Xu Hướng 11/2022 # Đấu Tranh Chống Vi Phạm Pháp Luật Kinh Tế Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay / 2023 # Top 17 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Đấu Tranh Chống Vi Phạm Pháp Luật Kinh Tế Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Đấu Tranh Chống Vi Phạm Pháp Luật Kinh Tế Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xổm Thong Vi LayPhon

Đảng nhân dân cách mạng Lào và Nhà nước Lào luôn chú trọng đến công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật và tội phạm kinh tế. Điều này được ghi nhận trong Văn kiện Đại hội Đảng nhân dân cách mạng Lào năm 2005 lần thứ VIII: “… Là nhiệm vụ quan trọng của Đảng và Nhà nước, trong đó phòng ngừa là cơ bản nhằm loại trừ nguyên nhân, điều kiện vi phạm pháp luật, ngăn chặn vi phạm pháp luật xảy ra, phát hiện kịp thời và xử lý nghiêm minh các trường hợp phạm tội và giáo dục cải tạo người phạm tội trở thành công dân có ích cho xã hội”. Theo Nghị quyết Đại hội Đảng nhân dân cách mạng Lào lần thứ VIII, quan điểm chỉ đạo cuộc đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật kinh tế như sau:

– Cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật nói chung và vi phạm pháp luật kinh tế nói riêng phải được tiến hành một cách kiên quyết theo phương châm cấp trên làm gương cho cấp dưới, cán bộ và đảng viên làm gương cho cán bộ ngoài Đảng noi theo.

– Xuất phát từ nguyên nhân xảy ra tình trạng vi phạm pháp luật kinh tế là do một số cán bộ, đảng viên, quần chúng nhân dân có phẩm chất đạo đức kém, mơ hồ về chính trị, coi thường pháp luật, kỷ cương phép nước… Do đó, muốn cho cuộc đấu tranh này có hiệu quả phải sử dụng đồng bộ nhiều biện pháp: tư tưởng, chính trị – pháp lý, hành chính, kinh tế, quản lý, thanh tra – kiểm tra… và có sự phối hợp chặt chẽ với các ngành, các cấp dưới sự chỉ đạo tập trung thống nhất các cấp uỷ Đảng để phát hiện và đấu tranh mới mang lại kết quả cao.

– Gắn cuộc đấu tranh khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật với cuộc vận động đổi mới chỉnh đốn Đảng, với cuộc cải cách hệ thống hành chính, làm trong sạch bộ máy Nhà nước, sắp xếp lại tổ chức, bố trí lại cán bộ ở mọi cấp, ngành.

– Gắn cuộc đấu tranh khắc phục tình trạng vi phạm pháp luật với việc bổ sung, sửa đổi và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật và các chính sách kinh tế – xã hội.

– Phải động viên, tổ chức cho quần chúng tham gia đấu tranh chống vi phạm pháp luật trên cơ sở có cơ chế đảm bảo trên thực tế trách nhiệm và quyền hạn của họ, trong việc kiểm tra, giám sát hoạt động của cơ quan Nhà nước.

– Việc điều tra, truy tố và xét xử các hành vi phạm tội phải nghiêm, tuân thủ các nguyên tắc tối cao được ghi nhận trong Hiến pháp năm 2003. Trong phạm vi bài viết này, xin đề cập đến hai vấn đề: Chủ thể phòng ngừa và đấu tranh chống tội phạm và vi phạm pháp luật kinh tế và một số biện pháp đấu tranh mà Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào đang tiến hành.

1. Các chủ thể tham gia đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật kinh tế

a. Các chủ thể tham gia trực tiếp

Đối với tội phạm kinh tế, với phương châm tấn công kiên quyết, lực lượng Công an đã tập trung lực lượng trừng trị bọn đầu sỏ, côn đồ, tham nhũng, buôn lậu lớn… phối hợp với các tổ chức Cảnh sát quốc tế và Cảnh sát các nước láng giềng trong việc truy bắt, xử lý, dẫn độ các tội phạm quốc tế. Qua quá trình điều tra, cơ quan Công an đã tổ chức rút kinh nghiệm, tìm ra nguyên nhân, điều kiện gây ra vi phạm pháp luật trong từng vụ án, có các kiến nghị cần thiết đối với các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội, để có biện pháp thích hợp trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật nói chung, tội phạm kinh tế nói riêng.

Viện kiểm sát nhân dân các cấp của Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào có các chức năng thực hành quyền kiểm sát chung, quyền công tố và quyền kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của Hiến pháp và pháp luật, bảo đảm cho pháp luật được chấp hành nghiêm chỉnh và thống nhất. Trong Viện kiểm sát nhân dân tối cao có các Vụ tham gia trực tiếp như Vụ kiểm sát chung, Vụ Kiểm sát hình sự, Vụ Kiểm sát kinh tế. Các Viện kiểm sát nhân dân địa phương thực hành quyền kiểm sát chung, quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp các địa phương mình. Các Viện kiểm sát quân sự thực hành quyền kiểm sát chung, quyền công tố và kiểm sát các hoạt động tư pháp theo quy định của pháp luật.

Toà án nhân dân: Thay mặt Nhà nước để thực hiện chức năng xét xử nhằm đấu tranh chống vi phạm pháp luật. Toà án nhân dân có các đơn vị tham gia trực tiếp cuộc đấu tranh này như Toà hình sự, Toà dân sự ở Toà án nhân dân tối cao, các Toà án nhân dân địa phương. Qua công tác xét xử, Toà án nhân dân các cấp phát hiện những sơ hở, thiếu sót của công tác quản lý kinh tế mà kẻ phạm tội đã lợi dụng, để phối hợp với các cơ quan, tổ chức khắc phục, góp phần vào cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật có hiệu quả, giữ vững an ninh trật tự pháp luật.

Thanh tra Nhà nước: Cấp Trung ương gồm có hai Vụ trực tiếp tham gia đấu tranh chống vi phạm pháp luật như: Vụ Thanh tra chung và Vụ Thanh tra kinh tế, có địa phương cấp tỉnh có Phòng Thanh tra chung và Phòng Thanh tra kinh tế. Thanh tra Nhà nước là một trong những cơ quan nòng cốt trong việc đấu tranh chống vi phạm pháp luật của Nhà nước Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào.

b. Các chủ thể khác tham gia đấu tranh chống vi phạm pháp luật kinh tế

Đoàn Thanh niên nhân dân cách mạng Lào phát huy chức năng và nhiệm vụ của mình, phát động phong trào đấu tranh chống tội phạm. Ban Thường vụ Đoàn các cấp đã phối hợp cùng với Công an các cấp tổ chức cho thanh thiếu niên trong các cấp cơ sở của mình ký cam kết không vi phạm pháp luật như: Không trộm cắp, không buôn lậu, không buôn bán và sử dụng chất ma túy, gây rối trật tự… gắn với việc thực hiện phong trào “Thanh niên bảo vệ Tổ quốc”, “Thanh niên xây dựng cuộc sống mới”, “Thanh niên ba không” trong cuộc đấu tranh chống ma túy như: Không trồng thuốc phiện, sản xuất chất ma túy, không tàng trữ chất ma túy, không hút, tiêm chích ma tuý”…

Liên hiệp công đoàn Lào: Công đoàn các cấp chú trọng đến công tác tuyên truyền, vận động Công đoàn thực hiện tốt các chỉ thị, nghị quyết của Đảng, pháp luật của Nhà nước. Liên hiệp công đoàn phối hợp chặt chẽ với Công an, chính quyền các cấp từ Trung ương đến cơ sở thành lập Ban chỉ đạo tuyên truyền đấu tranh chống vi phạm pháp luật, phong trào bảo vệ an ninh tổ quốc trong các cơ quan, xí nghiệp. Duy trì thường xuyên công tác kiểm tra định kỳ, đột xuất, đôn đốc các ngành và cơ sở thực hiện tốt công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật, bảo vệ an ninh ở đơn vị. Tuyên truyền giáo dục cho công đoàn, công nhân lao động, nâng cao nhận thức, hiểu biết về tình hình nhiệm vụ đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong thời kỳ đổi mới.

2. Một số biện pháp đấu tranh phòng, chống vi phạm pháp luật kinh tế ở Cộng hoà dân chủ nhân dân Lào

2.1. Ban hành pháp luật (xây dựng thể chế)

Nhà nước Lào trong những năm qua đã có nhiều cố gắng lớn trong việc xây dựng pháp luật nhằm góp phần tăng cường đấu tranh chống vi phạm pháp luật kinh tế, nhiều đạo luật đã được ra đời như Bộ luật hình sự, Luật chống tham nhũng, các Nghị định của Chính phủ… Hiện nay, cách mạng Lào trong giai đoạn củng cố, phát triển và hoàn thiện chế độ dân chủ trên mọi lĩnh vực đời sống xã hội. Do vậy, về nhận thức cần phải thấy rằng, việc xây dựng, ban hành tiếp tục và khẩn trương, kịp thời các văn bản pháp luật không phải chủ yếu hướng tới mục tiêu tạo lập các căn cứ pháp lý để truy tố, xét xử và trừng trị các hành vi vi phạm pháp luật và tội phạm mà chủ yếu nhằm phòng ngừa thông qua việc đề cao trách nhiệm của các cơ quan Nhà nước, tổ chức xã hội và công dân trong nỗ lực chung nhằm giải quyết tận gốc rễ vi phạm pháp luật – tội phạm.

2.2. Tuyên truyền pháp luật, giáo dục cán bộ công chức và nhân dân.

Từ thực tiễn công tác tuyên truyền, giáo dục pháp luật ở Lào thời gian qua cho thấy những hình thức, phương pháp chuyển tải nội dung giáo dục pháp luật được thực hiện có tác dụng tốt và có hiệu quả là:

Thứ nhất, thông qua Hội nghị: Đây là hình thức phù hợp với việc triển khai học tập trong phạm vi cán bộ chủ chốt ở Trung ương – tỉnh – sở, ban ngành – đoàn thể.

Thứ hai, thông qua trao đổi có tính chất hội thảo: Đây là hình thức thu hút được sự đóng góp trí tuệ, có tổng kết thực tiễn lý luận, vừa có tác dụng phổ biến sâu, vừa lôi cuốn đông đảo các lực lượng tham gia trên phạm vi rộng.

Thứ ba, thông qua các lớp bồi dưỡng, tập huấn ngắn ngày, đây là hình thức chủ yếu để tổ chức học tập cho cán bộ ở cấp cơ sở huyện – bản (chính quyền, tư pháp, thanh niên, phụ nữ, mặt trận…).

Thứ tư, thông qua phương tiện thông tin đại chúng như: Báo, Đài phát thanh, Đài truyền hình… đã có tác dụng thiết thực phát huy hiệu quả tuyên truyền, giáo dục pháp luật nhanh chóng và rộng khắp trong nhân dân.

Thứ năm, thông qua tổ chức, bố trí cán bộ tư pháp xuống cơ sở để tuyên truyền, giáo dục pháp luật cho nhân dân các bộ tộc ở vùng sâu, vùng xa, thông qua cuộc vận động cam kết tôn trọng pháp luật của mỗi gia đình, tổ chức như: Xây dựng gia đình văn hoá, xây dựng cuộc sống mới ở bản làng, phòng ngừa ngăn chặn tệ nạn xã hội, giữ vững an ninh – chính trị – trật tự an toàn xã hội trên địa bàn, đây là biện pháp phổ biến có hiệu quả ở cơ sở.

2.3. Huy động sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, đoàn thể. Đảng và Nhà nước CHDCND Lào rất quan tâm chú trọng vận động phát huy sức mạnh tổng hợp của các cơ quan, đoàn thể tham gia vào cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật – tội phạm. Cơ quan điều tra phải phối hợp chặt chẽ với Toà án nhân dân và Viện kiểm sát nhân dân từ Trung ương đến địa phương.

Trong quá trình đấu tranh chống vi phạm pháp luật – tội phạm, vai trò của quần chúng nhân dân trong công tác đấu tranh có được phát huy hay không trước hết thuộc về Cấp uỷ – chính quyền từ Trung ương đến địa phương. Từ bài học “lấy dân làm gốc” nhận thức rõ vị trí quan trọng có ý nghĩa chiến lược của phong trào bảo vệ an ninh Tổ quốc, đấu tranh chống vi phạm pháp luật các cấp chỉ đạo phong trào hành động cách mạng được xây dựng mới nhiều hình thức phong phú, đa dạng phát triển đến khắp mọi miền đất nước.

2.4. Đấu tranh bằng dư luận xã hội

Với chức năng thông tin, truyền tin và giáo dục đối với quảng đại quần chúng nhân dân, báo chí, truyền thanh, truyền hình ngày càng chứng tỏ vai trò quan trọng của mình trong lĩnh vực này, nhằm tạo dư luận xã hội trong cuộc đấu tranh chống vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế và được thể hiện trên các mặt sau:

Một là, phản ánh phong phú và sâu sát về thực trạng và diễn biến đa dạng, phức tạp vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế trong thời kỳ đổi mới.

Hai là, thông tin đầy đủ có định hướng góp phần thống nhất nhận thức, phương hướng cũng như nâng cao ý thức, trách nhiệm và tinh thần đấu tranh không khoan nhượng đối với vi phạm pháp luật của các cơ quan chính quyền các cấp.

Ba là, thông tin toàn diện, sâu sát, góp phần nâng cao nhận thức cho dân, cổ vũ và động viên toàn dân tham gia.

Bốn là, báo chí đã dũng cảm đi sâu vào một số vụ việc phức tạp và khó khăn như các vụ án về ma túy, tham nhũng, buôn lậu…

Năm là, kịp thời giới thiệu một số kinh nghiệm, một số địa phương, ngành tiêu biểu về công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật.

2.5. Đấu tranh thông qua xử lý hành chính các vi phạm pháp luật kinh tế

Việc chấp hành pháp luật về xử lý hành chính có vai trò, ý nghĩa rất quan trọng, nó làm cho các quy phạm pháp luật về xử lý hành chính nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa, tạo môi trường thuận lợi cho sự phát triển mọi mặt của đời sống xã hội. Việc tuân thủ pháp luật đòi hỏi các tổ chức, cá nhân tuyệt đối không được thực hiện những hành vi mà pháp luật cấm. Tuy nhiên, trong thực tế hiện nay có một số tổ chức, cá nhân vi phạm pháp luật chưa đến mức xử lý hình sự còn nhiều, còn chưa triệt để, kiên quyết xử lý nghiêm khắc.

2.6. Xử lý hình sự các tội phạm kinh tế

Sự nghiêm trị đối với các loại tội phạm là đương nhiên và hết sức cần thiết, nhất là trong bối cảnh vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế phát triển rộng khắp từ thành thị đến nông thôn và gây hậu quả lớn đến nền kinh tế của đất nước và nền an ninh quốc gia. Việc xác định đúng mức độ, tránh “tội phạm hoá” và “hình sự hoá” đối với các hành vi vi phạm pháp luật trong lĩnh vực kinh tế trong từng bối cảnh xã hội cụ thể là hết sức cần thiết không chỉ trong xây dựng pháp luật hình sự mà cả trong thực tiễn áp dụng xử lý hình sự với tính chất là biện pháp đấu tranh, nhằm giải quyết các nguyên nhân và điều kiện làm nảy sinh tội phạm. Qua công tác xử lý hình sự đã góp phần vào công tác đấu tranh chống vi phạm pháp luật – tội phạm trong lĩnh vực kinh tế được nâng lên một bước và ngày càng đạt hiệu quả cao hơn./.

Luật Hôn Nhân Và Gia Đình Nước Việt Nam Dân Chủ Cộng Hòa – Wikisource Tiếng Việt / 2023

Bài này nói về Luật Hôn nhân và gia đình nước Việt Nam Dân chủ Cộng hòa. Về Luật Hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam, xem Luật Hôn nhân và gia đình nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam

Chương I: Nguyên tắc chung

Điều 1

Nhà nước bảo đảm việc thực hiện đầy đủ chế độ hôn nhân tự do và tiến bộ, một vợ một chồng, nam nữ bình đẳng, bảo vệ quyền lợi của phụ nữ và con cái, nhằm xây dựng những gia đình hạnh phúc, dân chủ và hoà thuận, trong đó mọi người đoàn kết, thương yêu nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ.

Điều 2

Xoá bỏ những tàn tích còn lại của chế độ hôn nhân phong kiến cưỡng ép, trọng nam khinh nữ, coi rẻ quyền lợi của con cái.

Điều 3

Cấm tảo hôn, cưỡng ép kết hôn, cản trở hôn nhân tự do, yêu sách của cải trong việc cưới hỏi, đánh đập hoặc ngược đãi vợ. Cấm lấy vợ lẽ.

Chương II: Kết hôn

Điều 4

Con trai và con gái đến tuổi, được hoàn toàn tự nguyện quyết định việc kết hôn của mình; không bên nào được ép buộc bên nào, không một ai được cưỡng ép hoặc cản trở.

Điều 5

Cấm người đang có vợ, có chồng kết hôn với người khác.

Điều 6

Con gái từ 18 tuổi trở lên, con trai từ 20 tuổi trở lên mới được kết hôn.

Điều 7

Việc để tang không cản trở việc kết hôn.

Điều 8

Đàn bà goá có quyền tái giá; khi tái giá, quyền lợi của người đàn bà goá về con cái và tài sản được bảo đảm.

Điều 9

Cấm kết hôn giữa những người cùng dòng máu về trực hệ; giữa cha mẹ nuôi và con nuôi.

Cấm kết hôn giữa anh chị em ruột, anh chị em cùng cha khác mẹ hoặc cùng mẹ khác cha. Đối với những người khác có họ trong phạm vi năm đời hoặc có quan hệ thích thuộc về trực hệ, thì việc kết hôn sẽ giải quyết theo phong tục tập quán.

Điều 10

Những người sau đây không được kết hôn: bất lực hoàn toàn về sinh lý; mắc một trong các bệnh hủi, hoa liễu, loạn óc, mà chưa chữa khỏi.

Điều 11

Việc kết hôn phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của bên người con trai hoặc bên người con gái công nhận và ghi vào sổ kết hôn.

Mọi nghi thức kết hôn khác đều không có giá trị về mặt pháp luật.

Chương III: Nghĩa vụ và quyền lợi của vợ chồng

Điều 12

Trong gia đình, vợ chồng đều bình đẳng về mọi mặt.

Điều 13

Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, quý trọng, săn sóc nhau, giúp đỡ nhau tiến bộ, nuôi dạy con cái, lao động sản xuất, xây dựng gia đình hoà thuận, hành phúc.

Điều 14

Vợ và chồng đều có quyền tự do chọn nghề nghiệp, tự do hoạt động chính trị, văn hoá và xã hội.

Điều 15

Vợ và chồng đều có quyền sở hữu, hưởng thụ và sử dụng ngang nhau đối với tài sản có trước và sau khi cưới.

Điều 16

Khi một bên chết trước, nếu tài sản của vợ chồng cần chia, thì chia như quy định ở Điều 29.

Vợ và chồng đều có quyền thừa kế tài sản của nhau.

Chương IV: Quan hệ giữa cha mẹ và con cái

Điều 17

Cha mẹ có nghĩa vụ thương yêu, nuôi nấng, giáo dục con cái.

Con cái có nghĩa vụ kính yêu, săn sóc, nuôi dưỡng cha mẹ.

Điều 18

Cha mẹ không được hành hạ con cái, không được đối xử tàn tệ với con dâu, con nuôi, con riêng.

Nghiêm cấm việc vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ. Người vứt bỏ hoặc giết hại trẻ con mới đẻ và người gây ra những việc ấy phải chịu trách nhiệm về hình sự.

Điều 19

Con trai và con gái có quyền lợi và nghĩa vụ ngang nhau trong gia đình.

Điều 20

Con đã thành niên còn ở chung với cha mẹ được tự do chọn nghề nghiệp, hoạt động chính trị và xã hội và có của riêng, đồng thời có nghĩa vụ chăm lo đời sống chung của gia đình.

Điều 21

Cha hoặc mẹ nhận con ngoài giá thú phải khai trước Uỷ ban hành chính cơ sở. Nếu có tranh chấp, Toà án nhân dân sẽ quyết định.

Điều 22

Người con ngoài giá thú được xin nhận cha hoặc mẹ trước Toà án nhân dân.

Người mẹ cũng có quyền xin nhận cha thay cho đứa trẻ chưa thành niên.

Người thay mặt cũng có quyền xin nhận cha hoặc mẹ thay cho đưa trẻ chưa thành niên.

Điều 23

Con ngoài giá thú được cha, mẹ nhận hoặc được Toà án nhân dân cho nhận cha, mẹ, có quyền lợi và nghĩa vụ như con chính thức.

Điều 24

Con nuôi có quyền lợi và nghĩa vụ như con đẻ.

Việc nhận nuôi con nuôi phải được Uỷ ban hành chính cơ sở nơi trú quán của người nuôi hoặc của đứa trẻ công nhận và ghi vào sổ hộ tịch.

Toà án nhân dân có thể huỷ bỏ việc công nhận ấy, khi bản thân người con nuôi hoặc bất cứ người nào, tổ chức nào yêu cầu, vì lợi ích của người con nuôi.

Chương V: Ly hôn

Điều 25

Khi hai bên vợ chồng xin thuận tình ly hôn, thì sau khi điều tra, nếu xét đúng là hai bên tự nguyện xin lý hôn, Toà án nhân dân sẽ công nhận việc thuận tình ly hôn.

Điều 26

Khi một bên vợ hoặc chồng xin ly hôn, cơ quan có thẩm quyền sẽ điều tra và hoà giải. Hoà giải không được, Toà án nhân dân sẽ xét xử. Nếu tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được, thì Toà án nhân dân sẽ cho ly hôn.

Điều 27

Trong trường hợp người vợ có thai, chồng chỉ có thể xin ly hôn sau khi vợ đã sinh đẻ được một năm. Điều hạn chế này không áp dụng đối với việc xin ly hôn của người vợ.

Điều 28

Khi ly hôn, cấm đòi trả của.

Điều 29

Khi ly hôn, việc chia tài sản sẽ căn cứ vào sự đóng góp về công sức của mỗi bên, vào tình hình tài sản và tình trạng cụ thể của gia đình. Lao động trong gia đình được kể như lao động sản xuất.

Khi chia phải bảo vệ quyền lợi của người vợ, của con cái và lợi ích của việc sản xuất.

Điều 30

Khi ly hôn, nếu một bên túng thiếu yêu cầu cấp dưỡng, thì bên kia phải cấp dưỡng tuỳ theo khả năng của mình.

Khoản cấp dưỡng và thời gian cấp dưỡng sẽ do hai bên thoả thuận; trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được thì Toà án nhân dân sẽ quyết định. Khi người được cấp dưỡng lấy vợ, lấy chồng khác thì sẽ không được cấp dưỡng nữa.

Điều 31

Vợ chồng đã ly hôn vẫn có mọi nghĩa vụ và quyền lợi đối với con chung.

Điều 32

Khi ly hôn, việc giao cho ai trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái chưa thành niên, phải căn cứ vào quyền lợi về mọi mặt của con cái. Về nguyên tắc, con còn bú phải do mẹ phụ trách. Người không giữ con vẫn có quyền thăm nom, săn sóc con.

Vợ chồng đã ly hôn phải cùng chịu phí tổn về việc nuôi nấng và giáo dục con, mỗi người tuỳ theo khả năng của mình.

Vì lợi ích của con cái, khi cần thiết, có thể thay đổi việc nuôi giữ hoặc việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng, giáo dục con cái.

Điều 33

Việc trông nom, nuôi nấng và giáo dục con cái, việc góp phần vào phí tổn nuôi nấng và giáo dục con cái sẽ do hai bên thoả thuận giải quyết.

Trường hợp hai bên không thoả thuận với nhau được hoặc trong sự thoả thuận xét thấy có chỗ không hợp lý, thì Toà án nhân dân sẽ quyết định.

Chương VI: Điều khoản thi hành

Điều 34

Những hành vi trái với Luật này sẽ bị xử lý theo pháp luật.

Điều 35

Luật này có hiệu lực kể từ ngày công bố.

Trong những vùng dân tộc thiểu số, có thể căn cứ vào tình hình cụ thể mà đặt ra những điều khoản riêng biệt đối với Luật này. Những điều khoản riêng biệt ấy phải được Uỷ ban thường vụ Quốc hội phê chuẩn.

Luật này đã được Quốc hội nước Việt Nam dân chủ cộng hoà khoá thứ nhất, kỳ họp thứ 11, thông qua trong phiên họp ngày 29 tháng 12 năm 1959.

Tác phẩm này thuộc phạm vi công cộng vì theo Điều 15, Khoản 2, Luật Sở hữu trí tuệ Việt Nam thì “Văn bản quy phạm pháp luật, văn bản hành chính, văn bản khác thuộc lĩnh vực tư pháp và bản dịch chính thức của văn bản đó” không phải là đối tượng bảo hộ bản quyền. Còn theo Nghị định số 22/2018/NĐ-CP, Điều 19, khoản 2 của Chính phủ Việt Nam, văn bản hành chính bao gồm “văn bản của cơ quan nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức chính trị xã hội – nghề nghiệp, tổ chức xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp và đơn vị lực lượng vũ trang nhân dân”.

Public domain

Public domain

false

false

Vi Phạm Pháp Luật Dân Sự Là Gì, Lấy Ví Dụ Về Vi Phạm Dân Sự? / 2023

Vi phạm pháp luật dân sự là gì? Khái niệm vi phạm pháp luật dân sự? Lấy một vài ví dụ minh họa cụ thể về vi phạm pháp luật dân sự?

Khái niệm vi phạm pháp luật dân sự là tất cả những việc làm trái qui định của bộ luật dân sự có các loại vi phạm pháp luật dân sự chủ yếu sau: Vi phạm các nguyên tắc của bộ luật dân sự; Vi phạm các điều cấm của bộ luật dân sự; Vi phạm nghĩa vụ dân sự; Vi phạm hợp đồng dân sự; Vi phạm pháp luật dân sự ngoài hợp đồng; Các vi phạm khác đối với quyền, lợi ích hợp pháp của cá nhân, pháp nhân dân sự. Luật Dương Gia xin phép, giải đáp những thắc mắc pháp lý qua tư vấn bài viết sau:

Vi phạm dân sự là sự xâm phạm đến các quan hệ nhân thân và tài sản được quy định chung trong bộ luật Dân sự và quan hệ pháp luật dân sự khác được pháp luật bảo vệ, như quyền tác giả, quyền sở hữu công nghiệp. Chế tài dân sự là hậu quả pháp lý bất lợi ngoài mong muốn được áp dụng đối với người có hành vi vi phạm trong quan hệ dân sự khi họ thực hiện, thực hiện không đúng các nghĩa vụ dân sự. Đối với chế tài dân sự, nó được đặt ra để bảo vệ quyền và lợi ích mang tính tư giữa các chủ thể trong xã hội với nhau, là điều kiện cần thiết để bảo đảm cho cam kết giữa các bên được thực hiện.

Theo quy định của pháp luật, do đó, các chế tài dân sự thường là bồi thường thiệt hại, xin lỗi, cải chính. Trách nhiệm dân sự là trách nhiệm pháp lý mang tính tài sản được áp dụng đối với người vi phạm pháp luật dân sự nhằm bù đắp về tổn thất vật chất, tinh thần cho người bị hại. Đối tượng là cá nhân, tổ chức. Hình thức xử lý trách nhiệm dân sự là chịu mức bồi thường thiệt hại và các biện pháp khắc phục. Căn cứ phát sinh sau khi thỏa thuận thành công thì người có có lỗi phải bồi thường thiệt hại. Nếu không thỏa thuận được, thì được giải quyết tại tòa án dân sự, sau khi có quyết định của tòa án thì người có lỗi phải bồi thường thiệt hại và có biện pháp khắc phục hậu quả (nếu có). Mục đích là nhằm răn đe những đối tượng có hành vi vi phạm pháp luật phải có nghĩa vụ bồi thường thiệt hại cho người bị hại do hành vi vi phạm gây ra nhằm khắc phục những tổn thất do họ gây ra.

Ví dụ 1: Thực hiện không đúng các quy định trong hợp đồng thuê nhà.

Ví dụ 2: Công ty A ký kết hợp đồng mua bán 1 tấn gạo với công ty B. Theo thỏa thuận bên A có trách nhiệm giao hàng cho bên B vào ngày 10/10/2020. Đến ngày giao hàng mà A không mang hàng đến, do điều kiện sản xuất B phải mua hàng của C. Như vậy A có trách nhiệm phải trả số tiền chênh lệch giữa giá trị hàng hóa mà B mua của C so với giá thị trường.

Ở ví dụ này trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ dân sự là bên có nghĩa vụ mà không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền. Như vậy, trách nhiệm pháp lý dân sự phát sinh khi có nghĩa vụ dân sự mà không thực hiện hay thực hiện không đúng. Nghĩa vụ phát sinh từ giao dịch dân sự (hợp đồng hoặc hành vi pháp lý đơn phương làm phát sinh, thay đổi hoặc chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự). Pháp nhân phải chịu trách nhiệm dân sự do người của pháp nhân gây ra.

Ví dụ 3: Bạn ký hợp đồng với Công ty xây dựng để xây nhà trong thời hạn 6 tháng. Tuy nhiên, đội xây dựng của Công ty do thiếu trách nhiệm nên hơn 6 tháng chưa xây xong. Họ đã vi phạm nghĩa vụ về thời hạn hoàn thành công việc. Vi phạm đó gây thiệt hại là làm bạn không có nhà ở như dự định và phải tiếp tục mướn nhà ở. Công ty phải bồi thường số tiền phát sinh này cho bạn đó là trách nhiệm dân sự.

“Điều 351. Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ

1. Bên có nghĩa vụ mà vi phạm nghĩa vụ thì phải chịu trách nhiệm dân sự đối với bên có quyền.

Vi phạm nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn, thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ hoặc thực hiện không đúng nội dung của nghĩa vụ.

3. Bên có nghĩa vụ không phải chịu trách nhiệm dân sự nếu chứng minh được nghĩa vụ không thực hiện được là hoàn toàn do lỗi của bên có quyền.”

Trách nhiệm dân sự do vi phạm nghĩa vụ là sự quy định của pháp luật về việc người nào vi phạm nghĩa vụ dân sự hoặc có hành vi trái pháp luật khác phải gánh chịu một hậu quả pháp lý nhất định như phải tiếp tục thực hiện nghĩa vụ dân sự, bồi thường thiệt hại. Nghĩa vụ là một quan hệ pháp luật được hình thành trên cơ sở thỏa thuận hoặc pháp luật quy định. Khi đã xác lập quan hệ nghĩa vụ với nhau, bên có nghĩa vụ bị ràng buộc trách nhiệm bởi lợi ích của bên có quyền. Do đó, bên có nghĩa vụ không thực hiện, thực hiện không đúng, không đầy đủ nghĩa vụ của mình sẽ mang lại tổn thất về tài sản hoặc tinh thần cho bên có quyền. Cho nên, hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên có nghĩa vụ sẽ mang đến hậu quả bất lợi cho người này.

“Điều 352. Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ

Khi bên có nghĩa vụ thực hiện không đúng nghĩa vụ của mình thì bên có quyền được yêu cầu bên có nghĩa vụ tiếp tục thực hiện nghĩa vụ.”

Trách nhiệm dân sự phát sinh ngay từ khi bên có nghĩa vụ bị coi là vi phạm nghĩa vụ. Tùy thuộc vào hậu quả của sự vi phạm mà trách nhiệm dân sự có thể được chia thành trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ và trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ phát sinh khi hành vi vi phạm nghĩa vụ chưa gây ra thiệt hại, nghĩa vụ có thể tiếp tục thực hiện được và việc thực hiện nghĩa vụ phải còn ý nghĩa đối với bên có quyền. Xét về hình thức thì trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ giống với việc thực hiện nghĩa vụ. Nhưng xét về bản chất thì loại trách nhiệm này và nghĩa vụ khác nhau ở chỗ: trách nhiệm tiếp tục thực hiện nghĩa vụ phát sinh trên cơ sở (đối ứng với) hành vi vi phạm; việc thực hiện nghĩa vụ thông thường đối ứng với các quyền mà người có nghĩa vụ được hưởng.

2. Bên chậm thực hiện nghĩa vụ phải ngay cho bên có quyền về việc không thực hiện nghĩa vụ đúng thời hạn.”

Chậm thực hiện nghĩa vụ là việc bên có nghĩa vụ không hoàn thành nghĩa vụ đúng hạn. Đây là sự vi phạm về thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Để xác định bên có nghĩa vụ chậm thực hiện nghĩa vụ phải căn cứ vào thời điểm kết thúc thời hạn thực hiện nghĩa vụ. Thời điểm này có thể do các bên thỏa thuận hoặc do pháp luật quy định. Việc chậm thực hiện nghĩa vụ có thể gây ra những hậu quả bất lợi cho bên bị vi phạm.

1. Khi không thể thực hiện được nghĩa vụ đúng thời hạn thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền biết và đề nghị được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ.

Trường hợp không thông báo cho bên có quyền thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường thiệt hại phát sinh, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc do nguyên nhân khách quan không thể thông báo.

2. Bên có nghĩa vụ được hoãn việc thực hiện nghĩa vụ, nếu được bên có quyền đồng ý. Việc thực hiện nghĩa vụ khi được hoãn vẫn được coi là thực hiện đúng thời hạn.”

“Điều 355. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ

1. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là khi đến thời hạn thực hiện nghĩa vụ mà bên có nghĩa vụ đã thực hiện nhưng bên có quyền không tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó.

2. Trường hợp chậm tiếp nhận đối tượng của nghĩa vụ là tài sản thì bên có nghĩa vụ có thể gửi tài sản tại nơi nhận gửi giữ tài sản hoặc áp dụng biện pháp cần thiết khác để bảo quản tài sản và có quyền yêu cầu thanh toán chi phí hợp lý. Trường hợp tài sản được gửi giữ thì bên có nghĩa vụ phải thông báo ngay cho bên có quyền.

3. Đối với tài sản có nguy cơ bị hư hỏng thì bên có nghĩa vụ có quyền bán tài sản đó và phải thông báo ngay cho bên có quyền, trả cho bên có quyền khoản tiền thu được từ việc bán tài sản sau khi trừ chi phí hợp lý để bảo quản và bán tài sản đó.”

Tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là nghĩa vụ của bên có quyền, khi bên có nghĩa vụ thực hiện đúng nghĩa vụ thì bên có quyền tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ đó. Chậm tiếp nhận việc thực hiện nghĩa vụ là hành vi vi phạm của bên có quyền. Hành vi chậm tiếp nhận thực hiện nghĩa vụ xảy ra khi bên có nghĩa vụ đã thực hiện hành vi chuyển giao vật hoặc bàn giao kết quả công việc mà bên có quyền không tiếp nhận đúng thời hạn nghĩa vụ đó.

Nâng Cao Hiệu Quả Đấu Tranh Phòng Chống Tội Phạm / 2023

Năm 2013, công tác triển khai thực hiện NQLT số 01, 03 đã được triển khai đồng bộ từ cấp Trung ương đến địa phương với nhiều hoạt động sôi nổi, đạt được nhiều kết quả tốt; góp phần nâng cao hiệu quả công tác đấu tranh phòng, chống tội phạm (PCTP), ngăn chặn kịp thời việc phát sinh tội phạm, tệ nạn xã hội; đảm bảo giữ vững an ninh trật tự (ANTT) trên các địa bàn.

Với vai trò là lực lượng nòng cốt, lực lượng Công an nhân dân đã triển khai nhiều đợt cao điểm tấn công trấn áp quyết liệt các loại tội phạm trên các tuyến, địa bàn trọng điểm; triển khai hiệu quả các kế hoạch về PCTP. Phối kết hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt và TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh phát huy vai trò chủ động của phụ nữ, đoàn thanh niên trong công tác đấu tranh PCTP, phòng chống bạo lực và gia đình, giữ gìn an ninh trật tự tại cộng đồng dân cư; phát động toàn dân tham gia bảo vệ ANTT tại địa phương, thực hiện có hiệu quả các nhiệm vụ công tác Công an…

Thứ trưởng Lê Quý Vương phát biểu tại Hội nghị. Ảnh Việt Hưng.

Phát biểu tại Hội nghị, Thứ trưởng Lê Quý Vương biểu dương những kết quả Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Liên tịch số 01/TW, 03/TW đã đạt được trong thời gian qua.

Thứ trưởng Lê Quý Vương chỉ rõ năm 2014, Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Liên tịch số 01/TW, 03/TW cần thường xuyên bám sát tình hình, tổ chức triển khai thực hiện có hiệu quả các kế hoạch nội dung NQLT đã đề ra. Kiện toàn, củng cố, nâng cao chất lượng hoạt động của Ban chỉ đạo, cơ quan thường trực Ban chỉ đạo NQLT các cấp. Các đơn vị nghiệp vụ thuộc lực lượng Công an và Công an các tỉnh, thành phố chủ động phối hợp với các tỉnh, thành đoàn xây dựng các kế hoạch, chương trình thực hiện NQLT giai đoạn 2013 – 2015 tại các địa phương.

Nhân rộng, bồi dưỡng, nâng cao hiệu quả hoạt động của các Đội Thanh niên tình nguyện “Thắp sáng niềm tin” tại các xã, phường, thị trấn trong phạm vi toàn quốc và mô hình hoạt động “Thắp sáng ước mơ hoàn lương” tại các trại giam, cơ sở giáo dục, trường giáo dưỡng đối với các đối tượng thanh thiếu niên phạm tội và mắc tệ nạn ma túy. Nâng cao chất lượng phong trào toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc, công tác tuyên truyền với những hình thức, cách làm phong phú, đa dạng, tạo chuyển biến cơ bản về nhận thức đối với các ban ngành và quần chúng nhân dân về công tác đấu tranh PCTP, phòng chống tệ nạn xã hội; hoàn thành thắng lợi các nhiệm vụ công tác năm 2014.

Thứ trưởng Lê Quý Vương cùng các đại biểu dự Hội nghị. Ảnh Việt Hưng.

Tại Hội nghị, Chủ tịch Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nguyễn Thị Thanh Hòa cùng Bí thư TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh Dương Văn An đánh giá cao những kết quả Ban chỉ đạo thực hiện Nghị quyết Liên tịch số 01/TW, 03/TW đạt được trong năm 2013; đồng thời mong muốn trong thời gian tới lực lượng Công an sẽ phối kết hợp chặt chẽ với Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam, TW Đoàn TNCS Hồ Chí Minh nâng cao hiệu quả công tác quản lý, giáo dục con em trong gia đình không phạm tội và tệ nạn xã hội; phòng, chống ma túy trong thanh thiếu niên; góp phần quan trọng vào sự nghiệp đảm bảo an ninh trật tự, phát triển kinh tế – xã hội

Cập nhật thông tin chi tiết về Đấu Tranh Chống Vi Phạm Pháp Luật Kinh Tế Ở Cộng Hòa Dân Chủ Nhân Dân Lào Hiện Nay / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!