Xu Hướng 12/2022 # Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng / 2023 # Top 19 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở tất cả các quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội. Công tác phòng, chống tham nhũng (PCTN) được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài.

Thời gian qua, cùng với những thành tựu quan trọng đạt được về kinh tế xã hội, đối ngoại, bảo đảm quốc phòng, an ninh và trật tự, an toàn xã hội, công tác PCTN có nhiều chuyển biến tích cực cả về phòng ngừa và phát hiện, xử lý các hành vi tham nhũng. Công tác thông tin, tuyên truyền, giáo dục về PCTN được quan tâm; thể chế về quản lý kinh tế – xã hội và PCTN tiếp tục được hoàn thiện; công tác cải cách hành chính, công khai minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị được tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, đạt được những kết quả tích cực; công tác kiểm tra, giám sát, thanh tra, xử lý các vụ việc, điều tra, truy tố, xét xử các vụ án tham nhũng được tăng cường; nhiều vụ án tham nhũng đặc biệt nghiêm trọng, phức tạp đã được phát hiện và tập trung chỉ đạo điều tra, truy tố, xét xử nghiêm minh; vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc và nhân dân trong PCTN từng bước được phát huy; hợp tác quốc tế về PCTN tiếp tục được mở rộng, củng cố. Tham nhũng bước đầu được kiềm chế, góp phần thiết thực giữ vững ổn định chính trị, phát triển kinh tế xã hội, củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước.

Tuy nhiên, công tác PCTN chưa đáp ứng được yêu cầu, chưa đạt mục tiêu “ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng” mà Nghị quyết Trung ương 3 (khóa X) đã đề ra. Tham nhũng vẫn diễn ra nghiêm trọng, với biểu hiện ngày càng tinh vi, phức tạp, xảy ra trên diện rộng ở nhiều ngành, nhiều cấp, nhiều lĩnh vực, “làm cản trở sự phát triển kinh tế – xã hội, gây bức xúc trong nhân dân, thách thức nghiêm trọng đối với vai trò lãnh đạo của Đảng và hiệu lực quản lý của Nhà nước, đe dọa sự tồn vong của chế độ”.

Phiên họp thứ 11 Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN ngày 28-12-2016.

Từ thực tiễn công tác PCTN thời gian qua, có thể rút ra một số bài học kinh nghiệm sau đây:

Một là: Phải biến quyết tâm chính trị của Đảng, Nhà nước về PCTN thành hành động thực tế của cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức và nhân dân, trước hết là sự gương mẫu và quyết liệt của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong công tác PCTN. Quyết tâm chính trị là yếu tố hàng đầu quyết định sự thành công của công tác PCTN, nhưng không có sự gương mẫu, quyết liệt của người đứng đầu, sự vào cuộc của cán bộ, đảng viên, công chức, của cả hệ thống chính trị và toàn xã hội thì quyết tâm chính trị cũng không thể trở thành hiện thực.

Hai là: Trong đấu tranh PCTN phải kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng theo quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước. Trong tình hình hiện nay, phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách.

Ba là: Phải xây dựng, hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế – xã hội và PCTN đồng bộ, thống nhất, khả thi và tổ chức thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả. Thực sự chú trọng kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn; xóa bỏ tình trạng đặc quyền, đặc lợi, kiểm soát có hiệu quả độc quyền của Nhà nước. Thực tế cho thấy, khi quyền lực không được kiểm soát chặt chẽ và tình trạng đặc quyền, đặc lợi còn tồn tại, độc quyền Nhà nước bị lạm dụng, lợi dụng sẽ làm nảy sinh tham nhũng và hình thành “nhóm lợi ích”.

Bốn là: Phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, nhân dân, cơ quan truyền thông và báo chí, doanh nghiệp, doanh nhân trong PCTN; phải xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng trong xã hội, trước hết trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Trong từng thời gian khác nhau phải xác định những nhiệm vụ trọng tâm, những giải pháp có tính đột phá phù hợp với tình hình của đất nước, của địa phương để tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện. Các giải pháp PCTN phải phù hợp với nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa Việt Nam, phù hợp với truyền thống văn hóa của dân tộc.

Năm là: Chú trọng phát huy vai trò nòng cốt của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN (Công an, Viện kiểm sát, Tòa án, Kiểm tra, Thanh tra, Kiểm toán, Ban Nội chính), trước hết là các cơ quan chuyên trách chống tham nhũng trong các cơ quan tiến hành tố tụng. Xây dựng các cơ quan, đơn vị này thực sự trong sạch, vững mạnh, có thực quyền; bảo đảm tính độc lập tương đối trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ, có cơ chế phối hợp chặt chẽ; bảo đảm chế độ, chính sách, phương tiện, điều kiện làm việc, trách nhiệm cao và sự liêm chính của đội ngũ cán bộ, công chức. Tăng cường hợp tác quốc tế về PCTN.

Mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp PCTN đã được xác định một cách có hệ thống trong Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa XI), Kết luận 21 Hội nghị Trung ương 5 (khóa XI) và Văn kiện Đại hội XII của Đảng; được cụ thể hóa và thể chế hóa bởi nhiều quy định của Đảng và Nhà nước, như: Quy định số 47-QĐ/TW ngày 01-11-2011 của Ban Chấp hành Trung ương về những điều đảng viên không được làm, Quy định số 101QĐ/TW ngày 07-6-2012 của Ban Bí thư về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo chủ chốt các cấp, Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) và Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XII) về xây dựng, chỉnh đốn Đảng, Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 0712-2015 của Bộ Chính trị về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng, Luật PCTN, Luật tiếp cận thông tin, Luật cán bộ, công chức và nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác.

Để tạo bước chuyển biến mạnh mẽ, ngăn chặn, từng bước đẩy lùi tham nhũng trong thời gian tới, góp phần thực hiện thắng lợi nhiệm vụ phát triển kinh tế – xã hội, củng cố quốc phòng, an ninh và xây dựng Đảng theo Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, phải tiếp tục lãnh đạo, chỉ đạo quán triệt, thực hiện nghiêm túc và đồng bộ các mục tiêu, quan điểm, chủ trương, nhiệm vụ, giải pháp PCTN theo Nghị quyết của Đảng và pháp luật của Nhà nước; tập trung khắc phục những hạn chế, yếu kém trong thời gian qua, đồng thời quán triệt, thực hiện một số quan điểm, nhiệm vụ trọng tâm và những giải pháp chủ yếu sau đây:

Cần nhận thức sâu sắc quan điểm PCTN trong tình hình hiện nay để khắc phục có hiệu quả hai khuynh hướng: Tả khuynh, nóng vội và hữu khuynh, trì trệ, cầm chừng, thiếu quyết liệt. Phải xác định rõ:

Thứ nhất, phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài; phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Kết hợp chặt chẽ giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng; không có vùng cấm, vùng trống, không có ngoại lệ, không có đặc quyền, bất kể người đó là ai.

Thứ hai, phải tiến hành kiên quyết, kiên trì, liên tục với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động và có trọng tâm, trọng điểm. Gắn PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn PCTN, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng; phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Thứ ba, kiên quyết, kiên trì, khẩn trương xây dựng cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng; cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng.

Một là, tiếp tục đẩy mạnh xây dựng, bổ sung, sửa đổi, hoàn thiện các quy định của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước để bảo đảm công tác PCTN có hiệu lực, hiệu quả; nhất là xây dựng các quy chế nội bộ của Đảng, các nguyên tắc và chuẩn mực đạo đức áp dụng đối với cán bộ, đảng viên, người đứng đầu; xây dựng và hoàn thiện thể chế quản lý kinh tế – xã hội, tổ chức – bộ máy nhà nước, hệ thống chính trị và thể chế về PCTN theo Cương lĩnh xây dựng đất nước trong thời kỳ quá độ lên chủ nghĩa xã hội, Hiến pháp năm 2013 và Nghị quyết Đại hội XII của Đảng.

Thể chế nói chung và thể chế về PCTN nói riêng cùng với chuẩn mực đạo đức trên các lĩnh vực là yếu tố cơ bản, nền tảng, có tác dụng ngăn chặn từ gốc hành vi tham nhũng. Cần có cơ chế kiểm soát chặt chẽ việc xây dựng cơ chế, chính sách và pháp luật về quản lý kinh tế – xã hội để hạn chế sự tác động tiêu cực của “nhóm lợi ích”, “sân sau”, “tư duy nhiệm kỳ”, ngăn chặn nguy cơ nảy sinh tham nhũng từ khi xây dựng và thực hiện chính sách. Thiết lập cơ chế giám sát và kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn một cách hiệu quả; kiên quyết, kiên trì, khẩn trương xây dựng một “cơ chế phòng ngừa để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị để không dám tham nhũng” và “một cơ chế bảo đảm để không cần tham nhũng”.

Hai là, phát huy đầy đủ, nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm và tính tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu cấp ủy, tổ chức đảng, chính quyền, cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN.

Đấu tranh PCTN là cuộc đấu tranh ngay trong mỗi cơ quan, tổ chức, đơn vị, đấu tranh ngay trong chính bản thân mỗi con người. Vì vậy, phải phát huy đầy đủ, nâng cao hơn nữa vai trò, trách nhiệm và tính tiền phong, gương mẫu của cấp ủy, tổ chức đảng và cán bộ, đảng viên, trước hết là của người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương. Người đứng đầu phải nêu cao trách nhiệm, gương mẫu, đi đầu, quyết tâm, quyết liệt, trực tiếp lãnh đạo, chỉ đạo công tác PCTN, trước hết là trong cơ quan, tổ chức, đơn vị, địa phương mình phụ trách. Xây dựng quy định về tiêu chí đánh giá hiệu quả công tác phòng ngừa, phát hiện, xử lý tham nhũng và hoàn thiện chế tài xử lý người đứng đầu khi để xảy ra tham nhũng. Tiếp tục hoàn thiện và thực hiện nghiêm túc quy định về trách nhiệm nêu gương của cán bộ, đảng viên, quy định về những điều đảng viên không được làm. Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu thực hiện nghiêm các quy định của Đảng, Nhà nước về PCTN; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ càng cao càng phải gương mẫu. Kịp thời xử lý nghiêm những người có hành vi vi phạm quy định về PCTN.

Ba là, tăng cường quản lý, giám sát chặt chẽ cán bộ, đảng viên; hoàn thiện, thực hiện nghiêm các quy định về công tác tổ chức, cán bộ phục vụ PCTN.

Khẩn trương rà soát, bổ sung, khắc phục những sơ hở, bất cập trong tuyển dụng, đào tạo, quy hoạch, luân chuyển, bổ nhiệm, quản lý cán bộ, đảng viên. Cấp ủy, tổ chức đảng, người đứng đầu cơ quan, đơn vị phải tăng cường quản lý, giám sát cán bộ, đảng viên; tăng thẩm quyền và trách nhiệm người đứng đầu trong việc tạm đình chỉ công tác cán bộ dưới quyền để kiểm điểm, xác minh, kết luận khi có dấu hiệu vi phạm.

Quy định và thực hiện nghiêm việc xử lý, điều chuyển, miễn nhiệm, thay thế những cán bộ lãnh đạo, quản lý có biểu hiện tham nhũng gây nhiều dư luận, làm việc kém hiệu quả, không hoàn thành nhiệm vụ, yếu về năng lực, kém về phẩm chất đạo đức, uy tín thấp. Quy định cụ thể và thực hiện có hiệu quả chủ trương bố trí một số chức danh cán bộ lãnh đạo cấp tỉnh, cấp huyện không phải là người địa phương; không bố trí những người có quan hệ gia đình cùng làm một số công việc dễ xảy ra tham nhũng.

Siết chặt kỷ luật, kỷ cương trong Đảng và bộ máy nhà nước; cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức vi phạm phải có hình thức xử lý kịp thời, nghiêm minh, công khai. Rà soát, hoàn thiện quy định của Đảng và Nhà nước về xử lý kỷ luật, bảo đảm sự thống nhất, đồng bộ giữa kỷ luật Đảng với kỷ luật hành chính của Nhà nước.

Đẩy mạnh cải cách hành chính, kiên quyết thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương. Đổi mới cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công.

Bốn là, thực hiện nghiêm các quy định về công khai, minh bạch và trách nhiệm giải trình trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị; kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý.

Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình là điều kiện đầu tiên để kiểm soát quyền lực. Công khai, minh bạch, trách nhiệm giải trình càng tốt thì càng tạo điều kiện cho các chủ thể giám sát có hiệu quả công tác PCTN, không có vùng tối, vùng trống, vùng cấm trong PCTN. Tiếp tục hoàn thiện các quy định về công khai, minh bạch trong hoạt động của các cơ quan, tổ chức, đơn vị và các biện pháp bảo đảm để công dân thực hiện đầy đủ quyền tiếp cận thông tin theo quy định của pháp luật.

Kiểm soát có hiệu quả tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, trước hết là cán bộ lãnh đạo, quản lý thì hiệu quả phòng ngừa tham nhũng càng cao. Tiếp tục hoàn thiện quy định về kiểm soát tài sản, thu nhập của người có chức vụ, quyền hạn, nhất là các nội dung về công khai, quản lý, kiểm tra, giám sát, xác minh bản kê khai; trách nhiệm giải trình, chế tài xử lý vi phạm trong kê khai và xử lý tài sản tăng thêm không giải trình được một cách hợp lý. Hoàn thiện quy định và hệ thống cơ sở hạ tầng để chuyển mạnh và tiến tới thực hiện thanh toán không dùng tiền mặt.

Năm là, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát hiện, xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng, nâng cao hiệu quả thu hồi tài sản tham nhũng.

Tiếp tục kiện toàn Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát, Tòa án theo quy định mới của pháp luật; kiện toàn tổ chức, bộ máy, cụ thể hơn về thẩm quyền, trách nhiệm, nâng cao hơn nữa hiệu quả hoạt động của Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Ủy ban Kiểm tra Đảng, Ban Nội chính, Thanh tra Chính phủ, Kiểm toán Nhà nước trong PCTN; có quy định để ngăn ngừa có hiệu quả sự tác động không đúng quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước vào hoạt động của các cơ quan này. Đổi mới phương thức hoạt động, củng cố, bổ sung, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, tăng cường phương tiện làm việc của các cơ quan, đơn vị chuyên trách chống tham nhũng. Về lâu dài, cần nghiên cứu xây dựng mô hình cơ quan chuyên trách chống tham nhũng theo hướng tăng thẩm quyền, trách nhiệm và tính độc lập tương đối trong thực hiện nhiệm vụ.

Sáu là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kiểm soát quyền lực và xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng để ngăn chặn từ gốc nguyên nhân phát sinh tham nhũng.

Thường xuyên kiểm tra, giám sát công tác phát hiện, xử lý tham nhũng của các cơ quan, đơn vị chức năng và người đứng đầu cơ quan, tổ chức, đơn vị trong PCTN.

Phát huy đầy đủ vai trò, trách nhiệm của các cơ quan dân cử, Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, nhân dân và cơ quan truyền thông, báo chí trong PCTN, nhất là giám sát đối với việc thực thi trách nhiệm, quyền hạn của các cơ quan và người có trách nhiệm, thẩm quyền trong PCTN nói chung và trong xử lý các vụ việc, vụ án tham nhũng nói riêng; đồng thời, nghiêm trị những hành vi lợi dụng chống tham nhũng để vu khống, tố cáo sai sự thật, hãm hại người đấu tranh chống tham nhũng.

Xây dựng Đề án tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực, thiết lập bằng được một cơ chế giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức vụ, quyền hạn thực sự có hiệu lực, hiệu quả để ngăn ngừa tham nhũng.

Tăng cường tuyên truyền, giáo dục, nâng cao nhận thức về PCTN; xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng, trước hết là trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Xây dựng văn hóa là xây dựng con người; văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng là ứng xử có văn hóa của con người với tiết kiệm, lãng phí, tham nhũng. Do đó, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng phải quyết liệt, kiên trì, thường xuyên, lâu dài. Trước hết là, phải xây dựng ý thức tự giác chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về PCTN, lãng phí; (2) Chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; (3) Xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; (4) Phê phán, lên án, đấu tranh với tham nhũng, lãng phí; (5) Trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân tham nhũng, lãng phí.

Bảy là, từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra khu vực ngoài Nhà nước; mở rộng và nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế về PCTN.

Tham nhũng không chỉ xảy ra trong các hoạt động thuộc khu vực Nhà nước, mà còn có sự giúp sức, hỗ trợ đắc lực của các đối tượng hoạt động ngoài khu vực Nhà nước. Sự cấu kết giữa những cán bộ, công chức, viên chức thoái hóa, biến chất trong khu vực Nhà nước với những đối tượng hoạt động ngoài khu vực Nhà nước là một dấu hiệu có tính phổ biến hiện nay của tội phạm tham nhũng. Do đó, phải từng bước mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực Nhà nước thì công tác PCTN mới đồng bộ, hiệu quả. Mặt khác, tội phạm tham nhũng có tính quốc tế, là vấn nạn của các quốc gia. Phải đẩy mạnh đàm phán, ký kết các hiệp định tương trợ tư pháp, các thỏa thuận về hợp tác đấu tranh phòng, chống tội phạm với các nước, nhất là các nước có quan hệ truyền thống, các nước có đông người Việt Nam sinh sống. Phối hợp chặt chẽ với cơ quan tư pháp của các nước, các tổ chức quốc tế để truy bắt, dẫn độ số đối tượng phạm tội tham nhũng lẩn trốn, chuyển giao tài liệu, chứng cứ và thu hồi tài sản tham nhũng tẩu tán ra nước ngoài. Tích cực tham gia các sáng kiến, diễn đàn quốc tế, nghiên cứu, trao đổi kinh nghiệm với các quốc gia và các tổ chức quốc tế trong PCTN. Nội luật hóa và thực thi Công ước của Liên hợp quốc về Chống tham nhũng theo đúng lộ trình, phù hợp với điều kiện và pháp luật của Việt Nam.

(1) Kể từ khi thành lập, riêng các vụ án thuộc diện Ban Chỉ đạo theo dõi, chỉ đạo đã đưa ra xét xử sơ thẩm 21 vụ/247 bị cáo, tuyên phạt: 07 bị cáo với 08 án tử hình, 14 bị cáo với 15 mức án tù chung thân, 06 bị cáo tù 30 năm, 203 bị cáo tù từ 15 tháng đến dưới 30 năm; các vụ án Ban Nội chính Trung ương theo dõi, đôn đốc đã xét xử sơ thẩm 18 vụ/68 bị cáo, tuyên phạt: 42 bị cáo tù có thời hạn từ 02 năm đến dưới 30 năm.(2) Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.196.(3) Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng, Nxb CTQG-ST, H.2016, tr.213. (4) Phát biểu của đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng, Trưởng Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN kết luận Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN (ngày 05-5-2014).(5) Chỉ thị số 50-CT/TW ngày 07-12-2015 của Bộ Chính trị.

Đồng chí Phan Đình TrạcỦy viên Trung ương Đảng, Trưởng Ban Nội chính Trung ương, Phó Trưởng ban Thường trực Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN

Cuộc Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng: 5 Năm Nhìn Lại / 2023

Ngay từ những ngày đầu mới giành được chính quyền, Chủ tịch Hồ Chí Minh đã chỉ rõ: Tham ô, lãng phí và bệnh quan liêu là kẻ thù của nhân dân, và của Chính phủ, là “giặc ở trong lòng”, là “giặc nội xâm”(1). Bước vào thời kỳ đổi mới, tình trạng tham nhũng, tiêu cực bộc lộ ngày càng rõ nét, diễn biến hết sức phức tạp, “làm giảm lòng tin của quần chúng đối với sự lãnh đạo của Đảng và sự điều hành của các cơ quan nhà nước”(2). Hội nghị lần thứ năm, Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) xác định “tham nhũng, lãng phí vẫn còn nghiêm trọng, với những biểu hiện tinh vi, phức tạp, xẩy ra trên nhiều lĩnh vực, nhiều cấp, nhiều ngành… gây bức xúc trong xã hội và là thách thức lớn đối với sự lãnh đạo của Đảng, sự quản lý của Nhà nước”(3). Trước tình hình đó, Hội nghị đã quyết định chủ trương thành lập Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN (Ban Chỉ đạo) trực thuộc Bộ Chính trị, do đồng chí Tổng Bí thư làm Trưởng Ban Chỉ đạo; lập lại Ban Nội chính Trung ương và ban nội chính các tỉnh ủy, thành ủy là cơ quan tham mưu cho cấp ủy về công tác nội chính và PCTN; Ban Nội chính Trung ương là Cơ quan Thường trực của Ban Chỉ đạo, với mong muốn tạo bước chuyển mới, mạnh mẽ hơn nữa trong công tác đấu tranh PCTN.

Nhìn lại sau 5 năm Ban Chỉ đạo được thành lập (ngày 1-2-2013)(4), nhất là từ Đại hội XII của Đảng đến nay, cuộc đấu tranh PCTN đã có một bước tiến mạnh, đạt được nhiều kết quả toàn diện, tích cực, rõ rệt, để lại dấu ấn tốt, tạo hiệu ứng tích cực, lan tỏa mạnh mẽ trong toàn xã hội, như đồng chí Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã khẳng định “công tác PCTN, lãng phí, tiêu cực đã trở thành phong trào, xu thế” được nhân dân đồng tình, đánh giá cao, được các tổ chức quốc tế ghi nhận. Tham nhũng đang từng bước được kiềm chế, ngăn chặn, đẩy lùi và có chiều hướng thuyên giảm, góp phần giữ vững ổn định chính trị, thúc đẩy phát triển kinh tế – xã hội, củng cố niềm tin của cán bộ, đảng viên và nhân dân, tạo động lực mới, khí thế mới để toàn Đảng, toàn dân thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội XII của Đảng. Với những kết quả nổi bật là:

Đạt được những kết quả trên là do có sự quyết tâm chính trị cao của Đảng và Nhà nước trong đấu tranh PCTN; sự lãnh đạo, chỉ đạo sâu sát, quyết liệt, ráo riết với nhiều quyết sách đúng đắn, kịp thời của Bộ Chính trị, Ban Bí thư, Ban Chỉ đạo Trung ương về PCTN, Quốc hội, Chính phủ; sự đồng thuận, vào cuộc của cả hệ thống chính trị từ Trung ương đến địa phương; nhất là sự gương mẫu, quyết liệt, nói đi đôi với làm của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo, sự nỗ lực, cố gắng vượt bậc của các cơ quan, đơn vị có chức năng PCTN và các cơ quan tiến hành tố tụng Trung ương, địa phương, sự tham gia tích cực của nhân dân và báo chí.

Tuy nhiên, PCTN là công việc hệ trọng, phải được tiến hành thường xuyên, liên tục, chúng ta không được tự thỏa mãn với những kết quả đã đạt được, nhưng cũng không thể nóng vội; phải kiên quyết, kiên trì với những bước đi vững chắc, tích cực, chủ động, có trọng tâm, trọng điểm. Kết hợp chặt chẽ giữa “xây” và “chống”, “chống” và “xây”; giữa tích cực phòng ngừa, chủ động phát hiện và kiên quyết xử lý nghiêm minh, kịp thời những người có hành vi tham nhũng, bao che, dung túng, tiếp tay cho tham nhũng, can thiệp, cản trở việc chống tham nhũng; trong đó phòng ngừa là chính, cơ bản, lâu dài, phát hiện, xử lý là quan trọng, cấp bách. Phải xây dựng cho được cơ chế phòng ngừa chặt chẽ để không thể tham nhũng; cơ chế răn đe, trừng trị nghiêm khắc để không dám tham nhũng; cơ chế bảo đảm để không muốn tham nhũng. Gắn PCTN với thực hành tiết kiệm, chống lãng phí; gắn PCTN, lãng phí với xây dựng, chỉnh đốn Đảng, phát huy sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị và toàn dân.

Trong thời gian tới cần quán triệt, triển khai thực hiện nghiêm túc Kết luận số 10-KL/TW, ngày 26-12-2016 của Bộ Chính trị về tiếp tục thực hiện Nghị quyết T.Ư 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN, lãng phí, nhất là Kết luận của đồng chí Tổng Bí thư, Trưởng Ban Chỉ đạo tại Hội nghị toàn quốc về công tác PCTN ngày 25-6-2018 vừa qua. Trong đó, tập trung một số nhiệm vụ trọng tâm sau đây:

Cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức phải gương mẫu thực hiện nghiêm các quy định của Đảng và Nhà nước về PCTN; đảng viên phải gương mẫu hơn quần chúng, cán bộ phải gương mẫu hơn nhân viên, cán bộ chức vụ càng cao càng phải gương mẫu. Kiên trì rèn luyện đức tính liêm khiết, xây dựng văn hóa tiết kiệm, không tham nhũng trong cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức. Trước hết là phải xây dựng ý thức tự giác chấp hành, thực hiện nghiêm túc các quy định của Đảng và pháp luật của Nhà nước về PCTN, lãng phí; chủ động xử lý khi có xung đột lợi ích; xây dựng, thực hiện tốt quy tắc ứng xử, quy tắc đạo đức nghề nghiệp; phê phán, lên án, đấu tranh chống tham nhũng, lãng phí; trọng liêm sỉ, danh dự, biết xấu hổ khi bản thân và người thân tham nhũng, lãng phí.

Đẩy mạnh cải cách hành chính; kiên quyết thực hiện có hiệu quả việc sắp xếp lại bộ máy, tinh giản biên chế, gắn với cải cách chế độ công vụ, cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức và đổi mới chính sách tiền lương; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp, nhất là cấp chiến lược đủ phẩm chất, liêm khiết, năng lực và uy tín, ngang tầm nhiệm vụ theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 6, Nghị quyết Trung ương 7 khóa XII.

Bốn là, tăng cường và nâng cao hiệu quả công tác giám sát, kiểm soát quyền lực để PCTN. Tham nhũng là “khuyết tật bẩm sinh của quyền lực”. Phải tăng cường giám sát, kiểm soát quyền lực để bảo đảm quyền lực được vận hành công khai, minh bạch, đúng đắn, để quyền lực không bị “tha hóa”. Mọi quyền lực đều phải được kiểm soát chặt chẽ bằng cơ chế; quyền hạn phải được ràng buộc bằng trách nhiệm, quyền hạn đến đâu trách nhiệm đến đó, quyền hạn càng cao trách nhiệm càng lớn; lạm dụng, lợi dụng quyền hạn phải truy cứu trách nhiệm và xử lý vi phạm. Cùng với hoàn thiện hệ thống thể chế về kinh tế – xã hội và PCTN để “nhốt quyền lực vào trong lồng thể chế”, phải tăng cường giám sát việc thực thi thể chế thông qua công tác kiểm tra, giám sát của Đảng, thanh tra, kiểm toán của Nhà nước, giám sát của các cơ quan và đại biểu dân cử, giám sát của các cơ quan tư pháp, giám sát của Mặt trận Tổ quốc, các tổ chức chính trị – xã hội, của nhân dân và của toàn xã hội.

tiếp tục kiện toàn tổ chức, bộ máy, cán bộ nâng cao hiệu quả hoạt động và sự phối hợp giữa các cơ quan chức năng trong PCTN; tăng cường kiểm soát quyền lực, thực hành liêm chính trong các cơ quan chống tham nhũng. Từng bước tiếp tục mở rộng hoạt động PCTN ra ngoài khu vực nhà nước một cách phù hợp, mở rộng hợp tác quốc tế về PCTN.

(1) Hồ Chí Minh: Toàn tập, Nxb. Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2000, t.7, tr.351-369.

(2) Đảng Cộng sản Việt Nam: Văn kiện Đảng toàn tập, Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành trung ương tại Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ VI của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2006, t.47, tr.353.

(3) Kết luận số 21-KL/TW, ngày 25-5-2012, Kết luận Hội nghị TW 5 khóa XI về tiếp tục thực hiện Nghị quyết TW 3 khóa X về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng đối với công tác PCTN.

(4) Ban Chỉ đạo được thành lập ngày 1-2-2013 theo Quyết định 162-QĐ/TW của Bộ Chính trị.

PHAN ĐÌNH TRẠC, Bí thư T.Ư Đảng, Trưởng Ban Nội chính T.Ư, Phó Trưởng Ban Thường trực Ban Chỉ đạo T.Ư về phòng, chống tham nhũng

Nghị Quyết Của Đảng Về Phòng Chống Tham Nhũng Lãng Phí / 2023

Sách Luật phòng chống tham nhũng các quy định mới về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể Ngày 20 tháng 11-năm 2018, tại kỳ họp thứ 6 khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14. Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2019).

Khái Niệm Tham Nhũng, Tài Liệu Phòng Chống Tham Nhũng

Theo nghĩa rộng, tham nhũng được hiểu là hành vi của bất kỳ người nào có chức vụ, quyền hạn hoặc được giao nhiệm vụ, quyền hạn và lợi dụng chức vụ, quyền hạn, hoặc nhiệm vụ được giao để vụ lợi. Theo Từ điển Tiếng Việt, tham nhũng là lợi dụng quyền hành để nhũng nhiễu nhân dân lấy của . Tài liệu hướng dẫn của Liên hợp quốc về cuộc đấu tranh quốc tế chống tham nhũng (năm 1969) định nghĩa tham nhũng trong một phạm vi hẹp, đó là sự lợi dụng quyền lực nhà nước để trục lợi riêng…

Theo nghĩa hẹp và là khái niệm được pháp luật Việt Nam quy định (tại Luật phòng, chống tham nhũng năm 2005), tham nhũng là hành vi của người có chức vụ, quyền hạn đã lợi dụng chức vụ, quyền hạn đó vì vụ lợi . Người có chức vụ, quyền hạn chỉ giới hạn ở những người làm việc trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị thuộc hệ thống chính trị; nói cách khác là ở các cơ quan, tổ chức, đơn vị có sử dụng ngân sách, vốn, tài sản của Nhà nước. Việc giới hạn như vậy nhằm tập trung đấu tranh chống những hành vi tham nhũng ở khu vực xảy ra phổ biến nhất, chống có trọng tâm, trọng điểm, thích hợp với việc áp dụng các biện pháp phòng, chống tham nhũng như: kê khai tài sản, công khai, minh bạch trong hoạt động của cơ quan, tổ chức, đơn vị, xử lý trách nhiệm của người đứng đầu.

Tham nhũng là hiện tượng xã hội tiêu cực tồn tại ở nhiều quốc gia trên thế giới. Tham nhũng gây thiệt hại nghiêm trọng đến các nguồn lực công, xâm hại đến hoạt động đúng đắn của bộ máy nhà nước, làm sai lệch công lý, công bằng xã hội, làm suy giảm niềm tin, cản trở các nỗ lực giảm nghèo và phát triển đất nước, xã hội. Công tác phòng, chống tham nhũng được Đảng, Nhà nước ta xác định là nhiệm vụ quan trọng, thường xuyên, vừa cấp bách, vừa khó khăn, phức tạp, lâu dài.

Xuất phát từ yêu cầu đó, Thủ tướng Chính phủ vừa ban hành Quyết định số 861/QĐ-TTg ngày 11/7/2019 về việc phê duyệt đề án “Tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng giai đoạn 2019 – 2021″, đề án được triển khai ở tất cả các bộ, ngành, đoàn thể trung ương và chính quyền, đoàn thể địa phương các cấp cho các đối tượng là cán bộ, công chức, viên chức, người lao động trong các cơ quan, tổ chức, đơn vị, doanh nghiệp; học sinh, sinh viên và người dân trên các địa bàn dân cư. Để triển khai hướng dẫn hoạt động tuyên truyền, phổ biến, giáo dục pháp luật về phòng, chống tham nhũng của các bộ, ngành, địa phương, Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản cuốn sách đẹp, khổ 19×27 cm, dày hơn 400 trang, Giá: 395.000đ. Xuất bản quý III/2019.

Nội dung cuốn sách gồm những phần sau:

Chương I. Khái niệm, đặc điểm và các hành vi của tham nhũng

Chương II. Những lĩnh vực thường xảy ra tham nhũng và tác hại của tham nhũng

Chương III. Tư tưởng hồ chí minh về đạo đức liêm chính và phòng, chống tham nhũng

Chương IV. Quan điểm của đảng và nhà nước về phòng, chống tham nhũng

Chương V. Ý nghĩa, tầm quan trọng của phòng, chống tham nhũng và xây dựng đạo đức liêm chính

Chương VI. Kết quả thực hiện, nguyên nhân và nhiệm vụ, giải pháp trong công tác phòng, chống tham nhũng trong thời gian tới

Chương VII. Biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng

Chương VIII. Quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của cán bộ, công chức, viên chức, người lao động và công dân trong phòng, chống tham nhũng

Chương IX. Chỉ số cảm nhận tham nhũng (cpi) và kinh nghiệm quốc tế về phòng, chống tham nhũng

Chương X. Kinh nghiệm phòng, chống tham nhũng trong lịch sử việt nam

Chương XI. Chủ trương, chính sách và chương trình hành động của đảng và nhà nước trong công tác đấu tranh phòng, chống tham nhũng

Chương XII. Công ước của liên hợp quốc về chống tham nhũng

Chương XIII. Luật phòng, chống tham nhũng năm 2018 và văn bản hướng dẫn thi hành

Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ

Chạy chức, chạy quyền” là tình trạng bổ nhiệm chức vụ, quyền hạn cho những cán bộ không đủ tiêu chuẩn, điều kiện được giấu dưới vỏ bọc “đúng quy trình”, “đúng quy định”. Vấn nạn này ngày càng trở nên phổ biến không chỉ gây nhiều hệ lụy trong công tác cán bộ, gây bức xúc trong dư luận xã hội mà còn làm suy giảm lòng tin của nhân dân vào Đảng và sự trong sạch, vững mạnh của Đảng. Để phòng và chống “chạy chức, chạy quyền, khẳng định quyết tâm cao độ của Đảng về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ, ngày 23/9/2019 Bộ Chính trị khóa XII đã ban hành Quy định số 205- QÐ/TW về việc kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền. Theo đó, kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ là việc sử dụng cơ chế, biện pháp nhằm thực hiện nghiêm túc các quy định về công tác cán bộ; phòng ngừa, ngăn chặn, phát hiện, xử lý các hành vi vi phạm các quy định của Đảng, Nhà nước, nhất là các hành vi lợi dụng chức vụ, quyền hạn, lạm quyền, lộng quyền hoặc không thực hiện đầy đủ chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và những việc phải làm trên cương vị được giao trong công tác cán bộ. Để thực thi giải pháp kiểm soát chặt chẽ quyền lực trong công tác cán bộ; chống chạy chức, chạy quyền, chống các biểu hiện của chủ nghĩa cá nhân, cục bộ địa phương, họ hàng… trong công tác cán bộ, Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản cuốn sách:

Sách những quy định mới về kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền, s ách dày 450 trang, Bìa mềm, khổ 19×27, Giá bìa: 395.000 đ/1cuốn. Xuất bản quý IV/2019.

Nội dung cuốn sách gồm các phần như sau:

Phần thứ nhất. Kiểm soát quyền lực trong công tác cán bộ và chống chạy chức, chạy quyền;

Phần thứ hai. Công tác chuẩn bị nhân sự đại hội đảng bộ các cấp và đại hội XIII của Đảng;

Phần thứ ba. Tiêu chuẩn chức danh, tiêu chí đánh giá cán bộ cấp cao; cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp;

Phần thứ bốn. Quy định về tuyển dụng, sử dụng và quản lý công chức, viên chức;

Phần thứ năm. Công tác kiểm tra, giám sát và xử lý kỷ luật cán bộ, đảng viên, tổ chức Đảng vi phạm;

Phần thứ sáu. Quy trình thực hiện việc kiểm tra, giải quyết khiếu nại và thi hành kỷ luật Đảng;

Phần thứ bảy. Quy định về tiếp nhận xử lý đơn thư, tiếp Đảng viên và công dân;

Phần thứ tám. Biện pháp phòng ngừa, phát hiện tham nhũng và xử lý các hành vi tham nhũng

Học và làm theo phong cách lãnh đạo của Chủ tịch Hồ Chí Minh

Nhằm hướng về Bác với tất cả lòng thành kính và biết ơn công lao to lớn của Bác, góp phần thực hiện có hiệu quả Hướng dẫn số 74/HD-BTGTW ngày 20/11/2018 về học tập chuyên đề năm 2019: “Xây dựng ý thức tôn trọng Nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống Nhân dân theo tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh”, Nhà xuất bản Hồng Đức xuất bản và phát hành cuốn Sách được in với hình thức đẹp, khổ 19 x 27cm, dày 400 trang, giá bìa: 395.000đồng/cuốn. Vậy, trân trọng giới thiệu đến quý cơ quan, đơn vị, cá nhân được biết để đặt mua kịp thời./.

Phần I: Một số ảnh tư liệu về Chủ tịch Hồ Chí Minh;

Phần II: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Lãnh tụ vĩ đại trọn đời cống hiến cho sự nghiệp cách mạng;

Phần III: Chủ tịch Hồ Chí Minh – Anh hùng giải phóng dân tộc, Nhà văn hóa kiệt xuất, trọn đời hy sinh cho đất nước và hạnh phúc của nhân dân;

Phần IV: Tư tưởng, đạo đức, phong cách Hồ Chí Minh – Tài sản tinh thần vô giá, mãi mãi là ngọn đuốc soi đường cho cách mạng Việt Nam;

Phần V: Học và làm theo phong cách lãnh đạo gần dân, vì dân của Chủ tịch Hồ Chí Minh;

Phần VI: Xây dựng ý thức tôn trọng nhân dân, phát huy dân chủ, chăm lo đời sống nhân dân.

các quy định mới về phòng, chống tham nhũng, thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong các cơ quan, ban, ngành, đoàn thể

Ngày 20 tháng 11-năm 2018, tại kỳ họp thứ 6 khóa XIV, Quốc hội đã thông qua Luật Phòng, chống tham nhũng số 36/2018/QH14. Luật này quy định về phòng ngừa, phát hiện tham nhũng; xử lý tham nhũng và hành vi khác vi phạm pháp luật về phòng, chống tham nhũng (Có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01-7-2019).

Ngoài ra, trong cuốn sách này đã cập nhật các Thông tư và Nghị định mới như:

– Thông tư số 05/2018/TT-BKHCN ngày 15-05-2018 Sửa đổi, bổ sung quy định về thanh tra viên, công chức thanh tra chuyên ngành và cộng tác viên thanh tra ngành khoa học và công nghệ;

– Quy định số 01-QĐi/TW ngày 10-5-2018 Trách nhiệm và thẩm quyền của Ủy ban Kiểm tra trong công tác phòng, chống tham nhũng;

– Quyết định số 5097/QĐ-BYT ngày 21-8-2018 Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2021 của Bộ Y tế;

– Quyết định số 1821/QĐ-BTP ngày 17-7-2018 Về việc ban hành Kế hoạch thực hiện công tác phòng, chống tham nhũng đến năm 2020 của Bộ Tư pháp; Nhằm giúp Quý Cơ quan, Đơn vị và Quý khách hàng thân thiết nắm bắt những quy định mới nêu trên. Xin trân trọng giới thiệu cuốn phòng chống tham nhũng và công tác thực hiện phòng, chống tham nhũng Sách Luật

Nội dung sách gồm 6 phần sau:

Phần I: Luật Phòng, chống tham nhũng (thông qua tại Kỳ họp thứ 6 Quốc hội Khóa XIV)

Phần II: Tổng hợp một số bài viết về công tác phòng, chống tham nhũng

Phần III: Tìm hiểu Luật Thanh tra và quy trình, thẩm quyền, nội dung, trình tự, thủ tục tiến hành thanh tra, kết luận, xử lý về thanh tra

Phần IV: Hướng dẫn công tác phòng, chống tham nhũng, phát hiện, xử lý vụ việc, vụ án tham nhũng

Phần V: Hướng dẫn công tác giải quyết khiếu nại, tố cáo của các cơ quan, ban ngành

Phần VI: Các Quy định mới về công khai, minh bạch tài sản

Cuốn sách được bố cục thành hai phần:

PHẦN I. BÌNH LUẬN LUẬT XỬ LÝ VI PHẠM HÀNH CHÍNH.

PHẦN II. CÁC QUY ĐỊNH XỬ PHẠT VI PHẠM HÀNH CHÍNH TRONG LĨNH VỰC GIAO THÔNG ĐƯỜNG BỘ,ĐẤT ĐAI, MÔI TRƯỜNG, AN NINH TRẬT TỰ, XÂY DỰNG, THƯƠNG MẠI (MỚI NHẤT 2018).

Phần I: BÌNH LUẬN KHOA HỌC LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH NĂM 2015

Phần 2: CÁC VĂN BẢN PHÁP LUẬT CÓ LIÊN QUAN (ĐANG CÒN HIỆU LỰC THI HÀNH)

Sách Tư Pháp giúp bạn nắm bắt được thông tin hiệu quả hơn

Liên tục cập nhật nhiều đầu sách hay về lĩnh vực Tư pháp ,pháp luật kinh tế xã hộ,chính trị tài chính có chất lượng nội dung luôn đúng và chính xác với mức giá rẻ hơn thị trường từ 25 – 35%.

Miễn phí giao hàng với đơn hàng 250K trở lên (đối với khách hàng ở tỉnh), miễn phí ship vận chuyển nội thành HN (bất kì đơn giá nào – không phụ thuộc có hóa đơn VAT hay không).

Sản phẩm bán ra có đầy đủ hóa đơn VAT, có thể chiết khấu trên hoặc ngoài hóa đơn (tùy khách hàng lựa chọn).

Hỗ trợ đổi trả miễn phí hoặc hoàn tiền 100% nếu chất lượng sách không đạt yêu cầu như: sai lệch về nội dung, chất lượng sách in không rõ ràng, giấy mỏng, không đúng chuẩn ISO… trong 1 tháng.

Sách Tư Pháp Địa chỉ: Ngõ 379 Đội Cấn – Phường Cống Vị – Quận Ba Đình – Hà Nội Điện thoại: ĐT 0975 844 665 + ZALO 0909 366 858

Ngày đăng: 14-11-2019

165 lượt xem

TƯ VẤN MUA SÁCH PHÁP LUẬT

Hotline

Mr. Minh

ZALO

0975 844 665

THỐNG KÊ SÁCH PHÁP LUẬT

Tổng truy cập: 179,722

Đang online: 2

Phát Triển Nông Nghiệp Bền Vững Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng / 2023

(QLNN)- Đối với nền kinh tế Việt Nam, ngành Nông nghiệp không những có vai trò nền móng mà còn là động lực trong quá trình phát triển đất nước, có khả năng lan tỏa sang các ngành khác, giúp tăng khả năng cạnh tranh cũng như ưu thế của Việt Nam, góp phần xóa đói giảm nghèo, tăng thu nhập cho nông dân, bảo đảm an sinh xã hội bằng cách tạo ra việc làm và thu nhập.

1. Sau hơn 30 năm đổi mới, nông nghiệp Việt Nam đã đạt được mức tăng trưởng nhanh và ổn định, cơ cấu nông nghiệp chuyển dịch theo hướng tích cực. Phát triển nông nghiệp (PTNN) không chỉ đi liền với việc khai thác có hiệu quả tài nguyên thiên nhiên, giảm thiểu ô nhiễm môi trường mà còn gắn với giải quyết các vấn đề xã hội như việc làm, chuyển dịch cơ cấu kinh tế, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia; một số mặt hàng xuất khẩu chiếm vị thế cao trên thị trường thế giới. Đời sống vật chất và tinh thần của nhân dân ở hầu hết các vùng nông thôn ngày càng được cải thiện, tỷ lệ nghèo nông thôn giảm nhanh.

Theo số liệu của Tổng cục Thống kê, năm 2017, trong mức tăng 6,81% của toàn nền kinh tế, khu vực nông, lâm nghiệp và thủy sản đã có sự phục hồi đáng kể với mức tăng 2,90% (cao hơn mức tăng 1,36% của năm 2016); giá trị sản xuất tăng 3,16% so với năm 2016 1.

Nhiều mô hình sản xuất rau, hoa, quả ứng dụng công nghệ cao, hữu cơ đã đem lại thu nhập cao gấp 4 – 5 lần so với sản xuất lúa. Giá trị sản xuất trồng trọt tăng khoảng 2,23%, cao hơn mục tiêu đề ra (2%)… Thị trường tiêu thụ nông sản được mở rộng, xuất khẩu tăng mạnh, nhờ đó, nâng tổng kim ngạch xuất khẩu cả năm lên 36,37 tỷ USD, đạt mức cao nhất từ trước đến nay, tăng 13% so với năm 2016; thặng dư thương mại đạt 8,55 tỷ USD, tăng khoảng 1,1 tỷ USD so với năm 2016. Nhiều mặt hàng có kim ngạch tăng cao: rau quả tăng 40,5%; gạo tăng 23,2%, tôm tăng 22,3%, đồ gỗ và lâm sản tăng 9,2%… 2.

Quý I/2018, tốc độ tăng trưởng của ngành Nông nghiệp đạt 3,76%, cao nhất so với cùng kỳ trong 7 năm qua (tốc độ tăng trưởng quý I của ngành Nông nghiệp lần lượt là: năm 2011 tăng 3,65%; năm 2012 tăng 2,66%; năm 2013 tăng 2,01%; năm 2014 tăng 2,03%; năm 2015 tăng 1,58%; năm 2016 giảm 2,69%; năm 2017 tăng 1,38%) 3.

Điều này cho thấy xu hướng chuyển đổi cơ cấu sản phẩm trong nội bộ ngành theo hướng đầu tư vào những sản phẩm có giá trị kinh tế cao đã mang lại hiệu quả. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được, nông nghiệp, nông thôn nước ta vẫn bộc lộ không ít hạn chế, bất cập: sản xuất nhỏ lẻ, năng suất và khả năng cạnh tranh chưa cao, chưa bền vững. Thị trường tiêu thụ thiếu ổn định, chưa đa dạng và lệ thuộc vào một vài thị trường truyền thống, xuất khẩu trực tiếp qua con đường tiểu ngạch nên tiềm ẩn nhiều rủi ro.

Việc chuyển dịch cơ cấu kinh tế và đổi mới cách thức sản xuất trong nông nghiệp còn chậm. Nông nghiệp và nông thôn phát triển thiếu quy hoạch, kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội còn yếu kém. Ứng dụng khoa học và công nghệ, cơ giới hóa trong nông nghiệp còn khiêm tốn. Mô hình liên kết từ sản xuất đến tiêu thụ giữa doanh nghiệp với nông dân triển khai chậm, chưa thật hiệu quả và bền vững. Đời sống vật chất và tinh thần của một bộ phận người dân nông thôn còn thấp, tỷ lệ hộ nghèo giảm chưa bền vững, nhất là vùng đồng bào dân tộc thiểu số, vùng sâu, vùng xa.

2. Trước những áp lực mới trong bối cảnh biến đổi khí hậu, an ninh lương thực và hội nhập quốc tế, mục tiêu đặt ra là PTNN, nông thôn toàn diện, theo hướng bền vững. Nhận thức rõ điều này, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng đã chỉ rõ: “Đẩy nhanh cơ cấu lại ngành nông nghiệp, xây dựng nền nông nghiệp sinh thái phát triển toàn diện cả về nông, lâm, ngư nghiệp theo hướng hiện đại, bền vững, trên cơ sở phát huy lợi thế so sánh và tổ chức lại sản xuất, thúc đẩy ứng dụng sâu rộng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sinh học, công nghệ thông tin vào sản xuất, quản lý nông nghiệp và đẩy nhanh công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn để tăng năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh, bảo đảm vững chắc an ninh lương thực quốc gia cả trước mắt và lâu dài; nâng cao thu nhập và đời sống của nông dân” 4.

Như vậy, PTNN theo hướng bền vững theo tinh thần Đại hội XII của Đảng chính là quá trình nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp, trên cơ sở chuyển dịch cơ cấu kinh tế và sử dụng hợp lý các nguồn tài nguyên thiên nhiên, giải quyết tốt các vấn đề xã hội gắn với bảo vệ môi trường sinh thái.

Mục đích PTNN theo hướng bền vững được Đại hội XII xác định chính là kiến tạo một nền sản xuất nông nghiệp bền vững cả về mặt lực lượng sản xuất và quan hệ sản xuất gắn với bảo vệ môi trường; có tốc độ tăng trưởng, năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất kinh doanh ngày càng cao một cách vững chắc; có mô hình sản xuất – kinh doanh bền vững, đáp ứng ổn định lương thực, thực phẩm, nguyên liệu cho sản xuất và tiêu dùng trong nước, xuất khẩu cả trước mắt và lâu dài.

Theo đó, đối tượng của PTNN theo hướng bền vững là toàn bộ cấu trúc của ngành Nông nghiệp theo nghĩa rộng (bao gồm cả nông nghiệp, lâm nghiệp và ngư nghiệp). Nội dung PTNN theo hướng bền vững mà Đại hội XII đưa ra bao gồm các vấn đề cơ bản như:

Một là, chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp theo hướng bền vững. Đây là quá trình chuyển dịch hợp lý, phù hợp với điều kiện của vùng, phát huy được lợi thế so sánh, bảo đảm nền nông nghiệp tăng trưởng nhanh và ổn định trong thời gian dài. Trong quá trình chuyển dịch cơ cấu kinh tế nông nghiệp, chuyển dịch bền vững không làm ảnh hưởng tới các yếu tố môi trường và xã hội, giúp đạt được hiệu quả nâng cao đời sống nhân dân nói chung.

Hai là, nâng cao năng suất, chất lượng và hiệu quả sản xuất nông nghiệp theo hướng bền vững. Đây là quá trình bảo đảm tăng trưởng ổn định lâu dài, sử dụng hiệu quả các nguồn lực để tăng năng suất lao động, gia tăng giá trị và chất lượng sản phẩm, góp phần tích cực vào phát triển kinh tế của quốc gia.

Ba là, tăng trưởng nông nghiệp toàn diện gắn với bảo đảm công bằng xã hội, xóa đói, giảm nghèo, nâng cao đời sống nhân dân. Mục tiêu PTNN theo hướng bền vững là làm cho cuộc sống ngày càng tốt hơn. Vì vậy, quá trình phát triển cần gắn liền với các yếu tố xã hội như: giải quyết việc làm, sử dụng lao động hợp lý, có chính sách gia tăng sản lượng và giải quyết việc làm cho khu vực nông thôn. Giảm khoảng cách giàu nghèo, ổn định xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống cho nhân dân.

Bốn là, tăng trưởng nông nghiệp gắn với bảo vệ môi trường bền vững; giảm thiểu tác hại ô nhiễm môi trường do quá trình sản xuất nông nghiệp gây ra. Có kế hoạch khai thác, sử dụng tiết kiệm nguồn tài nguyên, duy trì độ màu mỡ của đất, giảm thiểu ô nhiễm không khí và nguồn nước…

3. Để thực hiện tốt những nội dung trên, Nghị quyết Đại hội Đảng lần thứ XII cũng chỉ rõ định hướng: “Cơ cấu lại nông nghiệp theo hướng nâng cao giá trị gia tăng, gắn với phát triển nông thôn và xây dựng nông thôn mới” 5; đồng thời, “xây dựng nền nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa lớn, ứng dụng công nghệ cao, nâng cao chất lượng sản phẩm, bảo đảm vệ sinh an toàn thực phẩm; nâng cao giá trị gia tăng, đẩy mạnh xuất khẩu” 6.

Toàn ngành Nông nghiệp cần tập trung thực hiện mạnh mẽ việc cơ cấu lại, tổ chức sản xuất theo chuỗi giá trị với quy mô lớn hơn và phù hợp hơn với lợi thế, nhu cầu thị trường, thích ứng với biến đổi khí hậu; đẩy mạnh các hoạt động xúc tiến thương mại, phát triển thị trường, kết nối chặt chẽ với mạng lưới tiêu thụ toàn cầu; coi trọng ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ cao, khuyến khích sản xuất nông nghiệp sạch, nông nghiệp hữu cơ; tiếp tục cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tạo thuận lợi hơn nữa cho phát triển doanh nghiệp, kinh tế hợp tác…

Như vậy, cải cách chuyển đổi nền nông nghiệp, làm cho nông nghiệp trở nên hiệu quả và bền vững chính là chìa khóa để nâng cao tăng trưởng GDP cho Việt Nam, giúp Việt Nam trở thành nước có thu nhập trung bình cao. Sự chuyển đổi nông nghiệp theo hướng này đòi hỏi đổi mới chính sách như thúc đẩy sản xuất – chế biến – phân phối sản phẩm nông nghiệp trên nền tảng áp dụng công nghệ, thúc đẩy cạnh tranh trong chuỗi cung ứng nông nghiệp để giúp người nông dân đạt thu nhập cao hơn… Theo đó, cần tập trung vào một số nhóm giải pháp lớn sau:

Thứ nhất, hoàn thiện thể chế, cơ chế, chính sách pháp luật đồng bộ để tạo môi trường, tạo động lực cho PTNN và nông thôn. Trong đó, tạo điều kiện thuận lợi để người nông dân, doanh nghiệp tiếp cận được các nguồn lực một cách bình đẳng, minh bạch, như đất đai, tài nguyên, nguồn vốn, khoa học – công nghệ… Đây là giải pháp rất quan trọng nhằm đổi mới mô hình tăng trưởng trong nông nghiệp.

Đẩy mạnh tái cơ cấu nền nông nghiệp, tập trung vào tái cơ cấu đầu tư công và dịch vụ công trong nông nghiệp, tạo môi trường thuận lợi cho hình thành có hiệu quả và bền vững chuỗi giá trị nông sản dựa trên lợi thế so sánh của từng vùng, từng địa phương; nghiên cứu và ứng dụng khoa học – công nghệ, nhất là công nghệ sản xuất và chế biến nông sản.

Sử dụng tiêu chí cụ thể để đánh giá hiệu quả sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, bao gồm: tăng chất lượng cây trồng, vật nuôi; chất lượng cây trồng, vật nuôi ổn định; tăng khả năng tiêu thụ sản phẩm; tăng thu nhập ròng từ sản xuất nông nghiệp. Tập trung phát triển sản phẩm có khả năng cạnh tranh và thị trường tiêu thụ; đa dạng hóa thị trường, cả thị trường trong nước và xuất khẩu.

Thứ hai, tổ chức lại sản xuất, cơ chế hóa và hiện đại hóa nền sản xuất lớn, đưa kỹ thuật số, tự động hóa, công nghệ sinh học vào sản xuất nông nghiệp, gắn kết sản xuất và tiêu thụ giữa người sản xuất với người tiêu dùng. Tập trung tháo gỡ những điểm nghẽn, tạo động lực sản xuất cho các vùng chuyên canh lớn.

Mở rộng và đẩy mạnh liên kết 4 nhà: Nhà nước, nhà nông, nhà doanh nghiệp, nhà khoa học. Trong đó lấy doanh nghiệp hợp tác xã, chủ trang trại là trung tâm, là động lực cho quá trình phát triển, là người tổ chức sản xuất, là người cung cấp dịch vụ đầu vào và tiêu thụ sản phẩm trong một chuỗi giá trị; người nông dân đóng vai trò là người sản xuất và được hưởng lợi ích phân phối từ lao động của mình cũng như từ việc góp vốn của mình. Có chính sách điều tiết, hỗ trợ những người nông dân còn khó khăn về đời sống.

Thứ ba, rà soát, điều chỉnh lại chiến lược quy hoạch, kế hoạch ngành, các lĩnh vực, các sản phẩm nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế của quốc gia, của vùng, của địa phương. Thực hiện quy hoạch nông nghiệp theo hướng dựa vào thị trường mở, quy hoạch PTNN cả trong mục tiêu trung hạn và dài hạn (50 hoặc 100 năm) để có chiến lược bảo tồn và sử dụng đất nông nghiệp trước khi thực hiện các quy hoạch phát triển công nghiệp và đô thị.

Đối với loại đất nông nghiệp, cần tạo điều kiện cho người sử dụng đất quyết định phương thức sử dụng từng loại đất phù hợp theo tín hiệu thị trường hơn là cố định phương thức sử dụng cho từng loại đất. Gắn quy hoạch với nhu cầu và diễn biến của thị trường, coi trọng thị trường trong nước nhưng phải lấy thị trường khu vực và quốc tế làm mục tiêu để nâng cao sức cạnh tranh của sản phẩm, gắn quy hoạch với thích ứng biến đối khí hậu…

Thứ tư, kế hoạch hóa đầu tư hạ tầng phục vụ sản xuất nông nghiệp, phân định rõ các nguồn vốn cho đầu tư hạ tầng. Nguồn vốn của Nhà nước sử dụng đầu tư hạ tầng chính, nguồn vốn của doanh nghiệp đầu tư cho hạ tầng các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, phục vụ cho nông nghiệp, chế biến, các khu công nghệ cao. Vốn của người dân tham gia vào quá trình sản xuất.

Tổ chức lại sản xuất, phát triển các hình thức tổ chức sản xuất phù hợp theo hướng hợp tác, liên kết theo chuỗi giá trị. Giảm bớt các khâu trung gian để hạ giá thành sản phẩm, nhân rộng các mô hình sản xuất hiệu quả, đặc biệt là các mô hình sản xuất nông nghiệp công nghệ cao, công nghệ hữu cơ… Xây dựng nền nông nghiệp có hệ thống các cơ sở sản xuất phân bón và thuốc bảo vệ thực vật thân thiện với môi trường.

Thứ năm, tăng cường xây dựng thương hiệu cho nông sản Việt Nam. Chương trình Thương hiệu quốc gia ngoài việc lựa chọn các thương hiệu dẫn đầu như hiện nay, cần lựa chọn, khai thác sản phẩm độc đáo, có chỉ dẫn địa lý ở các địa phương, tích hợp các giá trị, tri thức bản địa và thương mại hóa. Mỗi ngành hàng nông sản cần đề ra một chiến lược phát triển thương hiệu của mình…

Dựa vào mô hình giá trị thương hiệu được đề xuất, các đơn vị/cá nhân một mặt đặt tên thương hiệu phù hợp cho sản phẩm, mặt khác đẩy mạnh quảng bá thương hiệu để tăng sự liên tưởng tích cực và tăng chất lượng cảm nhận về thương hiệu. Xác định rõ nhóm khách hàng mục tiêu, khảo sát nhu cầu thật sự của nhóm này đối với nông sản, từ đó định vị thương hiệu dựa vào khách hàng và xây dựng thông điệp truyền thông phù hợp để nâng cao hiệu quả xây dựng thương hiệu.

Tổ chức tốt thị trường, hệ thống và các kênh phân phối nông sản. Việc tổ chức tốt lưu thông hàng hóa cần tập trung tạo ra những tiền đề bên trong cho sản xuất và phân công lao động trong nông nghiệp theo hướng mở rộng các ngành nghề chế biến dịch vụ bên cạnh sản xuất nông nghiệp, đồng thời tạo ra các tiền đề bên ngoài (nhất là mở rộng thị trường xuất khẩu) để đưa sản xuất hàng hoá ở nông thôn lên quy mô lớn, tiếp cận với thị trường thế giới.

Thứ sáu, đẩy mạnh thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn. Đầu tư vào kinh tế nông nghiệp, nông thôn thường có nhiều rủi ro nên thiếu sự hấp dẫn và khó thu hút đầu tư FDI. Vì vậy, Nhà nước cần có chính sách kết hợp với các doanh nghiệp cung cấp quy trình sản xuất ổn định, đào tạo nâng cao trình độ, kỹ thuật tay nghề cho nông dân.

Doanh nghiệp cần dẫn đầu giúp nông dân cập nhật khoa học kỹ thuật, nhất là tìm ra giống cây, con mới năng suất cao để dần khẳng định thị trường đầu ra của sản phẩm nông nghiệp. Nâng cao chất lượng nguồn nhân lực lực ngành nông nghiệp nói chung, đặc biệt là đào tạo, trang bị kiến thức cho người dân để người dân có đủ kiến thức, thông tin, nắm bắt được thị trường và tạo ra những sản phẩm có năng suất, chất lượng, hiệu quả và tiêu thụ được./.

Chú thích:1. Tổng cục Thống kê. Báo cáo tình hình kinh tế – xã hội năm 2017. 2.Chuyển đổi cơ cấu, phát triển nông nghiệp thông minh, bền vững và an toàn. http://baocantho.com.vn, ngày 09/01/2018. 3.Phát triển nông nghiệp bền vững trong bối cảnh hội nhập. http://baovemoitruong.org.vn, ngày 14/4/2018. 4, 5, 6. Đảng Cộng sản Việt Nam.Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII. Văn phòng Trung ương Đảng. H. NXB Sự thật, 2016, tr. 92, 23, 24.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đấu Tranh Phòng, Chống Tham Nhũng Theo Tinh Thần Nghị Quyết Đại Hội Xii Của Đảng / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!