Xu Hướng 12/2022 # Dự Thảo Luật Quy Hoạch Đô Thị: Kiến Trúc Sư Trưởng “Vấp” Nghi Ngờ / 2023 # Top 14 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Dự Thảo Luật Quy Hoạch Đô Thị: Kiến Trúc Sư Trưởng “Vấp” Nghi Ngờ / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Dự Thảo Luật Quy Hoạch Đô Thị: Kiến Trúc Sư Trưởng “Vấp” Nghi Ngờ / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Kiến trúc sư trưởng… để cho vui

Là người trình bày báo cáo thẩm tra dự án luật Quy hoạch đô thị, Chủ nhiệm UB kinh tế của QH, Hà Văn Hiền, bộc bạch băn khoăn vị trí của Kiến trúc sư trưởng trong hệ thống quản lý quy hoạch đô thị. Theo ông Hiền, kiến trúc sư trưởng nếu có phải là người hình thành và duy trì được sự thống nhất về kiến trúc đô thị, sao để không xảy ra tình trạng qua mỗi thời Chủ tịch thành phố, quy hoạch lại thay đổi, “phế” nhau xoành xoạch.

Tán đồng quan điểm đó, đại biểu Nguyễn Ngọc Đào thở dài cho rằng luật Quy hoạch đô thị đang xây dựng trên thực trạng các đô thị đã bị “băm nát”. Nói riêng về Hà Nội, đại biểu Đào cũng cho rằng, việc quản lý quy hoạch theo… nhiệm kỳ, cứ “hết nhiệm kỳ là hạ cánh” dẫn đến sự chắp vá khắp thành phố. Ông Đào thẳng thắn: “Nhiều người nước ngoài nhận xét, từ máy bay nhìn xuống, đô thị Việt Nam lổn nhổn như đống rác”.

Thiết chế kiến trúc sư trưởng, ông Đào đặt câu hỏi nghi vấn đây là “ý tưởng” của những người từng nắm giữ vị trí này của thành phố 10 năm trước. Đại biểu này cảnh báo, thời gian đó đã để lại bài học lớn về việc bộ máy quản lý cồng kềnh, chồng chéo dẫn đến tình trạng thêm rối rắm.

Ông Đào nêu thẳng quan điểm không cần “dựng lại” một thiết chế như thế. Thành phố cần một nhạc trưởng về quy hoạch nhưng chỉ cần củng cố Sở quy hoạch kiến trúc và giao nhiệm vụ cho người đứng đầu cơ quan này. Còn kiến trúc sư trưởng, ai cũng sợ “ông ấy” vì “ông ấy” thả sức vẽ, thả sức bày đặt rồi… không chịu trách nhiệm gì.

Như khơi đúng nguồn, đại biểu Đặng Văn Khanh cho rằng, nói như đại biểu Đào vẫn là nhẹ nhàng. Luật quy hoạch đô thị đưa ra một chức danh mới – kiến trúc sư trưởng, mà chỉ quy định vỏn vẹn trong 1 điều luật (Điều 17). “Chẳng lẽ đưa một người lên ngồi vẽ rồi để đấy?” – ông Khanh buông lửng câu hỏi.

Đại biểu này cho rằng, kiến trúc sư trưởng theo quy định này… chơi vơi, không được giao thẩm quyền cũng như trách nhiệm nào cụ thể. Ông Khanh phân tích lại mô hình kiến trúc sư trưởng thời Pháp, khi bản vẽ, thiết kế của người này đã được duyệt, dù chỉ đóng một con dấu hình bầu dục, cơ quan nào cũng phải chấp nhận, không thể thoái thác. “Kiến trúc sư trưởng của ta, chắc có vẽ xong rồi cũng để đấy… cho vui, khó làm được gì”, ông Khanh kết lại.

Đại biểu Nguyễn Tiến Định “tấn công” ở khía cạnh, luật quy định các thành phố như Hà Nội, TPHCM đã có Sở quy hoạch kiến trúc, có Hội đồng kiến trúc quy hoạch lại có cả kiến trúc sư trưởng nhưng không thể hiện việc phân quyền thế nào, nhiệm vụ, chức năng cũng tương tự nhau, cùng là tham vấn cho Chủ tịch UBND thành phố về vấn đề kiến trúc, quy hoạch.

Đại biểu Đặng Huyền Thái đề nghị thẳng “rút khái niệm này” vì thời kỳ 10 năm Hà Nội có kiến trúc sư trưởng trước đây, cái làm được thực tế là quá nhỏ bé so với những việc không làm được. Bà Thái phân tích, dự luật mới cũng không thuyết phục được hơn về tính ưu việt của thiết chế này, chỉ thêm cồng kềnh, phiền phức.

Tất cả các câu hỏi đều chưa có hướng nảy ra “đáp án” trong buổi góp ý lần đầu này.

“Lờ mất phần chìm của tảng băng”

Nữ đại biểu nêu luôn vài ví dụ thực tế, khắp nơi, chỗ nào cũng có thể trở thành khu công nghiệp, chỗ nào cũng có thể làm khu đô thị mới… Nếu chưa có luật quy hoạch sử dụng đất mà luật quy hoạch đô thị đã thông qua, chạy đuổi theo nhau, sẽ lại sớm phải sửa, phải nắn.

Đại biểu Đỗ Hồng Sơn phát biểu cảm giác về toàn bộ dự luật là mơ hồ, mới chỉ mang tính chất thống kê, nhặt nhạnh hoạt động xây dựng đô thị trong các thời kỳ khác nhau cộng lại, không tìm thấy khả năng cải thiện thực trạng quản lý quy hoạch đô thị hiện nay.

Đại biểu Đặng Văn Khanh chia sẻ quan điểm, quy hoạch đô thị phải trên cơ sở quy hoạch tổng thể của đất nước. Theo ông, như Hà Nội hiện nay là “không có dấu hiệu” của công tác quy hoạch. Nếu có được quy hoạch tổng thể, Hà Nội đã không bị băm nát, chỉ nói riêng một dải đất ngoài đê sông Hồng, bao năm không thể làm gì được vì đụng luật khác.

Đại biểu Đặng Huyền Thái “lật lại”, Hà Nội hiện tại thì có thể đã an bài nhưng trước mắt còn Hà Nội mở rộng. Vấn đề là xây dựng được luật này sao để giải quyết được những vấn đề về quy hoạch thủ đô. Và như thế, theo bà Thái, phần lớn nhất của tảng băng vẫn chìm chưa được nói đến.

Áp Dụng Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật Đối Với Lĩnh Vực Quy Hoạch Kiến Trúc, Phát Triển Đô Thị Và Nhà Ở / 2023

(Xây dựng) – Bộ Xây dựng vừa có văn bản trả lời UBND tỉnh Ninh Thuận về việc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật trong quản lý Nhà nước đối với lĩnh vực quy hoạch kiến trúc, phát triển đô thị và nhà ở.

Về lĩnh vực quy hoạch xây dựng

Đối với việc bố trí kinh phí thực hiện quy hoạch: Tại mục 1 phần IV, Quyết định số 676/QĐ-TTg ngày 18/5/2017 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án xây dựng nông thôn mới trong quá trình đô thị hóa trên địa bàn cấp huyện giai đoạn 2017-2020, Bộ Xây dựng được giao là cơ quan chủ trì lập thí điểm quy hoạch xây dựng vùng huyện đối với 8 huyện điển hình tại 8 địa phương, trong đó có tỉnh Ninh thuận.

Thực hiện yêu cầu này, Bộ Xây dựng đã giao cho Viện Quy hoạch xây dựng miền Nam lập nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng vùng huyện Ninh Hải và bố trí một phần kinh phí để thực hiện lập Quy hoạch này. Tuy nhiên, kể từ khi Luật Quy hoạch được ban hành và có hiệu lực thì việc bố trí vốn cho công tác lập quy hoạch của Bộ Xây dựng có những khó khăn, vướng mắc. Bộ Xây dựng đã có Văn bản số 2997/BXD-KHTC gửi Bộ Kế hoạch và Đầu tư, Bộ Tài chính ngày 27/11/2018 đề nghị cho ý kiến, hướng dẫn về việc bố trí vốn cho công tác quy hoạch thực hiện trong kế hoạch năm 2019.

Về thẩm định công tác khảo sát lập bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch xây dựng: Khoản 5, Điều 5 của Thông tư số 05/2011/TT-BXD ngày 09/06/2011 của Bộ Xây dựng về việc kiểm tra, thẩm định và nghiệm thu công tác khảo sát lập bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch và thiết kế xây dựng quy định “Cơ quan thẩm định: Sở Xây dựng tổ chức thẩm định các bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch xây dựng; đối với trường hợp không thuộc nguồn vốn của địa phương thì Cơ quan quyết định đầu tư chịu trách nhiệm tổ chức thẩm định; các bản đồ phục vụ thiết kế xây dựng công trình do Chủ đầu tư tự tổ chức thẩm định”.

Điều 34 của Luật Đo đạc và bản đồ năm 2018 quy định về trách nhiệm của tổ chức, cá nhân về chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ được quy định như sau: Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ do mình tạo ra; Tổ chức, cá nhân chịu trách nhiệm về kết quả giám sát, kiểm tra chất lượng, nghiệm thu sản phẩm đo đạc và bản đồ; Chủ đầu tư dự án, đề án đo đạc và bản đồ chịu trách nhiệm về chất lượng sản phẩm do mình quản lý.

Ngoài ra, Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường quy định về kiểm tra, thẩm định, nghiệm thu chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ. Như vậy, Điều 34 của Luật Đo đạc và bản đồ không quy định trách nhiệm của cơ quan quản lý Nhà nước trong việc tổ chức thẩm định sản phẩm đo đạc và bản đồ nói chung và trách nhiệm của Sở Xây dựng trong việc tổ chức thẩm định bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch xây dựng nói riêng.

Theo quy định tại khoản 2, Điều 156 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật: trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng văn bản có hiệu lực pháp lý cao hơn. Do vậy, trường hợp này áp dụng theo quy định tại Luật đo đạc và bản đồ.

Bên cạnh đó, theo quy định tại điểm b, khoản 1, Điều 5 của Thông tư số 24/2018/TT-BTNMT ngày 15/11/2018 của Bộ trưởng Bộ Tài nguyên và Môi trường về kiểm tra, thẩm định, nghiệm thu chất lượng sản phẩm đo đạc và bản đồ thì chủ đầu tư có trách nhiệm tổ chức thẩm định các sản phẩm đo đạc và bản đồ (trong đó có bản đồ địa hình phục vụ quy hoạch xây dựng).

Về việc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp: Tại khoản 3, Điều 19 của Luật Tổ chức chính quyền địa phương quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân tỉnh trong lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường như sau: Quyết định kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội dài hạn, trung hạn và hằng năm của tỉnh; quy hoạch, kế hoạch phát triển các ngành, lĩnh vực trên địa bàn tỉnh trong phạm vi được phân quyền; Quyết định quy hoạch xây dựng, quy hoạch đô thị trong phạm vi được phân quyền theo quy định của pháp luật; việc liên kết kinh tế vùng giữa các cấp chính quyền địa phương phù hợp với tình hình, đặc điểm của địa phương và bảo đảm tính thống nhất của nền kinh tế quốc dân; Như vậy, các hoạt động lĩnh vực kinh tế, tài nguyên, môi trường được quy định tại Điều trên do Hội đồng nhân dân tỉnh quyết định.

Theo đó, khoản 4, Điều 34, Luật Xây dựng (đã được sửa đổi, bổ sung tại khoản 9 Điều 28 của Luật số 35/2018/QH14) quy định “UBND các cấp tổ chức lập quy hoạch xây dựng có trách nhiệm trình Hội đồng nhân dân cùng cấp quyết định trước khi được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền xem xét, phê duyệt”.

Căn cứ các quy định nêu trên, đề nghị Sở Xây dựng thực hiện theo đúng quy định của luật trong việc trình Hội đồng nhân dân cùng cấp về nhiệm vụ và đồ án quy hoạch xây dựng.

Về lĩnh vực phát triển đô thị và khu dân cư

Nghị định số 11/2013/NĐ-CP ngày 14/01/2013 về quản lý đầu tư phát triển đô thị không quy định việc lập và phê duyệt khu vực phát triển đô thị toàn tỉnh. Tùy theo điều kiện cụ thể, UBND tỉnh Ninh Thuận có thể xem xét lập cùng lúc các khu vực phát triển đô thị khác nhau trên địa bàn tỉnh; nội dung, hồ sơ các khu vực phát triển đô thị phải đảm bảo tuân thủ quy định tại Nghị định số 11/2013/NĐ-CP.

Điểm c, Khoản 1, Điều 9 của Nghị định số 11/2013/NĐ-CP quy định: khu vực phát triển đô thị nhằm hình thành một đô thị mới có quy mô dân số tương đương đô thị loại IV trở lên theo quy hoạch đã được phê duyệt thì thuộc thẩm quyền quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Đồng thời, tại khoản 1, Điều 3, Luật Quy hoạch đô thị quy định: “Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hóa hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã, thị trấn” nên quy mô dân số của đô thị được xác định theo dân số toàn đô thị. Như vậy, trường hợp áp dụng quy định đô thị mới các quy mô dân số tương đương đô thị loại IV trở lên theo quy mô 50.000 người.

Đối với việc xác định các khu vực có ý nghĩa quan trọng về an ninh, quốc phòng: đề nghị thực hiện theo hướng dẫn của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an.

Về lựa chọn chủ đầu tư: Pháp luật về nhà ở không quy định về nội dung, trình tự, thủ tục đấu thầu lựa chọn chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở, mà tại Khoản 2, Điều 22 của Luật Nhà ở chỉ quy định về việc lựa chọn chủ đầu tư dự án nhà ở thương mại được thực hiện thông qua các hình thức: Đấu giá quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật về đất đai; Đấu thầu dự án có sử dụng đất; Chỉ định chủ đầu tư trong trường hợp nhà đầu tư có đủ điều kiện theo quy định tại Điều 21, có quyền sử dụng đất ở hợp pháp theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 4 Điều 23 của Luật Nhà ở năm 2014.

Về việc quy định chế tài đối với chủ đầu tư cấp 1 và chủ đầu tư thứ cấp: Các hành vi vi phạm hành chính, hình thức xử phạt và biện pháp khắc phục hậu quả trong hoạt động đầu tư xây dựng được quy định tại Chương II của Nghị định số 139/2017/NĐ-CP ngày 27/11/2017 của Chính phủ. Theo đó, các vi phạm quy định về đầu tư phát triển đô thị và trật tự xây dựng đã được quy định tại Điều 13, Điều 15 của Nghị định này.

Về việc cấp giấy phép xây dựng có thời hạn: Điều kiện để cấp giấy phép xây dựng có thời hạn đã được quy định tại Điều 94 Luật Xây dựng năm 2014 (đồng thời có dẫn chiếu tới Điều 91 và Điều 93 của Luật Xây dựng). Đề nghị UBND tỉnh Ninh Thuận căn cứ quy định này để thực hiện. Tuy nhiên, việc quy định điều kiện cấp giấy phép xây dựng có thời hạn yêu cầu phải “phù hợp với mục đích sử dụng đất theo quy hoạch sử dụng đất được phê duyệt” và “thuộc khu vực có quy hoạch phân khu xây dựng được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, công bố” tại Điều 91, Điều 94 của Luật Xây dựng dẫn đến một số khó khăn, vướng mắc trên thực tế hiện nay.

Do vậy, quy định này đang được Bộ Xây dựng rà soát, đề xuất sửa đổi, bổ sung tại dự thảo Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Xây dựng.

Về việc triển khai thí điểm đô thị thông minh: Khoản 10, Mục V, Điều 1 Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ về việc phê duyệt Đề án đô thị thông minh bền vững Việt Nam giai đoạn 2018-2025 và định hướng đến năm 2030 đã giao rất cụ thể trách nhiệm của UBND các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương như sau:

Rà soát, nghiên cứu, đăng ký các chương trình, kế hoạch thực hiện thí điểm, gửi cơ quan thường trực Đề án để phối hợp chỉ đạo, tổ chức thực hiện. Chỉ đạo UBND các đô thị trực thuộc nghiên cứu, lập kế hoạch thực hiện phát triển đô thị thông minh.

Bộ Xây dựng đề nghị UBND tỉnh Ninh Thuận căn cứ nội dung Đề án và các nhiệm vụ được giao tại Quyết định số 950/QĐ-TTg ngày 01/08/2018 của Thủ tướng Chính phủ để triển khai thực hiện đảm bảo hiệu quả.

Về lĩnh vực nhà ở

Pháp luật về nhà ở không cấm việc quy hoạch, đầu tư các dự án nhà ở xã hội (NƠXH) tập trung, tuy nhiên việc hình thành các khu NƠXH tập trung đòi hỏi phải có quỹ đất và nguồn vốn đầu tư lớn để phát triển đồng bộ hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội. Các khu NƠXH trung thường phải bố trí quy hoạch xa trung tâm đô thị, không đáp ứng được nhu cầu chỗ ở gắn với địa điểm làm việc của đại đa số người lao động trong khu vực đô thị. Do đó, nếu không gắn dự án NƠXH với nhà ở thương mại thì chi phí đầu tư hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và chi phí đầu tư xây dựng NƠXH sẽ tăng cao, không phù hợp với khả năng chi trả của các đối tượng có thu nhập thấp; các đối tượng này không có điều kiện được hưởng hệ thống hạ tầng hoàn chỉnh và đồng bộ gắn với nhà ở thương mại; đồng thời việc bố trí các khu NƠXH tập trung đòi hỏi các đối tượng có thu nhập thấp phải trả chi phí để quản lý, vận hành, bảo trì nhà ở cao, không phù hợp với điều kiện thu nhập của các đối tượng được hưởng chính sách NƠXH.

Đối với các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị có quy mô sử dụng đất từ 10 ha trở lên bố trí quỹ đất 20% để xây dựng NƠXH không phù hợp với quy hoạch của địa phương hoặc có bố trí nhưng không đủ quỹ đất 20% để xây dựng nhà ở xã hội thì UBND tỉnh Ninh Thuận phải báo cáo Thủ tướng Chính phủ để xem xét, chấp thuận theo quy định tại Khoản 3, Điều 5 của Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ.

Về việc có được tính phần diện tích đất bố trí tái định cư trong dự án đô thị mới, dự án nhà ở vào phần quỹ đất 20% để xây dựng NƠXH hay không?

Việc dành quỹ đất cho phát triển NƠXH trong các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị phải thực hiện đúng quy định của pháp luật về nhà ở, cụ thể là theo quy định tại khoản 2 Điều 16 Luật Nhà ở năm 2014; khoản 1, khoản 2, khoản 3, Điều 5 Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý NƠXH.

Theo quy định của pháp luật về nhà ở và pháp luật về đất đai thì phần diện tích đất bố trí tái định cư trong dự án đô thị mới phải thực hiện theo quy định của pháp luật về đất đai, không được tính vào quỹ đất 20% dành để đầu tư NƠXH trong các dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị mới. Hộ gia đình, cá nhân thuộc diện bị thu hồi đất và giải tỏa, phá dỡ nhà ở theo quy định của pháp luật mà chưa được Nhà nước bồi thường bằng nhà ở, đất ở thì được hưởng chính sách hỗ trợ về NƠXH theo quy định của pháp luật (Khoản 10, Điều 49 Luật Nhà ở).

Về việc xác định quỹ đất 20% để xây dựng NƠXH: Theo quy định tại khoản 1, Điều 5, Nghị định số 100/2015/NĐ-CP ngày 20/10/2015 của Chính phủ về phát triển và quản lý NƠXH thì chủ đầu tư dự án phát triển nhà ở thương mại, dự án đầu tư phát triển đô thị, phải dành 20% tổng diện tích đất ở trong các đồ án quy hoạch chi tiết hoặc tổng mặt bằng được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống hạ tầng kỹ thuật dành để xây dựng NƠXH.

Như vậy, việc xác định tỷ lệ quỹ đất 20% để xây dựng NƠXH được xác định trên cơ sở diện tích đất ở của dự án. Pháp luật về nhà ở không có quy định về đất ở thương phẩm, đất ở không thương phẩm trong dự án.

Khánh An

Theo

Link gốc:

Một Số Ý Kiến Về Các Luật Quy Hoạch ” Đô Thị &Amp; Phát Triển / 2023

Trong khi đó, với tốc độ đô thị hóa ngày càng cao, ranh giới đô thị và nông thôn liên tục thay đổi, thậm chí nhiều trường hợp là đan xen, không có ranh giới rõ rệt. Nhiều khu đô thị mới, đô thị vệ tinh đang hình thành tại khu vực nông thôn, nhiều làng xã đang dần chuyển đổi thành đô thị. Các nhu cầu của đô thị ngày càng cần đến quỹ đất của nông thôn. Các nghĩa trang, khu xử lý chất thải, các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm cần được bố trí ngoài đô thị. Một trường đua ngựa có thể tổ chức trong đô thị nhưng khu vực nuôi ngựa cần bố trí ngoài đô thị. Cao trình san nền đô thị, hệ thống cấp nước, thoát nước của đô thị cần được nghiên cứu trong mối quan hệ với khu vực nông thôn xung quanh. Các tuyến giao thông ngoại vi băng qua các khu vực nông thôn… Trong một bức tranh tổng thể mang quá nhiều các quan hệ đó, việc phân biệt đô thị, nông thôn và các khu chức năng đặc thù vô hình trung phủ nhận các mối liên kết chặt chẽ ấy.

Đô thị và nông thôn thì ai cũng rõ, còn khu chức năng đặc thù là gì? Theo Luật Xây dựng, khu chức năng đặc thù là khu vực phát triển theo các chức năng chuyên biệt hoặc hỗn hợp như khu kinh tế, khu công nghiệp, khu chế xuất, khu công nghệ cao; khu du lịch, khu sinh thái; khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa; khu nghiên cứu đào tạo; khu thể dục thể thao; cảng hàng không, cảng biển; khu vực đầu mối hạ tầng kỹ thuật; khu chức năng đặc thù khác được xác định theo quy hoạch xây dựng vùng được phê duyệt hoặc được cơ quan nhà nước có thẩm quyền quyết định thành lập.

Cứ theo quy định ấy mà lọc ra thì đô thị chỉ còn là các khu ở, điều ấy thật khó chấp nhận. Trong xu thế hiện nay, một đô thị có thể lấy các khu chức năng đặc thù như sân bay, cảng biển, khu du lịch, khu di tích… làm hạt nhân phát triển đô thị. Vậy thì chẳng có lý do gì lại làm điều ngược lại là loại bỏ những động lực ấy đi?

Khi phân chia một không gian lãnh thổ thành từng khu vực riêng rẽ như vậy không những làm đứt gãy mối quan hệ giữa các khu vực với nhau mà còn tự đặt ra các rào cản giữa các luật.

Do vậy cần trả lại đúng phạm vi và đối tượng điều chỉnh cho từng luật. Luật Xây dựng chỉ điều chỉnh các hoạt động đầu tư xây dựng. Luật Quy hoạch đô thị cần được bãi bỏ và thống nhất áp dụng Luật Quy hoạch.

Như vậy Luật Quy hoạch vẫn kế thừa sự bất cập của Luật Xây dựng là phân biệt giữa quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn.

Như đã phân tích ở trên, đô thị, nông thôn và các khu chức năng đặc thù có mối quan hệ tương hỗ. Một không gian lãnh thổ chỉ cần một quy hoạch xây dựng thống nhất để phát huy mối quan hệ đa chiều giữa các khu vực. Vậy đó là quy hoạch gì?

Nếu chiếu đúng theo các luật thì hiện nay không có quy hoạch nào như thế cả. Trong Luật Quy hoạch đô thị có quy định về quy hoạch chung, tuy nhiên đó phải hiểu là quy hoạch chung đô thị.

Thế nhưng trên thực tế lại có kiểu quy hoạch đó. Nhiều địa phương làm quy hoạch chung (đô thị) nhưng không biết vô tình hay hữu ý lại gộp luôn cả vùng nông thôn, các khu chức năng đặc thù vào và rồi cũng được Chính phủ phê duyệt. Xét căn cơ ra thì quy hoạch ấy là sai quy định. Tuy vậy, cái sai đó lại tỏ ra phù hợp với yêu cầu thực tế hơn là khi nó đúng quy định.

Đó chính là điều đáng suy ngẫm để hướng đến việc chuẩn hóa hệ thống quy hoạch. Trong hệ thống quy hoạch quốc gia cần bãi bỏ quy hoạch đô thị và quy hoạch nông thôn. Thay vào đó, mỗi tỉnh, thành cần một quy hoạch xây dựng tỉnh. Đây là khái niệm chưa có trong hệ thống quy hoạch quốc gia nhưng lại rất dễ hiểu với các người làm quy hoạch. Quy hoạch xây dựng tỉnh có nhiệm vụ tích hợp các quy hoạch riêng rẽ là quy hoạch đô thị, quy hoạch nông thôn và quy hoạch các khu chức năng đặc thù.

Như vậy nội dung về hệ thống quy hoạch quốc gia trong Luật Quy hoạch cần phải được điều chỉnh lại.

Quan hệ giữa quy hoạch tỉnh và quy hoạch xây dựng tỉnh

Quy hoạch tỉnh là dạng quy hoạch mà trước đây vẫn thường gọi là quy hoạch tổng thể phát triển kinh tế xã hội. Đối tượng của quy hoạch này là các định hướng phát triển các lĩnh vực và ngành nghề cùng với các chỉ tiêu tương ứng. Có thể hiểu đây là quy hoạch mang các yếu tố định tính, định lượng nhưng không đặt nặng yếu tố định hình, mặc dù cũng có bản vẽ về phân vùng.

Trong khi đó quy hoạch xây dựng tỉnh là quy hoạch về không gian, nghĩa là xác định rõ yếu tố định hình. Về quan hệ “chiều dọc”, dưới quy hoạch xây dựng tỉnh là các quy hoạch phân khu xây dựng và quy hoạch chi tiết xây dựng.

Giữa quy hoạch tỉnh và quy hoạch xây dựng tỉnh là quan hệ “chiều ngang”, không thể có chuyện tích hợp được.

Một yếu tố nữa cần xem xét là tính biến động của quy hoạch. Các quốc gia đang bắt đầu phát triển, các địa phương đang tìm hướng phát triển không thể đòi hỏi sự ổn định và quá chặt chẽ của các quy hoạch. Do vậy khi càng tích hợp các quy hoạch vào với nhau thì khả năng phải điều chỉnh càng lớn. Càng tích hợp nhiều, xác suất biến động càng cao dẫn đến khả năng bị phá vỡ càng cao.

Ai làm quy hoạch xây dựng tỉnh?

Có nhiều ý kiến nhầm lẫn khi cho rằng tất cả các quy hoạch thuộc phạm vi điều chỉnh của Luật Quy hoạch phải được Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định, điều đó không đúng.

Thí dụ, quy hoạch xây dựng tỉnh thuộc hệ thống quy hoạch quốc gia, là đối tượng điều chỉnh của Luật Quy hoạch nhưng không thể do Bộ Kế hoạch và Đầu tư thẩm định. Quy hoạch tỉnh là quy hoạch chuyên ngành kỹ thuật, có tính chuyên môn sâu, Bộ Xây dựng mới là cơ quan thẩm định. Tương tự như vậy, ở cấp tỉnh, đơn vị chủ trì lập quy hoạch xây dựng tỉnh phải là Sở Xây dựng.

Về trình tự lập và phê duyệt, quy hoạch tỉnh phải đi trước vì đây là quy hoạch định hướng mọi lĩnh vực. Về nguyên tắc là như vậy, tuy nhiên để đảm bảo tính đồng bộ, trên thực tế hai quy hoạch này cần được nghiên cứu song hành. Việc nghiên cứu song hành tạo điều kiện cho các chuyên gia trao đổi một cách thường xuyên, nảy sinh nhiều ý tưởng tốt cho định hướng phát triển toàn diện một không gian lãnh thổ.

KTS BÙI HUY TRÍ (Đô thị & Phát triển số 76 – 77/2019)

Tải Luật Quy Hoạch Đô Thị Năm 2009 / 2023

Tải Luật Quy hoạch đô thị năm 2009 – Luật Toàn Quốc, Luật này quy định về hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt…

LUẬT QUY HOẠCH ĐÔ THỊ NĂM 2009

Căn cứ Hiến pháp nước Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992 đã được sửa đổi, bổ sung một số điều theo Nghị quyết số 51/2001/QH10;

Quốc hội ban hành Luật quy hoạch đô thị.

Điều 1. Phạm vi điều chỉnh

Luật này quy định về hoạt động quy hoạch đô thị gồm lập, thẩm định, phê duyệt và điều chỉnh quy hoạch đô thị; tổ chức thực hiện quy hoạch đô thị và quản lý phát triển đô thị theo quy hoạch đô thị đã được phê duyệt.

1. Đô thị là khu vực tập trung dân cư sinh sống có mật độ cao và chủ yếu hoạt động trong lĩnh vực kinh tế phi nông nghiệp, là trung tâm chính trị, hành chính, kinh tế, văn hoá hoặc chuyên ngành, có vai trò thúc đẩy sự phát triển kinh tế – xã hội của quốc gia hoặc một vùng lãnh thổ, một địa phương, bao gồm nội thành, ngoại thành của thành phố; nội thị, ngoại thị của thị xã; thị trấn.

2. Đô thị mới là đô thị dự kiến hình thành trong tương lai theo định hướng quy hoạch tổng thể hệ thống đô thị quốc gia, được đầu tư xây dựng từng bước đạt các tiêu chí của đô thị theo quy định của pháp luật.

3. Khu đô thị mới là một khu vực trong đô thị, được đầu tư xây dựng mới đồng bộ về hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội và nhà ở.

4. Quy hoạch đô thị là việc tổ chức không gian, kiến trúc, cảnh quan đô thị, hệ thống công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở để tạo lập môi trường sống thích hợp cho người dân sống trong đô thị, được thể hiện thông qua đồ án quy hoạch đô thị.

5. Nhiệm vụ quy hoạch là các yêu cầu về nội dung nghiên cứu và tổ chức thực hiện được cơ quan có thẩm quyền phê duyệt làm cơ sở để lập đồ án quy hoạch đô thị.

6. Đồ án quy hoạch đô thị là tài liệu thể hiện nội dung của quy hoạch đô thị, bao gồm các bản vẽ, mô hình, thuyết minh và quy định quản lý theo quy hoạch đô thị.

7. Quy hoạch chung là việc tổ chức không gian, hệ thống các công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội và nhà ở cho một đô thị phù hợp với sự phát triển kinh tế – xã hội của đô thị, bảo đảm quốc phòng, an ninh và phát triển bền vững.

8. Quy hoạch phân khu là việc phân chia và xác định chức năng, chỉ tiêu sử dụng đất quy hoạch đô thị của các khu đất, mạng lưới công trình hạ tầng kỹ thuật, công trình hạ tầng xã hội trong một khu vực đô thị nhằm cụ thể hoá nội dung quy hoạch chung.

(………………………………………………………)

Để được tư vấn chi tiết về luật quy hoạch đô thị năm 2009, quý khách vui lòng liên hệ tới tổng đài tư vấn pháp luật đất đai 19006500 để được tư vấn chi tiết hoặc gửi câu hỏi về Email: lienhe@luattoanquoc.com. Chúng tôi sẽ giải đáp toàn bộ câu hỏi của quý khách một cách tốt nhất.

Luật Toàn Quốc xin chân thành cảm ơn./.

Cập nhật thông tin chi tiết về Dự Thảo Luật Quy Hoạch Đô Thị: Kiến Trúc Sư Trưởng “Vấp” Nghi Ngờ / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!