo của cấp uỷ. Môi trường đầu tư được cải thiện hơn. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sự đồng thuận, nỗ lực, cố gắng của các tầng lớp nhân dân.

– Những hạn chế, yếu kém cần tập trung khắc phục:

+ Chưa tạo được sự đột phá trong phát triển kinh tế. Thu hút đầu tư chưa mạnh, chưa có nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao. Chưa hình thành được các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn. Thu ngân sách từ kinh tế địa phương chưa có nguồn thu chủ lực, ổn định. Chất lượng, quy mô dịch vụ nhìn chung còn hạn chế.

+ Lĩnh vực văn hoá – xã hội còn nhiều bất cập. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” chưa đi vào chiều sâu. Việc đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả chưa cao. Chất lượng khám, chữa bệnh, nhất là ở tuyến cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện các chính sách xã hội ở một số địa phương chưa được kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Ô nhiễm môi trường ở một số nơi chưa được xử lý dứt điểm.

+ Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng chưa cao. Thực hiện tự phê bình và phê bình chưa thường xuyên, thiếu tính chiến đấu. Nguyên tắc tập trung dân chủ có lúc, có nơi thực hiện chưa tốt. Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội có lúc, có nơi còn hình thức, thiếu cụ thể. Thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc “làm theo”.

+ Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở một số địa phương, sở, ngành có mặt còn thấp, có lĩnh vực còn buông lỏng quản lý. Tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn là vấn đề quan tâm, lo lắng của toàn xã hội.

– Nguyên nhân chính của hạn chế, yếu kém:

+ Một số tổ chức cơ sở Đảng chưa thể hiện rõ vai trò hạt nhân lãnh đạo, có tư tưởng trông chờ, ỷ lại cấp trên, thiếu tính chủ động. Nội dung, phương thức lãnh đạo chậm được đổi mới; thực hiện quy chế làm việc chưa nghiêm, thiếu tính dân chủ và tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, trình độ hạn chế, chưa tâm huyết, gương mẫu, thậm chí vi phạm kỷ luật, có biểu hiện sách nhiễu, phiền hà trong thi hành công vụ, mất uy tín với nhân dân.

+ Năng lực lãnh đạo, hiệu quả điều hành của chính quyền có mặt còn hạn chế; công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện thiếu thường xuyên. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong một số công việc thiếu chặt chẽ, còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

+ Công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh của tỉnh còn hạn chế. Môi trường đầu tư chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn.

+ Việc triển khai các chương trình công tác trọng tâm và các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ còn thiếu nguồn lực, chưa đồng bộ.

+ Thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, tình hình suy giảm kinh tế của những năm đầu nhiệm kỳ đã tác động bất lợi đến sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư và đời sống nhân dân.

2. Về các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp 5 năm 2024-2024

Trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước, những thuận lợi, khó khăn trong thời gian tới, Đại hội nhất trí mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chủ yếu của nhiệm kỳ (2024-2024) như sau:

– Mục tiêu tổng quát:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ và nhân dân, tạo đột phá trong phát triển kinh tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; triển khai toàn diện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2024 đạt tiêu chí “Tỉnh nông thôn mới”. Tập trung xây dựng Thành phố Nam Định hình thành rõ nét một số chức năng trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Phát triển kinh tế gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Chăm lo, nâng cao đời sống của nhân dân. Tăng cường khối đại đoàn kết và đồng thuận xã hội. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự – an toàn xã hội.

– Các chỉ tiêu chủ yếu:

(1) Tổng sản phẩm trong tỉnh GRDP (giá so sánh 2010) tăng bình quân 7,5-8%/năm. GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2024 đạt 70-75 triệu đồng.

(2) Cơ cấu kinh tế đến năm 2024:

– Nông, lâm, thủy sản: 18%

– Công nghiệp, xây dựng: 47%

– Dịch vụ: 35%

(3) Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (giá so sánh 2010) tăng bình quân 2,5-3%/năm.

(4) Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) tăng bình quân 13-14%/năm.

(5) Giá trị các ngành dịch vụ (giá so sánh 2010) tăng bình quân 8-8,5%/năm.

(6) Tổng giá trị hàng xuất khẩu đến năm 2024 đạt 1,8-2 tỷ USD.

(7) Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tăng 15-16%/năm.

(8) Thu ngân sách trên địa bàn năm 2024 đạt 5.500-6.000 tỷ đồng.

(9) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đến năm 2024 đạt trên 80% dân số.

(10) Tỷ lệ giảm sinh hằng năm 0,1-0,15%o.

(11) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2024 đạt 70-75%.

(12) Tỷ lệ hộ nghèo giảm hằng năm 1-1,5% (theo tiêu chí mới).

(13) Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước sạch đạt trên 95%.

(14) Mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2024: Tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

(15) Xây dựng hệ thống chính trị:

– Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ 80% trở lên.

– Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt thấp nhất 80%.

– Tỷ lệ chính quyền cơ sở đạt vững mạnh 80% trở lên.

– Những định hướng, nhiệm vụ chủ yếu:

+ Về phát triển kinh tế – xã hội:

Triển khai toàn diện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển bền vững, hiệu quả, gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, xác định đây là một định hướng phát triển cơ bản và lâu dài của tỉnh.

Đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế chủ lực, góp phần chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tạo nguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách. Tập trung phát triển, tăng tỷ trọng sản phẩm các ngành công nghiệp có công nghệ hiện đại và giá trị gia tăng cao.

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ tương xứng với tiềm năng, vị trí của trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường xuất khẩu các sản phẩm lợi thế.

Huy động tối đa các nguồn thu ngân sách. Triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Tập trung huy động các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng then chốt theo hướng hiện đại, nhất là các công trình hạ tầng trọng điểm để tạo động lực phát triển cho giai đoạn tiếp theo.

Phát huy thế mạnh về văn hóa, giáo dục. Triển khai đồng bộ, toàn diện chương trình xây dựng và phát triển văn hoá, con người Nam Định theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI). Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sử dụng hiệu quả tài nguyên; tích cực bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm; bảo đảm an sinh xã hội.

Tập trung đầu tư xây dựng vùng công nghiệp – dịch vụ Thành phố Nam Định, vùng kinh tế biển trở thành các vùng kinh tế động lực; vùng sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, tạo thế ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

+ Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác tổ chức cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác chính trị tư tưởng, góp phần nâng cao nhận thức, giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ, tạo đồng thuận xã hội. Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên trong sinh hoạt Đảng, chính quyền, đoàn thể, của các cấp, các ngành.

Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật Đảng, góp phần giữ nghiêm kỷ cương của Đảng. Tăng cường kiểm tra tổ chức Đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Nâng cao chất lượng công tác dân vận, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận xã hội.

Tiếp tục đổi mới hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.

+ Về công tác quốc phòng, an ninh và hoạt động của các cơ quan tư pháp:

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, có chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao.

Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội.

Tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả Chiến lược cải cách tư pháp; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Thực hiện nghiêm túc, nền nếp công tác tiếp dân và giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các sai phạm.

– Một số giải pháp chủ yếu:

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn. Đẩy mạnh công tác xúc tiến và thu hút đầu tư. Phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.

Xây dựng và thực hiện nghiêm Quy chế làm việc; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm của cấp uỷ. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc kế hoạch khắc phục, sửa chữa khuyết điểm sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng; triển khai có kết quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Cụ thể hoá công tác quân sự quốc phòng địa phương trong chương trình công tác của cấp uỷ, trong các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Nhân rộng các mô hình điển hình trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.

II. Đại hội thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII. Từ kinh nghiệm của khóa trước, ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, đảng viên và nhân dân, Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIX cần phát huy ưu điểm, tích cực khắc phục những hạn chế, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo Đảng bộ hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ Đại hội đề ra.

IV. Đại hội thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX, gồm 55 đồng chí; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII gồm 22 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết.

V. Đại hội giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội để xây dựng chương trình hành động, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đề ra.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống văn hiến, anh hùng, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra, góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Nghệ An Lần Thứ Xix Sẽ Diễn Ra Vào Trung Tuần Tháng 10 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!