Xu Hướng 8/2022 # Đề Tài Rèn Kĩ Năng Đọc Văn Bản Tiếng Việt Cho Học Sinh, Điểm 8 # Top View

Xem 693

Bạn đang xem bài viết Đề Tài Rèn Kĩ Năng Đọc Văn Bản Tiếng Việt Cho Học Sinh, Điểm 8 được cập nhật mới nhất ngày 16/08/2022 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 693 lượt xem.

Lòng Yêu Nước Trong Văn Bản Trung Đại Sách Giáo Khoa Ngữ Văn 8

Giáo Án Ngữ Văn 10 Tiết 45: Đọc

Soạn Bài Văn Bản Văn Học Văn 10: Hãy Nêu Những Tiêu Chí Chủ Yếu Của Văn Bản Văn Học?

Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc Chính Xác Và Đầy Đủ Nội Dung

Phân Tích Văn Tế Nghĩa Sĩ Cần Giuộc

, DOWNLOAD ZALO 0932091562 at BẢNG BÁO GIÁ DỊCH VỤ VIẾT BÀI TẠI: chúng tôi

Published on

1. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH THANH QUÝ RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU – SƠN LA KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Sơn La, năm 2014

2. BỘ GIÁO DỤC VÀ ĐÀO TẠO TRƢỜNG ĐẠI HỌC TÂY BẮC ĐINH THANH QUÝ RÈN KĨ NĂNG ĐỌC VĂN BẢN TIẾNG VIỆT CHO HỌC SINH LỚP 2 TRƯỜNG TIỂU HỌC THỊ TRẤN THUẬN CHÂU – SƠN LA Chuyên ngành: Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt KHÓA LUẬN TỐT NGHIỆP ĐẠI HỌC Ngƣời hƣớng dẫn: TS. Trần Thị Thanh Hồng Sơn La, năm 2014

3. Lời cảm ơn Em xin bày tỏ sự biết ơn sâu sắc tới Tiến sĩ Trần Thị Thanh Hồng, ngƣời đã luôn tận tình hƣớng dẫn, giúp đỡ và tạo điều kiện cho em hoàn thành khóa luận này. Em cũng xin bày tỏ lòng biết ơn chân thành đến các thầy, cô giáo khoa Tiểu Học – Mầm Non, Trung tâm Thông tin thƣ viện Trƣờng Đại học Tây Bắc đã tạo điều kiện thuận lợi nhất cho em trong quá trình thực hiện khóa luận. Sơn La, tháng 5 năm 2014 Tác giả Đinh Thanh Qúy

4. DANH MỤC CHÚ GIẢI CÁC CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT TẮT CHỮ VIẾT ĐẦY ĐỦ SGK sách giáo khoa PPDH phƣơng pháp dạy học HS học sinh GV giáo viên HSTH học sinh tiểu học TV tiếng việt

6. CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN……………………………………………………….. 22 2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La…………………………………. 22 2.1.1. Mục đích khảo sát …………………………………………………………………………. 22 2.1.2. Đối tƣợng và thời gian địa bàn khảo sát …………………………………………… 22 2.1.3. Nội dung khảo sát………………………………………………………………………….. 23 2.1.4. Phƣơng pháp khảo sát ……………………………………………………………………. 23 2.2. Kết quả khảo sát………………………………………………………………………………. 23 2.2.1. Chƣơng trình phân môn tập đọc lớp 2 ……………………………………………… 23 2.2.2. Thực trạng dạy học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La ………………………………………….. 27 2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La……………………………………………………………………………… 30 2.3. Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát……………………………………………………….. 32 Tiểu kết chƣơng 2…………………………………………………………………………………… 33 CHƢƠNG 3: BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2………………………………………………………………………………….. 34 3.1. Vận dụng các phƣơng pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc…………… 34 3.1.1. Phƣơng pháp luyện đọc theo mẫu……………………………………………………. 34 3.1.2. Phƣơng pháp đọc diễn cảm …………………………………………………………….. 34 3.1.3. Phƣơng pháp giao tiếp (phƣơng pháp đàm thoại)………………………………. 35 3.1.4. Phƣơng pháp trực quan ………………………………………………………………….. 35 3.2. Thiết kế mẫu bài ” Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr)…………………… 36 3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu ………………………………………………………………………. 36 3.2.1.1. Mục đích của thiết kế giáo án ………………………………………………………. 36 3.2.1.2. Yêu cầu của thiết kế ……………………………………………………………………. 36 3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục) ………………………………….. 37 Tiểu kết chƣơng 3…………………………………………………………………………………… 37 C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ………………………………………………… 38 1. Kết luận …………………………………………………………………………………………….. 38 2 Đề xuất ………………………………………………………………………………………………. 39 TÀI LIỆU THAM KHẢO …………………………………………………………………….. 41

7. 1 A – PHẦN MỞ ĐẦU 1. Lý do chọn đề tài 1.1. Ngôn ngữ là phương tiện giao tiếp quan trọng nhất của loài người, là công cụ tổ chức quá trình tư duy và là phương tiện bộc lộ tư duy. Ngôn ngữ còn là hiện thực trực tiếp của tư tưởng. Ngôn ngữ là phƣơng tiện biểu hiện tâm trạng tình cảm của loài ngƣời. Môn Tiếng Việt rất quan trọng đối với học sinh tiểu học. Bởi vì Tiếng Việt là phƣơng tiện để học sinh giao tiếp và học tập. Chƣơng trình tiểu học mới nói chung và lớp 2 nói riêng xác định mục tiêu của phân môn Tiếng Việt ở bậc tiểu học là: – Hình thành và phát triển ở học sinh các kĩ năng sử dụng Tiếng Việt (Nghe, nói, đọc, viết) để học tập và giao tiếp trong các môi trƣờng hoạt động của lứa tuổi. Thông qua việc dạy học Tiếng Việt, góp phần rèn luyện các thao tác của tƣ duy. – Cung cấp cho học sinh những kiến thức sơ giản về Tiếng Việt và những hiểu biết sơ giản về xã hội. Tự nhiên và con ngƣời, về văn hóa văn học của Việt Nam và nƣớc ngoài. – Bồi dƣỡng tình yêu Tiếng Việt và hình thành thói quen giữ gìn sự trong sáng, giàu đẹp của Tiếng việt, góp phần hình thành, nhân cách con ngƣời Việt Nam xã hội chủ nghĩa. 1.2 Xuất phát từ mục tiêu, nhiệm vụ của day đọc ở tiểu học Tập đọc là một phân môn cụ thể hóa các mục tiêu của môn Tiếng Việt. Nhiệm vụ quan trọng nhất của nó là hình thành năng lực đọc cho học sinh. Năng lực đọc đƣợc tạo nên từ bốn kĩ năng cũng là bốn yêu cầu về chất lƣợng của “đọc” đọc đúng, đọc nhanh ( đọc lƣu loát, trôi chảy ) đọc có ý thức ( không hiểu đƣợc nội dung những điều mình đọc hay còn gọi là đọc hiểu) và đọc diễn cảm. Bốn kĩ năng này đƣợc hình thành trong hai hình thức đọc: đọc thành tiếng và đọc thầm. Chúng đƣợc rèn luyện đồng thời và hỗ trợ lẫn nhau. Sự hoàn thiện một trong những kĩ năng này sẽ có tác động tích cực tới những kĩ năng khác.

8. 2 Ví dụ: Đọc đúng là tiền đề của đọc nhanh cũng nhƣ cho phép thông hiểu nội dung văn bản. Ngƣợc lại nếu không hiểu điều đang đọc thì sẽ không đọc nhanh và diễn cảm đƣợc. Nhiều khi, khó mà nói đƣợc rạch ròi kĩ năng nào làm cơ sở cho kĩ năng nào, nhờ đọc đúng mà hiểu đúng, hay chính nhờ hiểu đúng mà đọc đúng. Vì vậy trong dạy học không thể xem nhẹ yếu tố nào. Đọc là giáo dục lòng ham đọc sách hình thành phƣơng pháp và thói quen làm việc với văn bản, làm việc với sách cho học sinh. Làm cho sách trở thành một sự tôn sùng ngự trị trong nhà trƣờng đó là một trong những điều kiện để trƣờng học thực sự trở thành trung tâm văn hóa. Nói cách khác, thông qua việc dạy đọc, phải làm cho học sinh thích đọc và thấy đƣợc rằng khả năng đọc là có lợi ích cho học sinh thích đọc, phải làm cho học sinh thấy đó là một trong những con đƣờng đặc biệt để tạo cho mình một cuộc sống trí tuệ đầy đủ và phát triển. Về đọc không thể tách rời khỏi những nội dung đƣợc đọc nên bên cạnh nhiệm vụ rèn luyện kĩ năng, giáo dục lòng yêu sách phân môn Tập đọc còn có nhiệm vụ. + Làm giàu kiến thức ngôn ngữ, đời sống và kiến thức văn học cho học sinh. + Phát triển ngôn ngữ và tƣ duy cho học sinh. + Giáo giục tƣ tƣởng, đạo đức, tình cảm, thị hiếu thẩn nĩ cho học sinh. 1.3. Xuất phát từ tính tất yếu phải đổi mới phương pháp và hình thức tổ chức dạy học Tiếng Việt theo chương trình mới Môn Tiếng việt trong chƣơng trình tiểu học mới, thể hiện sự đổi mới cả về mục tiêu – nội dung và phƣơng pháp dạy học, phƣơng tiện dạy học, các hình thức tổ chức dạy học, các đánh giá kết quả của học sinh. Hiện nay mục tiêu giáo dục đã xác định đƣợc rõ ràng, chƣơng trình SGK tƣơng đối ổn định – nội dung… Chính vì vậy để thƣờng xuyên nâng cao chất lƣợng dạy học thì phƣơng pháp dạy học càng trở nên quan trọng vô cùng. Tầm quan trọng đó phải thể hiện theo quan điểm : “Dạy học lấy học sinh làm trung tâm”. Nhằm phát huy tính tích cực chủ động sáng tạo của học sinh. Do đó chúng ta có thể khẳng định rằng: Việc đổi mới phƣơng pháp dạy học

9. 3 Tiếng Việt ở tiểu học nói chung và đổi mới phƣơng pháp dạy học tập đọc nói riêng, là một việc làm rất cần thiết và thƣờng xuyên để nâng cao chất lƣợng học tập đọc. Tạo cho học sinh nắm đƣợc các kiến thức kĩ năng theo yêu cầu của môn học đúng, để hiểu đƣợc nội dung đƣợc đọc. Còn vận dụng các phƣơng pháp phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí trình độ của học sinh thực tế ở lớp học, trƣờng ở vùng miền núi là cần thiết góp phần thực hiện thành công việc đổi mới phƣơng pháp dạy theo quan điểm giao tiếp. 1.4.Thực trạng dạy đọc ở trường tiểu học hiện nay Việc dạy đọc bên cạnh những thành công còn có những hạn chế: Học sinh chƣa đọc đƣợc nhƣ ta mong muốn, đọc chƣa đúng ở những chỗ ngắt nhịp vì các em chƣa hiểu đƣợc nội dung câu thơ câu văn nên các em ngắt nghỉ không đúng với nội dung biểu cảm của tác giả. Học sinh chƣa hiểu cách nói văn chƣơng, vốn lí luận chƣa có các em thƣờng ngắt giọng giữa từ ghép, các em chƣa đọc đúng chỗ nào cần lên giọng, chỗ nào cần hạ giọng xuống khi đọc câu hỏi giọng đọc của các em còn đều đều chƣa toát lên đƣợc nội dung câu hỏi. Khi đọc các câu hội thoại các em chƣa phân biệt đƣợc giọng của nhân vật, giọng của tác giả. Giáo viên tiểu học còn lúng túng các bƣớc khi dạy tập đọc theo chƣơng trình mới, vận dụng quy trình còn máy móc dạy còn theo sách giáo viên, sách thiết kế bài soạn chứ không chú ý đến đặc thù của địa phƣơng. Cần đọc bài tập đọc (mỗi dạng thơ, văn xuôi) nhƣ thế nào, làm thế nào để chƣa lỗi phát âm cho học sinh dân tộc thiểu số, làm thế nào để các em đọc đúng, đọc nhanh hơn, rèn kỹ năng đọc đúng, đọc hiểu một nội dung để đọc hay hơn, diễn cảm hơn. Làm thế nào để hiểu đƣợc “văn”, làm sao để phối hợp đọc thành tiếng và đọc hiểu, với cách dạy nhƣ thế nào để cho những gì đƣợc đọc hiểu và tác động vào chính cuộc sống của các em… Đó là những trăn trở của mỗi giáo viên trong giờ tập đọc, từ thực trạng đó nên dẫn đến giờ dạy hiệu quả chƣa cao mà trong chƣơng trình chƣa có hƣớng dẫn cụ thể, chƣa đúc rút kinh nghiệm trong giảng dạy.

10. 4 Xuất phát từ những lí do nêu trên trong khóa luận này tôi chọn nghiên cứu đề tài : “Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu- Sơn La. 2. Lịch sử nghiên cứu vấn đề Chƣơng trình dạy Tiếng Việt ở Tiểu học năm 2006 là sự hoàn thiện tiếp tục Chƣơng trình dạy học Tiếng Việt năm 2001. Chƣơng trình mới đòi hỏi phải có sự đổi mới phƣơng pháp cũng nhƣ các hình thức tổ chức dạy học cho phù hợp. Chính vì vậy, trong những năm gần đây có nhiều công trình nghiên cứu đƣa ra các biện pháp nhằm nâng cao chất lƣợng và hiệu quả dạy học nói chung và ở Tiểu học nói riêng. Thực hiện khóa luận này, chúng tôi qyan tâm tới một số công trình nghiên cứu sau. “Phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt ở tiểu học”( NXB Đại học Sƣ phạm – 2002) với mục tiêu trang bị cho sinh viên những kiến thức cơ bản, hiện đại và các kĩ năng giảng dạy Tiếng Việt ở trƣờng tiểu học. Giáo trình cung cấp thông tin về những vấn đề chung của phƣơng pháp dạy học Tiếng Việt và dạy học các phân môn Tiếng Việt ở tiểu học. Bên cạnh đó, các tác giả còn đƣa ra nhiều phƣơng pháp dạy học và hình thức tổ chức dạy học phát huy tính tích cự của học sinh trong từng phân môn cụ thể. “Dạy và học môn Tiếng Việt ở tiểu học theo chƣơng trình mới” ( NXB Giáo Dục – 2007) đã cung cấp những thông tin tổng quát về chƣơng trình dạy tiếng mẹ đẻ ở cấp Tiểu học của một số nƣớc trên thế giới. Tác giả cho rằng : việc dạy Tiếng Việt phải nhằm cả vào hia chức năng của ngôn ngữ ( công cụ tƣ duy và công cụ giao tiếp); phải chú trọng vào cả bốn kĩ năng ( nghe, nói, đọc, viết ); phải hƣớng tới sự giao tiếp và sử dụng phƣơng pháp giao tiếp. Bên cạnh đó, các tác giả cũng đƣa ra vấn đề cần tiếp thu kinh nghiệm và thành tựu dạy tiếng mẹ đẻ trên thế giới cũng nhƣ nhƣợc điểm cần khắc phục của những loại chƣơng trình Tiếng Việt trong mấy thập niên trƣớc đó. Đó chính là cơ sở khoa học và thực tiễn của việc xây dựng chƣơng trình mới, đổi mới phƣơng pháp dạy học môn Tiếng Việt nói chung và môn Tập đọc nói riêng.

13. 7 6.2. Phƣơng pháp điều tra khảo sát – Điều tra thực trạng dạy học ở Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La. – Dạy một tiết tập đọc ở lớp 2 bài ” Bóp nát quả cam” – Rèn kỹ năng đọc cho học sinh lớp 2. 7. Giả thuyết khoa học Hiện nay học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La còn hạn chế về việc đọc văn bản Tiếng Việt nếu giáo viên có biện pháp phù hợp trong quy trình hƣớng dẫn học sinh đọc một cách khoa học thì sẽ góp phần khắc phục những khó khăn đó. Các biện pháp đề xuất trong khóa luận đƣợc nghiệm thu hy vọng sẽ góp thêm tiếng nói giúp học sinh lớp 2 luyện đọc tốt hơn. 8. Đóng góp của đề tài Về lí luận: Nghiên cứu đƣợc những vấn đề lí luận về vai trò của phân môn Tập đọc ở tiểu học nói chung và ở lớp 2 nói riêng; Khẳng định những cơ sở khoa học của việc dạy học tập đọc. Đề xuất những biện pháp rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh. Về thực tiễn: Khảo sát đánh giá đƣợc thực trạng rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La; Thiết kế mẫu giáo án bài tập đọc ứng dụng những biện pháp đã đề xuất. 9. Cấu trúc của khóa luận Ngoài phần mở đầu, phần kết luận và tài liệu tham khảo khóa luận gồm 3 chƣơng: Chƣơng 1, Cơ sở lí luận. Chƣơng 2, Cơ sở thực tiễn Chƣơng 3, Biện pháp nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc lớp 2.

17. 11 1.2. Cơ sở khoa học của việc dạy tập đọc lớp 2 1.2.1. Cơ sở tâm sinh lí của việc dạy tập đọc Để tổ chức giờ đọc cho học sinh chúng ta cần hiểu rõ quá trình đọc, nắm bản chất kĩ năng đọc. Đặc biệt tâm sinh lý của học sinh khi đọc là cơ sở của việc dạy đọc. Đọc là một hoạt động trí tuệ phức tạp mà cơ sở là việc tiếp nhận thông tin bằng chữ viết dựa vào hoạt động của cơ qua thị giác. Đọc đƣợc xem là một hoạt động có hai mặt quan hệ mật thiết mới nhau, là việc sử dụng bộ mã chữ – âm để phát ra một cách trung thành những dòng văn tự ghi lại bằng lời nói âm thanh. Đó là vận động tƣ tƣởng, tình cảm, sử dụng bộ mã chữ nghĩa, tức là mối liên hệ giữa các con chữ và ý tƣởng, các khái niệm chứa đựng bên trong để nhớ và hiểu cho đƣợc nội dung những gì đƣợc đọc. Đọc bao gồm những yếu tố tiếp nhận bằng mắt, hoạt động của các cơ quan phát âm, các cơ quan thính giác và thông hiểu những gì đƣợc đọc, càng ngày những yếu tố này càng gần với nhau hơn, tác động đến nhau nhiều hơn. Nhiệm vụ cuối cùng là sự phát triển kĩ năng đọc là đạt đến sự tổng hợp giữa những mặt riêng lẻ này trong quá trình đọc. Đó là sự phân biệt ngƣời mới biết đọc và ngƣời đọc thành thạo. Học sinh càng có khả năng tổng hợp các mặt trên bao nhiêu thì việc đọc càng hoàn thiện, càng chính xác hoàn thiện bấy nhiêu. Việc hình thành kỹ năng đọc trùng với kĩ thuật đọc ( tức là việc chuyển dạng hình thức chữ viết của từ và âm thanh ) đọc đƣợc hiểu và kĩ thuật đọc cùng với sự thông hiểu đọc ( không chỉ hiểu nghĩa từ riêng lẻ mà cả câu, cả bài ) ý nghĩa cả hai mặt của thuật ngữ “đọc” đƣợc ghi nhận trong các tài liệu tâm lí học và phƣơng pháp dạy học. Kỹ năng đọc là một kỹ năng phức tạp, đòi hỏi một quá trình luyện tập lâu dài T.G.E Gôrốp chia việc hình thành kĩ năng này qua ba giai đoạn phân tích, tổng hợp (còn gọi là phát sinh, hình thành một cấu trúc chỉnh thể của hành động) và giai đoạn tự động hóa. Học sinh lớp 2, 3 bắt đầu đọc tổng hợp. Thời gian gần đây ngƣời ta đã chú trọng hơn đến những mối quan hệ quy định lẫn nhau của việc hình thành kĩ năng

18. 12 đọc, làm việc với văn bản. Đòi hỏi giờ tổ chức tập đọc sao cho việc phân tích nội dung của bài học, đồng thời hƣớng đến việc hoàn thiện kỹ năng đọc, hƣớng đến đọc có ý thức bài đọc. Đọc là hiểu nghĩa chữ viết, nếu trẻ không hiểu thì những từ đƣa ra cho các em đọc thì các em sẽ có hứng thú học tập và không có khả năng thành công. Do đó hiểu những gì đƣợc đọc sẽ tạo ra động cơ hứng thú cho việc đọc. Mục đích này chỉ có thể đạt đƣợc thông qua con đƣờng luyện giao tiếp có ý thức. một phƣơng tiện luyện tập quan trọng, cũng đồng thời là một mục tiêu đạt tới sự chiếm lĩnh ngôn ngữ. Chính là việc đọc cả đọc thành tiếng và đọc thầm. Quá trình hiểu văn bản bao gồm các bƣớc sau: + Hiểu nghĩa các từ ngữ + Hiểu nghĩa các khối đoạn + Hiểu nghĩa đƣợc cả bài Học sinh tiểu học không phải bao giờ cũng dễ dàng hiểu đƣợc những câu điều mình học. Hầu nhƣ toàn bộ sức chú ý đều tập trung vào việc nhận ra mặt chữ, đánh vần để phát âm, còn nghĩa thì chƣa đủ thì giờ và sức lực để nhận biết. Mặt khác, do vốn từ còn năng lực liên kết câu thành ý còn hạn chế nên việc hiểu và nội dung còn khó khăn. Đây là cơ sở đề xuất các biện pháp hình thành năng lực đọc hiểu cho học sinh tiểu học. 1.2.2. Cơ sở giáo dục học đối với việc dạy đọc Phƣơng pháp dạy Tập đọc phải dựa trên cơ sở giáo dục học. Giáo dục học cung cấp cho phƣơng pháp dạy học tập đọc những hiểu biết về mục tiêu giáo dục nói chung. Mục đích của giáo dục là phát triển tâm hồn và thể chất của học sinh, chuẩn bị cho các em điều kiện tham gia vào cuộc sống.. Phân môn Tập đọc chính là sự cụ thể hóa mục tiêu của khoa học giáo dục, nó hiện thực hóa mục tiêu nhiệm vụ giáo dục học đề ra: phát triển trí tuệ, hình thành nhân cách, hình thành thói quen khoa học, giáo dục tƣ tƣởng, tình cảm, đạo đức cho học sinh.

21. 15 trung gian để truyền thông tin, đƣa văn bản tới ngƣời nghe. Khi giữ vai thứ hai này, ngƣời đọc đã thực hiện việc tái sinh văn bản. Vì vậy khi đọc thành tiếng ngƣời đọc có thể đọc cho mình hoặc cho ngƣời khác hoặc cho cả hai. Đọc cùng với phát biểu là hai hình thức giao tiếp trƣớc đám đông đầu tiên của trẻ em nên giáo viên phải coi trọng khâu chuẩn bị để đảm bảo sự thành công tạo cho các em sự tự tin cần thiết. Khi đọc thành tiếng các em phải tính đến ngƣời nghe. Giáo viên cần cho các em hiểu rằng các em đọc không phải chỉ để cho mình cô giáo mà để cho tất cả các bạn cùng nghe nên cùng đọc đủ lớn cho tất cả những ngƣời này nghe rõ. Nhƣng nhƣ thế hoàn toàn không có nghĩa là đọc quá to hoặc gằn lên. Để luyện cho học sinh đọc quá nhỏ “lý nhí” giáo viên cần tập cho các em đọc to chừng nào bạn ở xa nhất trong lớp nghe thấy mới thôi. Giáo viên nên cho học sinh đứng lên bảng để đối diện với những ngƣời nghe tƣ thế đứng đọc phải đàng hoàng, vừa thoải mái và cân bằng hai tay. Đọc thành tiếng nhằm mục đích luyện đọc đúng cho học sinh. Đọc đúng là sự tái hiện mặt âm thanh của bài đọc một cách chính xác, không có lỗi. Đọc đúng là không đọc thừa, không sót từng âm, vần, tiếng. Đọc đúng phải thể hiện đúng ngữ âm chuẩn, tức là đọc đúng chính âm. Nói cách khác là không đọc theo cách phát âm địa phƣơng lệch chuẩn, với những học sinh dân tộc thì lƣu ý không để hệ thống ngữ âm mẹ đẻ ảnh hƣởng tiêu cực đến phát âm Tiếng Việt. Đọc đúng bao gồm bao gồm việc đọc đúng các âm thanh (đúng các âm vị) ngắt nghỉ hơi đúng chỗ ( đọc đúng ngữ điệu). Luyện đọc đúng phải rèn cho học sinh thể hiện chính xác các âm vị Tiếng Việt. Chẳng hạn đọc đúng các phụ âm đầu s/x, tr/ch. Đọc đúng các chính âm: Có ý thức phân biệt để không đọc ” Ơn, ân” “hoa lay ơn”, “hoa lay ân”. Đọc đúng các âm cuối. Đọc đúng các thanh có các lỗi phát âm địa phƣơng nhƣ lẫn thanh (~) và thanh nặng (.) VD: Dũng sĩ – Dụng sĩ. Đọc đúng bao gồm cả đúng tiểu tấu, ngắt hơi, ngữ điệu câu, cần phải dựa vào nghĩa, vào quan hệ ngữ pháp giữa các tiếng, từ để ngắt hơi cho đúng. Khi đọc không đƣợc tách một từ làm hai. VD: Vậy tại sao chiều hôm/ qua con im lặng. Không tách từ chỉ loại với danh từ mà nó đi kèm:Ví dụ không đọc: Lặng rồi cả/ tiếng con ve Con ve cũng/ mệt vì hè

22. 16 nắng oi. Không tách quan hệ từ “là” với danh từ đi sau nó, ví dụ không đọc: Mẹ là / ngọn gió của con suốt đời. Việc ngắt hơi phải phù hợp với dấu câu: Nghỉ ít ở dấu phẩy, nghỉ lâu hơn ở dấu chấm. Đọc đúng các ngữ điệu câu: Lên giọng ở cuối câu hỏi, hạ giọng ở cuối câu kể, thay đổi giọng cho phù hợp với tình cảm diễn đạt trong câu cảm, với câu ccauf khiến cần nhấn giọng phù hợp để thấy rõ các nội dung cầu khiến khác nhau. Ngoài ra còn phải hạ giọng khi đọc bộ phận giải thích của câu. Nhƣ vậy đọc đúng đã bao gồm một số tiêu chuẩn của đọc diễn cảm. Trình tự luyện đọc đúng : Trƣớc khi lên lớp giáo viên phải dự tính để ngăn ngừa các lỗi khi đọc. Tùy từng đối tƣợng học sinh, giáo viên xác định các lỗi phát âm mà học sinh địa phƣơng hoặc học sinh dân tộc thiểu số dễ mắc phải để định ra các tiếng, từ, cụm từ, câu khó để luyện đọc trƣớc. Khi lên lớp đầu tiên giáo viên đọc mẫu rồi cho cả lớp đọc đồng thanh, cuối cùng cho các em đọc cá nhân thành tiếng, từ khó này, với những câu mà giáo viên dự tính sẽ có nhiều em đọc sai phách câu. Cũng tiến hành nhƣ vậy, cuối cùng mới luyện đọc cả bài. Luyện đọc nhanh : Đọc nhanh là nói đến phẩm chất đọc về mặt tốc độ, là việc đọc không ê, a ngặc ngứ, vấn đề tốc độ đọc chỉ đặt ra sau khi đã đọc đúng. Đọc nhanh chỉ thực sự có ích khi có không tách rời việc hiểu rõ điều đƣợc đọc. Khi đọc cho ngƣời khác nghe thì ngƣời đọc phải xác định tốc độ nhanh nhƣng để cho ngƣời nghe hiểu kịp thời. Vì vậy đọc nhanh không phải là đọc liến thoắng. Tốc độ chấp nhận đƣợc của đọc nhanh khi đọc thành tiếng trùng với tốc độ của lời nói. Biện pháp luyện đọc nhanh: Giáo viên hƣớng dẫn cho học sinh làm chủ tốc độ đọc bằng cách đọc mẫu để học sinh đọc theo tốc độ quy định. Đơn vị để đọc nhanh là cụm từ, câu, đoạn, bài. Giáo viên điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách giữ nhịp đọc. Ngoài ra còn có biện pháp đọc nối tiếp trên lớp, đọc thầm có sự kiểm tra của giáo viên của bạn để điều chỉnh tốc độ đọc bằng cách chọn sẵn bài có tiếng cho trƣớc và dự tính sẽ đọc trong bao nhiêu phút. Định đọc tốc độ nhƣ thế nào còn phụ thuộc vào độ khó của bài đọc.

23. 17 Bên cạnh luyện đọc thành tiếng để HS đọc đúng, GV cần hƣớng dẫn HS đọc hiểu văn bản Tiếng Việt bằng hình thức đọc thầm. Ở hình thức đọc này GV cần chú ý tới học sinh tƣ thế đọc. Cũng nhƣ khi ngồi đọc (và ít khi đứng đọc) thành tiếng, tƣ thế ngồi đọc thầm phải ngay ngắn khoảng cách giữa mắt và sách 30-35cm. Kỹ năng đọc thầm phải chuyển dần từ ngoài vào trong, từ đọc to → đọc nhỏ → đọc mấp máy môi (không thành tiếng) → đọc hoàn toàn bằng mắt, không mấp máy môi (đọc thầm) giai đoạn cuối lại gồm 2 bƣớc: Di chuyển mắt theo que trỏ hoặc ngón tay rồi đến chỉ có mắt di chuyển. Giáo viên phải tổ chức quá trình chuyển từ ngoài vào trong này. Cần kiểm soát quá trình đọc thầm của học sinh bằng cách quy định thời gian đọc thầm cho từng đoạn và bài. Đọc hiểu : đƣợc thể hiện qua hiệu quả của đọc thầm đƣợc đo bằng khả năng thông hiểu nội dung văn bản đọc. Do đó dạy đọc thầm chính là dạy đọc có ý thức đọc hiểu. Kết quả của đọc thầm phải giúp học sinh hiểu nghĩa của từ, cụm từ, câu, đoạn, bài. Tức là toàn bộ những gì đƣợc đọc. Nhƣ tâm lí ngôn ngữ học đã chỉ ra để hiểu và nhớ những gì đƣợc đọc ngƣời đọc không phải xem tất cả các chữ đều quan trọng nhƣ nhau mà có thể và cần sàng lọc để giữ lại những từ “chìa khóa” những nhóm từ mang ý nghĩa cơ bản. Đó là những từ để giúp ta hiểu đƣợc nội dung của bài. Trong những bài khoa văn chƣơng đó là những từ dùng “đắt” để tạo nên giá trị nghệ thuật của từ có tín hiệu nghệ thuật. Đó là những từ giàu màu sắc biểu cảm nhƣ các từ láy, những từ đa nghĩa, những từ mang nghĩa bóng, có sự chuyển nghĩa văn chƣơng. Tiếp đó cần hƣớng dẫn học sinh đến việc phát hiện ra những câu quan trọng của bài. Những câu nêu ý nghĩa chung của bài. 1.3. Vai trò của phân môn Tập đọc lớp 2 1.3.1. Mục tiêu Phân môn Tập đọc lớp 2, là môn học rất quan trọng. Vì đây là cơ sở ban đầu giúp các em rèn kĩ năng đọc thành tiếng, đọc thầm, đọc hiểu văn bản …Từ

26. 20 Dạy học tập đọc có khả năng hƣớng học sinh tới cái đẹp, biết rung cảm trƣớc vẻ đẹp của ngôn ngữ, của hình tƣợng nghệ thuật đẹp, hành vi đẹp của mỗi nhân vật… Với sự sáng tạo tuyệt vời của các nhà văn, nhà thơ, cuộc sống đi vào văn học mang một vẻ đẹp mới, không còn cái trần trụi, cái thô mộc. nó đã đƣợc hình tƣợng hóa, điển hình hóa cao độ. Nó là cuộc sống song thông qua lăng kính chủ quan của các tác giả nên ngời sáng lên và giàu chất thơ, thơ mộng. phải giúp học sinh cảm nhận đƣợc vẻ đẹp của tác phẩm, để từ đó rung cảm với tác phẩm văn học để có thể đọc đƣợc hay. Giáo dục tình cảm: thông qua con đƣờng giáo dục thẩm mĩ việc giáo dục sẽ đạt hiệu quả cao. Đó là con đƣờng nghệ thuật đến với cuộc đời. Văn học có sức mạnh lớn, nó giáo dục con ngƣời không phải bằng triết lí khô khan mà bằng những hình tƣợng, văn học sống động. Từ sự rung động nội tâm, bài tập đọc đã mang đến cho các em những tình cảm đạo đức cao cả: tình yêu đối với cuộc sống và con ngƣời, tình yêu gia đinh, yêu bạn bè, yêu quê hƣơng sứ sở… Phát triển tư duy: Mỗi bài tập đọc giúp các em nhận thức thêm một mảng nhỏ của cuộc sống: nhận thức của các em phát triển, tầm hiểu biết của các em đƣợc mở rộng, ngôn ngữ của các em ngày càng phong phú, từ đó tƣ duy các em phát triển. Dạy tập đọc và học thuộc lòng góp phần phát triển tƣ duy hình tƣợng bên cạnh việc phát triển tƣ duy lôgic. Những bài tập đọc hay, có giá trị thẩm mĩ cao sẽ có tác dụng ghi dấu ấn sâu sắc trong cuộc đời mỗi con ngƣời. 1.4. Những vấn đề đổi mới phƣơng phƣơng pháp giáo dục tiểu học hiện nay Theo quan điểm dạy học hiện đại, phƣơng pháp dạy học phải phát huy đƣợc tính tích cực của ngƣời học. Giáo viên là chủ thể của giảng dạy. Dạy học là sự tổ chức, hƣớng dẫn, điều khiển hoạt động học, hoạt động nhận thức của học sinh. Giáo viên điều khiển học sinh chiếm lĩnh nội dung dạy học, bằng cách đó mà học sinh đƣợc phát triển và hình thành nhân cách. Theo định hƣớng này, trong dạy học tập đọc giáo viên cần lựa chọn những phƣơng pháp dạy học và tổ

27. 21 chức công việc đọc của học sinh sao cho có hiệu quả, giúp các em rèn kỹ năng đọc và nắm tri thức. Hoạt động học tập của học sinh là hoạt động tích cực. Trong đó học sinh là chủ thể, nội dung dạy học là đối tƣợng. Học sinh tích cực, tự giác chiếm lĩnh nội dung dạy học để hình thành, phát triển nhân cách dƣới sự điều khiển sƣ phạm của giáo viên. Trong quá trình dạy học, học sinh là nhân tố quan trọng nhất. Bởi vì, một mặt học sinh là đối tƣợng của quá trình giáo dục. Cũng theo quan điểm dạy học hiện đại: học sinh là mục đích của quá trình dạy học. Trong nghĩa triết học của khái niệm “thầy” và “trò”, trò sinh ra thầy. Lấy học sinh làm đích, dạy những gì học sinh cần chứ không phải dạy những gì thầy có hoặc thầy thích. Để học sinh tự tìm ra kiến thức nghĩa là để các em làm những gì các em có thể làm đƣợc, thầy không làm thay. Hiểu trẻ em, biết những Phƣơng pháp dạy học tập đọc nghiên cứu và cụ thể hóa quan niệm dạy học hiện đại nói trên theo đặc trƣng môn học của mình nhằm phát huy tối đa hiệu quả tích cực của cả ngƣời dạy và ngƣời học. Tiểu kết chƣơng 1 Qua việc phân tích cơ sở lí luận của dạy học tập đọc, chúng ta nhận thấy tầm quan trọng của việc rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh. Những hiểu biết về quá trình tâm lí ở con ngƣời nói chung và ở trẻ em lứa tuổi tiểu học nói riêng sẽ giúp giáo viên lựa chọn các phƣơng pháp dạy học để giảng dạy tốt và phát triển ngôn ngữ cho HS; Những hiểu biết về quan điểm dạy học hiện đại, về bản chất của ngôn ngữ, của tiếng Việt có vai trò quan trọng trong việc định ra các nguyên tắc, nội dung và phƣơng pháp dạy học tiếng Việt nói chung và phân môn Tập đọc nói riêng ở tiểu học. Đây là điều kiện quan trọng để hình thành kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt. Việc xác định đúng những khó khăn mà học sinh gặp sẽ giúp GV có biện pháp giúp học sinh hình thành kĩ năng đọc văn bản tiếng việt, cũng nhƣ các biện pháp đổi mới trong dạy – học tập đọc nói chung nhằm nâng cao hiệu quả dạy học tập đọc đáp ứng nhu cầu ngày càng cao của gia đình, nhà trƣờng, nghành giáo dục nói riêng và xã hội nói chung.

28. 22 CHƢƠNG 2: CƠ SỞ THỰC TIỄN 2.1.Khảo sát thực tiễn rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 2.1.1. Mục đích khảo sát Từ những định hƣớng đổi mới trên, chúng tôi khảo sát về vấn đề rèn luyện kĩ năng đọc văn bản tiếng việt cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu, để tìm hiểu xem đã áp dụng chƣơng trình SGK mới hay chƣa. Và đã sử dụng các phƣơng pháp dạy học tích cực vào giảng dạy trong phân môn Tập đọc hay chƣa. Từ đó tìm hiểu những khó khăn của GV gặp phải trong việc rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt trong phân môn Tập đọc lớp 2. Mặt khác tôi đi tìm hiểu những khó khăn về tâm lí trong quá trình học tập khi làm quen với phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc sử dụng trong phân môn Tập đọc và tiếp thu tri thức trong quá trình học tập, trong đọc các văn bản Viếng Việt có gặp những khó khăn gì? Từ đó đƣa ra những phƣơng pháp dạy học trong phân môn tập Tập đọc lớp 2 phù hợp với đặc điểm tâm sinh lí của các em và khắc phục những khó khăn mà các em thƣờng gặp. nhằm giúp cho giờ học của các em đạt hiệu quả cao. Từ đó chúng tôi đi đến tiến hành khảo sát thực trạng của việc rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt ở lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La, nhằm đƣa ra một số phƣơng pháp dạy học tập đọc nhằm nâng cao hiệu quả dạy học và đạt kết quả cao. 2.1.2. Đối tƣợng và thời gian địa bàn khảo sát Đối tƣợng khảo sát: GV và học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La. Thời gian khảo sát: Tháng 12 năm 2013: Dự giờ, điều tra, phỏng vấn trực tiếp Tháng 1 năm 2014 : Tham quan Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La, trao đổi ý kiến với các thầy cô, và các em học sinh ở trƣờng tiểu học. Tháng 4 năm 2014: Khảo sát giáo án, tài liệu tham khảo,tiến hành dạy học thể nghiệm ở trƣờng tiểu học. Địa bàn khảo sát: Tại Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La

29. 23 2.1.3. Nội dung khảo sát Để đạt đƣợc những mục đích trên chúng tôi khảo sát trên 4 nội dung sau: – Tìm hiểu chƣơng trình phân môn Tập đọc trong sách giáo khoa Tiếng Việt lớp 2 theo chƣơng trình mới. – Thực trạng dạy học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2. – Thực trạng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La. 2.1.4. Phƣơng pháp khảo sát Để khảo sát những nội dung trên chúng tôi tiến hành các phƣơng pháp khảo sát sau: Phƣơng pháp dự giờ trực tiếp Phƣơng pháp phỏng vấn trực tiếp Phƣơng pháp quan sát Phƣơng pháp thống kê… 2.2. Kết quả khảo sát 2.2.1. Chƣơng trình phân môn tập đọc lớp 2 Bảng 1: Nội dung chủ điểm trong chƣơng trình tập đọc lớp 2 Số tiết / tuần Stt Hệ thống chủ điểm (15 chủ điểm) 3 tiết / tuần 1 Em là học sinh 2 Bạn bè 3 Trƣờng học 4 Thầy cô 5 Cha mẹ 6 Anh em 7 Ông bà 8 Bạn trong nhà 9 Bốn mùa 10 Chim chóc 11 Muông thú 12 Sông biển 13 Cây cối 14 Bác Hồ 15 Nhân dân

31. 25 Tập hai: gồm gồm 7 đơn vị học dạy trong 15 tuần và 2 tuần ôn tập kiểm tra.Các đơn vị học là: Bốn mùa (tuần 19,20) chim chóc ( tuần 21, 22) muông thú ( tuần 23, 34) sông biển (25, 26) cây cối ( tuần 28, 29) Bác Hồ ( tuần 30, 31) nhân dân ( tuần 32, 33, 34). * Cấu trúc mỗi đơn vị học: Mỗi đơn vị học là một chủ điểm học trong hai tuần (riêng chủ điểm nhân dân học trong 3 tuần từ tuần 32 – 34) *Tuần thứ nhất : 10 tiết, gồm: – Phân môn tập đọc: Có 3 bài dạy trong 4 tiết + Bài thứ nhất là một truyện kể dạy trong 2 tiết. Bài tập đọc này còn là ngữ liệu cho tiết kể chuyện và tiết chính tả kế tiếp giúp học sinh thực hành nói và viết tốt hơn qua bài tập đọc. + Bài thứ hai là một văn bản thông thƣờng dạy trong một tiết . + Bài thứ ba là một văn bản thơ đƣợc dạy trong 1 tiết – Phân môn kể chuyện: Có 1 bài dạy trong 1 tiết – Phân môn chính tả có 2 bài dạy trong 2 tiết – Phân môn luyện từ và câu có một bài dạy trong 1 tiết – Phân môn tập làm văn có 1 bài dạy trong 1 tiết *Tuần thứ hai gồm 10 tiết gồm: – Phân môn tập đọc: Có 3 bài dạy trong 4 tiết + Bài thứ nhất là một truyện kể dạy trong 2 tiết + Bài thứ hai là một văn bản miêu tả dạy trong 1 tiết + Bài thứ ba là một truyện vui đƣợc dạy trong 1 tiết – Phân môn kể chuyện: Có 1 bài dạy trong 1 tiết – Phân môn luyện từ và câu có 1 bài dạy trong 1 tiết – Phân môn tập làm văn có 1 bài dạy trong 1 tiết * Những thuận lợi: – Khổ sách lớn hơn so với SGK lớp 2 cũ, kênh chữ rõ ràng giúp học sinh dễ dàng trong việc tập đọc. – Các chủ điểm sát thực, gần gũi với đời sống hằng ngày của học sinh.

32. 26 + Các loại văn bản không phải là văn đƣợc đƣa vào dạy trong tập đọc nhƣ văn bản hành chính, báo chí hành dụng, giúp học sinh vận dụng những điều đã học vào cuộc sống. Không văn chƣơng hóa kiến thức trung các bài tập đọc của Tiểu học. + Đƣa vào dạy các truyện vui đem đến cho giờ học những tiếng cƣời nhẹ nhàng, qua đó góp phần hình thành ở các em trí óc thông minh, óc hài hƣớc và lòng nhân hậu. – Khó khăn: Khổ sách lớn, giấy lại mỏng nên việc quản lí và giữ gìn SGK không đƣợc tốt. Phân môn Tập đọc hình thành ở học sinh các kĩ năng đọc trơn, đọc thầm, đọc diễn cảm, và là nên móng để phát triển các kĩ năng đọc ở các lớp cao hơn nhƣ: Đọc thầm, đọc lƣu loát và đọc thuộc lòng, đọc lƣớt để chọn thông tin…Và phát triển các kĩ năng đọc – hiểu để giúp học sinh nắm và vận dụng đƣợc một số khái niệm nhƣ đề tài, cốt truyện, nhân vật, tính cách….Để hiểu ý nghĩa và giá trị nghệ thuật của các bài thơ, bài văn. Ngoài ra dạy học tập đọc là giáo dục lòng ham đọc sách cho học sinh. Thông qua việc dạy tập đọc làm cho học sinh thích đọc, và thấy đƣợc khả năng đọc là có lợi ích cho các em trong cả cuộc đời. môn tập đọc còn giúp các em có đƣợc vốn kiến thức về cuộc sống, thiên nhiên, con ngƣời xã hội. giáo giục tƣ tƣởng, tình cảm, đạo đức…. Phân môn tập đọc có nhiệm vụ quan trọng là: Hình thành năng lực đọc cho học sinh; giáo dục lòng ham đọc sách, phƣơng pháp làm việc với sách cho học sinh; làm giàu kiến thức cho học sinh, phát triển ngôn ngữ và tƣ duy, tƣ tƣởng, tình cảm đạo đức thị hiếu thẩm mĩ cho học sinh. Để đi sâu vào khảo sát thực trạng dạy – học rèn kĩ năng đọc hiểu văn bản cho học sinh lớp 2. trƣớc tiên chúng tôi đi khảo sát chƣơng trình phân môn tập đọc lớp 2.

34. 28 Khi chuẩn bị đồ dùng dạy học, GV cần xác định đƣợc mục đích của đồ dùng đó là gì, nó đƣợc sử dụng vào lúc nào và cách thức sử dụng của nó ra sao. Trong thực tế có những giáo viên đã sử dụng đồ dùng trực quan một cách tùy tiện mà không cần nắm đƣợc mục đích của chúng. Từ kết quả trên cho thấy: Phƣơng tiện mà các thầy cô quan tâm chú trọng và hay đƣợc sử dụng nhất đó chính là tranh ảnh, và bảng phụ chép săn các câu cần luyện đọc. đó là các đồ dung dạy học truyền thông thƣờng đƣợc sử dụng trong dạy học tập đọc. Các phƣơng tiện nhƣ băng hình, máy chiếu, phiếu bài tập, dụng cụ minh họa thật ít hoặc rất ít đƣợc sử dụng. do đó học sinh chƣa có hứng thú với việc học tập đọc, vì vậy hiệu quả chƣa cao. 2.2.2.2. Các nguyên tắc dạy học TV giáo viên thƣờng sử dụng để rèn kĩ năng đọc văn bản cho học sinh lớp 2 Bảng 5: Các nguyên tắc dạy học TV giáo viên thƣờng sử dụng để rèn kĩ năng đọc văn bản cho học sinh lớp 2 Stt Tên nguyên tắc Số lƣợng GV khảo sát Sử dụng (%) Ít sử dụng (%) Không sử dụng (%) 1 Nguyên tắc phát triển lời nói 5 5 0 0 2 Nguyên tắc phát triển tƣ duy 5 2 (40%) 2 (40%) 1 (20%) 3 Nguyên tắc chú ý đến ngôn ngữ của học sinh 5 2 (40%) 3 (60%) 0 Nhận xét: Qua khảo sát cho thấy rằng GV sử dụng nhiều nhất là nguyên tắc phát triển lời nói. Hai nguyên tắc còn lại đƣợc sử dụng nhƣng rất ít hoặc không đƣợc sử dụng.

35. 29 2.2.2.3. Các phƣơng pháp dạy học tích cực đƣợc vận dụng trong giờ tập đọc lớp 2 Bảng 6: Các phƣơng pháp giáo viên thƣờng hay sử dụng để rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 Stt Tên phƣơng pháp Số lƣợng GV khảo sát Thƣờng sử dụng ( %) Ít đƣợc sử dụng ( %) Không đƣợc sử dụng (%) 1 Phƣơng pháp trực quan 5 4 (80%) 1 (20%) 0 2 Phƣơng pháp thuyết trình giảng giải 5 5 (100%) 0 0 3 Phƣơng pháp vấn đáp 5 2 (40%) 3 (60%) 0 4 Phƣơng pháp luyện tập theo mẫu 5 5 (100%) 0 0 5 Phƣơng pháp thực hành giao tiếp 5 1 (20%) 4 (80%) 0 6 Phƣơng pháp đọc phân tích mẫu 5 2 40% 3 60% 0 Nhận xét: Qua bảng 6 khảo sát quá trình dạy học phân môn Tập đọc lớp 2 và tiến hành dự giờ, quan sát theo dõi chúng tôi thu đƣợc kết quả khi tiến hành dạy học GV chỉ sử dụng những phƣơng pháp dạy học truyền thống còn những phƣơng pháp phát huy tính tích cực chủ động của HS thì giáo viên vẫn chƣa sử dụng hoặc ít đƣợc sử dụng vì vậy phƣơng pháp đƣợc sử dụng để rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 hầu nhƣ đều là phƣơng pháp cũ và chƣa có sự đổi mới.

36. 30 2.2.2.4. Các hình thức tổ chức rèn kĩ năng đọc văn bản cho học sinh Bảng 7: Các bƣớc tổ chức các hoạt động dạy – học rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho lớp 2 Các bƣớc Nội dung ( hoạt động dạy) Hoạt động học Bƣớc 1 Giới thiệu bài: – Giáo viên dùng tranh ảnh hoặc đặt câu hỏi nêu vấn để để vào bài. + Học sinh chú ý quan sát và lắng nghe. Bƣớc 2 – Đọc mẫu Giáo viên hoặc học sinh khá đọc mẫu. Học sinh chú ý lắng nghe và đọc thầm theo. Bƣớc 3 Luyện đọc và tìm hiểu bài – Đọc vòng 1 – Đọc vòng 2: Luyện đọc củng cố và nâng cao: + Đọc củng cố + Đọc nâng cao – Học sinh đọc đồng thanh, cá nhân. – Học sinh trả lời câu hỏi và làm bài tập. – Học sinh thực hiện + Học sinh đọc cá nhân + Học sinh tự chọn đoạn yêu thích để đọc Nhận xét: Qua khảo sát thực trạng cho thấy rằng GV vân sử dụng cách tổ chức dạy học theo hƣớng truyền thống theo 3 bƣớc là: Giới thiệu bài, đọc mẫu, và luyện đọc tìm hiểu bài. Cách tổ chức hoạt động dạy học tập đọc này chƣa phát huy tính tích cực chủ động của học sinh, và hiệu quả đạt đƣợc cũng chƣa cao 2.2.3. Thực trạng rèn kĩ năng đọc của học sinh lớp 2 Trƣờng tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La 2.2.3.1. Đặc điểm tâm lí của học sinh đối với việc đọc văn bản Tiếng Việt Qua khảo sát bằng các phƣơng pháp dự giờ, trao đổi trực tiếp với các giáo viên về kết quả rèn luyện kĩ năng đọc văn bản tiếng việt cho học sinh lớp 2

37. 31 Bảng 8: Hứng thú đọc của học sinh Stt Đặc điểm tâm lí Số lƣợng học sinh khảo sát Đồng ý Không đồng ý 1 Thích đọc 30 9 21 2 Không thích đọc 30 21 9 Nhận xét: Dựa vào bảng thống kê kết quả khảo sát thực trạng rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh cho thấy mức độ thích đọc của học sinh chỉ là 9 trên tổng số 30 HS chiếm 33,3% . Mức độ hứng thú của học sinh còn quá thấp, tiết học nhàm chán, các phƣơng pháp dạy học chƣa phù hợp. Vì vậy việc rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh lớp 2 đạt hiệu quả chƣa cao, chất lƣợng chƣa đạt yêu cầu. 2.2.3.2. Những khó khăn trong rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt của học sinh Bảng 9: Lỗi phát âm các phụ âm đầu Stt Lớp Số lƣợng HS khảo sát Phụ âm đầu L – Đ (%) L – N (%) Ch – Tr (%) 1 2A1 30 5 (16,6%) 7 (23,3%) 5 (16,6%) 2 2A2 30 7 (23,3) 9 (30%) 6 (20%) Bảng 10: Lỗi phát âm sai phần vần Stt Lớp Số lƣợng HS khảo sát Phần vần Ƣơi – Ơi (%) Oan – An (%) Oàn – Oàng (%) 1 2A1 30 4 (13,3%) 7 (23,3%) 3 (10%) 2 2A2 30 6 (20%) 8 (26,6%) 5 (16,6%)

38. 32 Bảng 11: Các lỗi phát âm sai âm cuối Stt Lớp Số lƣợng HS khảo sát Âm cuối N – Ng (%) N – Nh (%) C – Ch (%) 1 2A1 30 3 (10%) 4 ( 13,3%) 3 ( 10%) 2 2A2 30 7 (23,3%) 6 (20%) 6 (20%) Bảng 12: Các lỗi phát âm sai về thanh điệu Stt Lớp Số lƣợng HS khảo sát Thanh điệu Thanh huyền (%) Thanh sắc (%) Thanh ngã (%) 1 2A1 30 5 (16,6%) 6 (20%) 8 ( 26,6%) 2 2A2 30 6 (20%) 7 (23,3%) 9 (30%) Nhìn vào bảng 9, 10, 11, 12 về các lỗi phát âm mà học sinh lớp 2 hay mắc phải thì có thể thấy rằng, học sinh gặp rất nhiều khó khăn trong việc rèn kĩ năng đọc văn bản tỉ lệ học sinh mắc lỗi trong việc đọc các văn bản là tƣơng đối cao. 2.3. Một số vấn đề đặt ra khi khảo sát Qua kết quả khảo sát trên chúng tôi nhận thấy răng: Những phƣơng pháp dạy học truyền thống không mang lại kết quả cao khi dạy học nhằm rèn luyện kĩ đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh, học sinh chƣa đọc lƣu loát, rành mạch, rõ ràng, đọc còn chƣa diễn cảm. Điều đó ảnh hƣởng đến chất lƣợng giáo dục của nhà trƣờng, và chƣa đạt yêu cầu đổi mới nền giáo dục chƣa phát huy đƣợc tính tích cực chủ động của học sinh. Vì vậy cần đổi mới phƣơng pháp dạy đọc, vận dụng những phƣơng pháp dạy học tập đọc vào phân môn Tập đọc, có nhƣ vậy mới mới nâng cao hiệu quả dạy học trong phân môn Tập đọc. Từ kết quả khảo sát trên chúng tôi tiến hành nghiên cứu và đƣa ra những biện pháp dạy học tích cực nhằm giúp cho quá trình dạy học phân môn tập đọc

39. 33 lớp 2 với mong muốn khắc phục đƣợc phần nào những khó khăn, hạn chế trong thực tế rèn kĩ năng đọc cho học sinh tiểu học nói chung và học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La nói riêng. Tiểu kết chƣơng 2 Từ việc xác định mục tiêu khảo sát, nội dung khảo sát chúng tôi tiến hành lựa chọn đƣợc đối tƣợng, địa bàn thời gian khảo sát, phƣơng pháp tiến hành khảo sát. Qua khảo sát và phân tích kết quả khảo sát, tôi nhận thấy rằng: Việc sử dụng phƣơng pháp dạy học truyền thống và chƣa vận dụng đúng phƣơng pháp giản dạy trong phân môn tập đọc làm cho quá trình dạy và học gặp nhiều khó khăn do phƣơng pháp giảng dạy truyền thống chƣa và việc vận dụng các phƣơng pháp chƣa phù hợp nên hiệu quả đạt đƣợc chƣa cao. Do đó các phƣơng pháp chƣa phát huy đƣợc tính tích cực, chủ động sáng tạo của học sinh cũng nhƣ chƣa phù hợp với định hƣớng đổi mới nền giáo dục của đất nƣớc. từ đó cần thay đổi phƣơng pháp dạy học trên cơ sở những phƣơng pháp cũ, vận dụng những phƣơng pháp mới và vận dụng các phƣơng pháp một cách chính xác và khoa học thì mới nâng cao đƣợc hiệu quả dạy học và chất lƣợng dạy – học.

40. 34 CHƢƠNG 3 BIỆN PHÁP NHẰM NÂNG CAO HIỆU QUẢ DẠY HỌC TẬP ĐỌC LỚP 2 3.1. Vận dụng các phƣơng pháp dạy học TV vào trong dạy – tập đọc 3.1.1. Phƣơng pháp luyện đọc theo mẫu Phƣơng pháp luyện đọc theo mẫu là phƣơng pháp mà học sinh tạo ra các đơn vị ngôn ngữ, lời nói mô phỏng lời giáo viên, sách giáo khoa…. Phƣơng pháp này gồm nhiều dạng bài tập nhƣ đặt câu theo mẫu cho trƣớc, phát âm hoặc đọc diễn cảm theo giáo viên. Phƣơng pháp này thƣờng đƣợc sử dụng trong giờ dạy tập đọc. Ví dụ: Cách thực hiện cho học sinh luyện đọc theo mẫu là: Ở phần luyện đọc và phần luyện đọc diễn cảm, GV đọc mẫu toàn bài thơ, từng đoạn, câu, đọc mẫu những từ, cụm từ khó đọc nhƣ: Rễ đa,chăm sóc, cây trúc, trở lại, loảng xoảng … Từ đó học sinh luyện đọc theo mẫu mà GV đã đọc mẫu, có thể luyện đọc cá nhân, nhóm tổ, đọc đồng thanh. ở phần luyện đọc diễn cảm: Sau khi đọc mẫu, GV tổ chức cho HS luyện đọc diễn cảm nhƣ thi đọc giữa các học sinh trong tổ, thi giữa các tổ để tìm ra bạn đọc hay nhất và diễn cảm nhất. Đối với phƣơng pháp này, đòi hỏi GV phải đọc mẫu đúng, đọc diễn cảm, để từ đó giúp học sinh luyện đọc diễn cảm các bài tập đọc. 3.1.2. Phƣơng pháp đọc diễn cảm Đọc diễn cảm là hình thức đọc thành tiếng không những đạt yêu cầu đọc đúng, lƣu loát, rành mạch rõ ràng mà còn có yêu cầu về ngữ điệu, đọc truyền cảm và sự kết hợp giữa ngữ điệu đọc với các yếu tố làm theo ngôn ngữ nhƣ nét mặt, cử chỉ, điệu bộ, ánh mắt diễn tả nội dung bài học và hƣớng tới ngƣời nghe. Biện pháp giúp học sinh đọc diễn cảm: Luyện đọc đúng, luyện đọc nhanh sau đó đọc diễn cảm. Ví dụ: Đêm nay bên bến Ô Lâu Cháu ngồi cháu nhớ / chòm râu Bác Hồ Nhớ hình Bác giữa bóng cờ Hồng hào đôi má,/ bạc phơ mái đầu

42. 36 Cách thực hiện: Giọng đọc mẫu cảu giáo viên là một hình thức trực quan sinh động và có hiệu quả, có tác dụng làm mẫu cho học sinh luyện đọc do đó giáo viên cần đọc đúng loại thể, đúng ngữ điệu tránh đọc đều đều, biểu hiện tình cảm qua ánh mắt. Ghi các tiếng khó đọc (cần luyện đọc) bằng phấn màu lên bảng. các em đƣợc nhìn các tiếng đó ( bằng mắt), đƣợc tập phát âm (bằng miệng), đƣợc nghe ( bằng tai) đƣợc viết (bằng tay) sẽ nhớ lâu và đọc đúng. Chép một đoạn văn khó lên bảng – ngắt các cụm từ để hƣớng dẫn đọc để học sinh đƣợc tri giác cụ thể hơn – yêu cầu chép rõ ràng sạch đẹp. Dùng tranh ảnh – vật thực giúp các em hiểu và cảm thụ bài đọc Giáo viên phải khai thác hết các chi tiết của đồ dùng trực quan. Ví dụ: Yêu cầu khi sử dụng phƣơng pháp trực quan là tranh ảnh phải to đẹp, rõ ràng. Chỉ sử dụng đồ dùng trực quan khi có tác dụng gấy hứng thú và phục vụ cho việc học. không nên sử dụng một cách hình thức. 3.2. Thiết kế mẫu bài ” Bóp nát quả cam” ( SGK TV2 tập 2, tr) 3.2.1.Thiết kế giáo án mẫu 3.2.1.1. Mục đích của thiết kế giáo án Nhằm xây dựng và thiết kế một cách khoa học và vận dụng các biện pháp đã đề xuất vào trong bài soạn. Nội dung giáo án: Bao gồm những dự kiến và quy ƣớc, những lời chỉ dẫn và địch hƣớng chủ yếu là bằng hệ thống câu hỏi và phƣơng pháp rèn kĩ năng đọc cho học sinh. 3.2.1.2. Yêu cầu của thiết kế a. Xác định đúng mục tiêu của bài Đọc thành tiếng: – Đọc đúng các tiếng, từ khó, ngắt nghỉ đúng nhịp điệu của bài, nhấn giọng các từ ngữ quan trọng của các nhân vật trong bài. Đọc diễn cảm toàn bài phù hợp với nội dung cảm xúc.

43. 37 Đọc – hiểu: Hiểu ý nghĩa các từ khó: Ngã chúi, xăm xăm, đè đầu cƣỡi cổ, tạ ơn; hiểu nội dung bài: Trần Quốc Toản là một thiếu niên nhỏ tuổi nhƣng trí lớn nhỏ tuổi nhƣng đã biết lo lắng cho an nguy xã tắc trƣớc sự xâm lƣợc của quân giặc. b, Cần phải giúp các em đọc hiểu và biết đƣợc sự kiện lịch sử và các danh nhân lịch sử đƣợc nhắc tới trong truyện Hiểu ý nghĩa của truyện: Ca ngợi Trần Quốc Toản, một thiếu niên anh hùng tuổi nhỏ, trí lớn, giàu lòng căm thù giặc. c, Dự kiến biện pháp ứng dụng phƣơng pháp dạy học trong việc tổ chức các hoạt động đọc hiểu cho học sinh; xây dựng đƣợc một hệ thống câu hỏi hợp lí , phát huy đƣợc hứng thú của chủ thể học sinh. 3.2.2 Thiết kế giáo án mẫu ( trang …, phần phụ lục) Tiểu kết chƣơng 3 Đọc văn bản Tiếng Việt đƣợc thể hiện qua nhiều cấp độ: Hiểu ý nghĩa của từ ,câu, đoạn hay cả bài. Muốn giúp học sinh đọc hiểu VBVH, giáo viên cần thiết lập một môi trƣờng thẩm mĩ giữa bản thân học sinh và tác phẩm. phải gắn việc đọc với bản thân các PPDH khác nhau để tạo ra mối liên hệ đó. Các phƣơng pháp đƣợc sử dụng đó là phƣơng pháp đàm thoai, trực quan, phƣơng pháp luyện đọc diễn cảm, luyện đọc theo mẫu… Đây là những phƣơng pháp hỗ trợ tích cực có thể phát huy các chủ thể sáng tạo HS trong quá trình rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt.

44. 38 C. PHẦN KẾT LUẬN VÀ KIẾN NGHỊ 1. Kết luận Từ việc nghiên cứu lí luận và thực tiễn của việc rèn kĩ năng đọc cho học sinh lớp 2 Trƣờng Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La, chúng tôi đã đề xuất biện pháp nhằm rèn luyện kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 và đã tổ chức dạy thực nghiệm để bƣớc đầu đánh giá tính khả thi của những biện pháp đó. Đặc biệt là qua thời gian đi sâu và tìm hiểu những khó khăn sai sót trong việc dạy tập đọc ở lớp 2 chƣơng trình mới, tôi thấy răng: là ngƣời giáo viên phải luôn luôn trao dồi kinh nghiệm để nâng cao trình độ nghiệp vụ, để đáp ứng nhu cầu ngƣời học trong thời kì đổi mới. Mỗi giáo viên là ngƣời hƣớng dẫn học sinh tự học, tự hoạt động, phát hiện và chiếm lĩnh tri thức mới, hình thành cho mỗi cá nhân học sinh. Vì vậy giáo viên phải nghiên cứu kĩ bài dạy, xác định rõ các kĩ năng trọng tâm của mỗi bài học, mục tiêu cần đạt của mỗi bài tập đọc. Các biện pháp đề xuất trong khóa luận đã nhấn mạnh việc, rèn kỹ năng đọc cho học sinh phải biết kết hợp với nhiều hình thức tổ chức dạy học. Qúa trình dạy học theo phƣơng pháp mới sẽ huy động tối đa, tổng hòa các phƣơng pháp dạy học đã có để hƣớng đến tích cực hóa các hoạt động của học sinh trong việc học tập đọc. Sử dụng các phƣơng tiện dạy học khác nhau ở trƣờng ở lớp đúng lúc để học sinh đọc đúng, đọc hiểu nội dung. Sử dụng các hình thức tổ chức lớp học, cá nhân theo nhóm, theo lớp. Giáo viên lúc này chỉ đóng vai trò cố vấn, hƣớng dẫ học sinh thực hiện rồi khuyến khích hoạt động trao đổi qua lại, trực tiếp giữa học sinh và vật liệu học tập nhƣ hiểu để gạch nhịp lên bảng phụ, hiểu để đọc đúng, đọc nhanh, đọc ngắt giọng đúng. Bằng nhiều hình thức tổ chức trên thì sẽ đạt đƣợc mục tiêu mà mình mong muốn. Dáp ứng nhu cầu rèn luyện kỹ năng đọc – nghe – nói – viết. Từ đó dễ dàng nhận biết và tháo gỡ những băn khoăn trong dạy học. Khi dạy tập đọc chúng ta cần hƣớng cho các em những kĩ năng, những hiểu biết gần gũi nhất trong kinh nghiệm trong vốn sống của các em. Từ đó nâng dần lên kĩ năng giao tiếp hình thành nhân cách con ngƣời mới. Rèn luyện

45. 39 cho học sinh khả năng đọc thể hiện bằng giọng điệu của riêng mình, làm sao cho ngƣời nghe hiểu đƣợc ý văn bản đƣợc đọc. Thƣờng xuyên rèn kỹ năng đọc đúng để tránh đƣợc sự phát âm sai theo vùng miền. Việc áp dụng phƣơng pháp mới để dạy bốn kĩ năng ( nghe – nói – đọc – viết ) nhằm đáp ứng đƣợc nhu cầu nhận thức của thế hệ trẻ ngày nay đòi hỏi phải có những nét đổi mới tƣ duy, nên mỗi giáo viên chúng ta phải đổi mới cách dạy là một điều tất yếu. Phần thiết kế giáo án ứng dụng các biện pháp đề xuất đã thể hiện rõ tinh thần lấy ngƣời học làm trung tâm. GV tổ chức các hoạt động đọc cho học sinh, rèn kĩ năng đọc đúng, đọc hiểu và đọc diễn cảm. Với cố gắng hiện thực hóa ý tƣởng dạy học tích cực, dựa trên một đƣờng hƣớng sƣ phạm đúng đắn, tác giả khóa luận mong muốn đóng góp phần nhỏ bé vào công cuộc đổi mới phƣơng pháp dạy học TV ở tiểu học hiện nay. 2 Đề xuất – Giáo viên phải luôn học hỏi, có các lớp học để nâng cao trình độ chuyên môn nghiệp vụ. – Các cấp quản lí tổ chức cho các lớp chuyên đề bồi dƣỡng giáo viên nên cho giáo viên một khoảng tự do không dập khuôn máy móc. – Luôn tổ chức các cuộc nói chuyện chuyên đề khi có một phát hiện về cách dạy hay hơn, sáng tạo hơn của một thành viên nào đó. – Tăng cƣờng, khuyến khích các sáng kiến kinh nghiệm cấp trƣờng, cấp huyện,triển khai vào thực tế dạy học. – Luôn chú trọng đến việc rèn luyện kĩ năng là hàng đầu chứ không đƣợc áp đặt kiến thức lên trƣớc, từ đó nắm đƣợc các kĩ năng thì dễ dàng đi đến kiến thức. Hiểu và cảm thụ đƣợc cái mà các em chƣa có, cái mà các em cần tìm tòi để thực hành trong ứng xử, giao tiếp ngoài xã hội. + Sau một thời gian suy nghĩ miệt mài tìm hiểu đến hôm nay tôi đã hoàn thành khóa luận mang tên ” Rèn kĩ năng đọc văn bản Tiếng Việt cho học sinh lớp 2 trường Tiểu học thị trấn Thuận Châu – Sơn La”. Để hoàn thành khóa luận này tôi có nhiều cố gắng song trình độ kinh nghiệm của bản thân còn hạn chế,

46. 40 thời gian còn hạn hẹp, cho nên chắc chắn trong khuôn khổ của đề tài này không tránh khỏi đƣợc những sai sót tôi rất mong nhận đƣợc đƣợc sự góp ý và xây dựng của các thầy cô giáo, bạn bè, để khóa luận đƣợc hoàn thiện và vận dụng vào thực tế dạy – học.

47. 41 TÀI LIỆU THAM KHẢO 1. Lê A, Thành Thị Yên Mĩ, Nguyễn Trí, Lê Phƣơng Nga (1993), Phương pháp dạy học Tiếng Việt. GT dùng trong các trƣờng Sƣ phạm đào tạo giáo viên Tiểu học – Vụ Giáo viên, NXB GD. 2. Lê A, Nguyễn Quang Ninh, Bùi Minh Toán (1996), Phương pháp dạy học Tiếng Việt. NXB GD. 3. Nguyễn Thị Hạnh (2002), Một số vấn đề về đổi mới đánh giá kết quả học tập môn Tiếng Việt ở Tiểu học. NXB GD. 4. Đỗ Đình Hoan (2002), Một số vấn đề cơ bản của chương trình tiểu học mới, NXBGD 5. Phƣơng Lê (1994), Phương pháp dạy học Tiếng Việt trong hệ đào tạo thạc sĩ Giáo dục Tiểu học, NCGD. 6. Lê Phƣơng Nga, Đỗ Xuân Thảo, Lê Hữu Tỉnh (1998), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 1. NXB GD. 7. Lê Phƣơng Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt 2, NXBGD. 8. Lê Phƣơng Nga, Nguyễn Trí (1999), Phương pháp dạy học Tiếng Việt (chuyên luận), NXB ĐHQG. 9. Sách giáo khoa Tiếng Việt bậc Tiểu học hiện hành và chương trình Tiếng Việt bậc Tiểu học sau năm 2000. NXB GD. 10. SGK, SGV Tiếng Việt tiểu học lớp 2. Lớp 5. NXB GD, 2002, 2003, 2004, 2005. 11. Nguyễn Trí (2002), Dạy và học môn tiếng Việt ở Tiểu học theo chương trình mới. NXB GD. 12. Nguyễn Trí (chủ biên) (2002), Hỏi và đáp về sách Tiếng Việt 1. NXB GD. 13. Nguyễn Khắc Viện, Nghiêm Chƣởng Châu (1988), Tâm lí học sinh tiểu học, NXBGD. 14. Nguyễn Nhƣ Ý (chủ biên) (1996), Từ điển giải thích thuật ngữ ngôn ngữ học, NXB GD.

Mã Hs Code Là Gì Và Hướng Dẫn Cách Tra Mã Hs Code Chính Xác

Tạo Hứng Thú Cho Học Sinh Đọc

Vận Dụng Pisa Trong Đánh Giá Năng Lực Đọc

Văn Bản Văn Học Trang 117 Sgk Ngữ Văn 10

Soạn Bài Tổng Quan Văn Học Việt Nam Trang 5 Sgk Ngữ Văn 10, Tập 1

Cập nhật thông tin chi tiết về Đề Tài Rèn Kĩ Năng Đọc Văn Bản Tiếng Việt Cho Học Sinh, Điểm 8 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!