Xu Hướng 1/2023 # Đào Tạo Luật Sư Trên Thế Giới Và Công Tác Đào Tạo Luật Sư Ở Việt Nam # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 1/2023 # Đào Tạo Luật Sư Trên Thế Giới Và Công Tác Đào Tạo Luật Sư Ở Việt Nam # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Đào Tạo Luật Sư Trên Thế Giới Và Công Tác Đào Tạo Luật Sư Ở Việt Nam được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Điều 10 Dự thảo Luật Luật sư quy định điều kiện để hành nghề luật sư là phải có Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập một Đoàn luật sư (Các tác giả viết bài này vào thời điểm Luật Luật sư năm 2006 đang trong quá trình xây dựng – Civillawinfor).

Công dân Việt Nam trung thành với Tổ quốc, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật, có phẩm chất đạo đức tốt, có bằng cử nhân luật, đã được đào tạo nghề luật sư, đã qua thời gian tập sự hành nghề luật sư, có sức khoẻ bảo đảm hành nghề luật sư thì có thể trở thành luật sư. (Civillawinfor trích dẫn)

Như vậy đào tạo luật sư ở Việt Nam gồm có 3 giai đoạn hay nói cách khác ở Việt Nam muốn trở thành luật sư phải trải qua 3 giai đoạn đào tạo: đào tạo ở trường đại học để có bằng cử nhân luật, đào tạo nghề luật sư để được cấp Chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề luật sư và đào tạo trong thời gian tập sự hành nghề luật sư.

Bài viết này đề cập tới việc đào tạo luật sư các nước đại diện cho dòng họ pháp luật Common Law (Anh, Mỹ) và Civil Law (Pháp, Đức) và cũng là những nước có truyền thống, thành tựu nhất định trong đào tạo luật sư để rút ra những kinh nghiệm nhằm hoàn thiện công tác đào tạo luật sư ở Việt Nam.

Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư do Trung tâm đào tạo luật sư cấp. Việc giảng dạy ở Trung tâm do các luật sư, thẩm phán có uy tín và giáo sư đầu ngành đảm nhiệm.

Để được vào học tại Trung tâm, các học viên phải qua kỳ thi tuyển. Đây là kỳ thi tuyển rất khó, thường tỷ lệ đỗ khoảng 30%. Việc miễn thi đầu vào khoá học này dành cho một số đối tượng như người có bằng tiến sĩ luật, các luật gia làm việc trong các hãng luật lớn, các thẩm phán, giảng viên đại học luật và các công chứng viên. Trung tâm sẽ đào tạo cả về lý thuyết và thực hành cho học viên trong một khoá học kéo dài 18 tháng. Khoá học này được chia làm 3 giai đoạn: 6 tháng đầu các học viên tham gia khoá học tại Trung tâm, 6 tháng tiếp theo các học viên sẽ được gửi đi học tại một trường đại học, 6 tháng cuối các học viên thực tập tại văn phòng luật sư.

Ở Pháp đã thực hiện một cuộc cải cách lớn đối với việc đào tạo và hành nghề luật sư vào tháng 12/2004, mục đích của cuộc cải cách này là nâng cao tính thực tiễn, giảm bớt số lượng giờ học lý thuyết trong khoá đào tạo luật sư. Đặc biệt kỳ thi tuyển đầu vào ở các khoá học này trở nên vô cùng khó khăn với các đề thi rất khó. Cuối khoá học, học viên phải trải qua kỳ thi về khả năng hành nghề luật sư và nếu vượt qua kỳ thi này, các học viên sẽ được cấp Chứng chỉ về khả năng hành nghề Luật sư.

Người có Chứng chỉ về khả năng hành nghề luật sư được ghi tên vào danh sách luật sư tập sự của một Đoàn luật sư (Điều 12 Luật số 71-1130 ngày 31/12/1971). Trong thời gian 6 tháng đầu, luật sư vẫn phải tiếp tục học tập tại Trung tâm đào tạo luật sư sau đó luật sư tập sự tại Văn phòng luật sư hoặc Toà án khoảng 1 năm. 6 tháng còn lại, luật sư có thể tập sự tại Văn phòng công chứng, Văn phòng kiểm toán hoặc Ban pháp luật của doanh nghiệp. Kết thúc 2 năm tập sự, luật sư tập sự được Trung tâm đào tạo luật sư chứng nhận hoàn tất chương trình tập sự và có thể trở thành luật sư chính thức (Điều 79 Sắc lệnh ngày 31/12/1991)[2].

Ở Anh, để trở thành luật sư không nhất thiết phải có bằng cử nhân luật[3].

Việc đào tạo luật sư ở Anh không chú trọng tính bài bản mà thiên về thực tiễn, các luật sư Anh được đào tạo chủ yếu về thủ tục tố tụng và thu thập, xác minh chứng cứ bởi theo pháp luật Anh, về nguyên tắc, việc thực hiện quá trình tố tụng là trách nhiệm của các bên (thông qua luật sư của mình), vai trò của thẩm phán trong xét xử chỉ là đảm bảo sự tuân thủ các thủ tục tố tụng[4].

Nghề luật sư ở Anh được xây dựng trên mô hình tổ chức tư pháp và tố tụng của Anh được hình thành từ thế kỷ 12-13. Luật sư Anh gồm hai loại: luật sư bào chữa (barristors) và luật sư tư vấn (solicitors) – đây là điểm khác biệt xuất phát từ đặc thù của hệ thống án lệ.

Các luật sư Anh chịu sự quản lý của các tổ chức luật sư – Inns of Court và Law Society.

Inns of Court hình thành từ đầu thế kỷ 14, có thư viện luật và là nơi mở các khoá đào tạo cho những người muốn trở thành luật sư biện hộ. Thời Trung cổ, các sinh viên luật đến London để học và thực tập bên cạnh các thẩm phán tại Toà án cấp cao đã ăn, ngủ tại Inns of Court – thực ra là khu ăn ở của các luật gia trong Toà án. Mỗi Inn of Court có một nhà thờ, một thư viện và một đại sảnh – nơi mọi người ăn uống khi đến bữa, đồng thời cũng là nơi hội họp và giảng dạy về thực tiễn[5].

Người muốn trở thành luật sư biện hộ phải là một khoá sinh của Inn of Court để được đào tạo và phải thi đỗ trong kỳ thi công nhận luật sư biện hộ. Thời gian đào tạo ở các Inn of Court được đo bằng các “kỳ ăn trưa” thường kéo dài khoảng 3 tuần tuỳ Inn of Court quy định. Thông thường mỗi năm có khoảng 4 “kỳ ăn trưa” để đào tạo các khoá sinh. Trong mỗi “kỳ ăn trưa”, khoá sinh phải ăn trưa ít nhất ba lần trong đại sảnh của Inn of Court. Để trở thành luật sư biện hộ, khoá sinh phải trả qua ít nhất tám “kỳ ăn trưa”. Thời xưa, các bữa ăn trưa được coi là để giảm bớt khoảng cách giữa các luật sư biện hộ chính thức và các khóa sinh, ngày nay ở Anh việc ăn trưa cùng để đào tạo phần nhiều mang tính chất nghi lễ.

Việc công nhận luật sư biện hộ do Hội đồng của Inn of Court (Bencher of Inn) thực hiện sau khi khoá sinh đã thi đỗ kỳ thi lý thuyết và thực hành và trải qua thời gian thực tập một năm[6].

Hội Luật sư (Law Society) được thành lập từ thế kỷ 18 là tổ chức tập hợp các luật sư tư vấn. Hội đã ban hành Bộ luật ứng xử (Code of Conduct) bao gồm các quy tắc điều chỉnh hoạt động nghề nghiệp của các luật sư tư vấn. Để trở thành luật sư tư vấn chỉ cần học 9 tháng tại Trường luật của Hội Luật sư (với các môn học gắn với thực tế như lập hợp đồng bất động sản, luật thuế, luật thừa kế, luật thương mại, luật công ty…), thi đỗ kỳ thi chuyên môn do Hội Luật sư tổ chức và trải qua hai năm tập sự ở một trong những văn phòng luật sư tư vấn với tư cách nhân viên (article clek).

Mỹ được coi là nước có nghề luật sư phát triển nhất thế giới. Ở Mỹ có khoảng 1 triệu luật sư (trung bình 220 người dân có một luật sư), việc đào tạo luật sư ở Mỹ có nhiều điểm đáng chú ý.

Nghề luật sư ở Mỹ ra đời muộn hơn so với nghề luật sư ở các nước châu Âu như Anh, Pháp, Đức. Nước Mỹ với thể chế liên bang, tính đa dạng của các bang thành viên và sắc tộc đòi hỏi phải có mô hình tư pháp riêng và mô hình nghề luật thống nhất. Mô hình này ra đời trong bối cảnh môi trường pháp lý và xã hội đặc thù, ở đó nhà nước giảm thiểu sự can thiệp vào đời sống xã hội, trong tố tụng áp dụng nguyên tắc đối kháng, tại phiên toà thẩm phán và bồi thẩm đoàn chỉ căn cứ vào những gì họ nghe thấy tại phiên toà để đưa ra phán quyết của mình. Trong phòng xử án luật sư không bảo vệ công lý mà bảo vệ cho lý lẽ của mình. Người Mỹ có ý thức rằng chỉ cần luật sư giỏi là họ có cơ may thắng kiện và trên thực tế điều đó không phải là không có cơ sở.

Có tới 50-80% thí sinh đỗ trong kỳ thi công nhận luật sư này nên việc được nhận vào học ở trường luật là điều kiện mấu chốt để được chấp nhận làm luật sư ở Mỹ. Việc tuyển sinh vào trường luật có tính chọn lọc cao và được quyết định bởi kết quả học ở bậc cao đẳng và kết quả trong kỳ thi tuyển sinh LSAT. Ví dụ: Trường luật Yale có 5000 thí sinh nộp đơn xin học trên tổng số 170 chỉ tiêu tuyển sinh. Chi phí để vào học ở trường luật cũng là rào cản đáng phải kể đến: sinh viên ở các trường luật tư phải đóng khoảng 30.000 USD mỗi năm, sinh viên ở các trường luật công cũng phải đóng khoảng 15.000 – 20.000 USD mỗi năm[7].

Giáo dục pháp luật ở Mỹ có truyền thống đào tạo sinh viên luật suy nghĩ và hành động như những luật sư ngay từ khi còn ngồi trên ghế nhà trường. Hầu hết các trường luật ở Mỹ đều kết luận rằng việc kết hợp các giảng viên chính thức (đa số đều có kinh nghiệm trong nghề luật trước khi tham gia giảng dạy luật) và những thẩm phán có kinh nghiệm tham gia giảng dạy là phù hợp nhất để đào tạo nghề cho các luật sư tương lai.

Trong đào tạo luật sư ở Mỹ phải kể đến vai trò của Hội Luật gia Hoa Kỳ (ABA) – tổ chức quốc gia về ngành luật ở Mỹ. ABA đã xác định rằng cần phải xây dựng một quy trình quốc gia để đảm bảo chất lượng đào tạo luật sư. Năm 1921 ABA đã đưa ra bản quy định về tiêu chuẩn tối thiểu của giáo dục pháp luật và danh sách các trường luật được công nhận là đáp ứng được tiêu chuẩn này[9].

Năm 1992, Ban Giáo dục Pháp luật và Công nhận Luật sư của Hội Luật gia Hoa Kỳ đã công bố Báo cáo MacCrate về tình hình giáo dục và công tác đào tạo. Báo cáo được công nhận trong toàn nước Mỹ như văn bản quan trọng trong phát triển đội ngũ luật sư. Báo cáo MacCrate coi những kỹ năng và giá trị sau đây có ý nghĩa vô cùng quan trọng để có thể hành nghề luật sư một cách thành thạo:

– Các kỹ năng: Giải quyết vấn đề; phân tích và suy luận pháp lý; nghiên cứu pháp luật; điều tra thực tế; giao tiếp; tư vấn; thương lượng; kiến thức về tranh tụng và các thủ tục giải quyết tranh chấp; tổ chức và quản lý công việc pháp lý; nhận biết và giải quyết các tình huống khó xử về đạo đức.

– Các giá trị: Đại diện theo đúng thẩm quyền; đấu tranh thúc đẩy công lý, công bằng và đạo đức; tự phát triển về chuyên môn.

Báo cáo MacCrate thừa nhận rằng sẽ không hợp lý khi trông đợi các trường luật gánh vác nhiệm vụ biến các sinh viên dù rất có năng lực thành những luật sư hoàn hảo được cấp giấy phép giải quyết các vấn đề pháp luật. Ba năm học tại trường luật mới chỉ tạo dựng được nền tảng. Báo cáo nhấn mạnh: “việc phát triển các kỹ năng và giá trị của người luật sư có khả năng và trách nhiệm là một quá trình liên tục, nó bắt đầu từ trước khi vào học tại trường luật, đạt tới mức định hình rõ nét và chuyên sâu trong quá trình học tại trường luật và sẽ tiếp tục trong suốt quá trình hành nghề luật sư.

Các chương trình giáo dục pháp luật thường xuyên trong suốt quá trình hành nghề luật sư có vai trò vô cùng quan trọng trong việc giảng dạy những kỹ năng và giá trị mà người luật sư cần phải có để đạt được và duy trì những chuẩn mực nghề nghiệp. Các chương trình giáo dục pháp luật thường xuyên cho luật sư có nhiều hình thức khác nhau, được tiến hành trong nhiều môi trường khác nhau và do nhiều tổ chức thực hiện việc giáo dục, quản lý.

Đào tạo luật sư tại các công ty luật: Các công ty luật lớn ở Mỹ thường tiến hành giáo dục thường xuyên cho luật sư một cách chính thức. Chương trình đào tạo có thể khác nhau nhưng việc đào tạo luật sư tại nơi làm việc sẽ tạo điều kiện cho nội dung giảng dạy phù hợp với yêu cầu của chính công ty. Hình thức đào tạo tại nơi làm việc – đặc biệt cho luật sư mới còn gồm các hội thảo về soạn thảo văn bản pháp lý, kỹ năng đàm phán hợp đồng, kỹ năng kiện tụng…Các công ty luật có quy mô nhỏ không tổ chức các chương trình đào tạo nội bộ chính thức cho luật sư mới mà thường cập nhật các kỹ năng hành nghề luật sư ngay trong quá trình làm việc.

Mỗi bang trong số 50 bang của Mỹ đều quy định luật sư phải có giấy phép mới được hành nghề tại bang đó và mỗi bang cũng đặt ra các yêu cầu của riêng mình về việc duy trì hiệu lực của giấy phép hành nghề luật. 40 trong số 50 bang của Mỹ quy định luật sư phải thường xuyên tham gia các khoá học giáo dục pháp luật thường xuyên. Hội luật gia Hoa Kỳ đã thông qua Quy định mẫu về giáo dục pháp luật thường xuyên năm 1986 làm chuẩn mực cho tổ chức đào tạo cho các luật sư. Trên cơ sở đó, các bang đã thông qua quy định của riêng mình với số giờ phải học tối thiểu của luật sư từ 12 đến 15 giờ trong một năm. Ngoài ra còn có những quy định riêng đối với luật sư mới vào nghề: những luật sư hành nghề chưa tới 3 năm có thể phải qua một số khoá học căn bản về kỹ năng ngay sau khi gia nhập đoàn luật sư. Luật sư ở mọi trình độ đều bắt buộc phải tham gia một số giờ đào tạo nhất định về đạo đức nghề nghiệp, về chuyên môn luật sư…

Ở Đức không tồn tại mô hình đạo tạo riêng cho từng nghề luật như nghề thẩm phán, nghề luật sư… mà chỉ có một quy trình đào tạo chung cho mọi nghề luật. Hiện nay ở Đức, các sinh viên luật sau khi tốt nghiệp có rất ít cơ hội được tuyển vào làm thẩm phán, do ngành toà án ít có nhu cầu bổ sung. Đồng thời, biên chế trong các cơ quan công tố và cơ quan hành chính nhà nước luôn có giới hạn khiến đa số sinh viên luật ra trường phải chọn nghề luật sư để kiếm sống. Tình trạng này khiến chúng ta có thể có nhận xét rằng đào tạo luật ở Đức thực chất là đào tạo các luật sư.

Đức là nước có truyền thống đào tạo nghề luật nói chung và đào tạo luật sư nói riêng khá lâu đời. Từ thế kỷ XIV, các trường đại học tổng hợp đầu tiên của Đức, trong đó có khoa luật đã được thành lập – đến nay, các khoa luật này vẫn là những cơ sở đào tạo luật chính thức của Đức.

Ở Đức, toàn bộ thời gian đào tạo luật được chia làm hai giai đoạn: Giai đoạn thứ nhất – đào tạo pháp luật ít nhất là ba năm rưỡi tại trường đại học. Giai đoạn thứ hai – đào tạo thực hành nghề luật kéo dài ít nhất là hai năm.

Bất kỳ ai, nếu muốn trở thành luật sư, công chứng viên, thẩm phán, công tố viên… đều phải thi tuyển hoặc được xét tuyển vào học tại các trường Đại học luật hoặc khoa luật tại các trường đại học tổng hợp (hiện nay, trên toàn nước Đức có khoảng 50 khoa luật trực thuộc các trường đại học nằm rải rác ở 16 bang).

Trong giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ phải học trong một khoảng thời gian ít nhất là ba năm rưỡi với các môn học mang tính cơ sở về khoa học luật như: lịch sử các học thuyết pháp luật, lịch sử pháp luật, triết học, xã hội học pháp luật và các môn luật mang tính chất bắt buộc như: luật hiến pháp, luật dân sự, luật hình sự, luật hành chính, luật tố tụng dân sự…

Bên cạnh các môn học mang tính bắt buộc thì sinh viên luật ở Đức cũng có các môn học tự chọn, đó có thể là môn luật về thuế, luật về cộng đồng châu Âu, luật cạnh tranh, luật sở hữu trí tuệ… Việc thiết kế các môn học bắt buộc và tự chọn tùy thuộc vào chương trình của mỗi trường.

Về phương pháp đào tạo luật ở Đức thì hiện nay đang xuất hiện hai quan điểm khác nhau, đó là: quan điểm cải cách và quan điểm bảo thủ. Nhóm quan điểm cải cách cho rằng, nước Đức cũng như nhiều nước trong hệ thống pháp luật châu Âu lục địa cần phải tiếp nhận phương pháp thực tiễn trong đào tạo luật của các nước Anh – Mỹ. Nghĩa là, cần giảm bớt tính hàn lâm và phải đưa các vụ việc thực tiễn vào giảng dạy các môn luật. Nhóm quan điểm bảo thủ lại cho rằng, chế độ đào tạo pháp luật của nước Đức theo truyền thống vẫn rất hiệu quả. Bởi việc đào tạo pháp luật trong giai đoạn thứ nhất gắn với việc đào tạo kiến thức pháp luật cơ bản, tổng hợp, với mục đích cung cấp các kiến thức toàn diện cho sinh viên. Còn các kiến thức chuyên sâu và kỹ năng thực hành mang tính chất nghề luật là nhiệm vụ trọng tâm của giai đoạn hai. Tuy nhiên, các kết quả khảo sát gần đây cho thấy, nhiều khoa luật trên lãnh thổ của Đức đã chú trọng đến việc cân đối giữa hàm lượng lý thuyết và thực tiễn pháp luật trong cơ cấu các môn học. Điều này được minh chứng bằng việc ngày càng có nhiều luật sư và thẩm phán có uy tín được các khoa luật mời đến giảng bài cho sinh viên. Bên cạnh đó, trong hệ thống câu hỏi của các kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất, tỷ lệ các câu hỏi về thực tiễn pháp luật ngày càng tăng.

Nếu nhìn vào quy trình tổ chức kỳ thi tốt nghiệp và việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi, đặc biệt là thi tốt nghiệp cho giai đoạn thứ nhất thì có thể khẳng định rằng, việc đào tạo pháp luật ở Đức có chất lượng rất cao. Pháp luật của Đức quy định: Bộ Tư pháp của mỗi bang có trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi này, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi. Các câu hỏi thi thường dài và phức tạp, chẳng hạn như, kỳ thi tốt nghiệp giai đoạn thứ nhất ở bang Bavarian có tới tám câu hỏi, sinh viên phải hoàn thành bài thi trong thời gian năm tiếng. Đây thực sự là một áp lực đối với bất cứ sinh viên luật nào. Theo tài liệu thống kê được công bố năm 2003, thì chỉ có khoảng 65% sinh viên đạt yêu cầu, còn 35% sinh viên phải thi lại trong các lần thi tiếp theo.

Sau khi đã vượt qua kỳ thi của giai đoạn thứ nhất, các sinh viên luật sẽ được tiếp tục theo học giai đoạn thứ hai – giai đoạn đào tạo nghề luật, nghĩa là, đào tạo các kiến thức pháp luật thực hành. Việc đào tạo nghề luật của giai đoạn thứ hai kéo dài hai năm và cũng được kết thúc bằng một kỳ thi. Nếu không vượt qua kỳ thi này thì sinh viên luật sẽ không nhận được học vị cử nhân. Giai đoạn đào tạo kiến thức và kỹ năng của các nghề luật cụ thể là một phần không thể thiếu trong đào tạo luật ở bậc đại học[11]. Pháp luật của Đức quy định một quy trình chung cho đào tạo mọi nghề luật, nghĩa là, các sinh viên luật, sau khi tốt nghiệp đại học có đủ tư cách hoạt động ở mọi nghề luật. Thông thường, thầy giáo giảng trong các giờ học này là những thẩm phán hay các chuyên viên pháp lý có kinh nghiệm. Những sinh viên luật dù đã định hướng nghề nghiệp như: nghề luật sư, thẩm phán… thì vẫn phải tham gia tập sự ở tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao trong thời gian sáu tháng; ở cơ quan công tố ba tháng; ở hội đồng địa phương bốn tháng và bốn tháng tập sự cùng với một luật sư thực thụ. Như vậy, trong thời gian thực tập, sinh viên luật sẽ làm quen với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính… Mức độ tiếp cận với thực tiễn nghề luật sẽ phụ thuộc vào số lượng công việc nơi thực tập và khả năng học tập của sinh viên. Khi đã hoàn thành nhiệm vụ tập sự ở các cơ quan nói trên, trong thời gian bảy tháng còn lại, họ có thể tùy chọn tập sự lại ở một trong các vị trí nói trên, nhằm tăng thêm khả năng chuyên sâu nghề nghiệp. Trong bảy tháng này, những sinh viên có định hướng làm nghề thẩm phán thường sẽ chọn tòa án là nơi tăng cường thực tiễn. Còn những sinh viên có tham vọng theo nghề luật sư, thì địa chỉ mà họ thực tập là các công ty luật hoặc các đoàn luật sư. Giai đoạn thực hành nghề luật của sinh viên cũng được kết thúc bằng một kỳ thi tốt nghiệp. Kỳ thi này còn được coi là quan trọng và khó hơn kỳ thi tốt nghiệp trong giai đoạn thứ nhất.

Tất cả những thí sinh đã qua kỳ thi thứ hai đều có thể đăng ký làm luật sư ở cơ quan tư pháp địa phương và được cơ quan này cấp Giấy phép hành nghề luật sư một cách đương nhiên (chỉ trừ một số trường hợp do Quy chế luật sư quy định)[12]

Điều kiện để trở thành luật sư ở Đức và ở Pháp về cơ bản là giống nhau, tuy nhiên chương trình đào tạo luật sư ở Đức dài hơn: ở Pháp có thể trở thành luật sư ở độ tuổi 22-23, ở Đức người ta phải cố gắng lắm mới có thể trở thành luật sư trước tuổi 30.

Theo con số thống kê năm 2001, toàn Liên bang Đức có khoảng 110.367 luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư. Đến tháng 1/2003, số luật sư được công nhận tư cách trong các đoàn luật sư đã lên tới 121.420 người, tăng khoảng 4,4% so với 12 tháng trước đó. Nghề luật sư ở Đức cũng như ở nhiều nước trên thế giới, tính cạnh tranh ngày càng cao, do đó hình thành xu hướng ngày càng có nhiều luật sư hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật như: luật hôn nhân gia đình, luật thuế, luật hình sự, luật hành chính, luật sở hữu trí tuệ…[13]

1.1. Nhật Bản là nước áp dụng chế độ tam quyền phân lập, gồm quyền lập pháp, quyền hành pháp và quyền tư pháp. Quyền lập pháp thuộc về Quốc hội gồm Thượng nghị viện và hạ nghị viện; quyền hành pháp thuộc nội các (chính phủ) và quyền tư pháp thuộc toà án.

Ba quyền này can thiệp và tác động lẫn nhau nhằm giữ cân bằng, tránh sự lạm quyền giữa ba hệ thống cơ quan này.

Quyền Tư pháp ở Nhật Bản thuộc về Toà án tối cao và các toà án địa phương. Theo khoản 1 điều 76 Hiến pháp Nhật bản, toà án địa phương bao gồm tám toà án khu vực, 50 toà án địa phương, 50 toà án gia đình, 438 toà giản lược.

Ngoài ra, có hai tổ chức quan trọng khác, mặc dù không thuộc hệ thống toà án, nhưng cũng được coi là có quyền tư pháp là viện kiểm sát và hội luật sư.

Vì vậy, các chức danh tư pháp ở Nhật bản là thẩm phán, kiểm sát viên và luật sư. Bởi lẽ đó, ở Nhật bản có câu “Nâng đỡ chế độ tư pháp là ba chức danh: thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư”. Đây cũng có thể coi là quan niệm riêng của Nhật bản về các chức danh tư pháp.

1.2. Để trở thành người có chức danh tư pháp ở Nhật bản phải qua khoá đào tạo tại Học Viện Tư pháp nhật bản.

Ở nhật bản, việc đào tạo tư pháp được bắt đầu từ năm 1886. Sau khi chế độ phong kiến cuối cùng – Chế độ EDO- sụp đổ năm 1867, nước Nhật bước vào thời kỳ Minh Trị cách tân. Nước Nhật mở rộng cánh cửa ra thế giới, đặc biệt là các nước Âu- Mỹ. Nhiều thành tựu của thời kỳ này vẫn còn giữ được giá trị cho đến bây giờ, trong đó có hệ thống pháp luật và chế độ đào tạo chức danh tư pháp.

Trong thời kỳ đầu, từ năm 1886 đến 1922, việc đào tạo thẩm phán và kiểm sát viên được đào tạo theo chương trình riêng, đào tạo luật sư được đào tạo theo chương trình riêng. Việc thi tuyển những chức danh này cũng được tổ chức theo những chương trình riêng.

Từ năm 1923 đến năm 1946, Nhật Bản bắt đầu tổ chức kỳ thi chung cho các chức danh tư pháp. Tuy nhiên, chỉ có kỳ thi là được tổ chức chung, còn sau đó, các thẩm phán và kiểm sát viên tương lai được đào tạo chương trình riêng, học viên luật sư được đào tạo chương trình riêng.

Từ năm 1947 đến nay, các chức danh này không chỉ dự kỳ thi tư pháp quốc gia mà còn được đào tạo một chương trình chung giống nhau. Đây là kết quả quá trình nước Nhật nhận thức rằng để nâng cao chất lượng tư pháp, phải nâng cao một cách đồng đều chất lượng của tất cả các chức danh tư pháp mà không phải chỉ là thẩm phán hay kiểm sát viên.

1.3. Kỳ thi tư pháp quốc gia được tổ chức mỗi năm một lần, do Uỷ ban quản lý kỳ thi tư pháp của Bộ Tư pháp thực hiện. Đây cũng là một điểm đặc sắc trong việc tổ chức đào tạo các chức danh tư pháp ở Nhật Bản. Bởi lẽ Học Viện tư pháp thuộc Toà án tối cao, nhưng tổ chức thi tuyển lại do Bộ tư pháp thực hiện (theo chế độ tam quyền phân lập, Tòa án là cơ quan tư pháp, trong khi đó, Bộ Tư pháp lại thuộc cơ quan hành pháp). Những người Nhật hiện đại giải thích: quy định này có lẽ nhằm tạo một cơ chế kiểm soát chất lượng giữa các cơ quan khác nhau.

Để có thể tham dự kỳ thi tư pháp quốc gia, người dự thi cần phải nộp đơn. Đây là điều kiện duy nhất của người dự tuyển. Không có điều kiện nào khác, thậm chí không giới hạn về độ tuổi cũng như bằng cấp chuyên môn. Lịch sử thi tuyển các chức danh tư pháp cũng đã ghi nhận một thí sinh 12 tuổi thi đỗ kỳ thi tư pháp quốc gia. Thậm chí, người có tiền án, tiền sự cũng có quyền tham gia kỳ thi tư pháp, dĩ nhiên là phải có mặt để dự thi. Bất kể ai cho rằng mình có thể thi đậu kỳ thi tư pháp quốc gia đều có quyền dự thi.

Việc không hạn chế điều kiện dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia xuất phát từ quan điểm: nước Nhật cần người tài thực sự để có thể thực hiện tốt quyền tư pháp. Mà người tài thì có thể do được đào tạo, học hành, nhưng có thể là bằng con đường tự học, tự trưởng thành của người đó.

Thực tế, kỳ thi tư pháp quốc gia là một kỳ thi quá khó khăn (nhiều học viên tư pháp phải dự tới hơn 10 kỳ thi tư pháp quốc gia mới trúng tuyển), nên phần lớn thí sinh dự tuyển (nếu không nói là tất cả), đều có bằng cử nhân (có thể là cử nhân luật hoặc cử nhân một chuyên ngành khác). Người không có bằng cử nhân tham dự kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ chiếm một số lượng rất ít (vài người trong một năm).

Dẫu sao, việc quy định điều kiện dự thi tư pháp quốc gia như hiện tại đã làm cho việc học đại học luật ở Nhật bản, xét về lý thuyết gần như chẳng cần thiết và không có ý nghĩa. Thực tế, ở Nhật bản đã có rất nhiều những cơ sở luyện thi cho kỳ thi tư pháp. dĩ nhiên, ở đây, người ta chỉ chú trọng ôn luyện kỹ thuật thi cử, chứ không dạy luật.

Hiện tại, người Nhật cũng nhận thấy sự bất hợp lý và thiếu khoa học trong cơ chế thi tuyển tư pháp. Mặt khác, để chương trình đào tạo Đại học luật và đào tạo các chứ danh tư pháp gắn kết với nhau, bắt đầu từ 2006, nước Nhật bắt đầu áp dụng điều kiện dự thi bắt buộc người dự thi phải có bằng cao học luật. Để có bằng cao học luật (thời gian học 2 năm), cần phải có bằng đại học luật hoặc một bằng đại học khác. Thực hiện kế hoạch cải cách này, bắt đầu từ tháng 4 năm 2004, nước Nhật sẽ có những Law School (trường luật) đầu tiên đào tạo cao học luật. Hai năm sau, năm 2006, nước Nhật sẽ có những Master luật đầu tiên dự kỳ thi tư pháp quốc gia. Bên cạnh đó, chế độ dự thi cũ vẫn tiếp tục được duy trì trong khoảng 5 năm, cho đến khi điều kiện dự thi mới có thể được áp dụng triệt để.

1.4. Kỳ thi tư pháp quốc gia có nhiều vòng thi, diễn ra gần như hết năm, do vậy để có khoá học viên tư pháp, kỳ thi tư pháp phải được tổ chức từ năm trước.

Vòng thi sơ khảo kiểm tra kiến thức pháp luật cơ bản là vòng thi đầu tiên dành cho những người không có bằng cử nhân. Hàng năm, kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ có một vài thí sinh là phải dự tuyển vòng sơ khảo.

1.4.1. Thi trắc nghiệm: có ba môn thi là Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự. Mỗi bài thi phải làm trong khoảng 3h đồng hồ. Kỳ thi thường được tổ chức vào ngày chủ nhật và thứ hai của tháng 5 trong năm.

Tỷ lệ thí sinh trượt vòng thi trắc nghiệm là rất lớn:

năm 2002 có 41.500 thí sinh đỗ 6.500 thí sinh

năm 2003 có 45.342 thí sinh đỗ 6.986 thí sinh

1.4.2. Thi viết bài luận: vòng này có năm môn thi gồm Hiến pháp, Luật dân sự, Luật hình sự, Luật thương mại, Luật tố tụng dân sự, Luật tố tụng hình sự. Mỗi môn phải viết hai bài.

Kỳ thi viết được tổ chức vào trung tuần tháng 7 hàng năm, thường trong các ngày từ ngày 17 đến ngày 20.

Tỷ lệ thí sinh qua vòng thi này như sau:

năm 2002 có 6.500 thí sinh đỗ 1.244 thí sinh

năm 2003 có 6.986 thí sinh đỗ 1.201 thí sinh

1.4.3. Thi vấn đáp là kỳ thi cuối cùng. Các môn thi vấn đáp cũng gồm 5 môn thi giống như kỳ thi viết. Mỗi môn có hai giám khảo.

Do các vòng thi đầu rất khó khăn, nên những thí sinh vào đến vòng thi vấn đáp đều là những thí sinh rất xuất sắc. Tỷ lệ người trượt ở vòng thi này rất ít:

năm 2002 có 1.244 thí sinh đỗ 1.183 thí sinh

năm 2003 có 1.201 thí sinh đỗ 1.170 thí sinh

Người thi trượt ở vòng thi vấn đáp có quyền chỉ phải thi lại vòng thi này (vấn đáp) vào kỳ thi tư pháp của năm tiếp theo, dĩ nhiên là người này vẫn có nguyện vọng tiếp tục dự thi tư pháp.

Người thi trượt ở các vòng thi khác thì phải tham dự lại toàn bộ các vòng thi từ đầu. Không có hạn chế nào cho số lần dự thi kỳ thi tư pháp quốc gia. Việc một người phải qua 8 đến 10 kỳ thi tư pháp quốc gia mới trúng tuyển không phải là chuyện hiếm ở Nhật Bản.

Trong chương trình đổi mới đào tạo tư pháp tại Nhật bản, áp dụng từ 2006, kỳ thi tư pháp quốc gia chỉ có một vòng thi, gồm thi trắc nghiệm và thi vấn đáp được tổ chức một lần.

Thường thì người trúng tuyển sẽ tham dự ngay khoá đào tạo của học viện tư pháp. Nhưng cũng có người nhiều năm sau mới tham dự khoá học. Có người sau khi nghỉ hưu mới bắt đầu tham dự khoá học. Nghĩa là kết quả của kỳ thi tư pháp quốc gia có giá trị bảo lưu suốt đời.

1.5. Học viện tư pháp thuộc Toà án tối cao Nhật Bản thực hiện thời gian đào tạo cho một khóa là 18 tháng, phân bổ như sau:

3 tháng thực tập xét xử hình sự

3 tháng thực tập kiểm sát

3 tháng thực tập xét xử dân sự

Đặc điểm chung của chương trình đào tạo là đây là một chương trình đào tạo chung. Trong suốt quá trình học, học viên sẽ chưa biết mình sau khi tốt nghiệp, sẽ là thẩm phán, luật sư hay kiểm sát viên. Tất cả các kỹ năng của cả ba chức danh này đều được học như sau. Quy định này xuất phát từ quan niệm cho rằng, để nền tư pháp phát triển, trình độ và năng lực của ba chức danh tư pháp là thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư phải đồngđều, phải được đào tạo trong một điều kiện như nhau.

Một điểm nữa là học viên học viên tư pháp được nhận lương từ Nhà nước. Nước Nhật quan niệm đây là những người sẽ góp phần bảo vệ nền công lý, bảo vệ sự ổn định của xã hội, sự phát triển của đất nước, vì vậy những học viên của Học viên tư pháp được coi là những công chức dự bị và họ được hưởng mức lương của công chức dự bị.

Tất nhiên, một bộ phận người Nhật không hài lòng với chế độ lương bổng của học viên Học viện tư pháp. Những người này cho rằng, đối với những người sẽ trở thành thẩm phán và kiểm sát viên thì có thể được hưởng lương trong thời gian đào tạo, nhưng những người sẽ là luật sư sẽ hành nghề tự do, họ kiếm tiền cho bản thân họ thì xã hội không thể trả tiền cho việc đào tạo họ. Nhưng đại bộ phận người dân Nhật thì vẫn cho rằng mặc dù luật sư là một nghề tự do, nhưng đó là một nghề đặc biệt, vì mục tiêu của nghề này không phải là lợi nhuận mà là các lợi ích công, đảm bảo cho nền công lý được thực thi. Vì vậy, cho đến thời điểm hiện tại, nước Nhật vẫn trả lương cho tất cả các học viên tư pháp và người ta sử dụng khái niệm “công chức dự bị” để chỉ các học viên tư pháp.

Chỉ đến khi tốt nghiệp, căn cứ vào kết quả học tập, học viên của Học viện tư pháp mới xác định được nghề nghiệp của mình. Khoảng trên dưới 100 học viên của mỗi khóa đào tạo có thành tích học tập cao nhất sẽ được lựa chọn về Toà án và sẽ trở thành thẩm phán thông qua thủ tục bổ nhiệm. Một số lượng cũng tương tự sẽ trở thành kiểm sát viên. Các số lượng này tương đối ổn định, ít có biến động lớn qua các năm, căn cứ vào số thẩm phán, kiểm sát viên nghỉ hưu hàng năm.

Để lựa chọn được số lượng người trở thành thẩm phán, kiểm sát viên, ngoài việc căn cứ vào thành tích học tập, còn phải căn cứ vào chính nguyện vọng của người được lựa chọn và họ phải qua một kỳ phỏng vấn trước khi chính thức có quyết định tiếp nhận.

Số còn lại sẽ hành nghề luật sư. Với số lượng người học, hàng năm Học viện Tư pháp Nhật Bản cung cấp hàng nghìn luật sư cho xã hội. Đến thời điểm hiện tại, nhu cầu của nước Nhật về luật sư vẫn chưa có dấu hiệu bão hòa. Hàng năm, nước Nhật vẫn cần hơn một nghìn người cho cả ba chức danh Thẩm phán, Kiểm sát viên và luật sư.

Dù đối tượng đầu vào, thời gian đào tạo có những thay đổi nhất định nhưng một điều không hề thay đổi, tính từ gần một trăm năm nay, ba chức danh Thẩm phán, kiểm sát viên, luật sư được đào tạo chung trong một hệ thống đào tạo.

Qua nghiên cứu đào tạo luật sư ở một số nước trên thế giới, chúng ta có thể rút ra những kinh nghiệm và kết luận sau:

– Mô hình đào tạo luật ở Mỹ và Đức cho thấy: Cần chú trọng đào tạo luật sư ngay ở trường đại học, đặc biệt về phương pháp đào tạo để ngay từ trên ghế nhà trường, sinh viên luật đã được rèn luyện tư duy của luật sư. Đây là một trong những luận cứ để đề xuất việc đào tạo cử nhân luật làm tiền đề để đào tạo luật sư ở Học viện Tư pháp, Bộ Tư pháp. Học viện Tư pháp – “Trung tâm lớn đào tạo cán bộ tư pháp”[15] sẽ xây dựng nguyên lý và công nghệ đào tạo cử nhân của riêng mình[16] làm tiền đề để đào tạo luật sư ở bước tiếp theo, đáp ứng nhu cầu của cải cách tư pháp và quá trình hội nhập quốc tế ở Việt Nam.

– Tiền lệ đào tạo luật sư tranh tụng qua các bữa ăn trưa ở Inn of Court của Anh có thể là gợi ý để đa dạng hoá hoạt động đào tạo, tổ chức các cuộc gặp thân mật giữa các thẩm phán, luật sư có uy tín để truyền đạt kinh nghiệm cho các sinh viên, học viên và luật sư tập sự trong đào tạo luật sư ở Việt Nam. Tại Học viện Tư pháp sau mỗi giờ học tình huống, để kết thúc một bài học và chuyển sang bài khác nhà trường đều tổ chức các buổi đàm thoại giữa các học viên với các luật sư có nhiều kinh nghiệm để học viên có điều kiện tìm hiểu ở các luật sư về các vấn đề xung quanh bài học. Các buổi đàm thoại được diễn ra trong không khí cởi mở và học viên có cơ hội để giải đáp tất cả các vấn đề còn băn khoăn trong bài học.

– Trong thời gian thực tập, việc sinh viên luật ở Đức và luật sư tập sự ở Pháp được làm quen với các vụ việc thuộc nhiều lĩnh vực, từ dân sự, hình sự đến hành chính ở nhiều môi trường khác nhau như: tòa án cấp quận hoặc tòa án cấp cao, cơ quan công tố, hội đồng địa phương bốn tháng và tập sự cùng với một luật sư thực thụ cũng là một gợi ý cho việc đào tạo luật sư ở Việt Nam. Ở một góc độ nào đó, việc luật sư được thực tập ở nhiều lĩnh vực khác nhau và nhiều môi trường khác nhau sẽ giúp luật sư tương lai có kiến thức và kỹ năng tổng hợp, đồng thời xây dựng được những mối quan hệ cần thiết cho hoạt động nghề nghiệp.

– Xu hướng của nhiều luật sư Đức hoạt động chuyên sâu trong một lĩnh vực pháp luật trong điều kiện số luật sư ngày càng nhiều, sự cạnh tranh trong nghề luật sư ngày càng gay gắt là gợi ý cho việc đào tạo các luật sư chuyên ngành ở Việt Nam, đặc biệt trong xu thế hội nhập. Hiện nay Học viện tư pháp chưa có chương trình đào tạo luật sư chuyên sâu nhưng thay vào đó Khoa đào tạo luật sư đã mở các lớp bồi dưỡng kiến thức cho luật sư hội nhập với các chuyên đề về nội dung cơ bản của WTO trong thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ, thương mại đầu tư, về các nội dung cơ bản của các hiệp định thương mại khu vực, về kinh nghiệm giải quyết các tranh chấp thương mại quốc tế. Việc đào tạo dưới hình thức các lớp bồi dưỡng kiến thức chuyên sâu cần được tăng cường hơn nữa cùng với việc nâng cao chất lượng đào tạo, mở rộng lĩnh vực đào tạo và thời gian đào tạo.

– Kinh nghiệm đào tạo luật ở Đức cho thấy: Việc đánh giá kết quả học tập qua các kỳ thi với trách nhiệm giám sát, quản lý, đánh giá kỳ thi, thậm chí cả việc ra câu hỏi thi của Bộ Tư pháp là đặc biệt quan trọng. Trong điều kiện thực tế Việt nam hiện nay, các học viên dự thi vào khoá đào tạo luật sư được đào tạo chương trình cử nhân luật ở các cơ sở đào tạo khác nhau và theo nhiều hệ đào tạo khác nhau như hệ đào tạo chuyên tu, hệ đào tạo văn bằng hai, hệ đào tạo tại chức…vv dẫn đến chất lượng của các học viên không đồng đều. Việc tổ chức kỳ thi đầu vào dưới sự giám sát của Bộ Tư pháp nhằm mục đích lựa chọn các học viên có mặt bằng trình độ nhất định để tiếp tục đào tạo nghề luật sư là đúng đắn và cần thiết, phù hợp tinh thần chỉ đạo không chỉ chú trọng về số lượng đào tạo mà còn chú trọng về chất lượng đào tạo.

– Kinh nghiệm đào tạo luật sư trong các chương trình giáo dục thường xuyên ở Mỹ cho thấy: Cần chú trọng đào tạo luật sư ngay cả sau khi đã cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và gia nhập Đoàn luật sư. Ở Việt Nam, việc bồi dưỡng kiến thức sau khi được cấp chứng chỉ đào tạo kỹ năng hành nghề Luật sư có thể được thực hiện tại các Đoàn luật sư kết hợp với việc chỉ đạo của Bộ Tư pháp và việc đảm bảo chương trình giảng dạy của Học viện Tư pháp. Sau khi đã được tiếp thu các kiến thức cần thiết để hành nghề luật sư tại Học viên tư pháp (chương trình đào tạo của Học viện Tư pháp được Bộ tư pháp phê chuẩn), các Đoàn luật sư tại các tỉnh có thể tuỳ theo đặc điểm cụ thể của tỉnh, thành phố mình tiếp tục đào tạo thường xuyên bồi dưỡng kiến thức cho các luật sư của mình.

– Quản lý luật sư hiện nay trên thế giới có 3 mô hình: Mô hình thứ nhất là Nhà nước quản lý (ví dụ như ở các nước Ả rập Xê út), mô hình thứ hai là Nhà nước và tổ chức xã hội cùng quản lý (ví dụ như Trung quốc, Singapore), mô hình thứ ba là tổ chức xã hội quản lý (ví dụ Úc, Anh, Mỹ, Nhật). Việc giao cho các tổ chức xã hội quản lý luật sư hay Nhà nước nắm giữ quản lý dựa trên cơ sở của các điều kiện về kinh tế xã hội, văn hoá, dựa trên sự phát triển của luật sư tại các nước này. Việc quản lý luật sư được giao cho Hiệp Hội Luật sư hay Đoàn Luật sư là các tổ chức Xã hội được thực hiện hầu hết ở các nước có nền kinh tế xã hội phát triển, đồng thời nghề luật sư cũng phát triển như Anh, Úc, Mỹ, Nhật[17]. Trong điều kiện hiện nay của Việt Nam việc quản lý luật sư do Nhà nước và tổ chức Xã hội cùng phối hợp là hết sức hợp lý. Việc đào tạo Luật sư phải được thực hiện trong một môi trường đào tạo đặt dưới sự quản lý chặt chẽ của Nhà nước đúng như Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2006 của Bộ Chính trị Ban Chấp hành Trung ương Đảng Cộng sản Việt nam về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020 đã khẳng định trong điều kiện kinh tế, xã hội hiện nay của Việt nam, dưới sự quản lý trực tiếp của Bộ Tư pháp.

[2] Nguyễn Văn Tuân, Luật sư và hành nghề luật sư, Hà Nội, 2002, tr.31-34.

[3] Trong số học viên học nghề luật sư tư vấn chỉ có 75% có bằng cử nhân luật, 15 % có bằng cử nhân và 10% thậm chí chưa có bằng cử nhân. Trước đây khoảng 13% luật sư tranh tụng chưa có bằng cử nhân nhưng hiện nay các Inns of Court chỉ nhận học viên (bar – student) với bằng cử nhân, không nhất thiết phải là cử nhân luật (К. Цвайгерг, Х. Кетч, Введение в сравнительное правоведение в сфере частного права, Том 1, Москва, 2000, c. 325 (Zweigert Kotz, Nhập môn Luật so sánh trong lĩnh vực luật tư, Tập 1, Moscow 2000, tr. 325)

[4] Trong vụ John v. Uỷ ban than quốc gia (năm 1955), Toà phúc thẩm đã yêu cầu xét xử lại với lý do thẩm phán xử sơ thẩm đã hỏi quá nhiều khiến các bên không thể xuất trình chứng cớ một cách tốt nhất.

[5] Vào thế kỷ 19, các Inn of Court thành lập Bar (Đoàn luật sư). Hiện tại ở Anh có 4 Inn of Court là Lincol’s Inn, Inter Temple, Middle Temple và Gray’s Inn.

[6] Романов А. К., Правая система Англии, Москва, 2002, стр. 284 – 292 (Romanov A.K., Hệ thống pháp luật Anh, Moscow, 2002, tr. 284-292)

[7] Robert W. Gordon, Giáo dục pháp luật ở Hoa Kỳ, Nguồn gốc và quá trình phát triển

http:// chúng tôi

[8] Lê Thu Hà, Chế độ đào tạo luật gia tại Hoa Kỳ, Nghiên cứu Lập pháp, Số 2, 2005, tr.72-76

[9] John A. Serbert, Hội Luật gia và giáo dục pháp luật ở Mỹ

http:// chúng tôi chúng tôi

[10] Macarena Tamayo Calabrese, Giáo dục pháp luật thường xuyên ở Mỹ

http:// chúng tôi

[11] А. Жалинский, А. Рерихт, Введение в немецкое право, Москва, 2001, c. 80-112 ( A. Zalinskyi, A. Rohricht, Nhập môn luật Đức, Moscow, 2001, tr. 80-112)

[12] Nguyễn Văn Tuân, Luật sư và hành nghề luật sư, Hà Nội, 2002, tr. 39-41

[13] Nguyễn Văn Nam, Đào tạo luật và nghề luật ở Đức, Nghiên cứu Lập pháp, Số 8, 2005, tr.57-60

[14] Mục 1 sử dụng tư liệu của các giảng viên Nhật Bản, thuộc chương trình COOPERATION IN THE LEGAL AND JUDICIAL FIELD VIETNAM: PHASE III, PART I “Strengthening Vietnamese Judicial Training Institutions”, tổ chức từ 2/2/2004 đến 5/3/2004 tại Nhật bản)

[15] Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2006 của Bộ Chính trị BCH TW ĐCS VN về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020”.

[16]Phan Hữu Thư, Đào tạo các chức danh tư pháp phục vụ cải cách tư pháp trong những năm qua, Tạp chí Nghề Luật, Số 1, 2006, tr. 6-15

[17]. Tuy nền văn hóa Nhật bản chịu sự ảnh hưởng của tư tưởng đạo Khổng, nhưng Nhật bản cũng được cho là một nước có đội ngũ luật sư có trình độ chuyên môn và khả năng hành nghề rất cao. Việc đào tạo luật sư được trường đào tạo các chức danh tư pháp của Nhật đảm nhận. Kỳ thi vào trường này là một rào cản lớn đối với những ai muốn làm nghề luật sư. Mỗi năm trường chỉ lấy 1000 học viên cho cả ba chức danh tư pháp trên cả nước Nhật. Thông thường các thí sinh phải thi đến lần thứ 5 hoặc 6 mới đỗ. Thời gian đào tạo là 12 tháng cho cả chức danh Thẩm phán và Luật sư, chương trình đào tạo và toàn bộ các giáo trình do Viện nghiên cứu Pháp vụ trực thuộc Bộ tư pháp Nhật kiểm duyệt một cách chặt chẽ.

( MKLAW FIRM: Bài viết được đăng tải nhằm mục đích giáo dục, phổ biến, tuyên truyền pháp luật và chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước không nhằm mục đích thương mại. Thông tin nêu trên chỉ có giá trị tham khảo và có thể một số thông tin pháp lý đã hết hiệu lực tại thời điểm hiện tại vì vậy Quý khách khi đọc thông tin này cần tham khảo ý kiến luật sư, chuyên gia tư vấn trước khi áp dụng vào thực tế.)

Chương Trình Đào Tạo Nghề Luật Sư

CHƯƠNG TRÌNH ĐÀO TẠO NGHỀ LUẬT SƯ

Thời gian đào tạo: 6 tháng

(Theo Chương trình khung đào tạo nghề luật sư được Ban hành kèm theo Quyết định số 90/2008/QĐ-BTP ngày 21/1/2008 của Bộ trưởng Bộ Tư pháp)

Ghi chú:

NỘI DUNG CHƯƠNG TRÌNH

I KIẾN THỨC CHUNG VỀ NGHỀ LUẬT SƯ 12 tiết

1 Tổng quan về nghề luật sư 6

2 Pháp luật về luật sư và hành nghề luật sư 6

3 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

II QUY TẮC ĐẠO ĐỨC VÀ ỨNG XỬ NGHỀ NGHIỆP LUẬT SƯ 24 tiết

1 Giới thiệu về Bộ quy tắc đào tạo nghề nghiệp và các nguyên tắc chung về đạo đức và ứng xử của luật sư 6

2 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác 12

2.1 Quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

2.2 Học viên tự nghiên cứu các quy tắc đạo đức và ứng xử của luật sư trong quan hệ với khách hàng, đồng nghiệp và các cơ quan, tổ chức khác; 6

3 Kiểm tra hết học phần 6

III PHẦN KỸ NĂNG CHUNG 78 tiết

1 Kỹ năng đọc, nghe, hỏi 12

1.1 Lý thuyết về nghe, đọc, hỏi 6

1.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng nghe, đọc, hỏi 6

2 Kỹ năng nói 12

2.1 Lý thuyết 6

2.2 Thực hành 6

3 Kỹ năng lập luận và tranh luận 12

3.1 Kỹ năng lập luận, tranh luận 6

3.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng lập luận và tranh luận 6

4 Kỹ năng viết 12

4.1 Lý thuyết 6

4.2 Thực hành 6

5 Tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 12

5.1 Thành lập và quản lý văn phòng, công ty luật 6

5.2 Học viên tự nghiên cứu về tổ chức và quản lý văn phòng, công ty luật 6

6 Hướng dẫn diễn án 6

7 Thi vấn đáp (chuyên đề do học viên tự chọn và thuyết trình) 12

IV KỸ NĂNG HÀNH NGHỀ 564 tiết

IV.1 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án hình sự 162 tiết

1 Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

2 Phương pháp định tội danh 6

3 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố vụ án hình sự

(HS 03 –Vụ án Trần Đình Dũng cố ý gây thương tích)

12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống:

– Kỹ năng trao đổi với khách hàng khi nhận bào chữa, bảo vệ;

– Kỹ năng tham gia các hoạt động điều tra

3

3

4 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề thu thập chứng cứ của luật sư trong giai đoạn khởi tố, điều tra, truy tố 6

5 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống 1: Nghiên cứu cáo trạng, kết luận điều tra, tài liệu về thủ tục tố tụng 3

5.3 Tình huống 2: Nghiên cứu các tài liệu khác 3

6 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề tổng hợp các tài liệu có ý nghĩa trong việc bảo vệ cho thân chủ 6

7 Kỹ năng tiếp xúc với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

Kỹ năng trao đổi với cơ quan tiến hành tố tụng

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

6

7.1 Lý thuyết kỹ năng 3

7.2 Tình huống:

– Kỹ năng tiếp xúc, trao đổi với người bị tạm giữ, bị can, bị cáo, người bị hại

– Kỹ năng trao đổi, đề xuất với cơ quan tiến hành tố tụng

– Kỹ năng soạn thảo văn bản kiến nghị

3

8 Học viên tự nghiên cứu: Vấn đề soạn thảo văn bản kiến nghị của luật sư để bảo vệ cho thân chủ 6

9 Kỹ năng chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ

(HS 02 –Vụ án Trần Trung Hiếu – Nguyễn Văn Giàu trộm cắp tài sản)

12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống: Thực hành việc chuẩn bị bài bào chữa, bảo vệ 6

10 Học viên tự nghiên cứu: Thực hành chuẩn bị bản bào chữa, bảo vệ

(Hồ sơ số 05: Đoàn Văn Tư “giết người”)

6

11 Đối thoại kiểm tra bài 3,4,5,6 6

12 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm

(HS 01 –Vụ án Nguyễn Thị Thịnh mua bán trái phép ma túy)

24

12.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

12.2 Tình huống 1: Thực hành công việc chuẩn bị trước khi ra phiên tòa và thực hành kỹ năng tham gia thủ tục bắt đầu phiên tòa sơ thẩm 3

12.3 Tình huống 2:

– Kỹ năng tham gia phần xét hỏi tại phiên tòa sơ thẩm

– Kỹ năng tham gia phần tranh luận tại phiên tòa sơ thẩm

3

12.4 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.5 Tình huống3: Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 3

12.6 Đối thoại kiểm tra 6

13 Học viên tự nghiên cứu: Phương pháp đặt câu hỏi trong trường hợp bào chữa cho bị cáo và bảo vệ cho người bị hại 6

14 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về người chưa thành niên

(Lý thuyết + Tình huống)

6

15 Kỹ năng của luật sư trong vụ án về các tội xâm phạm tính mạng, sức khỏe, danh dự, nhân phẩm

Kỹ năng của luật sư trong các vụ án tham nhũng

(Lý thuyết + Tình huống)

6

16 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án hình sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

17 Kiến tập tại phiên tòa hình sự 6

18 Thực hành diễn án 18

18.1 Diễn án lần 1 (HS 06 – Vụ án Nguyễn Thanh Hoàng giết người) 6

18.2 Diễn án lần 2 (HS 07 – Vụ án Trần Việt Hùng cưỡng đoạt tài sản) 6

18.3 Diễn án lần 3 (HS 08 – Vụ án Hải, Minh buôn bán hàng giả) 6

19 Kiểm tra hết học phần 6

20 Viết thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.2 Kỹ năng tham gia giải quyết các vụ án dân sự 150 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án dân sự 24

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống 1: Hồ sơ vụ án dân sự  (Hồ sơ 006-MNam; HS 009 MBắc)

Học viên tự nghiên cứu

6

1.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

1.4 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 03) 6

2 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ 12

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống 1: Nghiên cứu hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 004) 3

2.3 Tình huống 2: Nghiên cứu hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 010)

Học viên tự nghiên cứu

6

3

Kỹ năng thu thập, nghiên cứu, đánh giá và sử dụng chứng cứ 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 005) 3

4 Kỹ năng hòa giải vụ án dân sự 6

4.1 Lý thuyết kỹ năng 3

4.2 Tình huống: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 003) 3

5 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của đương sự tại phiên tòa 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 3

5.2 Tình huống1: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 008) 3

5.3 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 01)

Học viên tự nghiên cứu

6

6 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm và tham gia trong giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 36

6.1 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư tại phiên tòa sơ thẩm 6

6.2 Tình huống 2: Hồ sơ vụ án dân sự (Hồ sơ 006) 6

6.3 Tình huống 3: Hồ sơ vụ án kinh doanh thương mại (Hồ sơ 011) 6

6.4 Tình huống 4: Hồ sơ vụ án lao động (Hồ sơ 02) 6

6.5 Lý thuyết: Kỹ năng của luật sư khi tham gia giai đoạn phúc thẩm, giám đốc thẩm, tái thẩm 6

6.6 Tình huống 5: Hồ sơ vụ án hôn nhân gia đình (Hồ sơ 007)

Học viên tự nghiên cứu

6

7 Kỹ năng tham gia giải quyết việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống) (Hồ sơ 001 hoặc 002)

6

8 Kỹ năng của luật sư trong giai đoạn thi hành án dân sự 6

9 Đối thoại kiểm tra bài 1, 2, 3, 4,5,6,7,8 6

10 Kiến tập tại phiên tòa dân sự 6

11 Thực hành diễn án 24

11.1 Diễn án lần 1 (Vụ án hôn nhân gia đình) (Hồ sơ 003)

Học viên tự nghiên cứu

6

11.2 Diễn án lần 2 (Vụ án dân sự) (Hồ sơ 008) 6

11.3 Diễn án lần 3 (Vụ án kinh doanh thương mại) (Hồ sơ 011) 6

11.4 Diễn án lần 4 (Vụ án lao động) (Hồ sơ 01) 6

12 Kiểm tra hết học phần 6

13 Viết bài thu hoạch theo chuyên đề tự chọn

IV.3 Kỹ năng tham gia các vụ việc hành chính 66 tiết

1 Kỹ năng trao đổi, tiếp xúc với khách hàng, đánh giá điều kiện khởi kiện và chuẩn bị hồ sơ khởi kiện vụ án hành chính 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng 6

1.2 Tình huống (Hồ sơ 06)

Học viên tự nghiên cứu hồ sơ

6

2 Kỹ năng của luật sư trong việc nghiên cứu hồ sơ vụ án hành chính 6

2.1 Lý thuyết kỹ năng 3

2.2 Tình huống (Hồ sơ 07) 3

3 Kỹ năng của luật sư trong việc thu thập, nghiên cứu và sử dụng chứng cứ trong vụ án hành chính 6

3.1 Lý thuyết kỹ năng 3

3.2 Tình huống(Hồ sơ 06) 3

4 Kỹ năng chuẩn bị luận cứ bảo vệ và kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm, tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm 18

4.1 Kỹ năng chuẩn bị bản luận cứ bảo vệ (Tình huống + lý thuyết) (Hồ sơ 09) 6

4.2 Kỹ năng tham gia phiên tòa sơ thẩm (Tình huống + lý thuyết + đối thoại kiểm tra) (Hồ sơ 09) 6

4.3 Kỹ năng tham gia giai đoạn phúc thẩm, tái thẩm, giám đốc thẩm

Học viên tự nghiên cứu

6

5 Kiến tập tại phiên tòa hành chính 6

6 Thực hành diễn án 12

6.1 Diễn án lần 1 (Hồ sơ 07) 6

6.2 Diễn án lần 2 (Hồ sơ 08) 6

7 Kiểm tra hết học phần 6

8 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

IV.4 Kỹ năng tư vấn pháp luật, đại diện ngoài tố tụng 186 tiết

1 Kỹ năng chung về tư vấn pháp luật, tiếp xúc khách hàng 12

1.1 Lý thuyết kỹ năng tư vấn pháp luật và  tiếp xúc khách hàng 6

1.2 Tình huống 6

2 Học viên tự nghiên cứu kỹ năng tiếp xúc khách hàng, nhận định, đánh giá bước đầu về yêu cầu của khách hàng, thỏa thuận hợp đồng dịch vụ pháp lý 6

3 Kỹ năng nghiên cứu hồ sơ, phân tích vụ việc, xác định vấn đề tư vấn 12

3.1 Lý thuyết kỹ năng 6

3.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

4 Kỹ năng viết thư tư vấn, ý kiến pháp lý 6

5 Kỹ năng tư vấn các vụ việc dân sự 12

5.1 Lý thuyết kỹ năng 6

5.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

6 Kỹ năng tư vấn các vụ việc hành chính, lao động 24

6.1 Tư vấn sử dụng lao động trong doanh nghiệp 6

6.2 Tư vấn khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc (Hồ sơ 01) 6

6.3 Tư vấn khiếu kiện xử lý vi phạm hành chính (Hồ sơ 03) 6

6.4 Tư vấn khiếu kiện về nhà, đất (Hồ sơ 02) 6

7 Kỹ năng tư vấn doanh nghiệp 24

7.1 Tư vấn thành lập, tổ chức lại và giải thể, phá sản doanh nghiệp 6

7.2 Tư vấn về quản lý nội bộ doanh nghiệp 6

7.3 Tư vấn về vốn, tài chính doanh nghiệp 6

7.4 Tư vấn về quyền sở hữu công nghiệp của doanh nghiệp 6

8 Kỹ năng tư vấn thuế, kế toán, kiểm toán 12

8.1 Lý thuyết kỹ năng 6

8.2 Tình huống: Học viên tự nghiên cứu 6

9 Kỹ năng tư vấn dự án đầu tư 12

9.1 Lý thuyết kỹ năng 6

9.2 Tình huống 6

10 Kỹ năng đàm phán, ký kết hợp đồng

(Lý thuyết +Tình huống)

6

11 Kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 18

11.1 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hơp đồng mua bán 6

11.2 Kỹ năng tư vấn, soạn thảo hợp đồng hợp tác kinh doanh 6

11.3 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng tư vấn và soạn thảo một số hợp đồng đặc thù 6

12 Kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 18

12.1 Lý thuyết kỹ năng + tình huống 6

12.2 Học viên tự nghiên cứu về kỹ năng thương lượng, hòa giải và giải quyết tranh chấp 6

12.3 Đối thoại- Kiểm tra 6

13 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự, hành chính 12

13.1 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc dân sự

(Lý thuyết + Tình huống)

6

13.2 Kỹ năng đại diện ngoài tố tụng trong các vụ việc hành chính

(Lý thuyết + Tình huống)

6

14 Kiến tập tại tổ chức hành nghề luật sư 6

15 Kiểm tra hết học phần 6

16 Viết tiểu luận theo chuyên đề tự chọn

Ghi chú:

–          24 tiết dự phòng phải bố trí cho học viên 2 lần xem băng Tòa tuyên án có viết nhận xét theo yêu cầu của Tổ bộ môn để chấm điếm, cộng vào để tính điểm nhận thức; 1 buổi học chính trị; 1 buổi để luật sư đã tham gia các vụ án lớn trao đổi kinh nghiệm;

–          Đối với các lớp luật sư không có điều kiện tổ chức thi vấn đáp phần kỹ năng chung thì thay bằng hình thức thi viết;

–          Nghiên cứu và viết tiểu luận – Mỗi bộ môn có 5 đến 10 đề tài để học viên chọn thực hiện và đăng ký giáo viên hướng dẫn. Tên đề tài có thể thay đổi cho từng năm hoặc từng khóa học;

–          Thời gian trên đã bao gồm cả kiểm tra thường xuyên, kiểm tra nhận thức và các hình thức kiểm tra khác;

–          Chương trình này bắt đầu được áp dụng cho khóa đào tạo luật sư 7 đợt 2 trở đi.

Theo tài liệu tổ tư vấn luật

Đào Tạo Luật Sư Có Trình Độ Quốc Tế

Liên đoàn Luật sư có kế hoạch đào tạo một số luật sư có trình độ quốc tế. Về việc này tôi xin góp vài ý kiến cho công việc chung. Ắt sẽ có vị sẽ hỏi rằng “Anh có phải là luật sư có trình độ quốctế không mà ý kiến, ý cò”. Tôi xin thưa là không, nhưng tôi có thiện chí, và biết người ta làm như thế nào.

Trước hết, luật sư có trình độ quốc tế nên được hiểu cho đúng. Trình độ quốc tế thì ở một nước nào đó, chứ không phải trên nhiều nước;và cũng chỉ ở trong một số lãnh vực luật nhất định thôi, chứ không phải nhiều ngành. Thứ nữa không nên nghĩ rằng có trình độ đó là có thể đi cãi ở tòa án tại các nước khác. Tôi chắc rằng trong đoàn ngũ chúng ta, không ai nghĩ như thế vì chúng ta biết luật sư của một đoàn luật sư khu vực nào thì được biện hộ tại tòa án trong khu vực đó; sang thẩm quyền khác thì phải xin phép. Ngoài khó khăn ấy ra, tôi nghĩ khó có thân chủ nào ở Việt Nam nhờ một luật sư ở chúng tôi hay Hà Nội đi biện hộ cho mình ở ICC bên Pháp. Thuê luật sư ở bên đó rẻ hơn. Thuê luật sư ở Việt Nam phải trả tiền máy bay, khách sạn, còn thù lao thì không thấp hơn mức họ kiếm được ở nhà. Chưa hết, luật sư mình có rành rẽ thủ tục tố tụng của người ta không? Bản thân tôi, được nhắc têntrong vài quyển niên giám chuyên ngành (directory) như Chambers, Legal Practice… và là “leading lawyer in corporate governance” năm 2008 và 2009 ở Việt Nam của Asia Law& Practice, hay “senior stateman” của văn phòng mình, năm 2008 trong Chambers. Tuy vậy, tôi chẳng cảm thấy mình có trình độ quốc tế!. Tôi thấy có luật sư nói đã từng cãi ở Tòa án Singapore. Nói phét đấy. Luật sư Singapore nhờ mình sang làm “expert witness” thôi. Tôi đã làm việc này vào năm 1991 và biết rõ. Nghe họ nói với tòa “Sir, my learned collegue” thì đã không biết dịch là gì rồi! Không nên gây hiểu nhầm tai hại.

Trình bày điều trên tôi không định khoe mình (vì tôi biết nhiều người không thích) mà là chỉ nói thật và để độc giả đánh giá các nhận xét sẽ được nêu. Tôi xin trình bày hai điểm: Một là yêu cầu về bản thân của luật sư có trình độ quốc tế và các điều kiện bên ngoài để luật sư ấy duy trì được trình độ; sau khi đã giới hạn “trình độ quốc tế” như trên.

Yêu cầu về bản thân của luật sư

Luật sư có trình độ quốc tế phải là người hiểu (không phải là biết) các luật căn bản của ta như tố tụng, dân sự, hình sự, hành chánh, nắm rõ các nguyên tắc căn bản của chúng, và chuyên sâu về một số ngành luật mình định chọn cho nghề nghiệp.

Muốn thế, khi tốt nghiệp cử nhân người ấy phải giỏi tiếng Anh hay tiếng Pháp để học cao học ở một đại học luật nước ngoài hầu tiếp cận và “bơi” trong tập tục và nội dung của luật pháp quốc tế. Một trong những khó khăn của sinh viên học cao học là không được học luật căn bản (tố tụng,dân sự, hợp đồng…) của nước đó vì họ không dạy chúng ở cao học. Hơn nữa lúc sửa soạn du học đa số người nghĩ rằng nên học môn nào mà Việt Nam không có; chứ còn cái đã biết rồi thì học làm gì. Do vậy, ít người chọn các môn cơ bản. Nếu muốn chọn còn tùy trường họ có cho hay không. Tôi không biết trường luật ởcác nước khác, nhưng ở Harvard, học cao học thì bạn có thể học luật tố tụng, luật về bằng chứng của sinh viên cử nhân; chỉ với điều khi thì phải đạt B- trở lên không thì rớt; trong khi cử nhân thì C cũng đỗ. Sang Mỹ mà học luật tố tụng của họ thì phíquá, dùng nó làm gì ở Việt Nam?

Thế nhưng khi hành nghề ở Việt Nam thì lại cần phải biết chúng, ít nhiều, để còn nói chuyện với khách nước ngoài, giải thích cho họ sự khác biệt. Thí dụ thủ tục nhận tội (plead guilty), tại ngoại, nếu họ hỏi mình; hoặc biết chúng để giao dịch với luật sư nước ngoài khi làm chung với họ trong một vụ của thân chủ mình. Không biết sơ sơ các luật ấy thì mình không biết từ chối và giải thích với họ; thí dụ, ở nước tôi không có luật “đào bới bằng chứng”, rồi sẽ giải thích quy định về bằng chứng của ta, nhấn mạnh là ” không đào bới gì cả” mà “trung thực và khách quan”. Thếlà đồng nghiệp nước ngoài thích mình ngay! Thú thật dịch bằng chứng “khách quan” là gì theo nội dung sang tiếng Anh cho họ hiểu cũng khó.Đó là một từ triết học!Côngviệc thứ nhất của luật sư có trình độ quốc tế là am hiểu luật căn bản của mình và biết về luật căn bản của một hệ thống luật nào đó (dân luật hay thông luật) và nắm bắt các sự thay đổi của ngành luật mình chuyên phụ trách.

Học kiểu đó là học để “đáp ứng” vì có nhu cầu của khách đặt ra cho mình. Chưa hết! Người Pháp gọi luật sư là “thầy” (maitre) nên luật sư phải đi trước thân chủ một bước về kiến thức. Thí dụ, để trả lời về Công ước Berne mà chính phủ tuyên bố tham gia, nhà xuất bản sách đến hỏi; luật sư không chỉ trả lời theo văn bản mà còn phải giải thích rộng ra; so sánh với thực tế nhà xuất bản đã kinh qua để họ hiểu quy định mới và cách làm cũ. Muốn đi trước khách hàng một bước thì phải học theo kiểu “đón đầu” (không phải là “đi tắt đón đầu” đâu ạ). Hoc kiểu này mà khách không bao giờ đến là… toi công! Thế nhưng vẫn phải làm dẫu có… công toi!

Xin mở rộng một tí về việc học và hành của luật sư. Làm luật sư khác với làm thầy giáo. Nếu ví môn học như một cái cuốc để phân biệt, thì thầy giáo cầm cái cuốc múa may trên tay, càng “hoành tráng” thì càng được sinh viên khen nức nở. Bảo đảm sẽ có một hai cô sinh viên xinh đẹp đến thăm thầy ngày Nhà giáo. Luật sư thì khác hẳn: cầm cuốc và cuốc, đất, hay đá ong, không ngừng nghỉ! Được trả tiền hay không thì thấy ngay. Kết quả nhãn tiền chứ không phải một sự khâm phục… trong lòng!

Khi có các yêu cầu trên thì có ba vấn đề khác phát sinh. Ấy là: (i) tiếp cận được nguồn sách báo, thông tin ở nước ngoài để cập nhật kiến thức; (ii) vậy phải có tiền và (iii) có thời giờ để làm. Về các hệ quả này, là dân ngoại đạo, tôi xin kể chỉ một điều về thời gian, mắt thấy tai nghe. Luật sư có trình độ quốc tế thực sự hiện nay mà làm việc với khách nước ngoài thì họ thường đến văn phòng từ 9 giờ sáng, đến hơn 10 giờ đêm mới về.Vợ trách con than họ còn giải thích (“em thông cảm”) chứ sách vở nằm trên kệ chờ họ đọc thì… còn lâu! Họ phải thường ăn xôi đi làm; vì sáng dậy thì vợ con đi rồi, phở không để nguội được, cơm rang thì cứng quá do để lâu; chỉ có gói xôi đậu xanh, hay đậu đen là… bền vững! Cuộc sống luật sư Việt Nam có trình độ quốc tế căng thẳng lắm. Họ nhiều việc đến nỗi phải gắt lên “nhiều việc quá, cực quá, không cần tiền nữa!” Than vậy chứ thôi, cũng sợ mất khách. Họ – có cả tôi- sợ mất khách hơn sợ Đoàn luật sư hay Sở Tư pháp nhiều! Các luật sư làm trưởng văn phòng luật sư quốc tếhầu hết đều thấm đẫm cảm giác này. Từ chối khách thì sợ không đủ sở hụi để chi trả hàng tháng cho văn phòng; mà nhiều khách quá thì cả mình lẫn văn phòng không kham nổi. Cách giải quyết là làm thêm về đêm. Khách thuê luật sư thì chỉmuốn “xong từ hôm qua”! Vào tuổi tôi, nhìn lại mình vì có thời giờ, tôi nhận ra: Luật sư chỉ là “Nô lệ cao cấp – Làm đẹp đất nước – Làm an lòng người”.

Tóm lại, cho điều kiện thứ nhất, tự bản thân mình, ngoài công việc phải làm; người luật sư có trình độ quốc tế phải “làm thêm” để trau dồi kiến thức, kinh nghiệm, và tiếp xúc trong nước lẫn quốc tế (tham gia các hội luật sư, đóng hội phí hàng năm). Gay go lắm. Có khi mồ hôi hột đổ, sau áo sơ- mi có thắt cà- vạt, trong máy lạnh!

Hoàn cảnh bên ngoài

Về điểm này có hai điều kiện bắt buộc để luật sư có trình độ quốc tế duy trì được trình độ; không có thì sẽ bị tụt! Ấy là (i) khách hàng và (i) các cơ quan tư pháp cùng hỗ trợ tư pháp hay môi trường pháp lý.

Về khách hàng

Nếu có ai hỏi các luật sư đang hành nghề rằng yếu tố nào ảnh hưởng đến công việc của họ nhiều nhất thì tôi tin đến 99% luật sư sẽ trả lời là khách hàng. Vâng ạ, khách hàng rất quan trọng đối với luật sư. Khách hàng được hiểu là “người đến thuê luật sư làm và trả tiền”. Đối với luật sư, “khách hàng” quyết định chứ không phải “nhu cầu” của họ. Bộ Tư pháp trước kia và Liên đoàn Luật sư hiện nay biết rõ là có nhu cầu cao ở trong nước về kiến thức trong giao thương quốc tế. Và chủ trương của Liên đoàn hiện nay nhằm đáp ứng nhu cầu này. Tuy nhiên “nhu cầu” không nuôi được luật sư, quốc tế hay không!

Luật sư – như đã đề cập – không có quyền gì. Vậy ai muốn họ làm “nô lệ cao cấp” thì phải trả tiền cho họ. Không có tiền thì họ treo niêu! Chẳng ai cứu họ vì nghĩ họ giàu! Đó là mặt “trắng”; vậy “mặt đen” sẽ là trả tiền thì mới làm. Đấy là quy luật của cuộc sống mà không ai có thể dùng quyền lực gì để thay đổi. Khách hàng là người quản lý luật sư mạnh nhất và khắc nghiệt nhất. Cách làm của họ khi thất vọng là: “Chào luật sư, tôi đi”. Người nọ truyền tai người kia, và luật sư sẽ từ từ… nợ tiền nhà!

Khi luật sư có trình độ quốc tế hành nghề trong những điều kiện như thế;ai sẽ bảo đảm cho họ rằng, họ sẽ có khách! Đấy là vấn đề cơ bản. Luật sư không thể trông chờ sự giới thiệu khách của bất cứ ai. Giới thiệu là một chuyện, nhận làm hay không là một chuyện khác, do khách hàng và luật sư định đoạt. Đấy là một mặt về sự quan trọng của khách hàng đối với luật sư.

Mặt khác, đòi hỏi của khách hàng sẽ tác động vào, hay thậm chí tạo nên, khả năng chuyên môn của luật sư. Khách hàng toàn đến nhờ luật sư để xin ly hôn – không nhờ làm thủ tục hôn thú – thì luật sư trở thành “luật sư ly hôn.”Họ nhờ luật sư về nhà đất thì thành “nhà đất” vân vân. Nếu khả năng chuyên môn của một luật sư có trình độ quốc tế mà được khách hàng “chuyển đổi” như thế thì rõ ràng trình độ quốc tế cũng bị giảm theo. Họ từ chối ư? Sao họ trả tiền thuê văn phòng?

Về tầm quan trọng của khách hàng thì đã có tiền lệ. Xin cứ nhìn vào hoạt động của các trung tâm trọng tài, quốc tế lẫn quốc nội. Tại sao thế? Thưa vì doanh nhân không đến các trung tâm đó; dẫu có nhiều trọng tài viên có trình độ chuyên môn cao (vì họ đang hành nghề mà).

Tóm lại, luật sư có trình độ quốc tế phải có khách. Không có khách thì tài năng của họ cũng mai một. Khách tìm đến luật sư tại vì uy tín của luật sư mà họ nghe từ người quen và rồikiểm chứng, trước khi trả tiền. Có vẻ như điều kiện này nằm ngoài tầm tay của Liên đoàn. Tôi đoán các cơ quan hữu trách khi đề cập luật sư có trình độ quốc tế chỉ nhìn đến “nhu cầu” của xã hội, một yếu tố chính trị; chứ chưa biết tận tường yếu tố “nhân sinh” của thân phận luật sư.

Toà án và các cơ quan hỗ trợ tư pháp

Trong hoàn cảnh kia, xin hỏi đã có những cố gắng gì để làm tăng trình độ của thẩm phán? Trong hệ thống tư pháp, luật sư là khâu yếu nhất vì họ không có quyền mà chỉ “đề nghị toà”. Chọn khâu yếu nhất để nâng trình độ tư pháp của đất nước lên thì cũng giống như nâng một sợi dây xích bằng thép nặng trĩu lên để kéo đi, mà nắm cái mắt xích làm bằng chì. Gia tăng số lượng luật sư là dễ nhất vì không phải đưa tiền cho họ đi học, mà lại còn thu được tiền của họ nữa. Đã có tiền lệ. Cứ hỏi các luật sư đang tập sự thì biết ngay!.

Đấy là về toà án. Còn về những cơ quan hỗ trợ tư pháp thì sao? Luật sư soạn hợp đồng phải đem ra công chứng mà làm khác bản mẫu dùng ở đó thì khó lòng được công chứng lắm. Như vậy thì, khả năng soạn thảo hợp đồng quốc tế của luật sự sẽ bị bản mẫu hợp đồng – xin nhấn mạnh bản mẫu – hạ gục ngay! Công chứng viên rất tươi cười và thông cảm nhưng họ chỉ vào… bản mẫu! Bản hướng dẫn thì còn thêm bớt được, “mẫu hợp đồng” thì phải theo. Rất tiếc các cơ quan của ta thích ra mẫu (trừ Bộ Xây dựng)! Xin kết đoạn này bằng một câu tóm tắt: “Luật sư có trình độ quốc tế sẽ thất bại trước các yêu cầu của bản… mẫu”.Luật lệ của chúng ta trước kia điều chỉnh các hoạt động xã hội theo câu chữ, nay đang từ từ đi vào bản chất (luật đầu tư chung, luật thuế thu nhập doanh nghiệp là ví dụ); nhưng các cấp thi hành luật vẫn giải thích theo câu chữ để “bảo vệ mình” tối đa. Não trạng như thế sao giúp luật sư quốc tế hội nhập!

Xem như thế, ước muốn đào tạo luật sư có trình độ quốc tế sẽ rất khó thực hiện. Việc tồn tại một đội ngũ như mong muốn đòi hỏi ba yếu tố vững bền: bản thân luật sư, khách hàng và trình độ chung của nền tư pháp. Một cái kiềng ba chân mà hai chân khập khễnh thì chắc chắn sẽ làm đổ nồi cơm gạo chợ Đào!

Luật sư Nguyễn Ngọc Bích ( Phap luat vietnam)

Công ty luật DRAGON

Điều Kiện Miễn Khóa Học Lớp Đào Tạo Luật Sư

Năm 2002, tôi tốt nghiệp cử nhân Luật do Học viện Cảnh sát nhân cấp thì có được miễn học và tập sự luật sư không?

Kính gửi quý Công ty! Đầu xuân năm mới xin chúc Công ty một năm mới phát đạt, thành công, uy tín ngày càng cao và bền vững.Tôi mong được quý Công ty hướng dẫn cho tôi biết một số nội dung sau. Năm 1996 tôi tốt nghiệp Cao Đẳng kiểm sát Hà Nội, năm 2002 tốt nghiệp cử nhân Luật do Học viện Cảnh sát nhân cấp (theo chương trình liên kết đào tạo chuyển đổi giữa Việt Kiểm sát Tối cao với Học viện Cảnh sát). Công tác trong ngành kiểm sát từ năm 1997-2005. Năm 2002 được bổ nhiệm làm Kiểm sát viên sơ cấp đến năm 2005 chuyển ngành công tác tại Ủy ban thành phố Hà Nội đến nay (Hiện đang là công chức). Vậy xin hỏi.

1. Tôi có được miễn học lớp đào tạo luật sư không?

2. Tôi có được miễn hoặc giảm thời gian tập sự không? Nếu chỉ được giảm thời gian tập sự thì nơi tập sự có bắt buộc ở đâu không, thủ tục xin tập sự thế nào?

3. Cần phải làm thủ tục, hồ sơ như thế nào để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư?

4. Hiện tôi đang là công chức có thể tham gia đoàn luật sư không?

5. Hiện tôi đang là công chức có được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư không? Trân trọng và cảm ơn!

Cám ơn bạn đã gửi câu hỏi của mình đến Ban biên tập – Phòng tư vấn trực tuyến của Công ty LUẬT DƯƠNG GIA. Với thắc mắc của bạn, Công ty LUẬT DƯƠNG GIA xin được đưa ra quan điểm tư vấn của mình như sau:

Căn cứ vào các quy định sau:

1. Tôi có được miễn học lớp đào tạo luật sư không?

Những đối tượng thuộc trường hợp được miễn đào tạo nghề luật sư như sau:

+ Giáo sư, phó giáo sư chuyên ngành luật; tiến sỹ luật.

+ Đã là thẩm tra viên cao cấp ngành Tòa án, kiểm tra viên cao cấp ngành Kiểm sát; chuyên viên cao cấp, nghiên cứu viên cao cấp, giảng viên cao cấp trong lĩnh vực pháp luật.

+ Đã là thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát; chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật.

Nếu bạn đã là kiểm sát viên thì bạn sẽ được miễn học lớp đào tạo Luật sư.

2. Tôi có được miễn hoặc giảm thời gian tập sự không? nếu chỉ được giảm thời gian tập sự thì nơi tập sự có bắt buộc ở đâu không, thủ tục xin tập sự thế nào?

Người được miễn, giảm thời gian tập sự hành nghề luật sư được xác định như sau:

+ Người đã là điều tra viên sơ cấp, thẩm tra viên chính ngành Tòa án, kiểm tra viên chính ngành Kiểm sát, chuyên viên chính, nghiên cứu viên chính, giảng viên chính trong lĩnh vực pháp luật được giảm hai phần ba thời gian tập sự hành nghề luật sư.

+ Người có thời gian công tác ở các ngạch chuyên viên, nghiên cứu viên, giảng viên trong lĩnh vực pháp luật, thẩm tra viên ngành Tòa án, kiểm tra viên ngành Kiểm sát từ mười năm trở lên thì được giảm một nửa thời gian tập sự hành nghề luật sư.

3. Cần phải làm thủ tục, hồ sơ như thế nào để được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư?

+ Đơn đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư theo mẫu do Bộ Tư pháp ban hành;

+ Giấy chứng nhận sức khỏe;

+ Bản sao Bằng cử nhân luật hoặc bản sao Bằng thạc sỹ luật;

+ Bản sao giấy tờ chứng minh là người được miễn tập sự hành nghề luật sư

Trong thời hạn bảy ngày làm việc, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Sở Tư pháp có trách nhiệm kiểm tra hồ sơ, trong trường hợp cần thiết thì tiến hành xác minh tính hợp pháp của hồ sơ và có văn bản đề nghị kèm theo hồ sơ cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư gửi Bộ Tư pháp.

Trong thời hạn hai mươi ngày, kể từ ngày nhận đủ hồ sơ hợp lệ, Bộ trưởng Bộ Tư pháp quyết định cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư; trong trường hợp từ chối phải thông báo bằng văn bản và nêu rõ lý do cho người đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư và Sở Tư pháp nơi gửi hồ sơ đề nghị cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư.

4. Hiện tôi đang là công chức có thể tham gia đoàn luật sư không? Hiện tôi đang là công chức có được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư không?

Về điều kiện miễn và được cấp thì bạn đủ điều kiện tuy nhiên, để làm hồ sơ và để được cấp chứng chỉ hành nghề thì bạn lưu ý ” bạn đang lả công chức”. Theo quy định của Điều 17 Văn bản hợp nhất số 12/VBHN-VPQH ngày 12 tháng 12 năm 2012.

“4. Người thuộc một trong những trường hợp sau đây thì không được cấp Chứng chỉ hành nghề luật sư:

a) Không đủ tiêu chuẩn luật sư quy định tại Điều 10 của Luật này;

b) Đang là cán bộ, công chức, viên chức; sĩ quan, quân nhân chuyên nghiệp, công nhân quốc phòng trong cơ quan, đơn vị thuộc Quân đội nhân dân; sĩ quan, hạ sĩ quan, công nhân trong cơ quan, đơn vị thuộc Công an nhân dân;“

Vậy, bạn đang là công chức sẽ không được cấp chứng chỉ hành nghề luật sư.

THAM KHẢO CÁC DỊCH VỤ CÓ LIÊN QUAN CỦA LUẬT DƯƠNG GIA:

Cập nhật thông tin chi tiết về Đào Tạo Luật Sư Trên Thế Giới Và Công Tác Đào Tạo Luật Sư Ở Việt Nam trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!