Xu Hướng 3/2024 # Điểm Mới Của Luật Phá Sản 2014 # Top 6 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Điểm Mới Của Luật Phá Sản 2014 được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày 19/6/2014, Luật Phá sản số 51/2014/QH13 đã được Quốc hội thông qua. So với Luật Phá sản năm 2004, Luật này được đánh giá có sửa đổi căn bản và toàn diện, giúp tháo gỡ vướng mắc trong giải quyết phá sản, bổ sung các điểm mới có lợi cho doanh nghiệp, tạo điều kiện cho các doanh nghiệp không còn khả năng hoạt động có thể chấm dứt sự tồn tại nhanh chóng, thuận tiện hơn.

Luật Phá sản năm 2014 quy định quyền và nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo hướng mở rộng đối tượng có quyền nộp đơn, trong đó có các đối tượng mới như: công đoàn, đại diện pháp luật của các doanh nghiệp…

2. Quy định rõ trách nhiệm cung cấp tài liệu, chứng cứ phục vụ giải quyết phá sản 4. Quy định thời hạn phục hồi hoạt động kinh doanh linh hoạt hơn

Khác với Luật cũ, Luật Phá sản năm 2014 quy định về thời hạn thực hiện phương án hồi phục hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp mất khả năng thanh toán sẽ được quyết định theo nghị quyết của hội nghị chủ nợ. Nếu hội nghị chủ nợ không xác định được thời hạn phục hồi thì sẽ áp dụng thời hạn 3 năm kể từ ngày hội nghị chủ nợ thông qua phương án phục hồi hoạt động kinh doanh. Đây là quy định mới tôn trọng quyền quyết định của hội nghị chủ nợ, cho phép doanh nghiệp có thể tùy theo điều kiện, hoàn cảnh thực tế để xác định thời hạn phục hồi hoạt động kinh doanh phù hợp, không còn cứng nhắc áp đặt một thời hạn duy nhất cho tất cả doanh nghiệp như trước đây.

Luật Phá sản năm 2014 quy định thủ tục tuyên bố phá sản phải thực hiện trước thủ tục thanh lý tài sản, tương tự quy định tại Luật Phá sản Doanh nghiệp năm 1993. Việc thay đổi trình tự thủ tục khắc phục tình trạng kéo dài thời gian giải quyết phá sản do chưa thể ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản và quyết định tuyên bố phá sản khi chưa thanh lý được hết tài sản và chưa thu hồi hết nợ.

7. Bổ sung chế định quản tài viên hỗ trợ doanh nghiệp thực hiện phá sản

Luật Phá sản năm 2014 bổ sung quy định về áp dụng loại hình phá sản theo thủ tục rút gọn đối với trường hợp doanh nghiệp nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản kèm theo đầy đủ căn cứ chứng minh rằng không còn tiền và tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản. Đối với trường hợp trên, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Tòa án thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản về việc giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn, Tòa án sẽ xem xét, tuyên bố doanh nghiệp phá sản hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết.

Luật Phá sản 2014 đã có sự đổi mới căn bản và toàn diện, giúp tháo gỡ các vướng mắc trong giải quyết phá sản, song chưa có các văn bản hướng dẫn chi tiết, còn thiếu cơ sở để triển khai áp dụng. Hiệu quả của việc giải quyết phá sản doanh nghiệp không chỉ phụ thuộc vào sự hoàn chỉnh của khung pháp lý mà còn phụ thuộc vào năng lực của các cơ quan thi hành pháp luật và Tòa án.

Những Điểm Mới Của Luật Phá Sản 2014 So Với Luật Phá Sản 2004

Trong Luật phá sản 2004 quy định hiệu lực của Luật phá sản áp dụng ” khi giải quyết phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã hoạt động trên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam” thì Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “doanh nghiệp, hợp tác xã được thành lập trên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”. Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ. Bởi lẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các doanh nghiệp Việt Nam và doanh nghiệp nước ngoài có hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam. Vì vậy, đối với các doanh nghiệp nước ngoài mà không có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng thanh toán thì không thể áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết.

Trong khi Luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu coi là lâm vào tình trạng phá sản”, thì tạ i Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản 2014 đã có những thay đổi theo hướng rõ ràng và cụ thể hơn: “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Như vậy, chỉ cần xác định là có khoản nợ và đến thời điểm tòa án quyết định việc mở thủ tục phá sản mà doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn không thanh toán thì tòa án có thể ra quyết định mở thủ tục phá sản. Ngoài ra, việc mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ.

Thời hạn phải thanh toán là 03 tháng giúp các doanh nghiệp, hợp tác xã chưa có khả năng thanh toán có thể tìm các phương án khác để thanh toán nợ đến hạn trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép con nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ.

So với Luật phá sản 2004, Luật Phá sản năm 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình.

Trước đây trong Luật cũ, người lao động phải nộp đơn thông qua đại diện, thì trong luật mới, người lao động có quyền tự mình nộp đơn mà không cần phải thông qua đại diện.

Để đảm đảm bảo tính khách quan, Luật Phá sản mới bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản. Đồng thời, Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.

Quản tài viên là người đảm bảo các điều kiện quy định tại điều 12 Luật Phá sản: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Những người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm: Luật sư; Kiểm toán viên;Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.

Quản tài viên có quyền và nghĩa vụ được quy định tại điều 16 Luật Phá sản 2014, được hưởng thù lao và thực hiện trách nhiệm bảo hiểm nghề nghiệp theo quy định của pháp luật. Quản tài viên được Thẩm phán thụ lý chỉ định, trong quá trình công tác có thể bị những người tham gia thủ tục phá sản yêu cầu thay đổi.

Do Luật Phá sản 2004 chưa có quy định cụ thể về việc xác định khoản lãi đối với các khoản nợ đến hạn và chưa đến hạn, đặc biệt là các khoản nợ mới phát sinh trong quá trình giải quyết thủ tục phá sản đã dẫn đến tình trạng áp dụng không thống nhất về việc tính lãi đối với các khoản nợ, nên không bảo đảm quyền, nghĩa vụ của các bên trong quá trình giải quyết yêu cầu mở thủ tục phá sản. Để khắc phục tình trạng này, Luật Phá sản 2014 đã bổ sung quy định về xác định tiền lãi đối với khoản nợ, theo đó, kể từ ngày ra quyết định mở thủ tục phá sản, các khoản nợ vẫn được tiếp tục tính lãi theo thỏa thuận nhưng được tạm dừng việc trả lãi. Trường hợp Thẩm phán ra quyết định đình chỉ tiến hành thủ tục phá sản theo quy định của Điều 86 Luật này, đình chỉ thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh theo quy định tại Điểm a Khoản 1 Điều 95 của Luật này, thì việc tạm dừng trả lãi chấm dứt, các bên tiếp tục thực hiện trả lãi theo thỏa thuận; đối với các khoản nợ mới phát sinh sau khi mở thủ tục phá sản đến thời điểm tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì tiền lãi của các khoản nợ đó được xác định theo thỏa thuận nhưng không trái với quy định của pháp luật; kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì các khoản nợ không được tiếp tục tính lãi.

Luật Phá sản quy định, sau khi doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, người giữ chức vụ giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị của các công ty, tổng công ty 100% vốn nhà nước không được cử đảm đương các chức vụ đó ở bất kỳ doanh nghiệp nhà nước nào. Kể cả những người đại diện phần vốn góp của Nhà nước ở doanh nghiệp khác như công ty TNHH, công ty cổ phần… mà doanh nghiệp đó bị tuyên bố phá sản, thì cũng không được cử đảm đương các chức vụ quản lý ở bất kỳ doanh nghiệp nào có vốn của Nhà nước.

Đối với các chủ doanh nghiệp tư nhân, thành viên hợp danh của công ty hợp danh, giám đốc, tổng giám đốc, chủ tịch và các thành viên Hội đồng quản trị, hội đồng thành viên của doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản, thì không được quyền thành lập DN, không được làm người quản lý doanh nghiệp từ một đến ba năm kể từ ngày doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản.

Tuy nhiên, Luật cũng quy định rõ các trường hợp sẽ không áp dụng các quy định trên, đó là trong trường hợp doanh nghiệp bị tuyên bố phá sản vì lý do bất khả kháng.

Những Điểm Mới Luật Phá Sản 2014

Theo đó, Luật Phá sản 2014 gồm 14 chương, 133 điều, có nhiều nội dung mới so với Luật Phá sản 2004. Chúng tôi xin giới thiệu những điểm mới cơ bản.

Xác định DN, HTX mất khả năng thanh toán

Tiêu chí xác định doanh nghiệp (DN), hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán (Khoản 1, Điều 4 Luật Phá sản 2014) là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải “không có khả năng thanh toán”. Thời điểm được xác định trong thời hạn 3 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán mà không phải là “khi chủ nợ có yêu cầu” như quy định tại Luật Phá sản 2004. Bộ luật mới không yêu cầu việc xác định hay phải có căn cứ chứng minh DN, HTX không có khả năng thanh toán bằng bản cân đối tài chính.

Căn cứ để Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản là có khoản nợ và đến thời điểm Tòa án ra quyết định việc mở thủ tục phá sản DN, HTX vẫn không thanh toán. Tiêu chí mất khả năng thanh toán không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ nhiều hay ít mà chỉ cần 1 khoản nợ. Luật Phá sản 2014 không quy định giới hạn các khoản nợ. Điều này có thể hiểu bất kỳ khoản nợ nào, dù nợ lương, nợ thuế, nợ bảo hiểm xã hội, khoản nợ phát sinh từ hợp đồng… chủ nợ là cá nhân, cơ quan, tổ chức đều có quyền yêu cầu mở thủ tục phá sản DN, HTX.

Điều 5 Luật Phá sản 2014 xác định rõ người có quyền, người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Theo đó, những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần; người lao động, công đoàn cơ sở, công đoàn cấp trên trực tiếp cơ sở ở những nơi chưa thành lập công đoàn cơ sở; cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng, cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng trong trường hợp Điều lệ công ty quy định; thành viên HTX hoặc người đại diện theo pháp luật của HTX, thành viên của liên hiệp HTX.

Những người có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản, gồm: Người đại diện theo pháp luật của DN, HTX; chủ DN tư nhân, chủ tịch HĐQT của CTCP, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH MTV, thành viên hợp danh của công ty hợp danh.

Quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản

Luật Phá sản 2014 quy định cá nhân, DN được hành nghề quản lý, thanh lý tài sản trong quá trình giải quyết phá sản, gồm: Quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản. Quản tài viên là luật sư, kiểm toán viên, người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 5 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo được cấp chứng chỉ hành nghề quản tài viên.

DN quản lý, thanh lý tài sản gồm: Công ty hợp danh có tối thiểu 2 thành viên hợp danh là quản tài viên, tổng giám đốc hoặc giám đốc của công ty hợp danh là quản tài viên; DN tư nhân có chủ DN là quản tài viên, đồng thời là giám đốc. Việc xây dựng chế định chủ thể quản lý, thanh lý tài sản là cá nhân, pháp nhân là một bước thay đổi cơ bản trong Luật Phá sản 2014. Có thể nói, Luật Phá sản 2014 tạo ra một nghề nghiệp mới: nghề quản lý thanh lý tài sản phá sản của quản tài viên và DN quản lý, thanh lý tài sản.

Theo quy định tại Điều 85, Điều 86 Luật Phá sản 2004, Tòa án ra quyết định tuyên bố DN, HTX bị phá sản đồng thời với việc ra quyết định đình chỉ thủ tục thanh lý tài sản khi DN, HTX không còn tài sản để thực hiện phương án phân chia tài sản; hoặc phương án phân chia tài sản đã được thực hiện xong.

Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng khi Hội nghị chủ nợ không thành hoặc theo nghị quyết của Hội nghị chủ nợ, Tòa án tuyên bố DN, HTX phá sản. Cơ quan thi hành án dân sự tiến hành thủ tục thi hành quyết định tuyên bố DN, HTX phá sản.

Tuyên bố phá sản theo thủ tục rút gọn

Trường hợp người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản theo quy định tại Khoản 3, Khoản 4, Điều 5 Luật Phá sản 2014 mà DN, HTX mất khả năng thanh toán, không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản thì nộp đơn ghi rõ yêu cầu Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn. Đơn yêu cầu mở thụ tục phá sản và các tài liệu kèm theo phải đúng quy định tại Điều 28 Luật Phá sản 2014 và có đầy đủ căn cứ chứng minh DN, HTX không còn tiền, tài sản khác để nộp lệ phí phá sản, tạm ứng chi phí phá sản.

Đối với trường hợp này, thủ tục phá sản được giải quyết nhanh chóng. Trong thời hạn 30 ngày, kể từ ngày Tòa án thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản về việc Tòa án giải quyết phá sản theo thủ tục rút gọn, Tòa án xem xét, tuyên bố DN, HTX phá sản hoặc tiếp tục giải quyết theo thủ tục thông thường và thông báo cho người tham gia thủ tục phá sản biết.

Xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt, đây cũng là thủ tục mới mà Luật Phá sản 2004 không có. Về thủ tục nộp đơn: Người tham gia thủ tục phá sản, Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản. Về thẩm quyền xem xét đơn: Chánh án Tòa án nhân dân tối cao.

Về căn cứ xem xét: Tòa án xem xét đơn đề nghị, kiến nghị theo thủ tục đặc biệt khi có một trong hai căn cứ sau: 1. Có vi phạm nghiêm trọng pháp luật về phá sản; 2. Phát hiện tình tiết mới có thể làm thay đổi cơ bản nội dung quyết định tuyên bố phá sản mà Tòa án nhân dân, người tham gia thủ tục phá sản không thể biết được khi Tòa án nhân dân ra quyết định.

Theo Sài Gòn Đầu tư

Bàn Về Những Điểm Mới Của Luật Phá Sản Năm 2014

Phá sản là hiện tượng kinh tế khách quan trong nền kinh tế thị trường mà hậu quả của nó không chỉ ảnh hưởng đến bản thân doanh nghiệp và những người lao động trong doanh nghiệp mà còn tác động lớn đến các chủ thể khác là chủ nợ, đối tác và các thành phần khác trong nền kinh tế tùy vào quy mô của doanh nghiệp phá sản. Nhà nước, thông qua pháp luật phá sản để can thiệp vào quá trình giải quyết thủ tục phá sản của doanh nghiệp, nhằm giải quyết xung đột lợi ích của các chủ thể đó theo đúng bản chất vốn có với một cách nhìn hiện đại, năng động và hết sức mềm dẻo.

Luật Phá sản năm 2004 thay thế Luật Phá sản năm 1993 mặc dù đã ra đời và có hiệu lực gần 10 năm nhưng đã bộc lộ hàng loạt khiếm khuyết và hạn chế, không phù hợp với tình hình thực tế của Việt Nam. Chính vì lẽ đó, Quốc hội đã họp và thông qua Luật Phá sản năm 2014 nhằm giải quyết những hạn chế trên.

Luật Phá sản năm 2014 có hiệu lực từ 01/01/2024 có những điểm mới cơ bản như sau:

Nếu như Luật Phá sản 2004 quy định hiệu lực của luật phá sản áp dụng “khi giải quyết phá sản đối với DN, HTXtrên lãnh thổ nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam”thì Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp phạm vi áp dụng chỉ đối với “DN, HTX đượctrên lãnh thổ Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam”.

Quy định này rõ ràng mang tính thực tế và khả năng áp dụng cao hơn so với quy định cũ. Bởi lẽ hoạt động trên lãnh thổ Việt Nam, bao gồm cả các DN Việt Nam và DN nước ngoài có hoặc không có trụ sở đặt tại Việt Nam. Vì vậy, đối với các DN nước ngoài mà không có trụ sở, không có tài sản mà chỉ có một số hoạt động tại Việt Nam, khi mất khả năng thanh toán mà áp dụng Luật Phá sản của Việt Nam để giải quyết là phi thực tế và không có khả năng thực hiện được.

Định nghĩa rõ ràng tình trạng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán” và thời điểm nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản:

Khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 định nghĩa rằng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn03 tháng kể từ ngày đến hạnthanh toán.”

Khác với luật Phá sản năm 2004 chỉ quy định chung chung “DN, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản”.

Như vậy, Luật Phá sản 2014 đã đưa ra một khoàng thời hạn “03 tháng” để DN, HTX khi không có khả năng thanh toán có thể tìm các phương án khác để thanh toán nợ đến hạn trước khi bị coi là lâm vào tình trạng phá sản. Quy định này phù hợp với kinh nghiệm lập pháp của một số nước khi cho phép con nợ có thời hạn trễ hạn thanh toán sau khi chủ nợ có yêu cầu đòi nợ, đồng thời khắc phục tình trạng lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản từ phía các chủ nợ như quy định cũ. Từ quy định này, luật cho phép các chủ thể có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 03 tháng, kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán.

Đồng thời Luật Phá sản 2014 cũng quy định rõ “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”. Tức là chỉ khi Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản thì DN, HTX đó mới bị coi là phá sản.

So với luật cũ, Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng mở rộng phạm vi và tạo điều kiện cho các chủ thể thực hiện quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản để đảm bảo quyền lợi của mình.

Trước đây trong Luật Phá sản 2004, người lao động phải nộp đơn thông qua đại diện, thì trong luật mới, người lao động có quyền tự mình nộp đơn mà không cần phải thông qua đại diện.

Đối với công ty cổ phần, Luật Phá sản 2004 quy định cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu trên 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn, trong Luật Phá sản mới vẫn giữ nguyên quy định này, đồng thời cũng cho phép cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng có quyền nộp đơn nếu điều lệ công ty có quy định.

Phù hợp với quy định của Luật tố tụng dân sự năm 2004, Luật Phá sản 2014, quy định thẩm quyền của Tòa án theo cấp, theo lãnh thổ khác với quy định tại luật cũ.

Luật Phá sản 2004, quy định theo hướng DN, HTX do cơ quan cấp nào cấp đăng ký kinh doanh thì do Tòa án cấp ấy có thẩm quyền giải quyết, do đó, Tòa án cấp huyện chỉ có quyền giải quyết thủ tục phá sản đối với HTX do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện cấp, còn DN, HTX do cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh cấp thì do Tòa án cấp tỉnh xử lý. Do đó, thực tế đa phần Tòa án cấp tỉnh giải quyết thủ tục phá sản đối với tất cả doanh nghiệp, liên hiệp hợp tác xã thành lập trên địa bàn, còn Tòa án cấp huyện chỉ giải quyết thủ tục phá sản đối với Hợp tác xã. Việc căn cứ vào thẩm quyền đăng ký kinh doanh để quy định thẩm quyền giải quyết của Tòa án là hoàn toàn không phù hợp với các nguyên tắc pháp lý.

Khắc phục những khiếm khuyết đó, Luật Phá sản 2014 quy định theo hướng loại trừ, tức là trừ những vụ việc phá sản có tình tiết đặc biệt (có yếu tố nước ngoài, có địa điểm ở nhiều quận huyện khác nhau, hoặc tòa cấp tỉnh lấy lên giải quyết) thì còn lại, Tòa án cấp huyện có thẩm quyền giải quyết phá sản đối với DN, HTX có trụ sở chính tại huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh đó (Điều 8).

Để đảm đảm bảo tính khách quan, Luật Phá sản mới bổ sung quy định về trường hợp phải từ chối hoặc thay đổi thẩm phán trong quá trình giải quyết phá sản. Đồng thời, Luật cũng bỏ quy định “Tòa án nhân dân cấp tỉnh nơi đặt trụ sở chính của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam có thẩm quyền tiến hành thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài đó”. Vì theo quy định hiện hành, tất cả các doanh nghiệp thuộc các thành phần kinh tế đều bình đẳng và hoạt động trong khuôn khổ luật doanh nghiệp. Tòa án cấp huyện đương nhiên có thẩm quyền giải quyết vụ việc phá sản của doanh nghiệp này, trừ khi nó có tài sản ở nước ngoài hoặc người tham gia thủ tục phá sản ở nước ngoài.

Luật Phá sản 2004 quy định việc quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản do Tổ quản lý, thanh lý tài sản thực hiện được thành lập bởi quyết định của Thẩm phán đồng thời với quyết định mở thủ tục phá sản. Thành phần của Tổ quản lý, thanh lý tài sản gồm “Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm Tổ trưởng; Một cán bộ của Toà án; Một đại diện chủ nợ; Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản; Đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn nếu cần thiết”.

Thay thế quy định cũ, Luật Phá sản 2014 quy định về hoạt động của Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản. Theo đó, quản lý, thanh lý tài sản là một nghành nghề kinh doanh có điều kiện (Điều 12, 13). Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện nhiệm vụ (i) quản lý tài sản, giám sát hoạt động kinh doanh, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; (ii) Đại diện cho doanh nghiệp, hợp tác xã trong trường hợp doanh nghiệp, hợp tác xã không có người đại diện theo pháp luật; (iii) Báo cáo về tình trạng tài sản, công nợ và hoạt động của doanh nghiệp, hợp tác xã, tham gia xây dựng kế hoạch phục hồi hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán; (iv) yêu cầu Thẩm phán tiến hành một số công việc cần thiết. Quy định trên tạo ra sự khách quan, chuyên nghiệp trong quá trình quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán, đảm bảo thực hiện đúng trình tự quy định của pháp luật.

Luật phá sản 2004 quy định thời gian thực hiện các giao dịch bị coi là vô hiệu trong vòng 03 tháng trước ngày tòa án nhân dân thụ lý đơn, thì nay thời gian này được nâng lên là trong thời gian 06 tháng trước ngày Tòa án nhân dân ra quyết định mở thủ tục phá sản. Sau khi thụ lý đơn, trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày thụ lý đơn, Thẩm phán mới ra quyết định mở hoặc không mở thủ tục phá sản. Như vậy, so với quy định cũ, Luật mới kéo dài thời hạn đối với các giao dịch vô hiệu thêm 2 tháng. Việc kéo dài thời gian tính các giao dịch bị coi là vô hiệu nhằm tránh tình trạng tẩu tán tài sản của doanh nghiệp, đảm bảo quyền lợi của các chủ nợ.

Ngoài một những điểm đã nêu trên, Luật phá sản 2014 còn có một số điểm mới đáng chú ý khác như quy định người yêu cầu có thể nộp đến Tòa qua đường bưu điện, ngày nộp đơn tính từ ngày có dấu bưu điện nơi gửi; Bổ sung phương án thương lượng giữa các bên trước khi Tòa thụ lý đơn yêu cầu của chủ nợ, trước đây không quy định; Người nộp đơn phải nộp lệ phí phá sản cho THA Dân sự và tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng…

Luật phá sản 2014 ra đời được đánh giá như là một cố gắng mới của các nhà lập pháp nước ta trong việc nâng cao hiệu quả điều chỉnh của pháp luật đối với hiện tượng kinh tế khách quan có vai trò không nhỏ này trong đời sống kinh tế. Tuy nhiên, có thể nhận thấy, Luật mới vẫn chưa khắc phục được tất cả những điểm bất cập của Luật phá sản 2004 mà những nhà nghiên cứu đã chỉ ra. Một vấn đề đặc biệt quan trọng nữa là Luật có thực sự đi vào thực tế, và giải quyết được những bất cập trong giải quyết phá sản của DN, HTX hiện nay hay không, điều này không chỉ phụ thuộc vào khả năng của những nhà lập pháp mà còn do các cơ quan thi hành pháp luật và tòa án thực hiện.

Để được tư vấn pháp luật, Quý khách hàng vui lòng liên hệ:

Phá Sản Ngân Hàng Và Những Điểm Mới Trong Luật Phá Sản 2014

Tính đến thời điểm này, Ngân hàng Nhà nước (NHNN) Việt Nam chưa phải áp dụng biện pháp phá sản đối với bất kỳ ngân hàng yếu kém nào. Sở dĩ vấn đề phá sản ngân hàng chưa xảy ra tại Việt Nam là bởi do một số yếu tố: (i) nếu để ngân hàng phá sản sẽ tác động xấu đến hệ thống, thị trường và tâm lý của người dân; (ii) dù đã có luật nhưng các thủ tục phá sản, định giá, thanh lý tài sản rất phức tạp, trong khi Việt Nam lại chưa có kinh nghiệm và khả năng để đáp ứng được các yêu cầu này. Tuy nhiên, để xử lý triệt để, thời gian tới NHNN sẽ xem xét nghiên cứu và trình Chính phủ cho phép áp dụng phá sản đối với tổ chức tín dụng (TCTD) phi ngân hàng, trong trường hợp việc phá sản này không gây ảnh hưởng lớn đến an toàn, ổn định của hệ thống và nền kinh tế.

Khác với thủ tục phá sản doanh nghiệp thông thường, Luật Phá sản 2014 quy định rõ việc nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với TCTD chỉ thực hiện sau khi NHNN có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán hoặc, văn bản không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán… Khi TCTD có nguy cơ mất khả năng thanh toán, NHNN sẽ xem xét, quyết định áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt đối với TCTD đó. Việc mở thủ tục phá sản đối với TCTD sẽ được thực hiện khi TCTD không có khả năng khôi phục được khả năng thanh toán.

Luật phá sản 2014 quy định rõ những người có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD như: Chủ nợ không có bảo đảm, chủ nợ có bảo đảm một phần nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà TCTD không thực hiện nghĩa vụ thanh toán; Người lao động, công đoàn cơ sở nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hết thời hạn 3 tháng kể từ ngày phải thực hiện nghĩa vụ trả lương, các khoản nợ khác đến hạn đối với người lao động mà TCTD không thực hiện nghĩa vụ thanh toán; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu từ 20% số cổ phần phổ thông trở lên trong thời gian liên tục ít nhất 6 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán; Cổ đông hoặc nhóm cổ đông sở hữu dưới 20% số cổ phần phổ thông trong thời gian liên tục ít nhất 06 tháng nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi TCTD mất khả năng thanh toán trong trường hợp Điều lệ TCTD quy định; Thành viên hoặc người đại diện theo pháp luật của hợp tác xã nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Luật Phá sản 2014 quy định, Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản TCTD khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hay văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của NHNN mà TCTD vẫn mất khả năng thanh toán.

Luật phá sản 2014 quy định Tòa án không áp dụng thủ tục Hội nghị chủ nợ và thủ tục phục hồi hoạt động kinh doanh. Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của TCTD, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố TCTD phá sản. Quy định này nhằm đẩy nhanh tiến độ giải quyết phá sản TCTD, đảm bảo quyền và lợi ích cho các chủ nợ của TCTD và phù hợp đặc thù của TCTD.

Để bảo đảm quyền lợi cho đối tượng gửi tiền tại TCTD và tổ chức bảo hiểm tiền gửi đã chi trả tiền bảo hiểm cho người gửi tiền, Luật phá sản 2014 quy định, các khoản tiền gửi, khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại TCTD phá sản được ưu tiên chi trả trước các nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Theo đó, thứ tự phân chia tài sản trong phá sản TCTD được thực hiện theo trình tự sau: (i) Chi phí phá sản; (ii) Khoản nợ lương, trợ cấp thôi việc, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế đối với người lao động, quyền lợi khác theo hợp đồng lao động và thỏa ước lao động tập thể đã ký kết; (iii) Khoản tiền gửi; khoản tiền tổ chức bảo hiểm tiền gửi phải trả cho người gửi tiền tại TCTD phá sản theo quy định của pháp luật về bảo hiểm tiền gửi và hướng dẫn của NHNN; (iv) Nghĩa vụ tài chính đối với Nhà nước; khoản nợ không có bảo đảm phải trả cho chủ nợ trong danh sách chủ nợ; khoản nợ có bảo đảm chưa được thanh toán do giá trị tài sản bảo đảm không đủ thanh toán nợ. Trường hợp giá trị tài sản không đủ để thanh toán các khoản nợ nêu trên, các đối tượng thuộc cùng một thứ tự ưu tiên được thanh toán theo tỷ lệ phần trăm tương ứng với số nợ.

Ngân hàng Nhà nước hiện đang triển khai chương trình tái cơ cấu các tổ chức tín dụng đợt 2. Dự kiến trong năm 2014 sẽ xử lý khoảng 6-7 ngân hàng thương mại thông qua hình thức mua bán, sáp nhập và hợp nhất.

Đối với TCTD trong giai đoạn kiểm soát đặc biệt, các giao dịch TCTD được thực hiện dưới sự kiểm soát của cơ quan quản lý nhà nước là NHNN và đều là những giao dịch cần thiết cho việc đảm bảo khả năng thanh toán của TCTD. Do đó, NHNN sẽ không áp dụng quy định về giao dịch vô hiệu quy định tại Điều 59 của Luật phá sản 2014 mà áp dụng Điều 103 Luật phá sản 2014 quy định giao dịch của TCTD thực hiện trong giai đoạn NHNN áp dụng biện pháp kiểm soát đặc biệt hoặc áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán dưới sự kiểm soát của NHNN.

1. Luật Phá sản 2014.

2. Luật các Tổ chức Tín dụng 2010.

3.Các website: chúng tôi chúng tôi chúng tôi thoibaokinhdoanh.vn

Nguồn: Tạp chí Tài chính số 12 – 2014

#1 Phân Tích Điểm Mới Của Luật Phá Sản Năm 2014 Với Luật Phá Sản Năm 2004

Cũng giống như một thực thể sống “có sinh, có tử”, doanh nghiệp cũng có chu kỳ sống của nó. Theo các nhà kinh tế, chu kỳ sống của doanh nghiệp trải qua bốn giai đoạn tiêu biểu là: khởi nghiệp, tăng trưởng, bão hòa và suy thoái. Nếu bước qua giai đoạn tăng trưởng, nhà quản trị không biết “nhìn xa trông rộng” và dự liệu những tình huống xấu xảy ra để kịp thời đối phó thì doanh nghiệp sẽ bước vào thời kỳ suy thoái. Tính chu kỳ này cũng cho thấy sự suy vong và phá sản có thể là một giai đoạn sẽ xảy ra với bất cứ một doanh nghiệp nào. Như vậy, có thể thấy phá sản là một hiện tượng tất yếu, có thể xảy ra với bất cứ một doanh nghiệp nào. Mặt khác, việc phá sản của một doanh nghiệp, hợp tác xã cũng có ảnh hưởng không nhỏ đến nền kinh tế của đất nước, do đó, pháp luật cần quy định cụ thể về việc phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.Qua bài phân tích sau đây tổng đài tư vấn Luật Quang Huy chúng tôi xin giải quyết về vấn đề: “Phân tích và đánh giá một số điểm mới của Luật Phá sản năm 2014 so với Luật Phá sản năm 2004”

Luật phá sản 2014.

Luật phá sản 2004.

Hướng dẫn môn học Luật thương mại, tập 1, nxb. Lao động, Hà Nội, 2014.

Giáo trình Luật thương mại, tập 1, nxb, Công an nhân dân, Hà Nội, 2024.

Quách Thị Thu Hương, Luật phá sane năm 2014 – bước phát triển của pháp luật phá sản Việt Nam, luận văn thạc sĩ luật học, Hà Nội, 2024.

Một số vấn đề lý luận chung về phá sản

Khái niệm phá sản.

“Phá sản” hay “vỡ nợ” là tình trạng xảy ra khá phổ biến trong nền kinh tế thị trường, đặc biệt khi các doanh nghiệp gặp phải sự cạnh tranh khốc liệt, sự khan hiếm nguồn vốn hay sự quản lý tài chính lỏng lẻo. Ở góc độ kinh tế, phá sản là tình trạng mất cân đối giữa thu và chi tại một DN hay một công ty mà biểu hiện rõ rệt nhất ở sự mất cân đối ấy là tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn. Ở Châu Âu, khi nói về khái niệm phá sản, người ta thường dùng thuật ngữ “Bankruptcy” hoặc “Banqueroute”. Thuật ngữ này bắt nguồn từ tiếng La Mã “Banca Rotta”, có nghĩa là “chiếc ghế bị gãy.”

Từ xa xưa, các thương nhân La Mã thường họp với nhau để xem xét các khía cạnh kinh doanh của từng cá nhân, trong một diễn đàn gọi là “đại hội thương gia”; người nào không trả được nợ thường bị bắt làm nô lệ, đồng thời mất luôn quyền tham gia đại hội. Chiếc ghế của người “vỡ nợ”, theo đó, sẽ bị đem ra khỏi hội trường. Vì vậy, người La Mã khi xưa mới dùng thuật ngữ bóng bẩy “chiếc ghế bị gãy” để ám chỉ người “phá sản” và không còn quyền lợi gì, hay người mất vị thế trong các đại hội thương gia. Về sau, để quản lý các tình trạng “phá sản” của các thương nhân đồng thời ngăn ngừa những “con nợ” bỏ trốn nhằm tránh hình phạt hay trách nhiệm, các chế định về quản lý và xử lý tài sản của các “con nợ” ra đời rồi dần dần được cải thiện và nâng cấp thành Luật phá sản của nhà nước La Mã cổ đại. Cũng ở thời kì này, thuật ngữ “phá sản” được sử dụng phổ biến, rất nhiều chuyên gia cho rằng nó bắt nguồn từ tiếng “ruin” trong tiếng La Tinh, có nghĩa là “sự khánh tận”.

Luật Phá sản năm 2014 đã đưa ra một định nghĩa pháp lý về phá sản, theo đó, “Phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán và bị tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố phá sản”

Phá sản – thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ đặc biệt

Khi doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản không thanh toán được các khoản nợ đến hạn, các chủ nợ không có bảo đảm và chủ nợ có bảo đảm một phần có quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Thực chất của việc yêu cầu mở thủ tục phá sản là việc pháp luật cho phép họ nhờ Tòa án đòi nợ hộ mình khi họ không tự đòi được. Do vậy, bản chất của phá sản chính là một thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ, tuy nhiên nó đặc biệt vì nó khác với thủ tục đòi nợ dân sự thông thường ở một số điểm sau:

Thứ nhất, Việc đòi nợ và thanh toán nợ được thực hiện thông qua một cơ quant trung gian, đó là Tòa án. Nếu như thủ tục đòi nợ dân sự chỉ có chủ nợ và con nợ, tức là ai nợ thì người đó đòi thì thủ tục đòi nợ thông qua phá sản ngoài chủ nợ và con nợ có sự tham gia của Tòa án. Tòa án sẽ đại diện cho cả chủ nợ và con nợ để bảo vệ quyền lợi cho cả hai bên.

Thứ hai, việc đòi nợ và thanh toán nợ trong phá sản là thủ tục đòi nợ trong phá sản là thủ tục đòi nợ mang tính tập thể. Nếu như thủ tục đòi nợ dân sự chỉ mang tính đơn lẻ giữa chủ nợ và con nợ thì thủ tục đòi nợ và thanh toán nợ trong phá sản diễn ra đồng thời giữa các chủ nợ và con nợ. Hay nói cách khác, khi một chủ nợ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đến Tòa án và Tóa án ra quyết định mở thủ tục phá sản, tất cả chủ nợ của doanh nghiệp đều có quyền gửi giấy đòi nợ đến Tòa án.

Thứ ba, nguyên tắc thanh toán là dựa trên cơ sở tài sản còn lại của doanh nghiệp, hợp tác xã (trừ trường hợp doanh nghiệp tư nhân và công ty hợp danh). Nếu việc đòi nợ trong dân sự là vay bao nhiêu trả bấy nhiêu thì việc thanh toán nợ trong phá sản lại được dựa trên cơ sở số tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã.

Thứ tư, việc thanh toán nợ chỉ được diễn ra vào thời điểm Tòa án ra quyết định mở thủ tục phá sản.

Phân biệt phá sản với giải thể doanh nghiệp

Lý do

Doanh nghiệp, Hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.

– Mục tiêu kinh doanh đã đạt được hoặc chủ doanh nghiệp không muốn tiếp tục kinh doanh.

– Hết thời hạn hoạt động đầu tư, kinh doanh theo giấy phép.

– Doanh nghiệp bị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Thẩm quyền giải quyết

Tòa án ra quyết định

Chủ sở hữu, các đồng chủ sở hữu Doanh nghiệp, Hợp tác xã; cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Tính chất thủ tục

Thủ tục tư pháp: chủ nợ đệ đơn lên tòa án xin giải quyết phá sản Doanh nghiệp và Tòa án tuyên bố Doanh nghiệp phá sản.

Thủ tục hành chính: chủ DN tự quyết định việc giải thể hoặc theo quyết định, phê duyệt của cơ quan nhà nước có thẩm quyền.

Hậu quả pháp lý

– Doanh nghiệp có thể bị tuyên bố phá sản, chấm dứt hoạt động, xóa tên khỏi sổ đăng ký kinh doanh;

– Doanh nghiệp có thể tái cơ cấu, thay đổi chủ sở hữu và vẫn tiếp tục hoạt động.

Dẫn đến việc chấm dứt hoạt động xóa sổ doanh nghiệp trên thực tế, cơ quan đăng kí kinh doanh cập nhập tình trạng pháp lý của doanh nghiệp trên cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng kí doanh nghiệp.

Thái độ của nhà nước

Trừ trường hợp bất khả kháng, Những người giữ chức vụ lãnh đạo trong các Doanh nghiệp nhà nước không được đảm đương các chức vụ lãnh đạo tại các Doanh nghiệp nhà nước nào kể từ ngày Doanh nghiệp nhà nước mà họ quản lý bị phá sản.

Người giữ chức vụ quản lý của Doanh nghiệp, Hợp tác xã bị tuyên bố phá sản có thể bị cấm thành lập Doanh nghiệp, Hợp tác xã trong thời hạn 03 năm kể từ ngày Doanh nghiệp, Hợp tác xã bị tuyên bố phá sản.

Chủ Doanh nghiệp, Hợp tác xã chấm dứt do giải thể được toàn quyền thực hiện các hoạt động đầu tư, kinh doanh trở lại bằng việc thành lập các Doanh nghiệp hay các Hợp tác xã mới mà không bị hạn chế gì.

Một số điểm mới của Luật phá sản năm 2014 so với Luật phá sản năm 2004

Định nghĩa rõ hơn về Doanh nghiệp, Hợp tác xã mất khả năng thanh toán.

Điều 3 Luật phá sản 2004 quy định: “Doanh nghiệp, hợp tác xã không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu thì coi là lâm vào tình trạng phá sản.” Như vậy, theo Luật phá sản 2004, để bị xem là lâm vào tình trạng phá sản, doanh nghiệp, hợp tác xã phải đồng thời hội tụ đủ hai điều kiện đó là không có khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn, và có yêu cầu của chủ nợ. Quy định này chỉ mang tính chung chung, thiếu chặt chẽ, không phản ánh đúng thực trạng của doanh nghiệp, hợp tác xã khi bị lâm vào tình trạng phá sản. Bên cạnh đó, có thể thấy Luật phá sản 2004 đã đánh đồng khái niệm hợp tác xã mất khả năng thanh toán nợ đến hạn với khái niệm doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Điều này dẫn đến hệ quả là nhiều doanh nghiệp đã căn cứ vào điều luật này để nộp đơn yêu cầu, nhằm gây ảnh hưởng xấu đến danh dự, uy tín, hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp khác. Bởi trên thực tế, khi một doanh nghiệp đang hoạt động kinh doanh bình thường mà có thông tin rằng doanh nghiệp đó lâm vào tình trạng phá sản thì chắc chắn danh dự, uy tín của doanh nghiệp đó sẽ bị hạ thấp, cũng như như những hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp cũng không thể diễn ra bình thường. Trong nhiều trường hợp, các chủ nợ thay vì khởi kiện để đòi nợ theo thủ tục dân sự, lại làm đơn yêu cầu tòa án mở thủ tục phá sản để đòi nợ, và tòa án không thể từ chối yêu cầu này.

Luật phá sản 2014 ra đời đã thay đổi quan niệm về doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản. Theo đó, khoản 1 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014 định nghĩa rằng “Doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán.”

Trước hết, Luật phá sản 2014 xác định mất khả năng thanh toán là “không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” chứ không phải là “không có khả năng thanh toán” như trong Luật phá sản 2004. Sự khác biệt ở đây thể hiện ở ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, hợp tác xã. Nếu như trong Luật phá sản 2004, doanh nghiệp bị lâm vào tình trạng phá sản được hiểu là đang ở trong tình trạng mất khả năng thanh toán, dù cho doanh nghiệp, hợp tác xã đó có muốn hay không muốn thực hiện việc thanh toán. Còn theo Luật phá sản 2014, doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán phụ thuộc vào cả ý muốn chủ quan của doanh nghiệp, hợp tác xã đó. Việc “Không thực hiện nghĩa vụ thanh toán” có thể hiểu theo hai cách: một là doanh nghiệp, hợp tác xã đó không có tài sản để thanh toán; hai là doanh nghiệp, hợp tác xã vẫn có khả năng thanh toán nhưng không muốn thanh toán hoặc muốn trốn tránh nghĩa vụ.

Bên cạnh đó, Luật phá sản 2014 cũng bỏ đi từ “các” trong cụm từ “các khoản nợ” với ý nghĩa việc phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã không phụ thuộc vào số lượng khoản nợ, mà chỉ cần một khoản nợ đến hạn là đủ.

Như vậy, có thể hiểu theo Luật phá sản 2014:

Doanh nghiệp, Hợp tác xã mất khả năng thanh toán không đồng nghĩa với việc doanh nghiệp, hợp tác xã cạn kiệt về tài sản.

Bản chất của việc mất khả năng thanh toán không trùng với biểu hiện bên ngoài là có trả được nợ hay không.

Pháp luật không quy định mất khả năng thanh toán một khoản nợ bao nhiêu thì doanh nghiệp, hợp tác xã bị coi là mất khả năng thanh toán.

Ngoài ra, Luật phá sản 2014 còn quy định thời điểm được xác định là mất khả năng thanh toán: 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán chứ không còn là khi chủ nợ có yêu cầu như Luật phá sản 2004. Có thể nói, Luật phá sản 2014 đã đưa ra tiêu chí mang tính rõ ràng hơn, chỉ cần sau 03 tháng kể từ ngày khoản nợ đến hạn mà doanh nghiệp, hợp tác xã không thực hiện việc thanh toán thì sẽ bị coi là mất khả năng thanh toán; không còn phụ thuộc vào yêu cầu của chủ nợ, bởi Luật phá sản 2004 không quy định sau bao lâu kể từ lúc đến hạn thanh toán, miễn là có yêu cầu của chủ nợ thì đã có đủ căn cứ để giải quyết. Khoảng thời gian 03 tháng này đảm bảo quyền lợi của cả chủ nợ và con nợ, bởi chủ nợ không cần chứng minh rằng mình đã có yêu cầu thanh toán, con nợ cũng không phải chịu áp lực từ chủ nợ, và 03 tháng cũng là thời gian để các doanh nghiệp, hợp tác xã có cơ hội để giải quyết khó khăn và thanh toán khoản nợ.

Quy định mới về quản tài viên.

Đây là một quy định mới trong Luật phá sản 2014 để thực hiện việc quản lý và thanh lý tài sản.

Đối với Luật phá sản 2004, Điều 9 quy định về việc quản lý và thanh lý tài sản cũng do tổ quản lý, thanh lý tài sản đảm nhiệm: “Đồng thời với việc ra quyết định mở thủ tục phá sản, Thẩm phán ra quyết định thành lập Tổ quản lý, thanh lý tài sản để làm nhiệm vụ quản lý, thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng phá sản.” thành phần tổ quản lý, thanh lý tài sản bao gồm: Một chấp hành viên của cơ quan thi hành án cùng cấp làm tổ trưởng; Một cán bộ của Tòa án; Một đại diện chủ nợ; Đại diện hợp pháp của doanh nghiệp, hợp tác xã bị mở thủ tục phá sản; trường hợp cần thiết có đại diện công đoàn, đại diện người lao động, đại diện các cơ quan chuyên môn tham gia tổ quản lý, thanh lý tài sản thì Thẩm phán xem xét quyết định.

Tuy nhiên, điều luật đã không có hướng dẫn tiêu chí cụ thể trong việc lựa chọn thành viên nên trên thực tế thành viên Tổ quản lý, thanh lý tài sản thường là những người hoạt động kiêm nhiệm, chính vì vậy, hiệu quả của việc quản lý, thanh lý tài sản không cao, nhiều trường hợp họ lung túng, bị động và định giá tài sản không chính xác dẫn đến việc ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của các bên tham gia thủ tục phá sản. Bên cạnh đó, Luật phá sản 2004 quy định chức năng quản lý và thanh lý tài sản thuộc về một tập thế với những thành viên đến từ các cơ quan khác nhau, điều đó dẫn đến sự không thống nhất giữa các thành viên trong việc đánh giá, kết luận về tài sản cũng như việc thực hiện các biện pháp quản lý, thanh lý tài sản.

Để khắc phục được những bất cập nêu trên, Luật phá sản 2014 đã quy định một chế định mới – chế định Quản tài viên trong 06 Điều luật (từ Điều 11 đến Điều 16) theo đó:

Quản tài viên là người đảm bảo các điều kiện quy định tại điều 12 Luật Phá sản: Có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; Có phẩm chất đạo đức tốt, có ý thức trách nhiệm, liêm khiết, trung thực, khách quan; Có chứng chỉ hành nghề Quản tài viên.

Những người được cấp chứng chỉ hành nghề Quản tài viên gồm: Luật sư; Kiểm toán viên;Người có trình độ cử nhân luật, kinh tế, kế toán, tài chính, ngân hàng và có kinh nghiệm 05 năm trở lên về lĩnh vực được đào tạo.

Quản tài viên có quyền và nghĩa vụ được quy định tại điều 16 Luật Phá sản 2014, gồm những nhóm quyền và nghĩa vụ cụ thể sau:

Ngoài ra, quản tài viên cũng có trách nhiệm tuân thủ nguyên tắc hành nghề quản lý, thanh lý tài sản, chịu trách nhiệm về hoạt động nghề nghiệp của mình theo quy định của pháp luật về phá sản.

Những quy định về quản tài viên đã giải quyết được những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, kiêm nhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Bên cạnh đó, để trở thành Quản tài viên thì cần phải đáp ứng được những yêu cầu chuyên môn nhất định thao quy định của pháp luật, do đó việc quản lý, thanh lý tài sản cũng được thực hiện chính xác, nhanh chóng và chuyên nghiệp hơn.

Điểm mới trong thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục xử lý nợ.

Điểm mới rõ ràng nhất trong Luật phá sản 2014 so với Luật phá sản 2004 là có sự đảo ngược về trình tự thủ tục thanh lý tài sản. Nếu Luật phá sản 2004 quy định thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục xử lý nợ diễn ra trước quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã thì Luật phá sản 2014 quy định thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục xử lý nợ diễn ra hợp lý trước và sau khi có quyết định tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Việc quy định về trình tự diễn ra thủ tục thanh lý tài sản và thủ tục xử lý nợ như trong Luật phá sản 2004 dẫn đến một số bất cập, bởi lẽ trong trường hợp này, việc giải quyết yêu cầu phá sản của một doanh nghiệp, hợp tác xã phụ thuộc vào hoạt động thanh lý tài sản của Tổ quản lý, thanh lý tài sản. Điều này đã khiến cho thủ tục giải quyết phá sản của doanh nghiệp, hợp tác xã gặp nhiều khó khăn và không thể đi đến hồi kết do vướng mắc trong việc xác định thời điểm hoàn thành việc thanh lý tài sản để ra tuyên bố doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản.

Luật phá sản 2014 đã khắc phục được hạn chế này: Điều 53 quy định “Sau khi mở thủ tục phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đề xuất Thẩm phán về việc xử lý khoản nợ có bảo đảm đã được tạm đình chỉ theo quy định tại khoản 3 Điều 41 của Luật này”. Như vậy, việc xử lý khoản nợ có bảo đảm được thực hiện trước khi có tuyên bố phá sản; điều này bảo đảm lợi ích của các chủ nợ có bảo đảm. Tiếp theo đó, đi kèm với quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã là thanh lý tài sản và bán đấu giá tài sản còn lại, phân chia theo thứ tự được quy định tại Điều 54 của Luật phá sản 2014. Trường họp này thủ tục xử lý nợ diễn ra sau khi có quyết định tuyên bố phá sản.

Khi một doanh nghiệp, hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán các khoản nợ đến hạn trong thời hạn 03 tháng thì sẽ có thể bị tuyên bố phá sản. Việc thanh lý tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã là để giúp doanh nghiệp, hợp tác xã thực hiện nghĩa vụ trả nợ; do đó việc quy định thủ tục xử lý nợ diễn ra vào cả thời điểm trước và sau khi có quyết định tuyên bố phá sản doanh nghiệp, hợp tác xã tạo điều kiện cho việc mơ thủ tục phá sản trở nên dễ dàng hơn, đảm bảo được quyền và lợi ích của các bên.

Điểm mới về hội nghị chủ nợ.

Thứ nhất, về điều kiện hợp lệ của Hội nghị chủ nợ: theo đó, Hội nghị chủ nợ hợp lệ khi “có số chủ nợ tham gia đại diện cho ít nhất 51% tổng số nợ không có bảo đảm.”. Điều này có nghĩa là hội nghị chủ nợ có thể hợp lệ khi chỉ cần một chủ nợ tham gia mà đại diện cho ít nhất 51% số nợ không có bảo đảm. Bên cạnh đó, chủ nợ cũng không bắt buộc phải là chủ nợ không có bảo đảm hay có bảo đảm một phần. Quy định này đã tạo được sự công bằng trong về quyền lợi đối với chủ nợ có bảo đảm một phần, bởi như quy định tại Luật phá sản 2004 thì điều kiện dố nợ thì bắt buộc phải là “hai phần ba tổng số nợ không có bảo đảm trở lên” trong khi khi số nợ không có bảo đảm ở đây được hiểu là số nợ của chủ nợ không có bảo đảm và số nợ của chủ nợ có bảo đảm một phần.

Điểm mới trong quy định về thủ tục phá sản tổ chức tín dụng và thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài.

Thứ nhất, về thủ tục phá sản tổ chức tín dụng.

Tổ chức tín dụng là một loại doanh nghiệp đặc biệt, thể hiện các đặc điểm, bao gồm: nội dung hoạt động (hoạt động với tư cách là một trung gian tài chính trong nền kinh tế); cách thức hoạt động (có thể có rất nhiều tài khoản phục vụ cho hoạt động của mình và đồng thời phải quản lý một số lượng tài khoản hết sức lớn của khách hàng); khả năng tác động của sự đổ vỡ của một tổ chức tín dụng đến nền kinh tế (diễn ra nhanh, ảnh hưởng rộng và tác động lâu dài). Do đó, việc thành lập, hoạt động và chấm dứt (phá sản) của các tổ chức tín dụng phải được quy định theo một cơ chế được biệt và thận trọng hơn so với các doanh nghiệp khác.

Do vậy, Luật phá sản 2014 đã dành một chương riêng (Chương VIII), từ Điều 97 đến Điều 104 quy định về thủ tục phá sản đối với tổ chức tín dụng. Đây là quy định hoàn toàn mới so với quy định của Luật phá sản 2004. Điều 99 Luật PS 2014, quy định: “Tòa án nhân dân thụ lý đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản tổ chức tín dụng khi đã có văn bản chấm dứt kiểm soát đặc biệt hoặc văn bản chấm dứt áp dụng hoặc không áp dụng biện pháp phục hồi khả năng thanh toán của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam mà tổ chức tín dụng vẫn mất khả năng thanh toán”. Việc tuyên bố phá sản tổ chức tín dụng được quy định theo Điều 104 Luật PS 2014. Theo đó, “Trong thời hạn 30 ngày kể từ ngày Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản lập xong danh sách chủ nợ, danh sách người mắc nợ, bảng kê tài sản của tổ chức tín dụng, Tòa án nhân dân ra quyết định tuyên bố tổ chức tín dụng phá sản. Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn thi hành Điều này”.

Ngoài ra, để phù hợp và thống nhất với tinh thần quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và đảm bảo những đặc thù trong phá sản các tổ chức tín dụng, Luật phá sản 2014 bổ sung quy định về hoàn trả khoản vay đặc biệt tại Điều 100. Theo đó, tổ chức tín dụng được vay đặc biệt của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng mà bị tuyên bố phá sản thì phải hoàn trả khoản vay đặc biệt này cho Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, tổ chức tín dụng khác trước khi thực hiện phân chia tài sản theo quy định của Luật phá sản 2014.

Thứ hai, là thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài.

Nền kinh tế Việt Nam ngày càng phát triển và hội nhập với thế giới, Nhà nước khuyến khích và tạo điều kiện cho các nhà đầu tư nước ngoài muốn đầu tư vào Việt Nam hay thành lập các công ty liên doanh có vốn đầu tư nước ngoài. Khi các doanh nghiệp như vậy phá sản, đòi hỏi phải có một cơ chế đầy đủ và cụ thể để quá trình giải quyết vụ việc phá sản có thể tiến hành hợp pháp và đảm bào quyền lợi của các bên. Chính vì vậy, Luật phá sản 2014 đã dành một chương để quy định về điều này. Chương 11 Luật phá sản đã quy định những vấn đề nền tảng làm căn cứ cho việc thực hiện thủ tục phá sản có yếu tố nước ngoài như: Người tham gia thủ tục phá sản là người nước ngoài phải thực hiện theo quy định của pháp luật về phá sản của Việt Nam; vấn đề ủy thác tư pháp của Tòa án nhân dân Việt Nam đối với cơ quan có thẩm quyền của nước ngoài và thủ tục công nhận và cho thi hành quyết định giải quyết phá sản của Tòa án nước ngoài. Quy định này thể hiện sự tiến bộ trong Luật phá sản 2014, tạo hành lang pháp lý để giải quyết những trường hợp phá sản có yếu tố nước ngoài.

Từ những phân tích trên, có thể thấy Luật phá sản 2014 đã có những đổi mới rất tiến bộ so với luật phá sản 2004, góp phần bảo vệ một cách có hiệu quả nhất quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ nợ, con nợ, bảo vệ lợi ích của người lao động; bảo vệ trật tự kỉ cương trong xã hội và góp phần cơ cấu lại nền kinh tế, tái tạo tổ chức lại doanh nghiệp.

Trân trọng./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Điểm Mới Của Luật Phá Sản 2014 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!