Xu Hướng 12/2022 # Đọc – Hiểu Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn – Tư Liệu Ngữ Văn 7 2022 / 2023 # Top 14 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Đọc – Hiểu Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn – Tư Liệu Ngữ Văn 7 2022 / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Đọc – Hiểu Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn – Tư Liệu Ngữ Văn 7 2022 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đang tải…

Bài ca Côn Sơn – Tư liệu Ngữ Văn 7

BÀI CA CÔN SƠN

(Côn Sơn ca)

ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

PHÂN TÍCH TÁC PHẨM

Côn Sơn được gợi lên với vẻ đẹp sống động, đầy ắp âm thanh, đậm đà màu sắc bởi cảnh vật được cảm nhận qua tâm hồn Ức Trai giàu chất nhạc, chất hoạ, chất thơ.

Nguyễn Trãi về với Côn Sơn là về với ngôi nhà của mình. Ta hãy để ý cái giọng thơ phóng khoáng, nhịp thơ thoải mái câu thơ tự do trong nguyên văn chữ Hán:

Côn Sơn hữu tuyền,

Kì thanh linh linh nhiên,

Ngô dĩ vi cầm huyền.

Côn Sơn hữu thạch,

Vũ tẩy đài phô bích,

Ngô dĩ vi đạm tịch.

Nhịp thơ trên như nhịp của phách, nhịp của bộ gõ, vừa đệm nhạc, vừa tạo tiết tấu cho lời ca. Chính chất hào sảng trong tâm hồn đã tạo nên chất hào sảng của thơ. Bao nhiêu năm bận rộn công việc, lòng đầy âu lo việc dân, việc nước, những năm cuối đời lại sống trong vòng tị hiềm, ghen ghét, khi trở về Côn Sơn, Nguyễn Trãi thấy mình thật sự tự do. Đọc thơ, giữa cảnh thấy người, thấy Nguyễn Trãi khi nằm nghỉ, lúc dạo chơi, khi chuyện trò tâm sự, lúc cao giọng ngâm nga… Một Nguyễn Trãi thanh bạch, giản dị, ung dung mà hào phóng, cởi mở. Ức Trai như cánh chim sổ lồng, vui say giữa rừng núi quê nhà. Bản dịch thơ lục bát đã cố gắng lột tả cái tâm trạng tự do, khoáng đạt của Nguyễn Trãi khi về với Côn Sơn, nhưng cái nhịp điệu như nước suối reo, như bước chân lên xuống, khi chạy, khi dừng thì bản dịch đã không lột tả được.

Nguyễn Trãi đang vui với Côn Sơn, suối nước thành suối nhạc, rêu xanh thành thảm biếc, tán tùng thành ô lọng… bỗng nhiên giọng thơ như lắng xuống, hơi thơ như nén lại rồi bật trào ra… Mình đã về đây, về sống giữa Côn Sơn, lần này về hẳn, khác bao lần trước, vậy mà vẫn còn tự vân :

Về đi sao chẳng sớm toan

Nửa đời vương vấn bụi trần làm chi.

Loading…

Câu hỏi đó làm ta thấy lạ. Nhưng chưa hết, ngạc nhiên hơn nữa khi Nguyễn Trãi ca khúc Quy khứ lai từ của Đào Tiềm với tâm trạng thanh thản, nhẹ tênh. […]

Trước hết phải thấy với Nguyễn Trãi, Côn Sơn là tiếng gọi trở về. Tiếng gọi ấy tha thiết, mãnh liệt ngay cả khi ông làm “cánh chim bằng biển Bắc… cưỡi gió lên cao chín vạn dặm”, ngay cả khi ông như “ngựa già đường xa kham ruổi”. Côn Sơn không chỉ là tiếng gọi của quê hương mà còn là tiếng vọng của vũ trụ thôi thúc ông trở về di dưỡng tình thần, hoà nhập với tự nhiên. Quy khứ lai vởi Ức Trai không phải là mong ước được nghỉ ngơi, cũng không đơn thuần là tránh vòng danh lợi. Trúc Côn Sơn tiết cứng thẳng ngay, lòng chẳng bén tục không phải chỉ vì xa chốn bụi trần nơi phồn hoa đô hội mà còn vì được sống giữa trời nước bao la, thở hít cái không khí tư nhiên trong lành của vũ trụ. Về Côn Sơn, Nguyễn Trãi có điều kiện thoát vòng danh lợi, được sống tự nhiên theo sở thích, nhưng ông lại phải dồn nén nhiệt tâm hành động, phải từ bỏ khát khao “nhập thế” vốn là bản chất của ông. Vui đó nhưng buồn đó. Buồn nhiều hơn vui. Nhưng cái buồn sâu sắc nhất trong Bài ca Côn Sơn có lẽ không hoàn toàn ở vấn đề nhập thế hay xuất thế, ở việc ông phải sống ẩn dật tại cồn Sơn. Nguyễn Trãi buồn vì một lẽ khác. Nỗi buồn của Ức Trai mang tầm nhân loại : tồn tại và không tồn tại. Sau bao năm tháng thăng trầm, từng chiêm nghiệm, xét suy lẽ hưng phế đắn đo càng kĩ, lúc trở về Côn Sơn, Nguyễn Trãi mới lại đối diện với câu hỏi lớn theo suốt đời ông, mà có lúc do công việc ông tạm quên đi. Tồn tại và không tồn tại, vô hạn và hữu hạn, con người và vũ trụ… đâu là nhất thời, đâu là bản chất. Thơ Côn Sơn ca đọc lên, ngỡ như Ức Trai đã buông xuôi trước cuộc đời, mặc cho nước trôi, hoa rụng. Nhưng không, dưới -mặt nước có lúc bằng phẳng của dòng suối Côn Sơn là đá ngầm, sóng cuộn. Nguyễn Trãi buồn đau chung cho số kiếp con người; vũ trụ vô biên và con người thì trong khoảng trăm năm đều nát cùng cây cỏ. Giàu sang, vinh nhục, bon chen, kèn cựa làm gì khi vòng tạo hoá cứ như bánh xe quay nghiệt ngã. Ta tiếc một người “như cây tùng cây bách sương tuyết đã quen” là Nguyễn Trãi cũng có một giây phút yếu lòng. Nhưng ta không nên nói ổng tiêu cực. Nỗi buồn của Nguyễn Trãi trong Côn Sơn ca không phải là nỗi buồn riêng. Nỗi buồn đó vươn tới chỗ cảm thông cho cả số kiếp con người. Nó lớn rộng và sâu sắc. Sâu sắc vì tính nhân bản. Lớn rộng vì mang tầm vũ trụ và nhân loại. […]

Côn Sơn ca là sự tiếp tục Bình Ngô đại cáo, cho ta hiểu thêm một Nguyễn Trãi anh hùng ở phương diện khác : dám sống thật với chính mình. Khía cạnh “con người” trong người anh hùng Nguyễn Trãi chính là vẻ đẹp nhân bản đã nâng người anh hùng dân tộc lên tầm cao nhân loại.

(Lã Nhâm Thìn, Giảng văn văn học Việt Nam, Sđd)

VĂN BẢN ĐỌC THÊM

CÔN SƠN

Núi Côn Sơn trên đất huyện Chí Linh, suốt một trăm năm mươi năm từ khi Trần Nhân Tông khai sáng dòng Thiền Trúc Lâm (1299) cho tới khi Nguyễn Trãi quy thần (1442) đã là một trung tâm của tư tưởng Việt Nam đổi diện với Thăng Long, cả hai gắn liền nhau trong đạo xuất xử của người hiền thời xưa. Nếu kinh đô Thăng Long là trung tâm quyền lực giải quyết yêu cầu dấn thân của kẻ sĩ thì Côn Sơn là nơi họ tìm về căn nhà vũ trụ để thực hiện cuộc sống tâm linh trong bản giao hưởng của trời đất. Chẳng những Trần Nhân Tông, Huyền Quang, Trần Nguyên Đán, Chu Văn An, Nguyễn Trãi,… đã tìm về đây để sống đạo suốt phần cuối cuộc hành trình cát bụi, mà nhiều trí thức Trần – Lê dù đang phải gánh vác triều chính, thỉnh thoảng cũng lén về Côn Sơn để ăn trộm cái nhàn trong nửa ngày, theo cách nói của Nguyễn Phi Khanh.

Côn Sơn nhìn nghiêng giông hình một con kì lân từ Tây Tạng đi về phương Nam, tới nằm trầm mặc giữa châu thổ sông Hồng. Chân núi có ngôi chùa cổ với mấy tấm bia đá đề năm Thiệu Phong đời Trần, và những cây sứ già lão cổ quái bậc nhất, khiến tôi nhìn lên phải nghiêng mình vái chào. Tên dân gian gọi là chùa Hun, vì từ xa xưa lâu đời, nơi đây vẫn là rừng sâu hoang rậm. Côn Sơn quanh năm chìm trong màu khói xanh của thợ rừng đốt than. Thời lỡ vận, người anh hùng đánh Nguyên – Trần Khánh Dứ – cũng từng lên nguồn đốt than, truyền thuyết còn lưu lại bài thơ nổi tiếng : Ở với lửa hương cho vạn kiếp, Thử xem vàng đá có bền gan.

Lưng chừng núi là khu di tích của động Thanh Hư, canh núi Côn Sơn. Tiến sĩ Trần Nguyên Đán, nhà thiên văn và lịch pháp tài giỏi của thế kỉ XIV, vì buồn việc nước, lại nghĩ rằng “Tư sát để được tiếng khen như Khuất Nguyên là sai”, bèn về núi dựng khu trang viên này. Nguyễn Phi Khanh tả động Thanh Hư quy mô rộng lớn, cảnh quan rực rỡ, thơm đến muốn nuôi, xinh đến muốn ăn. Nay lác đác trên sườn núi vẫn còn dấu đá ong của những nền nhà cũ, nơi Trần Nguyên Đán viết sách và dạy học, người học trò vỡ lòng của ông cũng đồng thời là cháu ngoại, chính là Nguyễn Trãi. Nay vẫn còn tấm bia đá lớn đề ba chữ “Thanh Hư động”, bút tích của vua Trần Nghệ Tông, cùng với bài minh của nhà vua ngợi ca tấm lòng mải lo nước thương dân của Trần Nguyên Đán dù đã lui về núi : Sương dưới bóng cây là muốn mở lộng sức che chở cho dân, Tựa vào khóm trúc là muốn đến với nhiều người hiền.

Suối Côn Sơn mùa xuân nước vẫn đầy, bờ suối còn những dấu đại bác thời chống Pháp. Ven suối dưới chân động Thanh Hư có bãi đá bằng phang gọi là thạch bàn : Côn Sơn có đá rêu phơi, Ta ngồi trên đá như ngồi chiếu êm. Đúng như trong thơ ông, thạch bàn là nơi Nguyễn Trãi thường ngồi lặng lẽ ngắm bầu trời. Có lẽ những tháng ngày hội nhập vào cuộc sống lớn lao của một “công dân vũ tru”, cái ý niệm thiên dân kia đã nuôi dưỡng sâu bền thêm trong tâm thức Nguyễn Trãi nỗi khát khao lẽ công bằng và tự do cho con người, vốn lả bản chất dân chủ nhất quán trong lí tưởng nhân nghĩa của Nguyễn Trãi: Lồng lộng trời tư chút đâu, Nào ai chẳng đội ở trên đầu. Ngày tôi về, rêu thạch bàn ở Côn Sơn vẫn sáng lên một màu lục tươi mới mẻ lạ lùng, tưởng như người hiền vừa mới đứng dậy khỏi nơi này, đang lững thững một mình đâu đó trong rừng thông.

( Theo Hoàng Phủ Ngọc Tường, Ngọn núi ảo ảnh,

NXB Thanh niên, Hà Nội, 1999)

– Gợi dẫn

Đoạn trích này giúp em hiểu thêm gì về bài Bài ca Côn Sơn của Nguyễn Trãi ?

Soạn Bài Bài Ca Côn Sơn Trang 78 Sgk Ngữ Văn 7 Tập 1 / 2023

Cùng soạn bài Bài ca Côn Sơn trang 78 SGK Ngữ văn 7 tập 1 để tìm hiểu về triết lí sống “nhàn” của các bậc trí thức Nho học xưa với tình yêu thiên nhiên sâu sắc cũng như nhân cách cao cả, phong thái ung dung, tự tại của Nguyễn Trãi đã chọn lối sống ẩn dật, tránh xa chốn quan trường đầy xô bồ, nhiễu nhương.

Soạn bài Bài ca Côn Sơn trang 78 SGK Ngữ văn 7 tập 1

SOẠN BÀI: BÀI CA CÔN SƠN (NGẮN 1)

Bố cục:– Phần 1 (4 câu thơ đầu): Cảnh thiên nhiên Côn Sơn– Phần 2 (4 câu thơ cuối): Con người trong thiên nhiên Côn Sơn

Hướng dẫn soạn bài:Câu 1 (trang 80 Ngữ Văn 7 Tập 1):– Thể thơ trong đoạn trích Côn Sơn ca là thể thơ lục bát.– Lục bát là một câu sáu một câu tám, chữ cuối câu sáu vần với chữa sáu câu tám , chữ cuối câu tám của cặp câu trên vần với chữ cuối câu sáu của cặp câu dưới.

Câu 2 (trang 80 Ngữ Văn 7 Tập 1):a. Nhân vật ta là Nguyễn Trãi.b. Hình ảnh nhân vật ta hiện lên với tư cách một con người thảnh thơi đang thả mình vào cảnh trí Côn Sơn.Nghe tiếng suối mà như thưởng thức tiếng đàn.Ngồi trên đá như ngồi chiếu êm, nằm dưới bóng mát mà ngâm thơ nhànc. Cách ví von so sánh như vậy cho thấy nhân vật ta là người:– Rất sành âm nhạc và mê âm nhạc.– Yêu thiên nhiên, thả hồn vào thiên nhiên.

Câu 3 (trang 80 Ngữ Văn 7 Tập 1):Cùng với hình ảnh của nhân vật ta cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng các chi tiết:+ Có suối chảy rì rầm (Côn Sơn suối chảy rì rầm)+ Có đá rêu phơi (Côn Sơn có đá rêu phơi)+ Có rừng trúc xanh(Trong rừng có trúc bóng râm)+ Có bóng mát (Tìm nơi bóng mát ta lên ta nằm)Cảnh tượng Côn Sơn là cảnh trí thiên nhiên khoáng dạt, thanh tĩnh, là nơi tiên cảnh cho thi nhân ngồi ngâm thơ nhàn.

Câu 4 (trang 80 Ngữ Văn 7 Tập 1):Hình ảnh thi nhân ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm là một hình ảnh đầy thi vị nó cho thấy sự giao hòa tuyệt đối giữa con người với cảnh vật.Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người vừa có nhân cách thanh cao, vừa là một con người có tâm hồn thi sĩ, sống theo triết li con người với thi nhân là một.

Câu 5 (trang 81 Ngữ Văn 7 Tập 1):Hiện tượng điệp từ trong doạn thơ: điệp từ ta được dùng năm lần.Tác dụng: tạo cho đoạn thơ giọng điệu ung dung tự tại không vướng bận cũng không ràng buộc.

LUYỆN TẬPCâu 1 (trang 81 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):So sánh cách ví von tiếng suối của Nguyễn Trãi và Hồ Chí Minh.Điểm giống:+ cả hai hình ảnh đều là sản phẩm của tâm hồn thi sĩ có khả năng hòa nhập với thiên nhiên.+ cả hai thi nhân đều đón nhận tiếng suối như tiếng đàn.Điểm khác: một tiếng suối vi với tiếng đàn, một tiếng suối lại ví với tiếng hát.

Xem trước và xem lại các bài học gần đây để học tốt Ngữ Văn lớp 7 hơn

– Soạn bài Từ Hán Việt– Soạn bài Tìm hiểu chung về văn biểu cảm – Soạn bài Buổi chiều đứng ở phủ Thiên Trường trông ra

SOẠN BÀI: BÀI CA CÔN SƠN (NGẮN 2)

Câu 1 (trang 80 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):Bài thơ viết theo thể lục bát : tối thiểu có một cặp câu 6(lục)-8(bát). Cách hiệp vần: tiếng cuối của câu sáu vần với tiếng thứ sáu của câu tám, tiếng cuối của câu tám lại vần với tiếng cuối của câu sáu.

Câu 2 (trang 80 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):Đoạn thơ có năm từ ta:a. Nhân vật ta là nhà thơ.b. Hình ảnh và tâm hồn nhân vật ta: người yêu và hòa hợp với thiên nhiên, một thi sĩ có tâm hồn phóng khoáng, nhân cách thanh cao.c. Cách ví von cho thấy tâm hồn yêu thiên nhiên của nhân vật ta. Đồng thời thể hiện sự tinh tế, óc tưởng tượng của người thi sĩ.

Câu 3 (trang 80 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):Cảnh tượng Côn Sơn rất đẹp tựa tranh, nên thơ, khoáng đạt, êm đềm, thanh tĩnh qua các chi tiết “suối chảy rì rầm”, “đá rêu phơi”, “thông mọc như nêm”, “trúc bóng râm”, đặc biệt là có người thi sĩ “ngâm thơ nhàn”.

Câu 4* (trang 80 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):Hình ảnh ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm cũng chính là chân dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn. Hình ảnh của những bậc thánh nhân quân tử thường thấy trong thơ văn xưa, an nhàn hòa hợp với thiên nhiên, như người tiên cõi phàm trần.

Câu 5 (trang 81 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Hiện tượng điệp nhiều lần điệp từ trong đoạn thơ: Côn Sơn – 2 lần, ta – 5 lần, như – 3 lần, có – 2 lần.– Tác dụng điệp từ với việc tạo nên giọng điệu đoạn thơ: nổi bật nhân vật và vẻ đẹp thiên nhiên, tạo giọng điệu êm ái, du dương và uyển chuyển cho câu thơ.

LUYỆN TẬPCâu 1 (trang 81 sgk Ngữ Văn 7 Tập 1):– Giống: xuất phát và thể hiện tình yêu thiên nhiên, sử dụng biện pháp so sánh.– Khác: Nguyễn Trãi so sánh với tiếng đàn, Hồ Chí Minh so sánh với tiếng hát.

Các tác phẩm văn học, luyện tập các viết văn là một trong những nội dung rất quan trong mà các em cần tìm hiểu, phân tích thật kỹ để có kỹ năng làm văn tốt. Phần Soạn bài Những câu hát châm biếm là một trong những tài liệu tuyệt vời để các em tham khao và nâng cao kỹ năng phân tích tác phẩm, văn bản của mình.

Ngoài nội dung ở trên, các em có thể tìm hiểu thêm phần Phân tích nhân vật Bá Kiến trong truyện ngắn Chí Phèo của Nam Cao nhằm chuẩn bị cho bài học này.

Hơn nữa, Soạn bài Một số thể loại văn học: Thơ, truyện là một bài học quan trọng trong chương trình Ngữ Văn 8 mà các em cần phải đặc biệt lưu tâm.

https://thuthuat.taimienphi.vn/soan-bai-bai-ca-con-son-37681n.aspx

Soạn Bài: Bài Ca Côn Sơn (Côn Sơn Ca / 2023

I – KIẾN THỨC CƠ BẢN CẦN NẮM VỮNG

1. Nguyễn Trãi là một nhân vật lịch sử lỗi lạc, là nhà quân sự, nhà thơ lớn của dân tộc.

Nguyễn Trãi để lại một sự nghiệp văn chương đồ sộ và phong phú. Trong số đó có Bình Ngô đại cáo, ức Trai thỉ tập (thơ chữ Hán), Quốc âm thi tập (thơ chữ Nôm), Quân trung từ mệnh tập.

2. Bài ca Côn Sơn (Côn Sơn ca) được viết bằng chữ Hán. Văn bản để học là bản dịch thơ của các dịch giả sau này.

Đây là đoạn trích phần đầu bài Côn Sơn ca. Đoạn trích cho ta thấy cảnh đẹp kì thú của Côn Sơn và tâm hồn trong sáng, hoà hợp với thiên nhiên bắt nguồn từ nhân cách thi sĩ thanh cao của Nguyễn Trãi.

II – HƯỚNG DẪN ĐỌC – HIỂU VĂN BẢN

1. Bài ca Côn Sơn (bản dịch) theo thể thơ lục bát, một thể thơ dân tộc. Đặc điểm của lục bát là gồm những cặp câu sáu (lục) tám (bát) liên kết với nhau cho đến khi kết thúc bài thơ. Tiếng cuối của câu sáu vần với tiếng thứ sáu của câu tám ( rầm vần với cầm). Tiếng cuối của câu tám lại vần tiếp với tiếng cuối của câu sáu tiếp theo ( tai vần với phơi). Cứ như vậy bắt vần cho đến hết bài

2. Trong đoạn thơ có 5 từ ta, những từ này đều nằm ở câu bát (tám).

b) Nhân vật ta là một người yêu thiên nhiên, thích nghe tiếng suôi chảy. Từ tiếng suối, nghe thấy âm thanh tiếng đàn của tự nhiên. Ta thích ngồi trong bóng mát, thích trong màu xanh mát của trúc ngâm câu thơ nhàn. Ta là người yêu thiên nhiên, hoà hợp với thiên nhiên, có sự cảm nhận rất nghệ sĩ với thiên nhiên. Ta là một thi sĩ thực sự (ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của bóng trúc).

c) Tiếng suôi chảy được ví với tiếng đàn. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó cho thấy nhân vật ta rất yêu thiên nhiên, coi thiên nhiên như cây đàn, như tấm chiếu mình dùng. Đồng thời điều đó cũng cho thấy đây là một nghệ sĩ tinh tế, giàu trí tưởng tượng.

3. Hình ảnh Côn Sơn được gợi tả với suối, với đá, với thông và với trúc. Đá có thảm rêu êm như chiếu. Thông, trúc là những loài cây đẹp, tượng trưng cho người quân tử. cảnh Côn Sơn rất nên thơ, rất hữu tình. Người biết tìm.đến cảnh ấy, biết nhìn ra vẻ đẹp ấy cũng phải là người có tâm hồn thơ, có nhân cách thanh cao, ưa hoà hợp với thiên nhiên.

4. Nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh của bóng râm rừng trúc. Đây là hình ảnh của những người hiền, những bậc thánh nhân quân tử thường thấy trong thơ văn xưa. Họ vui vầy với thiên nhiên, di dưỡng tinh thần. Nguyễn Trãi ở Côn Sơn như một người tiên trong cõi trần.

5. Đoạn thơ dịch có nhiều điệp từ : 5 lần từ ta, 3 lần từ như, 2 lần từ Côn Sơn, hai lần từ có. Điệp từ làm nổi bật nhân vật ta giữa thiên nhiên, mặt khác nhấn mạnh vẻ đẹp sẵn có của Côn Sơn, thể hiện sự so sánh để tìm ra nét độc đáo của cảnh vật. Điệp từ ta còn có tác dụng tạo cho câu thơ có giọng điệu êm ái, du dương. Ta khi đứng đầu, khi đứng giữa câu thơ, khi đối nhau qua một từ trong câu thơ, tạo nên sự uyển chuyên.

Ill – HƯỚNG DẪN LUYỆN TẬP

1. Sự giông nhau của hai cách ví von là ở chỗ cùng lấy tiếng suối của thiên nhiên làm đối tượng cảm thụ và so sánh. Sự khác biệt là tiếng suối của Nguyễn Trãi gắn với địa danh Côn Sơn, suối của Côn Sơn, còn tiếng suối trong thơ Bác là tiếng dòng suối vô danh. Sự khác biệt thứ hai là Nguyễn Trãi nghe tiếng suối như tiếng đàn, còn Bác Hồ nghe thấy âm thanh trong trẻo của suối mà so với tiếng hát, nhưng tiếng hát xa chứ không phải ở khoảng cách gần. Tiếng suối trong thơ Nguyễn Trãi có vẻ như được nghe vào ban ngày, khi nhà thơ trèo lên đá, ngồi trong bóng trúc. Còn tiếng suối trong thơ Bác được nghe trong đêm khuya, có trăng sáng. Dù có sự khác nhau trong cảm nhận nhưng đều thể hiện hai nhân cách lớn, hai tâm hồn thi sĩ lớn.

2. Ghi nhớ nội dung của bốn cặp lục bát, chú ý đến vần trong thơ lục bát. Điều đó sẽ giúp cho việc học thuộc lòng dễ dàng và nhớ lâu.

Bài Soạn Lớp 7: Bài Ca Côn Sơn / 2023

Nguyễn Trãi (1380 – 1442) hiệu Ức Trai

Là nhà thơ, nhà quân sự, nhà chính trị , nhà ngoại giao lỗi lạc. Ông được công nhận danh nhân văn hoá thế giới 1980.

Một số tác phẩm tiêu biểu : Bình Ngô đại cáo, Ức Trai thi tập . . .

2. Tác phẩm:

Hoàn cảnh sáng tác: Khi ông cáo quan về sống ẩn dật ở Côn Sơn.

Thể thơ: Nguyên tác chữ Hán nhưng bản dịch là thể thơ lục bát.

Phương thức biểu đạt: Biểu cảm

Em hãy dựa vào lời giới thiệu sơ lược về thể thơ lục bát ở chú thích để nhận dạng thể thơ của đoạn thơ được trích, dịch trong Bài ca Côn Sơn về số câu, số chữ trong câu, cách gieo vần.

Trả lời:

Thơ lục bát là thể thơ quá quen thuộc đối với văn học Việt Nam.

Thơ Lục bát không quy định về số câu, nhưng ít nhất phải có hai câu: một câu 6 (đứng trước) và một câu 8 (đứng sau).

Số chữ: một cặp lục bát (6 – 8) có 14 chữ.

Hiệp vần: vần chân và vần lưng.

Chữ thứ 6 của câu sáu hiệp với chữ thứ 6 của câu 8 (vần lưng).

Chữ thứ 8 của câu tám hiệp với chữ thứ 6 của câu 6 (vần chân).

Tất cả những hiệp vần đều thanh bằng.

a. Nhân vật ta là ai?

b. Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta hiện lên trong đoạn thơ như thế nào?

c. Tiếng suối chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi được ví với chiếu êm. Cách ví von đó giúp em cảm nhận được gì về nhân vật ta?

Trả lời:

a. Nhân vật ta chính là tác giả (Nguyễn Trãi).

b. Hình ảnh và tâm hồn của nhân vật ta thể hiện trong đoạn thơ thể hiện ở nhiều tâm thế khác nhau: khi lắng nghe tiếng suối, khi ngồi trên đá, khi nằm dưới bóng mát cây thông, khi ngâm thơ giữa rừng trúc. Trong đoạn thơ này cho thấy, nhân vật là một người nghệ sĩ thực thụ, tận hưởng cảnh đẹp xung quanh mà không một chút vướng bận của nhân gian.

c. Tiếng sói chảy rì rầm được ví với tiếng đàn cầm. Đá rêu phơi dược ví với chiếu êm. Cách ví đó của tác giả không chỉ cho ta thấy tác giả là một người tinh tế, giàu trí tưởng tượng mà đó còn là một con người yêu thiên nhiên, luôn gần gũi và hòa mình với thiên nhiên, coi thiên nhiên như là một người tri kỉ.

Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết nào? Nhận xét về cảnh tượng Côn Sơn.

Trả lời:

Cùng với hình ảnh của nhân vật ta, cảnh tượng Côn Sơn được gợi tả bằng những chi tiết đó là: suối chảy rì rầm, đá rêu phơi, thông mọc như nêm, rừng trúc xanh mát. Chỉ cần vài nét vẽ đơn giản, nhưng tác giả đã phác họa được bức tranh nên thơ, hữu tình ở Côn Sơn. Chính sự nên thơ và yên tĩnh nơi đây, Côn Sơn đã khiến cho “ta” muốn được gắn bó, được hòa mình vào nó để được nó bao bọc trong sự êm đềm thanh tĩnh.

Em có cảm nghĩ gì về hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong bóng râm mát của trúc bóng râm? Từ đó, em thử hình dung thi sĩ Nguyễn Trãi ở Côn Sơn là con người như thế nào?

Trả lời:

Hình ảnh cuối cùng được tác giả nhắc đến trong bài thơ đó chính là hình ảnh nhân vật ta ngâm thơ nhàn trong màu xanh mát của trúc bóng râm gợi cho ta nghĩ đến hình ảnh một tiên ông nhàn tản, không chút vấn vương thế sự.

Trong hai câu thơ này, ta thấy được, hình ảnh của thi nhân trực tiếp xuất hiện với một tư thế vô cùng ung dung và tự tại. Điều này gợi ca sự nhàn tản để tận hưởng thú vui lâm tuyền. Qua đây ta thấy, Nguyễn Trãi mặc dù đã về ở ẩn nhưng vẫn giữ được tư thế lạc quan, vủi vẻ với tâm thế ung dung, an bần lạc đạo.

Hãy chỉ ra hiện tượng dùng điệp từ trong đoạn thơ và phân tích tác dụng của điệp từ đối với việc tạo nên giọng điệu của đoạn thơ.

Trả lời:

Ngoài thể thơ lục bát có tác dụng biểu đạt biểu thị tâm hồn dân tộc thì bài còn sử dụng nghệ thuật điệp từ (Côn Sơn điệp 2 lần; ta điệp 5 lần; trong điệp 3 lần; cóđiệp 2 lần..). Cách điệp từ trong các câu thơ có ý nghĩa rất đặc biệt nó tiết tấu nhịp nhàng của bài thơ, không gian như được mở rộng bao la và cả những hình tượng thơ sâu sắc đã làm cho tâm hồn của tác giả.

Ngoài ra, điệp từ sóng đôi giữa “Côn Sơn” và “ta” đã cho ta thấy rõ, càng khắc họa rõ hơn sự giao hòa, sự gắn bó và sự quấn quýt song hành giữa thiên nhiên và con người.

Cách ví von tiếng suối của Nguyền Trãi trong hai câu thơ “Côn Sơn suối chảy rì rầm, Ta nghe như tiếng đàn cầm bên tai” và của Hồ Chí Minh trong câu thơ “Tiếng suối trong như tiếng hát xa” (Cảnh khuya) có gì giống và khác nhau?

Trả lời:

Giống nhau:

Cả hai đều thể hiện tâm hồn hòa nhập với thiên nhiên.

Cả hai đều giống nhau ở sự so sánh, liên tưởng: nhạc của thiên nhiên với nhạc của con người. Sự tinh tế tài hoa của hai thi nhân.

Khác nhau: Cách ví von tiếng suối của Hồ Chí Minh có phần sinh động hơn vì được so sánh với tiếng hát của con người. Còn cách ví von của Nguyễn Trãi lại mang sắc thái cổ điển hơn, được so sánh với tiếng đàn cầm.

Cập nhật thông tin chi tiết về Đọc – Hiểu Văn Bản: Bài Ca Côn Sơn – Tư Liệu Ngữ Văn 7 2022 / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!