Xu Hướng 6/2023 # Đến Với Bài Ca Dao Mười Quả Trứng # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 6/2023 # Đến Với Bài Ca Dao Mười Quả Trứng # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Đến Với Bài Ca Dao Mười Quả Trứng được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

 

Đến với bài ca dao Mười Quả Trứng

Tháng giêng, tháng hai, tháng ba, tháng bốn, tháng khốn, tháng nạn Đi vay đi dạm, được một quan tiền Ra chợ Kẻ Diên mua con gà mái Về nuôi ba tháng; hắn đẻ ra mười trứng Một trứng: ung, hai trứng: ung, ba trứng: ung, Bốn trứng: ung, năm trứng: ung, sáu trứng: ung, Bảy trứng: cũng ung Còn ba trứng nở ra ba con Con diều tha Con quạ quắp Con mặt cắt xơi Chớ than phận khó ai ơi! Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây (Ca dao Bình Trị Thiên) gặp nhau ở một điểm: trong hoàn cảnh khốn cùng của cuộc sống, người nông dân vẫn lạc quan, tin tưởng vào ngày mai. Song nếu nhìn từ góc độ tư tưởng của triết lý âm – dương, chúng ta sẽ khám phá những điều bất ngờ và đầy thú vị ẩn chứa trong bài ca dao, đó là lối tư duy số lẻ và tính cách lạc quan, tin tưởng của người Việt Nam. 1. Tư duy số lẻ Qua hình ảnh bảy quả trứng bị ung và ba chú gà con cũng không thể tránh khỏi số phận bi đát, ta bắt gặp một cặp số bảy và ba theo lối tư duy số lẻ. Phải thừa nhận rằng, tư tưởng triết lý âm dương ảnh hưởng rất lớn đến tư duy, tính cách của người Việt Nam. Người Việt Nam rất thích dùng số lẻ, thậm chí đơn giản như việc tặng hoa, cắm hoa hằng ngày, họ cũng thường chú ý đến số lượng bông hoa: một, ba, năm, bảy, chín Vì sao vậy? Theo triết lý âm dương, số chẵn là âm, số lẻ là dương (cũng như hình vuông = âm, hình tròn = dương, lạnh = âm, nóng = dương , tối = âm, sáng = dương). Không nằm ngoài lối tư duy truyền thống đó, cặp số bảy – ba ở bài ca dao trên minh chứng cho lối tư duy số lẻ của người Việt Nam. Tư duy số lẻ còn thể hiện trong hàng loạt cách nói ví von: ba chìm bảy nổi, ba hồn chín vía, ba lo bảy liệu, ba bè bảy mối, ba vành bảy vẻ,… Xét rộng ra, tư duy số lẻ không chỉ dừng lại ở cặp số bảy và ba mà còn thể hiện ở những cặp số khác như: ba mặt một lời, năm thê bảy thiếp, năm lần bảy lượt, hay một câu nhịn chín câu lành, một lời nói dối sám hối bảy ngày,… Cũng không phải ngẫu nhiên mà khi lạc vào thế giới truyền thuyết, cổ tích, chúng ta thường bắt gặp mô-típ: “Voi chín ngà, gà chín cựa, ngựa chín hồng mao,…” hay “vượt qua ba quả đồi, chín quả núi”,… Tư duy số lẻ còn thấm sâu vào hồn thơ dân tộc, ví như Hồ Xuân Hương từng hạ bút: Thân em vừa trắng lại vừa tròn Bảy nổi ba chìm với nước non (Bánh trôi nước) Hay trong “Giấc mơ anh lái đò” của thi sĩ Nguyễn Bính, con số 9 như là điểm trung tâm của bài thơ: Đồn rằng đám cưới cô to Nhà giai thuê chín chiếc đò đón dâu Nhà gái ăn chín nghìn cau Tiền cheo, tiền cưới chừng đâu chín nghìn … Lang thang anh dạm bán thuyền Có người trả chín quan tiền lại thôi .. Rõ ràng, xuất phát từ nguồn gốc của tư tưởng triết lý âm dương, tư duy số lẻ không chỉ hình thành ngay trong cách nói hằng ngày mà còn trở thành một mô típ trong văn chương nghệ thuật. 2. Tính cách lạc quan, tự tin Đoạn kết của bài ca dao: Chớ than phận khó ai ơi! Còn da lông mọc, còn chồi nảy cây Tinh thần lạc quan, tin tưởng vào tương lai là một trong những tính cách của người nông dân Việt Nam. Tính cách ấy suy cho cùng, cũng được bắt nguồn từ tư tưởng triết lý âm – dương. Theo quy luật của triết lý âm – dương thì “trong âm có dương, trong dương có âm”, từ quy luật đó mà người Việt Nam suy luận: “trong họa có phúc”, “trong rủi có may”,… Hơn thế nữa, xuất phát từ quy luật âm dương chuyển hóa cho nhau “âm sinh dương, dương sinh âm” người Việt chúng ta hiểu rất rõ những quan niệm: “yêu nhau lắm, cắn nhau đau”, “trèo cao ngã đau”, “bĩ cực thái lai”,… Điều đó cũng có nghĩa, bất kỳ việc gì đều phải có điểm dừng, không quá thấp và không quá cao. Nói cách khác, đó chính là sự thể hiện của “triết lý sống quân bình”. Và chính triết lý sống quân bình này đã tạo nên tính cách lạc quan, tự tin ở người Việt, họ không nản chí trước khó khăn, họ luôn tin tưởng vào ngày mai tốt đẹp bởi lẽ “triết lý sống quân bình” đã thấm sâu vào máu thịt họ, tinh thần tự tin lạc quan đã nằm sâu trong ý thức của họ. “Mười quả trứng” là bài ca dao thể hiện sâu sắc tính cách ấy. Mặc dù tài sản duy nhất “mười quả trứng” cuối cùng lại trở về là con số 0 thậm chí còn âm vì chủ sở hữu của nó phải “đi vay, đi dạm, …”. Song người nông dân Việt Nam vẫn tin tưởng, vẫn hy vọng vào tương lai tươi sáng. 3. Thay lời kết: Tác giả bài viết này xin được bổ sung thêm một câu “Không ai giàu ba họ, không ai khó ba đời”. Lại là niềm hy vọng và tính cách lạc quan – có thể nói đã trở thành một nét đẹp văn hóa của dân tộc Việt Nam.

Soạn Bài Ca Dao Hài Hước (Chi Tiết)

Lựa chọn câu để xem lời giải nhanh hơn

Câu 1 Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc bài ca 1 và trả lời các câu hỏi: – Việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường? Cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt? Từ đó anh (chị) hãy nêu cảm nhận của mình về tiếng cười của người lao động trong cảnh nghèo. – Bài ca dao có giọng điệu hài hước, dỉ dỏm, đáng yêu là nhờ những yếu tố nghệ thuật nào? Lời giải chi tiết:

– Bài ca được đặt trong thể đối đáp của chàng trai và cô gái. Cả hai đều nói đùa, nói vui. Nhưng cách nói lại giàu ý nghĩa về cuộc sông con người. Trong cuộc sống trai gái lấy nhau, hai gia đình ưng thuận thường có chuyện thách và dẫn cưới. Trong bài ca này cả dẫn và thách cưới có cái gì không bình thường.

– Bên dẫn cưới (nhà trai) đem đến “một con chuột béo” miễn là có thú bốn chân”; còn nhà gái lại thách cưới bằng “một nhà khoai lang”.

– Trong bài ca dao này, cả chàng trai và cô gái đều tập trung trào lộng cảnh nghèo của nhà mình. Tiếng cười tự trào có phần chua chát, nhưng vui vẻ, hài hước, rất hóm hỉnh, thể hiện tinh thần lạc quan trong cuộc sống của người lao động.

– Bài ca sử dụng các biện pháp nói quá, tương phản để tạo ra tiếng cười giàu ý nghĩa.

+ Lối nói khoa trương, phóng đại.

Dẫn cưới: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò

+ Lối nói giảm dần:

● Voi ⟶ trâu ⟶ bò

● Củ to ⟶ củ nhỏ ⟶ củ mẻ ⟶ củ rím, củ hà

+ Lối nói đối lập: đối lập giữa mơ ước với thực tế: dẫn voi, dẫn trâu, dẫn bò đối lập với dẫn bò.

Câu 2 Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Đọc các bài ca số 2, 3, 4 có gì khác với tiếng cười ở bài 1? Tác giả dân gian cười những con người nào trong xã hội, nhằm mục đích gì, với thái độ ra sao? Trong cái chung đó, mỗi bài lại có nét riêng thể hiện nghệ thuật trào lộng sắc sảo của người bình dân. Hãy phân tích làm rõ vẻ đẹp riêng của mỗi bài ca dao. Lời giải chi tiết:

– So với tiếng cười trong bài 1, tiếng cười ở các bài 2, 3, 4 là tiếng cười đả kích, châm biếm, phê phán xã hội. Nó hướng vào những thói hư tật xấu của một bộ phận trong nội bộ nhân dân.

Bài 1. Là tiếng cười tự trào (cười mình), còn với các bài sau, đối tượng cười không phải là chính mình.

Bài 2.

– Đối tượng châm biếm là bậc nam nhi yếu đuối, không đáng sức trai.

Thủ pháp nghệ thuật của bài ca này là sự kết hợp giữa đối lập và cách nói ngoa dụ.

+ Đối lập hay còn gọi là tương phản “làm trai”, “sức trai” xuống Đông, Đông tĩnh, lên Đoài, Đoài tan” hoặc “làm trai quyết chí tang bồng, sao cho tỏ mặt anh hùng mới cam”. Ở đây đối lập với “làm trai” và “sức trai” là “Khom lưng chống gối, gánh hai hạt vừng”.

+ Cách nói ngoa dụ thường là phóng đại, tô đậm các hiện tượng châm biếm “khom lưng chống gối” ấy như thế nào mọi người đã rõ.

Bài 3.

– Đối tượng châm biếm là đức ông chồng vô tích sự, lười nhác, không có chí lớn.

– Bằng việc sử dụng biện pháp tương phản (giữa “chồng người” với “chồng em”), và cũng có cả biện pháp nói quá (có ông chồng nào hèn yếu đến nỗi chỉ biết “ngồi bếp” để “sờ đuôi con mèo”. Tác giả dân gian đã tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt, có giá trị khái quát cao cho một loại đàn ông èo uột, lười nhác, ăn bám vợ. Có thể tìm thấy một số bài ca dao có nội dung tương tự:

Chồng người lội suối trèo đèo

Chồng tôi cầm đũa đuổi mèo quanh mâm

Bài 4.

– Bài ca dao chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Tiếng cười của bài ca dao lại một lần nữa chủ yếu được xây dựng dựa trên nghệ thuật phóng đại và những liên tưởng phong phú của tác giả dân gian. Đằng sau tiếng cười hài hước, giải trí, mua vui, tác giả dân gian vẫn muốn thể hiện một lời châm biếm nhẹ nhàng tới loại phụ nữ vô duyên đỏng đảnh – một loại người không phải không có trong xã hội.

Câu 3 Câu 3 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước. Lời giải chi tiết:

Những biện pháp nghệ thuật thường được sử dụng trong ca dao hài hước:

– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.

– Khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.

– Dùng ngôn ngữ đời thường nhưng thâm thúy và sâu sắc.

– Có nhiều liên tưởng độc đáo, bất ngờ, lí thú.

Luyện tập Câu 1 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Nêu cảm nghĩ về lời thách cưới của cô gái “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang”, từ đó cho biết tiếng cười tự trào của người lao động trong cảnh nghèo đáng yêu và đáng trân trọng ở chỗ nào? Trả lời:

– Thách cưới là yêu cầu của nhà gái đối với nhà trai về tiền cưới và lễ vật. Lời thách cưới của cô gái: “Nhà em thách cưới một nhà khoai lang” có thể gợi cho em một nụ cười cảm thương, vừa hài hước vừa chua chát buồn thương cho sự nghèo khó của gia đình cô gái, nhưng cũng rất trân trọng vì sự thông minh, hóm hỉnh trong cách nói hài hước của cô.

– Tiếng cười tự trào của người lao động rất đáng yêu và đáng trân trọng, bởi nó thể hiện sự lạc quan, đồng thời biểu hiện sự thông minh, sắc xảo, hóm hỉnh của những tiếng cười.

– Tiếng cười cũng bật lên nhưng có gì như chia sẻ với cuộc sống còn khốn khó của người lao động. Đằng sau tiếng cười ấy là phê phán thách cưới nặng nề của người xưa.

Câu 2 (trang 91 SGK Ngữ văn 10 tập 1) Sưu tầm những bài ca dao hài hước phê phán thói lười nhác, lê la ăn quà vặt, nghiện ngập rượu chè; tệ nạn tảo hôn,… Trả lời: “Cái cò là cái cò kì Ăn cơm nhà dì uống nước nhà cô Đêm nằm thì gáy o o Chửa đi đến chợ đã lo ăn quà” “Bói cho một quẻ trong nhà Con heo bốn cẳng, con gà hai chân” ND chính

Bằng nghệ thuật trào lộng thông minh, hóm hỉnh, những tiếng cười đặc sắc trong ca dao – tiếng cười giải trí, tiếng cười tự trào (tư cười mình) và tiếng cười châm biếm, phê phán – thể hiện tâm hồn lạc quan yêu đời và triết lí nhân sinh lành mạnh trong cuộc sống còn nhiều vất vả, lo toan của người bình dân.

chúng tôi

Soạn Bài Ngữ Văn Lớp 10: Ca Dao Hài Hước

I. HƯỚNG DẪN HỌC BÀI1. Tìm hiểu tiếng cười tự trào (tự cười mình) trong bài 1

Bài ca là lời đối đáp vui đùa của nam nữ ở chặng hát cưới trong dân ca. Mặc dầu vậy, nó vẫn đem đến cho ta một tiếng cười mang ý nghĩa nhân sinh sâu sắc.

Cưới nàng, anh toan dẫn voi,Miễn là có thú bốn chân,Dẫn con chuột béo, mời dân mời làng. Chàng dẫn thế, em lấy làm sang.Nỡ nào em lại phá ngang như là Người ta thách lợn thách gà,Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Anh sợ quốc cấm, nên voi không bàn.Dẫn trâu, sợ họ máu hàn,Dẫn bò, sợ họ nhà nàng co gân.

Bài ca gồm lời của chàng trai và của cô gái đối đáp nhau: chàng trai nói về việc dẫn cưới của mình, còn cô gái, về việc thách cưới. Thử xem việc dẫn cưới và thách cưới ở đây có gì khác thường, cách nói của chàng trai và cô gái có gì đặc biệt?

Cần nhớ rằng họ đều là những người lao động trong cảnh nghèo và việc cưới là điều hệ trọng nhất trong cuộc đời của họ, nhất là đối với người con gái. Nghèo là vậy, nhưng vì coi trọng lễ cưới, yêu quý người bạn trăm năm, nên chàng trai đã có những dự định sang trọng trong việc dẫn cưới:

Dự định thật to tát (chàng trai nào khi yêu mà chả thế!), nhưng chỉ là dự định vì làm sao một chàng trai nghèo lại có được những vật dẫn cưới đắt tiền như thế! Cái hóm hĩnh, đáng yêu là ở cách nói ý nhị của chàng: dẫn voi/sợ quốc cấm; dẫn trâu sợ họ máu hàn; dẫn bò/sợ họ co gân. Không phải không muốn dẫn những vật ấy mà cái chính là lo cho họ nhà gái. Chàng rể thật chu đáo vì biết cách ứng xử! Để rồi cuối cùng chàng trai mới nói ra cái vật dẫn cưới thật của mình:

Nghèo quá nên chỉ có thể dẫn cưới bằng con chuột. Cách nói thật thú vị, pha chút tinh nghịch (đây là lời đối đáp vui đùa của nam nữ): chuột cũng là thú bốn chân như voi, trâu bò; lại là chuột béo; và chỉ cần một con chuột béo ấy là có thể mời dân, mời làng. Nhưng đây cũng là vật dẫn cưới hư cấu do chàng trai tưởng tượng ra, vì có ai lại dẫn cưới bằng chuột bao giờ?! Chi tiết này thật đắt, thật đáng yêu trong lời dẫn cưới của chàng trai nghèo, và tiếng cười tự trào cũng bật lên hồn nhiên, vô tư khi người lao động không mặc cảm với cảnh nghèo, mà trái lại, như còn bằng lòng, vui thú với cảnh nghèo của mình.

Một lời dẫn cưới đáng yêu như thế, làm sao cô gái không chấp nhận? Hãy nghe cô trả lời người yêu cùng với lời thách cưới của mình:

Ở đây có hai nét đẹp trong tâm hồn cô gái: trong lời chấp nhận việc dẫn cưới của chàng trai và trong lời thách cưới của mình. Không chỉ chấp nhận, cô còn lấy làm sang cho dù vật dẫn cưới chỉ là một con chuột béo! Cùng cảnh nghèo như nhau, cô dễ dàng thông cảm và sẵn sàng chấp nhận. Nhưng còn cao đẹp hơn là lời thách cưới của cô: Nhà em thách cưới một nhà khoai lang. Trên đời này, chắc hẳn không thể có một cô gái nào lại thách cưới như vậy, cho dù cùng trong cảnh nghèo. Bởi vì việc cưới là điều hệ trọng nhất trong cuộc đời người con gái, nó quyết định cả cuộc đời cô, vậy mà cô chỉ thách có một nhà khoai lang. Nhưng như vậy là đủ lắm rồi, vì nhà em nghèo mà nhà anh cũng nghèo, làm sao có thể thách khác được? Trong sự đối lập giữa thách lợn, thách gà với thách cưới một nhà khoai lang càng thấy rõ nét cao đẹp của người con gái: không chỉ là lời thách cưới vô tư, thanh thản mà còn là một tâm hồn lạc quan yêu đời, một triết lí trong cuộc sống của người lao động – không mặc cảm mà còn tìm thấy niềm vui trong cảnh nghèo và nhất là luôn giữ được cuộc sống thanh cao của mình. Lời thách cưới thật đáng yêu, đáng trân trọng, cho dù nó chỉ là lời đùa cợt trong chặng hát cưới của dân ca. Và cái dí dỏm, đáng yêu còn được cô nói tiếp trong dự định của mình về những vật thách cưới đó: Củ to thì để mời làng… Để cho con lợn con gà nó ăn…

Đây là tiếng cười tự trào của người bình dân trong ca dao. Người lao động tự cười mình trong cảnh nghèo. Lại chọn đúng cái cảnh cưới là lúc bộc lộ rõ nhất cái nghèo để cười, để yêu đời, ham sống. Khi người ta tự cười mình thì tiếng cười ấy bộc lộ rõ nhất nhân cách của họ như ta đã thấy trong tâm hồn cao đẹp của chàng trai và cô gái trong lời dẫn cưới và thách cưới khác thường nhưng thật đáng yêu của họ.

2. Tìm hiểu tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội trong bài 2, 3, 4.Khác với tiếng cười tự trào ở bài 1, tiếng cười trong bài 2, 3 ,4 là tiếng cười châm biếm, phê phán xã hội. Đây không phải là tiếng cười đả kích, lên án giai cấp thống trị mà là tiếng cười giáo dục trong nội bộ nhân dân nhằm phê phán những thói hư tật xấu mà con người vẫn còn mắc phải. Ở đây, tác giả dân gian cười những chàng trai chưa đáng bậc nam nhi và những cô gái vô duyên đỏng đảnh… để nhắc ta phải làm người cho xứng đáng, với thái độ nhẹ nhàng, thân tình, mang tính giáo dục nhưng không vì thế mà kém phần sâu sắc.

Bài 2 chế giễu loại đàn ông yếu đuối, không đáng sức trai, không đáng nên trai. Bài 3 châm biếm loại đàn ông lười nhác, không có chí lớn. Hai bài ca dao là hai bức tranh cụ thể, sinh động lại mang tính khái quát cao, điển hình cho hai loại đàn ông đáng phê phán. Nếu ở bài 2, tiếng cười bật ra nhờ nghệ thuật phóng đại kết hợp với thủ pháp đối lập (Khom lưng chống gối gánh hai hạt vừng); thì ở bài 3, vẫn sử dụng thủ pháp đối lập giữa chồng người và chồng em, tác giả dân gian lại tóm đúng thần thái nhân vật trong một chi tiết thật đắt: ngồi bếp sờ đuôi con mèo. Hình ảnh loại đàn ông lười nhác, ăn bám vợ hiện lên vừa buồn cười vừa thảm hại, mang tính hài hước và ý nghĩa giáo dục sâu sắc.

Bài 4. chế giễu loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên. Đây là một bức tranh hư cấu hài hước tài tình của dân gian, có những chi tiết có thể có trong đời thường (đêm nằm thì ngáy o o; đi chợ thì hay ăn quà), cổ những chi tiết không thể có (lỗ mũi mười tám gánh lông; trên đầu những rác cùng rơm), nhưng tất cả đều được phóng đại bằng trí tưởng tượng phong phú của người bình dân. Bài ca dao hài hước này trước hết là để mua vui, giải trí, nhưng đằng sau những tiếng cười sảng khoái đó vẫn ngầm chứa một ý nghĩa châm biếm nhẹ nhàng đối với loại phụ nữ đỏng đảnh, vô duyên không phải không có trong xã hội (ngáy o o, hay ăn quà…). Có thể do trời “phú” cho họ điều đó, cũng có thể do họ chưa tự điều chỉnh được mình trong cuộc sống chung. Tác giả dân gian đã nhìn họ bằng con mắt nhân hậu, thông cảm, qua con mắt của người chồng yêu vợ nên tất cả điều xấu của nhân vật đều hóa thành tốt (lông mũi / râu rồng trời cho; ngáy o o/cho vui nhà; ăn quà/đỡ cơm; rác rơm / hoa thơm).

3. Những biện pháp nghệ thuật ca dao hài hước thường sử dụng– Hư cấu dựng cảnh tài tình, khắc họa nhân vật bằng những nét điển hình có giá trị khái quát cao.– Cường điệu phóng đại, tương phản đối lập.– Hình ảnh hài hước, chi tiết hàm chứa ý nghĩa.– Cách nói hóm hỉnh, ý nhị.

II. LUYỆN TẬPBài tập 1: Cần nêu cảm nghĩ thật của mình về lời thách cưới của cô gái.

Tiếng cười tự trào của người lao động đáng yêu, đáng trân trọng:– Không mặc cảm mà còn bằng lòng với cảnh nghèo, vui và thích thú trong lời thách cưới (dù chỉ là lời đùa cợt trong lối đối đáp nam nữ của dân ca).– Lời thách cưới thật khác thường (chỉ là khoai lang) mà vô tư, hồn nhiên, thanh thản nói lên tâm hồn lạc quan yêu đời của người lao động.

Bài tập 2: Tìm các bài ca dao hài hước trong cuốn Tục ngữ ca dao dân ca Việt Nam của Vũ Ngọc Phan, in lần thứ 7, NXB Khoa học xã hội, 1971 và cuốn Ca dao hài hước của Đào Thản, NXB Văn hóa – Thông tin, 2001.

Soạn Bài : Ca Dao, Dân Ca Những Câu Hát Về Tình Cảm Gia Đình

CA DAO, DÂN CA NHỮNG CÂU HÁT VỀ TÌNH CẢM GIA ĐÌNH

I. VỀ THỂ LOẠI1. Ca dao, dân ca là tên gọi chung của các thể loại trữ tình dân gian kết hợp giữa lời và nhạc, diễn tả đời sống nội tâm của con người. Hiện nay còn phân biệt ca dao và dân ca: Dân ca là những sáng tác kết hợp giữa lời và nhạc, ca dao là lời thơ của dân ca, ngoài ra còn bao gồm cả những bài thơ dân gian mang phong cách nghệ thuật chung với lời thơ dân ca.2. Ca dao, dân ca thuộc loại trữ tình, phản ánh tâm tư tình cảm, thế giới tâm hồn của con người (trữ: phát ra, bày tỏ, thể hiện ; tình: tình cảm, cảm xúc). Nhân vật trữ tình phổ biến trong ca dao, dân ca là những người vợ, người chồng, người mẹ, người con,… trong quan hệ gia đình, những chàng trai, cô gái trong quan hệ tình bạn, tình yêu, người nông dân, người phụ nữ,… trong quan hệ xã hội. Cũng có những bài ca dao châm biếm phê phán những thói hư tật xấu của những hạng người và những sự việc đáng cười trong xã hội. Ca dao châm biếm thể hiện khá tập trung những nét đặc sắc của nghệ thuật trào lộng dân gian Việt Nam.3. Bên cạnh những đặc điểm chung với thơ trữ tình (có vần, nhịp, sử dụng nhiều biện pháp tu từ,…), ca dao, dân ca có những đặc thù riêng: + Ca dao, dân ca thường rất ngắn, đa số là những bài gồm hai hoặc bốn dòng thơ. + Sử dụng thủ pháp lặp (lặp kết cấu, lặp dòng thơ mở đầu, lặp hình ảnh, lặp ngôn ngữ,…) như là một thủ pháp chủ yếu để tổ chức hình tượng.4. Ca dao, dân ca là mẫu mực về tính chân thực, hồn nhiên, cô đúc, về sức gợi cảm và khả năng lưu truyền. Ngôn ngữ ca dao, dân ca là ngôn ngữ thơ nhưng vẫn rất gần với lời nói hằng ngày của nhân dân và mang màu sắc địa phương rất rõ.

Chữ màu xanh là soạn bài rút gọn!

Căn cứ vào nội dung câu hát có thể thấy: bài ca dao thứ nhất là lời của người mẹ hát ru con, bài thứ hai là lời của người con gái lấy chồng xa quê nói với mẹ, bài thứ ba là lời của con cháu đối với ông bà, bài thứ tư là lời của cha mẹ dặn dò con cái hoặc lời anh em tâm sự với nhau.Câu 2.

Phân tích Bài 1: – Tình cảm muốn diễn tả: Tình cảm cha mẹ với con cái, nhắn nhủ con phải ghi nhớ công lao trời biển của cha mẹ. – Cái hay: Phép so sánh (công cha – núi ngất trời; nghĩa mẹ – nước biển Đông), đối xứng (cha-mẹ; núi-biển), thể lục bát dân gian, âm điệu sâu lắng đi vào lòng người. – Một số câu ca dao tương tự: + “Lên non mới biết non cao Nuôi on mới biết công lao mẫu tử” + “Công cha như núi Thái Sơn Nghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy ra Một lòng thờ mẹ kính cha Cho tròn chữ hiếu mới là đạo con” + “Nuôi con mẹ héo vóc hình Cạn bầu sữa ngọt mà tình không vơi”

Bài 1, tác giả ví công cha, nghĩa mẹ như núi ngất trời, như nước ở ngoài biển Đông là lấy cái mênh mông, vĩnh hằng, vô hạn của trời đất, thiên nhiên để so sánh, làm nổi bật ý nghĩa: công ơn cha mẹ vô cùng to lớn, không thể nào cân đong đo đếm hết được. Ví công cha với núi ngất trời là khẳng định sự lớn lao, ví nghĩa mẹ như nước biển Đông là để khẳng định chiều sâu, chiều rộng. Đây cũng là một nét tâm thức của người Việt. Hình ảnh mẹ không lớn lao, kì vĩ như hình ảnh cha nhưng sâu xa hơn, rộng mở và gần gũi hơn. Đối công cha với nghĩa mẹ, núi với biển là cách diễn đạt quen thuộc, đồng thời cũng làm cho các hình ảnh được tôn cao thêm, trở nên sâu sắc và lớn lao hơn.Câu 3.

Phân tích Bài 2 – Tâm trạng người phụ nữ lấy chồng xa quê: – Thời gian: “chiều chiều” – từ láy gợi buồn và thời gian tuần hoàn, lặp lại. – Không gian: “ngõ sau ” – vắng lặng, không gian rộng, gợi sự cô đơn. – Hành động: “đứng ” – sự hướng vọng, không yên lòng. – Nỗi niềm: “ruột đau chín chiều ” – “chín bề”, nhiều bề: Nỗi cô đơn làm dâu xứ lạ, nhớ thương cha mẹ, tê tái, đau buồn không giúp đỡ được cha mẹ.

Ngày xưa, do quan niệm “trọng nam khinh nữ”, coi “con gái là con người ta” nên những người con gái bị ép gả hoặc phải lấy chồng xa nhà đều phải chịu nhiều nỗi khổ tâm. Nỗi khổ lớn nhất là xa nhà, thương cha thương mẹ mà không được về thăm, không thể chăm sóc, đỡ đần lúc cha mẹ đau ốm, bệnh tật. Nỗi nhớ mẹ của người con gái trong bài ca dao này rất da diết. Điều đó được thể hiện qua nhiều từ ngữ, hình ảnh: – Chiều chiều: không phải một lần, một lúc mà chiều nào cũng vậy. – Đứng ngõ sau: ngõ sau là ngõ vắng, đi với chiều chiều càng gợi lên không gian vắng lặng, heo hút. Trong khung cảnh ảm đạm, hình ảnh người phụ nữ cô đơn thui thủi một mình nơi ngõ sau càng nhỏ bé, đáng thương hơn nữa. – ruột đau chín chiều: chín chiều là “chín bề”, là “nhiều bề”. Dù là nỗi đau nào thì cái không gian ấy cũng làm cho nó càng thêm tê tái. Cách sử dụng từ ngữ đối xứng (chiều chiều – chín chiều) cũng góp phần làm cho tình cảnh và tâm trạng của người con gái càng nặng nề, đau xót hơn.Câu 4.

Phân tích Bài 3 – nỗi nhớ và sự yêu kính với ông bà: – “Ngó lên “: Thể hiện sự tôn kính. – Hình ảnh “nuộc lạt “: Có hai ý nghĩa là “rất nhiều” và “tình cảm gắn bó”. – Cặp từ so sánh “Bao nhiêu … bấy nhiêu “: Nỗi nhớ trùng điệp nhiều vô kể.

Bài 3 diễn tả nỗi nhớ và sự yêu kính đối với ông bà. Để diễn đạt những tình cảm ấy, tác giả dân gian đã dùng biện pháp tu từ so sánh: nỗi nhớ được so sánh như nuộc lạt buộc trên mái nhà (rất nhiều). Cái hay của cách diễn đạt này nằm ở cách dùng từ “ngó lên” (chỉ sự thành kính) và ở hình ảnh so sánh: nỗi nhớ – nuộc lạt trên mái nhà. Hình ảnh “nuộc lạt” vừa gợi ra cái nhiều về số lượng (dùng cái vô hạn để chỉ nỗi nhớ và sự yêu kính ông cha) vừa gợi ra sự nối kết bền chặt (tình cảm máu mủ ruột rà, tình cảm huyết thống của con cháu với ông cha).Câu 5.

Chữ màu xanh là soạn bài rút gọn!

Phân tích Bài 4 – tình cảm anh em thân thương: – Điệp từ “cùng chung – cùng thân “: Tình thiêng liêng, quan trọng. – So sánh: Ví anh-em với tay-chân, những bộ phận gắn bó khăng khít trên một thể thống nhất, nói lên sự gắn bó anh em. → Nhắc nhở: Anh em phải hòa thuận, đoàn kết, thương yêu nhau để cha mẹ vui lòng cũng là lẽ sống đúng đắn.

Bài 4 là những câu hát về tình cảm anh em. Anh em là hai nhưng cũng là một, vì: “Cùng chung bác mẹ, một nhà cùng thân” (cùng một cha mẹ sinh ra, cùng chung sống, cùng chung buồn vui, sướng khổ). Quan hệ anh em còn được ví với hình ảnh chân – tay (những bộ phận gắn bó khăng khít trên một cơ thể thống nhất). Hình ảnh đó nói lên tình nghĩa và sự gắn bó thiêng liêng của anh em. Bài ca dao là lời nhắc nhở chúng ta: anh em phải hoà thuận, phải biết nương tựa lẫn nhau thì gia đình mới ấm êm, cha mẹ mới vui lòng.Câu 6. Những biện pháp nghệ thuật tiêu biểu trong cả bốn bài ca dao:

Những biện pháp nghệ thuật được cả bốn bài ca dao sử dụng: – Thể thơ lục bát – Lối ví von, so sánh. – Hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống. – Ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

– Thể thơ lục bát. – Cách ví von, so sánh. – Những hình ảnh gần gũi, quen thuộc trong đời sống hàng ngày. – Đặc biệt, ngôn ngữ vẫn mang tính chất hướng ngoại nhưng không theo hình thức đối đáp mà chỉ là lời nhắn nhủ, tâm tình.

III. RÈN LUYỆN KĨ NĂNGCâu 1. Cách đọc Các bài ca dao đều được viết theo thể lục bát, nhịp 2/2 hoặc 4/4, do đó cần đọc trầm và nhấn giọng, thể hiện mối quan hệ tình cảm chân thành, thắm thiết.Câu 2.

– Tình cảm diễn tả trong bốn bài ca dao là tình cảm gia đình: Cha mẹ – con cái, mẹ con, ông bà – con cháu, anh em một nhà. – Nhận xét: Đó là những tình cảm thiêng liêng, đáng quý, chúng ta cần phải tôn trọng, giữ gìn nó.

Một số bài ca dao nội dung tương tự: – “Biển Đông còn lúc đầy vơi Chớ lòng cha mẹ suốt đời tràn dâng” – “Chiều chiều xách giỏ hái rau Nhìn lên mả mẹ ruột đau như dần” – “Đói lòng ăn hột chà là Để cơm nuôi mẹ, mẹ già yếu răng” – “Khôn ngoan đối đáp người ngoài Gà cùng một mẹ chớ hoài đá nhau”

– Công cha như núi Thái SơnNghĩa mẹ như nước trong nguồn chảy raMột lòng thờ mẹ kính chaCho tròn chữ hiếu mới là đạo con.– Chiều chiều ra đứng ngõ sauTrông về quê mẹ ruột đau chín chiều.– Chiều chiều ra đứng bờ sông Muốn về quê mẹ mà không có đò.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đến Với Bài Ca Dao Mười Quả Trứng trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!