Xu Hướng 2/2024 # Dàn Ý Thuyết Minh Về Cây Dừa Lớp 9 Chi Tiết Đầy Đủ # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Dàn Ý Thuyết Minh Về Cây Dừa Lớp 9 Chi Tiết Đầy Đủ được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

DÀN Ý THUYẾT MINH VỀ CÂY DỪA Ở QUÊ EM

I. MỞ BÀI

Dẫn dắt ( câu thơ, cao dao,…), giới thiệu cây dừa (loài cây thân thuộc, cao lớn, có mặt khắp nơi trên làng quê,…).

II. THÂN BÀI

Đặc điểm:

Môi trường sống: thích hợp với đất cát pha, thời tiết nhiều nắng, độ ẩm cao từ 70- 80%+, lượng mưa từ 750 đến 2.000 mm/ năm, phát triển tốt trên các bờ biển nhiệt đới.

Thân đơn trục, có thể cao đến 30m.

Lá cây: gồm nhiều lá đơn mọc theo gân lá chính thành từng bẹ (tàu lá), mỗi tàu lá dài từ 4- 6m mọc ôm lấy thân.

Hoa dừa: thuộc loại hoa tạp tính (hoa đực và hoa cái đều lưỡng tính), mọc thành cụm, hoa nhỏ, màu trắng ngà,…

Quả dừa: thuộc loại quả hạch có xơ, mọc thành buồng, vỏ ngoài cứng và nhẵn, lớp giữa có xơ, bên trong là vỏ quả (gáo dừa) hóa gỗ rất cứng, trên gáo dừa có 3 lỗ mầm, trong cùng là thịt quả (cùi dừa) màu trắng và nước dừa.

Giá trị vật chất:

Rễ dừa: làm thuốc nhuộm, thuốc sát trùng súc miệng,…

Thân dừa cung cấp gỗ dùng trong xây dựng

Lá dừa, gáo dừa, vỏ dừa, tàu dừa khô có thể dùng nhóm lửa đun nấu.

Gân lá, vỏ quả, gỗ, gáo dừa,…có thể dùng sản xuất vật dụng trong nhà hoặc đồ thủ công mỹ nghệ (chổi dừa, ấm nước, gáo múc nước, đồ lưu niệm,…).

Củ hủ dừa: dùng làm món ăn.

Xơ dừa: dùng làm dây thừng, thảm, bàn chải, khảm thuyền,…

Thịt quả (cơm dừa): dùng ép dầu dừa, nước cốt dừa, chế biến nhiều món ăn ngon (bánh dừa, mứt dừa, thạch dừa, kẹo dừa,…)

Nước dừa: dùng làm nước giải khát, làm nước dùng trong nhiều món ăn,…

Giá trị tinh thần:

Cây dừa gắn bó với đời sống con người Việt Nam qua nhiều thế hệ.

Là loài cây làm nên chất liệu nghệ thuật, đi vào thơ văn, lời ca, tiếng hát,…

Ý nghĩa của cây dừa

III. KẾT BÀI

Nêu cảm nhận của bản thân về cây dừa (có ích, quan trọng, thân thuộc, giá trị,…).

Nguồn Internet

Dàn Ý Thuyết Minh Về Cây Cà Phê Lớp 9 Chi Tiết Đầy Đủ

Lập dàn ý thuyết minh về cây cà phê lớp 9

I. MỞI BÀI

Giới thiệu đối tượng thuyết minh (cây cà phê). Khái quát hiểu biết của em về loài cây này (cây công nghiệp được trồng nhiều ở một số vùng nước ta, loại cây có giá trị kinh tế cao,…).

II. THÂN BÀI

Khái quát chung:

Có nguồn gốc từ vùng cận nhiệt đới châu Phi và Nam châu Á

Cà phê được phát hiện sử dụng từ thế kỷ 15 tại các lăng mộ Sufi giáo.

Cà phê là một trong những mặt hàng xuất khẩu lớn và có giá trị của các quốc gia đang phát triển trong đó có Việt Nam.

Đặc điểm:

Rễ: rễ cọc, cắm sâu,…

Thân: thân gỗ, cao từ 2- 10 mét,…

Lá: màu xanh thẫm, rộng bằng nửa bàn tay, bóng loáng, gân lá rõ rệt,…

Hoa: có 5 cánh, màu trắng, mọc thành cụm,…

Quả: có hình oval, nhỏ, mọc thành chùm, khi còn sống màu xanh lá và chuyển dần sang màu vàng, màu đỏ thắm và sang đen khi chín muồi, trong quả chứa nhân cà phê.

Giá trị của cây cà phê:

o Cung cấp hạt cà phê, cho những tách cà phê thơm ngon.

o Cà phê phê còn được dùng trong ẩm thực, góp phần làm ra những món ăn ngon.

o Cây cà phê tạo nguồn lợi nhuận giúp tăng thu nhập và cải thiện đời sống cho người dân trồng cà phê.

o Là một trong những nông sản chủ lực có giá trị xuất khẩu và mang lại nhiều ngoại tệ cho nước ta.

o Cây cà phê đóng vai trò quan trọng trong đời sống tinh thần của người dân Tây Nguyên, được xem là linh hồn và nguồn sống của họ.

o Cây cà phê thích nghi tốt với thổ nhưỡng vùng đồi núi nên có tác dụng rất lớn trong việc phủ xanh đồi trọc, đất trống giúp cân bằng và bảo vệ môi trường sinh thái.

Ý nghĩa:

Cà phê là loại cây mang lại nhiều lợi ích cho con người.

Là cây trồng quen thuộc, gắn bó, có vai trò và ý nghĩa quan trọng trong đời sống của người dân các tỉnh Tây Nguyên.

III. KẾT BÀI

Nhận xét, đánh giá của bản thân về cây cà phê (vai trò quan trọng, có giá trị cao, có ích,…). Đưa ra lời khuyên, phương hướng (nên phát triển, trồng cà phê, bảo đảm chất lượng cà phê,…).

Nguồn Internet

Dàn Ý Chi Tiết Thuyết Minh Về Hồ Gươm Chi Tiết Đầy Đủ

“Hồ Gươm in bóng Tháp Rùa

Ánh đèn soi tỏ mái chùa Ngọc Sơn.”

Câu ca dao thuở nào đã in sâu vào trong tâm trí mỗi người dân Việt Nam, in đậm hình ảnh một Hồ Gươm với Tháp Rùa uy nghi cổ kính, với cầu Thê Húc, với đền Ngọc Sơn… Những hình ảnh ấy đã sớm đi vào trong văn chương từ bao đời nay. Những áng văn, áng thơ của những nhà văn đến những bài văn nhỏ của học sinh đang theo học dưới ghế nhà trường. Đặc biệt là những bài văn của các bạn học sinh, những bài văn miêu tả sinh động, những bài văn biểu cảm xúc động… Và, đến lớp 9, khi gặp đề bài yêu cầu thuyết minh về Hồ Gươm thì nhiều bạn lại thấy khó khăn trong việc viết lách bởi các ý không được sắp xếp rõ ràng trước khi viết. Chính vì vậy, tôi đã dẫn ra một dàn ý chi tiết minh hoạ cho đề bài này. Mong rằng nó sẽ giúp ích được cho các em trong quá trình học tập.

Dàn ý chi tiết thuyết minh về hồ gươm chi tiết

I, MỞ BÀI

– Giới thiệu và dẫn dắt đến đề bài: Thuyết minh về Hồ Gươm lớp 9.

Ví dụ:

Mở bài số 2: Mỗi người đều có một khung cảnh bản thân mình yêu thích. Có thể với bạn đó là khung cảnh biển xanh cát trắng, có thể với bạn đó là khung cảnh thiên nhiên hoang sơ nơi rừng núi… Nhưng là người con của dải đất cong cong hình chữ S này, hẳn ai cũng đều yêu thích khung cảnh cổ kính nơi Hồ Gươm đầy dấu ấn lịch sử.

II, THÂN BÀI

* Nguồn gốc của Hồ Gươm là gì? Vị trí ở đâu?

– Nguồn gốc:

+ Theo lịch sử: Rất nhiều thế kỷ về trước, hồ vẫn chỉ chìm sâu dưới đáy nước cùng với cả khu vực đồng bằng sông Hồng. Vào khoảng thế kỷ 16, chúa Trịnh đã cho chỉnh trang Hoàng thành Thăng Long để vua Lê vào ở, trong đó có xây dựng hồ Tả Vọng và hồ Hữu Vọng. Trong đó hồ Tả Vọng chính là hồ Hoàn Kiếm bây giờ. Sau này, vào năm 1884 thì hồ Hữu Vọng có bị lấp lại, chỉ còn hồ Tả Vọng cho đến ngày nay.

+ Theo truyền thuyết: Hẳn là câu chuyện về việc Lê Lợi trả gươm cho Rùa Vàng tại hồ Tả Vọng không ai là không biết. Truyền thuyết này được lưu truyền qua nhiều năm và được đưa vào trong sách giáo khoa. Câu chuyện kể về việc Lê Thận – bạn keo sơn của vua Lê Lợi chài được một lưỡi kiếm, sau đó Lê Lợi tìm được một chuôi kiếm. Hai thứ đó đã ghép lại thành một thanh gươm hoàn chỉnh, đem lại chiến thắng trong cuộc chiến của Lê Lợi. Rồi sau khi đã làm vua, một hôm đang đi thuyền ở hồ Tả Vọng thì Rùa Vàng có ngoi lên xin lại gươm, vua đa hoàn trả. Từ đó, hồ chuyển tên thành hồ Hoàn Kiếm hay hồ Gươm.

– Vị trí: Hồ Gươm ở trung tâm quận Hoàn Kiếm nên khá dễ tìm. Không chỉ vậy, Hồ Gươm ở vị trí kết nối khá nhiều con phố cổ, thuận tiện trong việc tìm kiếm của du khách và người dân.

* Khung cảnh Hồ Gươm như thế nào?

– Tháp Rùa: Tọa lạc ở phần đất nhỏ nổi lên ở giữa hồ Gươm. Tháp Rùa mang kiến trúc của Pháp, được xây dựng từ 1884 đến 1886. Tháp này được tương truyền là nơi để cụ rùa lên nghỉ ngơi. Nền cỏ xanh ngắt, mái tháp cong cong đối xứng mang một vẻ đẹp cổ kính giữa lòng thành phố đầy bận rộn và tất bật.

– Đền Ngọc Sơn: Ngôi đền này được xây dựng ở trên một hòn đảo khác có tên là đảo Ngọc. Ban đầu nơi đây được gọi là chùa nhưng sau đó đổi thành đền và chỉ thờ Văn Xương Đế Quân và Trần Hưng Đạo. Đền Ngọc Sơn có cổng vào khá giống với kiểu cổng của Văn Miếu Quốc Tử Giám, phía trên cổng có ghi ba chữ “Đắc Nguyệt Lâu”.

– Cầu Thê Húc: Là cây cầu dẫn đến cổng đền Ngọc Sơn. Cầu có màu đỏ, cong cong như con tôm, in bóng xuống mặt nước, thơ mộng và đẹp chẳng kém gì cầu Tràng Tiền của Huế. Hai chữ “Thê Húc” có nghĩa là “Nơi đậu ánh sáng Mặt Trời buổi sớm”.

– Tháp Bút, đài Nghiên: Như tên gọi của nó, tháp Bút giống như một chiếc bút lông, phía trên đỉnh có phần như đầu bút. Thân tháp có 3 chữ “Tả thiên thanh” nghĩa là viết lên trời xanh. Tiếp đó là đài Nghiên, nằm ngay cạnh tháp Bút. Sở dĩ gọi như vậy là bởi kiến trúc này có hình giống nghiên mực, kê dưới chân nghiên là tượng 3 con cóc.

– Tháp Hòa Phong, đền Bà Kiệu: Một nơi là di vật còn sót lại của chùa Báo Ân, một nơi là chỗ thờ ba vị nữ thần gồm Liễu Hạnh công chúa, Đệ nhị Ngọc nữ và Đệ tam Ngọc nữ.

– Thủy Tạ: Là nơi thường ngoạn cảnh đẹp trên hồ.

– Đền thờ vua Lê: Là nơi thờ vua Lê, có tượng vua Lê cầm kiếm tượng trưng cho cảnh vua hoàn trả lại gươm cho Rùa Vàng.

* Ý nghĩa của Hồ Gươm ra sao?

– Hồ Gươm là một nét đẹp đặc sắc và nổi bật trong bức tranh về một Hà Nội – thủ đô của Việt Nam.

– Không chỉ vậy còn là di tích lịch sử qua nhiều năm, có vị trí quan trọng trong lịch sử và văn hóa nước nhà.

– Hàng năm có không ít du khách từ nhiều nơi trên đất nước và thế giới đến thăm quan nơi này.

– Hồ Gươm trở thành đề tài cho nhiều bài thơ, bài hát cũng như nhiều tấm ảnh, bức tranh nghệ thuật.

* Hiện trạng của Hồ Gươm và hành động nên làm?

– Hiện nay, Hồ Gươm đang dần bị ô nhiễm, trên hồ khá nhiều rác do ý thức vô trách nhiệm của nhiều người dân, làm xấu đi hình ảnh của hồ.

– Mỗi chúng ta cần ý thức hơn về hành động của mình, đồng thời thành phố Hà Nội đã có những biện pháp bảo vệ và giảm thiểu lượng rác thải trên hồ.

III, KẾT BÀI

– Nêu suy nghĩ, tình cảm của bản thân về khung cảnh và ý nghĩa của Hồ Gươm.

Thuyết Minh Cây Dừa Lớp 9

Thuyết minh Cây dừa lớp 9

Nhà thơ Lê Anh Xuân đã từng dành cho cây dừa quê hương biết bao tình cảm tha thiết:

Cây dừa là cây vốn được trồng phổ biến ở các khu vực miền biển nước ta, tạo nên những vùng du lịch nổi tiếng. (Thuyết minh cây dừa). Cây dừa mang lại nhiều lợi ích và ăn sâu trong nền văn hóa dân tộc Việt Nam từ bao đời nay.

Dừa là loài cây thuộc họ Cau, là họ duy nhất trong chi Cocos và có thân gỗ lớn hình trụ. Dừa có nguồn gốc từ đảo Andaman, vịnh Bengan, Ấn Độ và các quần đảo thuộc khu vực Đông Nam châu Á. Từ các quần đảo này, thông qua các dòng chảy của đại dương hoặc các các nhà thám hiểm, cây dừa đi khắp thế giới. Từ đó, cây dừa trở thành một loài cây trồng ưa thích và phổ biến ở nhiều quốc gia. Ngày nay, dừa được trồng nhiều ở các vùng nhiệt đới, đặc biệt là đảo hay các vùng ven biển.

Cây dừa xuất hiện ở Việt Nam từ trước công nguyên. Từ thế giới hoang dã, cây dừa được trồng phổ biến ở các vùng đồng bằng ven biển. Bến tre và Bình Định là những khu vực trồng nhiều dừa nhất nước ta. Trên các đảo, chúng ta ta cũng trồng rất nhiều dừa tạo nên những cảnh quan rất đẹp. Những bãi biển xanh mát dừa cao thu hút được nhiều du khách đến chiêm ngưỡng và nghỉ ngơi.

Dựa vào đặc điểm hình thái và mục đích sử dụng có thể phân loại dừa thành 2 nhóm giống chính. Nhóm giống dừa cao và nhóm giống dừa lùn. Ngoài ra, để có được các giống dừa mới có năng suất và chất lượng cao, cung cấp nguyên liệu cho công nghiệp chế biến. Người ta còn lai tạo ra một nhóm giống dừa mới phù hợp với khí hậu và đất trồng của từng khu vực gọi là dừa lai.

Dừa là loại cây thân thẳng, không phân nhánh. Thân dừa là thân đơn trục một thân chính, không có cành nhánh. Thân dừa mọc thẳng, không phân nhánh, chiều cao trung bình từ 15 – 20m. Đôi khi có thể cao tới 30m.

Cây dừa trưởng thành thường mang 25-40 tàu lá. Mỗi tàu lá có chiều dài trung bình 4-6m, được chia làm 2 phần cuống lá và lá. Phần cuống là phần không có lá chét, lồi ở mặt dưới, bằng hoặc hơi lõm ở mặt trên. Phía đáy phình rộng và dẹt hơn ôm chắc lấy thân cây. Mỗi tàu lá có khoảng 90-200 lá chét mỗi bên. Phần lá chét ở 2 bên không đối xứng nhau hoàn toàn. Khi tàu lá rụng sẽ để lại sẹo trên thân cây trơn nhẵn.

Rễ dừa là loại rễ bất định, sinh trưởng liên tục ở phần đáy gốc thân. Dừa không có rễ cọc. Rễ dừa rất mạnh khỏe và dẻo dai, có thể mọc ra liên tục trong suốt cuộc đời cây dừa. Rễ hút chất dinh dưỡng nuôi cây và giữ cho thân dừa đứng vững trong gió.

Hoa dừa là loài tạp tính hình thành dưới dạng chùm gọi là phát hoa. Phải mất 30-40 tháng kể từ khi hoa bắt đầu hình thành đến khi nở hoa dừa mới bung ra hết. Thường thì mỗi nách lá cho 1 phát hoa. Mỗi phát hoa có rất nhiều hoa. Quả dừa hình thành bám chặt trên phát hoa này.

Quả dừa thuộc loại quả hạch, nhân cứng. Quả gồm có ba phần là ngoại quả bì, trung quả bì và nội quả bì bao gồm gáo, nước và cơm dừa. Quả dừa cũng là cơ quan sinh sản của cây. Mầm non mọc từ bên trong và tự nảy mầm trên mặt đất. Gặp điều kiện ẩm ướt, rễ dừa đâm sâu vào đất tạo thành cây con mới.

Cây dừa thường sống ở vùng nhiều nước thuộc các vùng trũng thấp. Khi trồng, gốc cách gốc khoảng từ 2 – 3 mét. Dừa phát triểm nhanh vào mùa mưa. Cây trồng từ 2 đến 3 năm là trưởng thành và cho quả. Dừa có thể phát triển tốt và cho quả từ 50-60 năm. Càng già, dừa càng ít quả và hay sâu bệnh.

Dừa phát triển tốt trên đất pha cát và có khả năng chống chịu mặn tốt. Dừa ưa thích các nơi sinh sống có nhiều nắng và lượng mưa trung bình. Dừa cần độ ẩm cao (70-80%+) để có thể phát triển một cách tối ưu. Do đó, Dừa chỉ có thể trồng từ tới cuối tháng 11 hoặc đầu tháng 12. Nó rất khó trồng và phát triển trong các khu vực khô cằn.

Người Việt Nam thường hay trồng dừa quanh nhà. Nhiều nơi trồng ven bờ ao hoặc trong thành đám lớn để khai thác quả. Hình ảnh cây dừa trước ngõ vu vi trong gió đã đi sâu vào trong tiềm thức con người. Từ lâu, hình ảnh cây dừa trở thành một phần không thể thiếu trong đời sống tinh hần của người dân Nam bộ.

Cây dừa có sức sống mạnh mẽ chịu được khô hạn. Khi trồng còn bón thêm cho dừa các loại phân như lân, photphat, đạm… Một vài nơi người ta còn bón thêm muối và vôi để dừa tăng khả năng chống bệnh và cho quả ngọt.

Cần bảo vệ cây dừa trước sự phá hoại của bọ dừa, kiếm vương, đuông, sâu nái, chuột,… Cần tránh một số bệnh thường gặp ở dừa như: bệnh lá đốm, bệnh thối đọt, nứt và rụng trái để cây dừa phát triển và cho quả tốt.

Mỗi cây dừa trưởng thành cho khoảng 80 – 100 quả mỗi năm. Người ta thường thu hoạch khi quả xanh trưởng thành để lấy nước và cơm dừa. Quả già có màu nâu, vỏ cứng, thường lấy cơm dừa làm tinh dầu hoặc các loại bánh kẹo. Kẹo dừa, dầu dừa là đặc sản nổi tiếng của vùng đất Bến Tre.

Dừa là loại cây cho quả nhiều dầu nhất nước ta. Từ các bộ phận của cây dừa có thể cho ta rất nhiều loại sản phẩm chễ biến phong phú và đa dạng:

Thân dừa được cắt xẻ lấy gỗ. Ở miền biển, gỗ dừa là vật liệu chính để xây nhà, làm cầu, che chắn đồ dùng. Gỗ dừa rất bền chắc nếu được bảo quản ở điều kiện khô ráo.

Vỏ dừa lấy sợi; làm thuốc trị bệnh mẩn ngứa, nấm da. Người ta tước các sợi từ vở thân cây dừa hoặc quả dừa bện thành dây thường rất bền chắc.

Lá dừa làm vật lợp mái nhà, vật liệu che phủ, hoặc làm vở lá gói bánh, làm các đồ chơi, đồ thủ công mỹ nghệ. Lá dừa còn là chất liệu đốt, làm phân bón,… Lá dừa bén lửa rất mạnh. Ở các vùng quê, lá dừa được sử dụng để đun nấu.

Xơ dừa làm vật liệu trồng hoa lan và một số loài cây cảnh; đốt lấy nhiệt, làm phân bón cây.

Gáo dừa thường đốt lấy than; làm đồ mỹ nghệ, đồ gia dụng. Với tính chất cứng, không hút ẩm, gáo dừa ngày càng phát huy vai trò lớn trong việc tạo ra những vật dụng an toàn, thân thiện với môi trường.

Nước dừa là một loại nước uống giải khát giàu dinh dưỡng. Ngày nay, ngoài việc uống tươi, nước dừa còn được đóng lon, hộp, trở thành loại nước uống phổ biến trên thế giới. Ngoài ra nước dừa còn dùng để làm rượu, thuốc chữa bệnh và dinh dưỡng rất hiệu quả trong y học cổ truyền.

Cơm dừa là sản phẩm chính của cây dừa. Cơm dừa dùng trong nấu ăn, là bài thuốc tốt cho những người suy nhược, ăn uống kém, giúp nhuận tràng. Cơm dừa là nguyên liệu làm nhiều loại bánh kẹo. Cơm dừa còn dùng để ép lấy dầu. Hủ dừa là loại thực phẩm thường được sử dụng trong các bữa ăn gia đình.

Cây dừa giúp chắn gió, cát ven biển, bảo vên đồng ruộng nội địa. Đây là cây tiên phong ở vùng phèn mặn. Hàng dừa cao vút bao năm che mưa, chắn gió, chắn cát bảo vệ làng mạc, ruộng vườn, giữ gìn môi trường sống của con người.

Trong ngày lễ, tết, cưới hỏi dừa dùng làm đồ trưng bày trong mâm ngũ quả: “cầu, dừa, đủ, xài (xoài), xung”. Dừa là một trong năm thành tố tạo nên mơ ước được phồn thịnh của con người nơi vùng đất châu thổ Cửu Long.

Ngoài ra, trong ba ngày tết, nhà nào cũng có mứt dừa với các màu sắc xanh, trắng, đỏ, vàng trông rất bắt mắt,. Mức dừa làm cho không khí ngày tết thêm rộn ràng.

Thật không thể nào quên những chiếc bánh lá dừa, bánh nhân dừa, chè nước cốt dừa ta vẫn ăn thường ngày. Thức ăn chế biến từ quả dừa đã tạo nên một nét khác biệt đậm đà trong đời sống ẩm thực Việt Nam.

Dừa đi vào âm nhạc, hội họa, thi ca và các hình thức nghệ thuật khác trong đời sống người dân Nam bộ.

Mỗi buổi trưa hè, nằm dưới tán lá dừa xanh, nghe gió thổi vi vu trên tầng cao thật thú vị biết bao. Nhìn ánh sáng lấp lóa như muôn vạn vì sao lung linh giữa bầu trời trong vốn là niềm vui thú của biết bao con người xứ dừa. Cây dừa hiền lành và cần mẫn như tính cách của người nông dân quanh năm gắn bó với ruộng đồng, với thiên nhiên thơ mộng và bao dung.

Dừa cũng cùng con người trải qua biết bao thử thách của mẹ thiên nhiên mỗi khi người nổi giận kinh hoàng. Hình ảnh hàng dừa vươn mình chống bão tố, chống bom đạn của kẻ thù như người chiến sĩ quyết hi sinh bảo vệ xóm làng đã trở thành biểu tượng của lòng kiên trung, bất khuất:

Cây dừa in dấu đậm nét trong đời sống văn hóa dân tộc ta. Đặc biệt, cây dừa có giá trị văn hóa rất tiêu biểu cho vùng đất chín rồng đang vườn mình trổi dậy. Cây dừa hứa hẹn bay xa, bay cao, để từ đó, góp phần đưa kinh tế – xã hội của vùng đất mới này ngày càng phát triển.

Thuyết Minh Về Cây Dừa Lớp 9, Bài Văn Mẫu Về Cây Dừa Quê Em

Thuyết minh về cây dừa lớp 9, bài văn mẫu về cây dừa quê em BÀI VĂN MẪU SỐ 1 THUYẾT MINH VỀ CÂY DỪA LỚP

” Cây dừa xanh toả nhiều tàu

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng

Thân dừa bạc phếch tháng năm

Quả dừa – đàn lợn con nằm trên cao”.

Hình ảnh cây dừa đã đi vào thơ ca nhạc họa một cách rất tự nhiên. Dừa là hình ảnh rất gần gũi và hết sức quen thuộc thân thương và trìu mến, gắn liền với tuổi thơ của mỗi chúng ta.

Hầu như loại dừa nào cũng có đặc điểm và cấu tạo như nhau. Thân dừa có hình trụ với những nốt vằn trên thân, cao khỏe, có màu nâu sậm, cao khoảng 20- 30 cm, đường kính rộng khoảng 45 cm. Đối với loại dừa dùng để làm cảnh thì thân thường là màu xanh có nhiều đốt với những tán lá xòe rộng như một cái ô khổng lồ. Lá dừa xanh, dài tán lá rộng có nhiều tàu lá. Khi già thì lá chuyển mình thành màu vàng rồi héo dần và rụng. Phải quan sát tỉ mỉ thì ta mới nhìn thấy những bông hoa trắng, nhỏ li ti kết thành từng chùm trông thật thích mắt. Cây ra hoa rồi kết thành trái. Quả dừa tròn, nằm trên những tàu lá, kết thành từng chùm như đàn lợn con nằm trên cao. Cây dừa có rất nhiều quả, quả của chúng kết thành buồng, mỗi cây có rất nhiều buồng và mỗi buồng dừa có nhiều quả, trung bình mỗi buồng từ 5 đến 10 trái dừa, có loại trên 20 trái. Quả dừa gồm hai phần là phần vỏ và phần nước ở bên trong được ngăn cách nhau bởi lớp cùi trắng. Để lấy nước của quả dừa thì đây là một công đoạn cũng rất khó cần loại bỏ lớp vỏ ngoài và lớp xơ dừa sau đó dùng đũa/que chọc vào mắt lớn nhất của quả rồi đặt ống hút vào. Người ta có thể lấy nước bằng cách chặt bỏ một phần vỏ ở phần đối diện với cuống dừa để phần vỏ cứng bên trong phơi ra vật chứa.

Người ta tìm đế với dừa có rất nhiều những công dụng khác nhau. Mỗi bộ phận của dừa hầu như đều chứa đựng những lợi ích khác nhau. Chúng ta không chỉ biết công dụng của dừa dùng để ăn mà biết đến với rất nhiều công dụng khác. Thân dừa dùng để làm cột chống, hay lá dừa khi già héo và rụng thì người ta phơi khô dùng để đun và cháy rất bén. Bên cạnh đó, thân dừa có thể dùng làm đồ mỹ nghệ hoặc làm vật liệu cho một số công trình xây dựng. Rễ dừa có thể dùng làm thuốc nhuộm, thuốc sát trùng để súc miệng hay chữa trị bệnh lỵ và nó còn được dùng để đánh răng. Tán lá dừa rộng, xòe to nên có thể dùng để che nắng, che mưa. Xơ dừa dùng làm dây thừng, hoa dừa dùng để trang trí. Phần có tác dụng to lớn là nằm ở quả dừa. Nước dừa thơm ngon, béo ngậy có thể dùng để uống giúp đẹp da hay dùng để nấu cơm, thổi xôi thêm cùi dừa nạo mỏng thì ta sẽ được đĩa xôi ngon miệng, béo ngậy, giàu chất dinh dưỡng. Người ta còn biết dùng nước dừa đun lại để làm dầu dừa dưỡng da, dưỡng tóc. Cùi dừa dùng để kho thịt, thạch dừa hay dùng để làm kem dừa khi trời nóng nắng oi bức hay dùng là mứt vào mỗi dịp tết. Khi dùng xong bên trong, họ còn dùng gáo dừa để làm vật dụng trong gia đình hay dùng để nấu ăn…

Cây dừa có rất nhiều tác dụng to lớn đối với cuộc sống của con người. Cây dừa đã từ lâu cũng trở thành biểu tượng của người dân Việt Nam bởi sự kiên cường bất khuất, dám đối mặt với mọi gian nan để vươn cao, vươn xa hơn.

BÀI VĂN MẪU SỐ 2 THUYẾT MINH VỀ CÂY DỪA

“Bến Tre dừa ngọt sông dài”

“Bến Tre dừa xanh bát ngát”

Nhắc đến Bến Tre là ta không thể không nhắc đến dừa- một loại cây quen thuộc với người dân Việt ta. Đi dọc dải đất miền Tây nắng gió ta nhất định sẽ bắt gặp những rặng dừa rủ bóng xanh mát. Cây dừa không chỉ làm đẹp cho cảnh sắc làng quê mà nó còn có nhiều công dụng hữu ích cho con người.

Dừa là loại cây dễ trồng, nó có thể trồng trên nhiều loại đất khác nhau nhưng thích hợp nhất là đất pha cát và có khả năng chịu mặn tốt nên ở Việt Nam dừa được trồng nhiều nhất ở Đồng bằng sông Cửu Long.

Dừa được chia ra làm nhiều loại trong đó có hai loại phổ biến phải kể đến là dừa xiêm và dừa khô. Các giống dừa xiêm sẽ cho ra nước để uống còn các giống dừa khô sẽ dùng để lấy tinh dầu dừa nguyên chất. Ngoài ra còn có một số giống dừa đặc biệt khác như dừa sọc, dừa sáp, dừa dứa.

Mặc dù được chia ra nhiều giống khác biệt nhưng phần lớn cấu tạo của các cây dừa là giống nhau. Thân dừa mọc thẳng , không phân nhánh, cao tầm 20m đến 25m. Thân dừa là đặc điểm để đánh giá sự sinh trưởng của cây bởi thân dừa cao chỉ phát triển mạnh sau từ 4 đến 5 năm. Lá dừa xanh, dài, chia thành nhiều tàu rủ xuống giống như lá chuối nhưng chúng không liền một dải như chuối mà mỗi lá chia thành nhiều nhánh. Một cây dừa sẽ có khoảng 30 đến 35 tàu lá và vào thời kì trưởng thành mỗi tàu lá sẽ dài từ 5m-6m. Rễ dừa được sinh ra liên tục ở phần đáy gốc thân, không có rễ cọc. Rễ không có lông hút mà chỉ có rễ dinh dưỡng. Khi cây dừa 5 năm tuổi nó có 548 chiếc rễ và đến năm 13 tuổi chúng sẽ đạt số lượng lên tới 5200 rễ.

Hoa dừa có màu trắng và nhỏ, thuộc loại đơn tính, hoa đực và hoa cái riêng lẻ vì vậy hoa dừa được thụ phấn chủ yếu nhờ gió và côn trùng. Quả dừa được sinh ra từ hoa. Quả dừa tròn quây quanh thân dừa kết thành từng buồng. Mỗi buồng gồm từ 5 đến 10 trái. Vỏ dừa cứng, độ cứng của cùi và độ ngọt của nước dừa bên trong sẽ phụ thuộc vào độ “già” của trái dừa. Khi thu hoạch dừa người ta phải trèo lên cây dừa để vặn, xoay, cắt cho trái dừa rơi xuống đất hoặc có thể đứng dưới đất dùng sào tre để cắt trái dừa rụng xuống.

Cây dừa đã dốc hết sức lực của mình để phục vụ cho đời sống con người. Có thể nói chúng ta tận dụng được hết những bộ phận của dừa vì chúng vừa có giá trị kinh tế vừa có giá trị sử dụng. Thân dừa to khỏe được đục đẽo làm thành những chiếc xuồng giúp người dân miền Tây đi lại trong những ngày lũ lụt hay những ngày xuôi mái chèo qua rừng ngập mặn. Gỗ dừa còn dùng làm đồ mĩ nghệ tinh xảo. Lá dừa phơi khô có thể làm chất đốt trong gian bếp làng quê, làm mái che, đan làm giỏ đựng và ta cũng có thể dùng lá dừa sáng tạo ra chiếc chổi dừa độc đáo. Đến rễ dừa có thể tận dụng để làm thuốc nhuộm…

Và phần giá trị nhất có lẽ là quả dừa. Nước dừa có vị thanh ngọt dùng để giải khát trong những ngày nắng nóng thì không gì sánh được. Cùi dừa dùng để kho thịt, làm mứt hay kẹo dừa- những món ăn quen thuộc với người dân Việt. Xơ dừa được tách ra và được bện thành những sợi dây thừng vững chắc, nó cũng là một nguyên liệu cần thiết để sản xuất than củi. Dừa còn là một phương pháp làm đẹp hữu hiệu với chị em phụ nữ. Dầu dừa có công dụng làm đẹp da, chống nứt nẻ và dưỡng tóc óng mượt. Người xưa còn ca ngợi dầu dừa bằng câu ca dao:

“Không chồng, son phấn qua loa,

Có chồng, em trang điểm nước hoa dầu dừa.”

Quả thật, cây dừa đã gắn bó với người dân Việt Nam từ bao đời nay. Dừa tỏa bóng mát làm dịu tâm hồn con người, dừa lại tạo giá trị kinh tế giúp con người kiếm thêm thu nhập. Cây dừa còn đi vào thơ ca, tạo nên một nét riêng giản dị đặc trưng của tâm hồn Việt. Vì thế dừa xứng đáng là một loài cây được yêu quý và trân trọng.

BÀI VĂN MẪU SỐ 3 THUYẾT MINH VỀ CÂY DỪA

“Dừa ơi dừa! Người bao nhiêu tuổi

Mà lá tươi xanh mãi đến giờ”

Đi vào trong những vần thơ, trong lời ru câu hát, từ lâu, cây dừa đã trở thành một người bạn của người dân Việt Nam. Dừa đã gắn bó với quê hương, với những bờ cát trắng và nắng gió của tổ quốc từ ngàn đời nay với màu lá xanh tươi như thế.

Không chỉ ở Việt Nam mà trên khắp các châu lục, dừa là một loài cây quen thuộc. Các nghiên cứu khoa học vẫn chưa tìm ra được câu trả lời chính xác cho nơi bắt đầu của dừa nhưng qua nhiều năm phát triển, dừa giờ đây trở nên rất phổ biến, đặc biệt là ở các vùng nhiệt đới như châu Á và vùng ven Thái Bình Dương. Ở Việt Nam, dừa thường tập trung ở các tỉnh miền Trung, nổi tiếng nhất là ở Bến Tre và Bình Định.

Dừa là một loại thuộc họ cau. Thân dừa rất cao, một số cây có thể cao đến ba mươi mét. Dừa còn sở hữu một thân hình khỏe khoắn với khuôn hình trụ kiên cố, có những nốt vằn trên thân vết sẹo để lại sau khi những bẹ lá già và rụng xuống đất để lại. Dừa càng già thì màu thân càng bạc đi theo năm tháng.

“Cây dừa xanh toả nhiều tàu,

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.”

( “Cây dừa”-Trần Đăng Khoa )

Đúng như nhà thơ đã miêu tả, cây dừa có tán rộng với những lá dài, xanh mướt và nhiều tàu. Thân hình cao lớn, tán lá xanh dày nên những hôm trời nắng, cây dừa đứng sừng sững như một chiếc ô khổng lồ, dang rộng những cánh lá xanh dài của mình đê che bớt đi cái chọi lọi, gay gắt của nắng, đem lại những bóng râm mát cho người dân nghỉ ngơi. Lá dừa có hình dạng như lông chim với một gân chính dài, cứng, từ gân đâm ra những lá đơn. Mỗi lần làn gió thổi qua là những lá đơn lẻ ấy lại va chạm vào nhau, tạo nên những âm thanh xào xạc rất vui tai. Ấy cũng là thú vui của những du khách đi biển, nằm dài trên bờ cát trắng dưới bóng mát của tán dừa, lắng tai nghe bản hòa tấu của tiếng sóng vỗ rì rầm và lá rì rào như đang hát.

Có ai đã nghe đến hoa dừa chưa? Chắc ít người biết lắm, nếu như bạn không phải dân miền biển hay là một nhà thực vật học đam mê khám phá. Dừa cũng có hoa, nhưng trái với thân hình to khỏe, hoa dừa lại nhỏ, có màu trắng thanh khiết như hoa cau. Vì kích thước quá nhỏ, lại nằm ở trên cao nên ít khí người ta nói đến hoa dừa, nhưng đây cũng là một bộ phận không thể thiếu của cây. Từ những bông hoa nhỏ ấy, ta mới có những trái dưa thơm nức mùi hương. Quả dừa phát triển từ hoa, lớp vỏ bên ngoài màu xanh, cứng, nhẵn và có ba đường gờ lên rất rõ ràng. Vì thế mà quả dừa không tròn như quả nhãn, quả cam, không có hình bầu dục như xoài mà có một dạng rất riêng và đặc trưng. Dừa là quả hạch có xơ, vỏ dừa được cấu thành từ nhiều lớp xơ dừa chồng lên nhau, khá cứng nên người ta thường gọi là sọ dừa hoặc gáo dừa. Bên trong những lớp xơ đã hóa gỗ ấy là cùi dừa và nước dừa- nguyên liệu nấu ăn quen thuộc của người dân. Với dừa non thì cùi thường mỏng và mềm, nên thường được hái để lấy nước. Với những quả già, lớp ngoài chuyển thành màu nâu thì cùi dừa dày, chắc nên được sử dụng để lấy cùi. Để lấy dừa non thì cần phải hái nhưng với dừa già, ta chỉ cần đợi nó rụng xuống và thu hoạch là được. Trái dừa cũng được chia ra nhiều loại như dừa xiêm với trái nhỏ, nước rất ngọt; dừa bị với trái to; dừa lửa với vỏ màu vàng hồng như ánh lửa, …

Dừa không chỉ đem lại bóng mát cho người dân vào những ngày hè nóng nực mà còn được mang nhiều giá trị sử dụng khác. Gần như tất cả các bộ phận trên cây dừa đều có thể sử dụng và làm nguyên liệu cho đời sống sinh hoạt. Nước dừa ngoài là một thức uống giải khát thì có thể sử dụng làm các món ăn như cá kho, nước chấm, … Cùi dừa vừa có thể ăn trực tiếp lại vừa có thể thêm vào các món như thịt kho dừa, các loại chè để tăng thêm hương vị. Là một người dân Việt Nam, không ai là không biết đến dừa Bến Tre, đặc biệt là kẹo dừa Bến Tre với sắc ngọt lịm và mùi thơm thanh thanh dễ chịu của hương dừa. Với sự sáng tạo thì người dân còn làm ra dầu dừa. Cho đến nay thì dầu dừa đã trỏ thành một sản phẩm có giá trị sử dụng rất cao, được biến đến như một loại mỹ phẩm thiên nhiên hữu hiệu cho các chị em. Sọ dừa thì có thể làm gáo nước, rễ dừa được sử dụng như một loại thuốc, thân dừa là một cây cầu chắc chắn, …

Không chỉ hiện hữu trong đời sống thường nhật, dừa còn đi vào trong ca dao như một hình ảnh quen thuộc của làng quê Việt Nam:

“Cây dừa xanh toả nhiều tàu,

Dang tay đón gió, gật đầu gọi trăng.”

Lê Anh Xuân, một nhà thơ hiện đại cũng có những vần thơ về cây dừa với bài thơ như tiếng gọi thân thương Dừa ơi. Dừa còn đi vào trong âm nhạc, trở thành biểu tượng cho một vùng miền của tổ quốc trong “Dáng đứng Bến Tre”.

“Tôi lớn lên đã thấy dừa trước ngõ

Dừa ru tôi giấc ngủ tuổi thơ

Cứ mỗi chiều nghe dừa reo trước gió

Tôi hỏi nội tôi: “Dừa có tự bao giờ?””

Dừa đã gắn bó với tuổi thơ của bao người dân Việt Nam, lớn lên cùng với những lũ trẻ da sạm đi vì nắng gió, che mát cho tâm hồn bao đời người dân đất Việt.

Văn Mẫu Lớp 9: Thuyết Minh Về Cây Dừa Những

Văn lớp 9: Thuyết minh về cây Dừa. được VnDoc sưu tầm chọn lọc giúp các em học sinh biết cách làm bài văn thuyết minh nói chung và văn thuyết minh cây Dừa nói riêng, rèn luyện kỹ năng viết văn, vận dụng cho từng bài viết. Hi vọng, những bài văn mẫu này sẽ giúp ích cho quá trình dạy và học của quý thầy cô cùng các em học sinh. I. Mở bài: giới thiệu cây dừa Kìa vườn dừa cây cao cây thấp Gió quặt quà cành lá xác xơ Thương anh em vẫn đợi chờ

Không biết từ bao giờ mà cây dừa đã đi vào thơ ca rất đỗi thân thuộc và trìu mến, cây dừa là một loại cây rất quen thuộc và ý nghĩa đối với cuộc sống của người dân. Cây dừa gắn bó thủy chung son sắt với con người.

II. Thân bài: 1. Nơi phân bố

– Trên thế giới: Dừa thường phân bố ở vùng châu Á, Thái Bình Dương

– Ở Việt Nam: Dừa thường tập trung từ Quãng Ngãi đến Cà Mau nhưng nhiều nhất là ở Bình Định và Bến Tre.

2. Đặc điểm

a. Cấu tạo

– Thân dừa: Cây dừa cao khỏe, có màu nâu sậm, hình trụ và có những nốt vằn trên thân.

– Lá: Lá dài, xanh và có nhiều tàu

– Hoa: Trắng và nhỏ

– Quả: Phát triển từ hoa, bên ngoài màu xanh dày, bên trong có cơm và nước.

– Buồng dừa: Chứa các quả dừa, mỗi buồng thường có 15 quả.

b. Khả năng sinh sống

– Thường sống ở khí hậu nhiệt đới

– Phát triển trên đất pha cát và có khả năng chống chịu tốt

– Dừa cần độ ẩm cao (70-80%+) để có thể phát triển một cách tối ưu

– Phát triển trong khô vực khô cằn

3. Phân loại

– Dừa xiêm: Loại dừa này trái thường nhỏ, có màu xanh, nước dừa rất ngọt, thường dùng để uống.

– Dừa bị: Trái thường to, vỏ màu xanh đậm, thường được dùng trong chế biến thực phẩm

– Dừa nếp: Trái vàng xanh mơn mởn.

– Dừa lửa: Lá đỏ, quả vàng hồng.

– Dừa dâu: Trái rất nhỏ, thường có màu hơi đỏ.

– Dừa dứa: Trái nhỏ, màu xanh, nước ngọt, vì thơm mùi dứa nên gọi là dừa dứa.

– Dừa sáp: Cơm dừa vừa xốp, vừa mềm mại lại dẻo như bột đã được nhào sệt, đồng thời lại có màu vàng đục như sáp, chỉ có ở vùng Cầu Kè (Trà Vinh).

4. Công dụng

– Nước dừa: Thường được dùng làm nước uống, kho cá, nước chấm,….

– Cơm dừa: Làm kẹo, mứt hay làm nước cốt dừa

– Dầu dừa: Nấu ăn, thoa tóc, dưỡng da,….

– Xơ dừa: Dùng làm dây thừng

– Thân dừa: Làm cột nhà, làm cầu bắt qua sông,…

– Hoa dừa: Dùng để trang trí

– Gáo dừa: Dùng để nấu ăn hay vật dụng trong gia đình,….

– Rễ dừa có thể dùng làm thuốc nhuộm, thuốc sát trùng để súc miệng hay chữa trị bệnh lỵ.

– Làm đồ mỹ nghệ

– Dừa có thể một số bệnh như: Khản tiếng, lỵ, giải độc,….

5. Ý nghĩa của cây dừa

– Trong đời sống:

– Trong nghệ thuật:

+ văn học dân gian:

Mài dừa đạp bã cho nhanh

Nấu dầu mà chải tóc anh tóc nàng

Mài dừa dưới ánh trăng vàng

Ép dầu mà chải tóc nàng tóc anh

+ văn thơ hiện đại và cận hiện đại

+ âm nhạc

III. Kết bài

Dừa là một người bạn rất hữu ích với người dân quê Việt Nam. Dừa rất có ích cho cuộc sống và tinh thần của người dân.

Bài tham khảo 1

Dừa không chỉ một loại cây ăn quả, cây cảnh mà còn là loại cây quen thuộc của nhiều làng quê Việt Nam. Cây dừa đã gắn bó với đời sống của người Việt, và trở thành biểu tượng của làng quê, trong đó phải nói đến vùng đất dừa Bến Tre.

Có thể nói, bất kì ở vùng quê nào trên đất nước Việt ta đều thấy thấp thoáng những bóng dừa. Có 2 loại dừa: Dừa cao và dừa lùn. Dừa lùn thường trồng để làm cảnh, loại dừa cao được phân ra thành các loại dừa như: Dừa xiêm, dừa bị, dừa nếp, dừa lửa, dừa dâu, dừa dứa, dừa sáp.

Các bộ phận của cây dừa gồm: Thân, lá, hoa, buồng, trái. Thân dừa cao khoảng 20 – 25 m, trên thân dừa có những đốt như hổ vằn, thường có màu nâu sậm, đường kính khoảng 45 cm. Với những loại dừa cảnh, thân dừa thường có màu xanh, nhiều đốt, đốt trên cùng là nơi xuất phát những phiến lá ôm lấy thân rồi tỏa ra. Lá dừa to, có màu xanh, gồm nhiều tàu, khi già lá sẽ vàng dần rồi héo và có màu hơi nâu. Hoa dừa có màu trắng, nhỏ, kết thành chùm.

Cây dừa ra hoa rồi kết trái, quả dừa có lớp vỏ dày bên ngoài. Bên trong mỗi lớp vỏ cứng là cùi dừa và nước dừa. Cây dừa có rất nhiều quả, quả của chúng kết thành buồng, mỗi cây có rất nhiều buồng và mỗi buồng dừa có nhiều quả, trung bình mỗi buồng từ 5 đến 10 trái dừa, có loại trên 20 trái.

Dừa không phải chỉ để ăn quả mà các bộ phận của nó được dùng vào rất nhiều việc. Nhiều người đã dùng thân dừa để bắc ngang con mương nhỏ làm cầu. Do thân dừa rất chắc nên người ta đã dùng nó làm cột, làm kèo xây nhà, hoặc sáng tạo ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác hoặc làm chén đũa…Bông dừa tươi được dùng làm vật trang trí rất đẹp mắt. Đọt dừa non có thể làm gỏi, lăn bột, xào.. rất thích hợp với người ăn chay. Có một món ăn đặc biệt mà nhiều người không biết đó là con sâu sống trên cây dừa( còn gọi là đuông dừa. Do ăn đọt dừa non nên đuông dừa béo múp míp nên được chế biến thành nhiều món ăn khoái khẩu và bổ dưỡng.

Trái dừa luôn được coi là phần giá trị nhất trên cây dừa. Trái dừa non được cắt ra lấy nước uống, là loại nước giải khát thơm ngon. Ngoài ra nước dừa dùng để kho cá, kho thịt, thắng nước màu. Phần cùi dừa dùng để làm mứt, cơm dừa dày được xay nhuyễn, vắt nước cốt làm kẹo dừa, nấu dầu dừa, làm xà phòng. Bã dừa dùng làm bánh dầu, để bón phân hoặc làm thức ăn cho gia súc. Phần vỏ cứng của trái dừa được sử dụng làm than hoạt tính, chất đốt hoặc làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Xơ dừa được đánh tơi ra dùng làm thảm, làm nệm, làm dép đặc trị cho những người bệnh thấp khớp hoặc bện làm dây thừng, lưới bọc các bờ kè chống sạt lở ven sông. Lá dừa có thể dùng để lợp nhà, làm phên liếp, chằm nón, mà còn là chất đốt thường dùng để đun nấu phổ biến ở thôn quê, lá dừa khô bó lại làm đuốc để đi trong đêm tối trời.

Có thể thấy cây dừa không chỉ mang lại cảnh đẹp cho cuộc sống thêm phần tươi đẹp, cho con người những món ăn thơm ngon bổ dưỡng mà nó còn có rất nhiều công dụng với đời sống của con người. Cây dừa cũng trở thành biểu tượng của người dân Việt Nam bởi sự kiên cường bất khuất, giám đối mặt với mọi gian nan để vươn cao, vươn xa hơn

Bài tham khảo 2

“Ai đứng như bóng dừa, tóc dài bay trong gió, có phải người còn đó, là con gái của Bến Tre…”

Câu hát ngân nga mang đậm hồn quê gợi nhớ về vùng đất Bến Tre, quê hương của đồng khởi. Nhắc đến Bến Tre, người ta liên tưởng đến một vùng quê thanh bình với cây lành trái ngọt. Đặc biệt, có một loài cây gắn bó quanh năm, gắn bó cả cuộc đời với người dân Bến Tre – cây dừa.

Đi khắp Bến Tre, nơi đâu ta cũng gặp bóng râm của những hàng dừa mát rượi. Hầu như nhà nào cũng trồng dừa. Cây dừa biểu tưởng của cây trái ở Bến Tre cũng như cây chè của Bảo Lộc, Thái Nguyên, cây cà phê ở Buôn Mê Thuộc hay cây cọ ở vùng quê sông Thao.

Khác với cây dừa ở các tỉnh khác được mọc ở vùng đồng bằng, dọc bờ biển hay ven những triền cát trắng, cây dừa Bến Tre mọc dài trên ba cù lao lớn, cù lao Minh, cù lao Bảo và cù lao An Hóa. Vì vậy, cây dừa Bến Tre quanh năm được phù sa của các nhánh sông Tiền, Hàm Luông, Ba Lai, Cổ Chiên bồi đắp nên lúc nào cũng xanh tươi đầy sức sống.

Cây dừa Bến Tre có rất nhiều chủng loại. Dừa ta hay còn gọi là dừa bị trái to, cơm dày, dừa xiêm trái nhỏ nước ngọt và thanh, dừa lửa có vỏ bên ngoài vàng cháy, dừa dâu trái thon nhỏ dần ở hai đầu như hình dáng quả dâu. Ngoài ra còn có một số loại khác như: Dừa Tam Quan, dừa cỏ, dừa dứa, dừa nhiếm, dừa éo… riêng dừa sáp chỉ mọc được ở Trà Vinh và trở thành đặc sản của vùng đất này.

Có lẽ trong tất cả các loại cây trái ở Việt Nam, cây dừa là một loại cây cống hiến cả cuộc đời mình cho con người. Không một chi tiết nào trên thân dừa lại không có chỗ dùng. Rễ dừa dùng để làm chất đốt, có nơi còn làm thuốc nhuộm. Lá dừa dùng để lợp nhà, gói bánh dừa, tàu dừa chặt ngắn lá dùng để trang trí nhà rạp, cổng hoa trong những tiệc cưới ở làng quê. Lá dừa khô được bó lại thành cây làm đuốc soi đường trong những vùng sâu thiếu thốn ánh đèn phố thị. Sống lá dùng để đan những giỏ hoa giỏ đựng trái cây trông rất thanh mảnh và trang trọng.

Thân dừa thường dùng để bắc ngang con mương nhỏ làm cầu. Sau khi bào bỏ lớp vỏ bên ngoài, người ta lấy thân làm cột, làm kèo xây nhà, hoặc sáng tạo ra các mặt hàng thủ công mỹ nghệ khác hoặc làm chén đũa…Bông dừa tươi được hái xuống để cắm trang trí vừa thanh nhã vừa lạ mắt. Bông dừa già cắt khúc kết lại với nhau làm thành giỏ hoa, chụp đèn treo tường có giá trị thẩm mỹ cao. Đọt dừa non hay còn gọi là củ hủ dừa là một thứ thức ăn độc đáo. Có thể làm gỏi, lăn bột, xào.. rất thích hợp với người ăn chay. Tuy nhiên, món này không phải lúc nào cũng có vì mỗi khi đốn một cây dừa, người ta mới lấy được củ hủ để dùng. Thậm chí ngay cả con sâu sống trên cây dừa (còn gọi là đuông dừa) cũng là một thứ món ăn ngon. Do ăn đọt dừa non nên đuông dừa béo múp míp. Người ta chế biến đuông thành nhiều món ăn khoái khẩu và bổ dưỡng ở các quán ăn trong thành phố.

Tuy nhiên, thứ có giá trị nhất vẫn là trái dừa. Trái dừa tươi được chắt ra lấy nước giải khát, có công năng hạ nhiệt, giải độc. Ngày xưa, trong chiến trận, thiếu các phương tiện y tế, người ta còn dùng nước dừa thay thế cho dịch truyền. Dừa khô có nhiều công dụng hơn nữa. Nước dừa dùng để kho cá, kho thịt, thắng nước màu, cơm dừa rám dùng để làm mứt, cơm dừa dày được xay nhuyễn, vắt nước cốt làm kẹo dừa, nấu dầu dừa, làm xà phòng. Bã dừa dùng làm bánh dầu, để bón phân hoặc làm thức ăn cho gia súc. Gáo dừa được sử dụng làm than hoạt tính, chất đốt hoặc làm các mặt hàng thủ công mỹ nghệ rất được ưa chuộng ở các nước phương Tây. Xơ dừa được đánh tơi ra dùng làm thảm, làm nệm, làm dép đặc trị cho những người bệnh thấp khớp hoặc bện làm dây thừng, lưới bọc các bờ kè chống sạt lở ven sông.Hiện nay, các mặt hàng làm từ cây dừa không chỉ phát triển trong nước mà còn được mở rộng ra các nước khác trên thế giới. Kẹo dừa Bến Tre được xuất khẩu nhiều nhất qua trung Quốc.

Đi về Bến Tre, chỉ cần qua khỏi phà Rạch Miễu ta sẽ đi giữa bạt ngàn màu xanh của dừa. Những buổi trưa oi bức, chỉ cần mắc võng học bài dưới gốc dừa, bên cạnh bờ ao, hoặc đưa mắt nhìn bầu trời xanh đung đưa qua kẽ lá, nghe tiếng cá nhảy, đớp mồi dưới ao chúng ta bỗng thấy cuộc đời đẹp biết bao. Cuộc sống của người dân Bến Tre gắn liền với cây dừa từ bao đời nay. Ngôi nhà của họ cũng ẩn hiện dưới bóng râm mát rượi của hàng dừa, lúc khát nước uống trái dừa ngọt lịm … Không biết đã có bao nhà thơ đã dệt nên những vần thơ đẹp về cây dừa ở Bến Tre. Trong đó bài thơ của nhà thơ Kiên Giang làm em thích thú nhất:

“Khi yêu yêu lắm dừa ơi Cả trời cả đất cả người Bến Tre Bóng dừa râm mát lối quê Người ơi! Tôi tưởng lối về cung tiên…”​

Trong tương lai, cuộc sống ngày một hiện đại hơn. Nhưng những giá trị tinh thần vẫn không bao giờ thay đổi. Cũng như vậy, cây dừa sẽ mãi gắn bó với ngưồi dân Bến Tre như những hạt phù sa mãi mãi gắn liền với các con sông để ngày bồi đắp cho mảnh đất quê hương thêm màu mỡ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Dàn Ý Thuyết Minh Về Cây Dừa Lớp 9 Chi Tiết Đầy Đủ trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!