Xu Hướng 3/2024 # Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Thông Tin Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Việc tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính trên Hệ thống thông tin Một cửa điện tử của các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh và Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai được thực hiện hợp pháp, hợp lý, khoa học; bảo đảm sự bình đẳng, khách quan, công khai, minh bạch, an toàn thông tin trong quá trình giải quyết thủ tục hành chính.

Đảm bảo sự phối hợp chặt chẽ giữa các đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính của tổ chức, cá nhân và đánh giá đúng tình hình thực thi nhiệm vụ của cán bộ công chức, viên chức (CBCCVC) và của các đơn vị, địa phương trong giải quyết thủ tục hành chính.

Nội dung thông tin, các thủ tục hành chính thuộc các lĩnh vực được triển khai trên Hệ thống thông tin Một cửa của các đơn vị, địa phương trên đia bàn và Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai phải đảm bảo chính xác, rõ ràng, cập nhật thường xuyên, liên tục, phản ánh đúng tình hình thực tế kết quả tiếp nhận, giải quyết hồ sơ theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông tại các đơn vị, địa phương trên địa bàn; tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức, cá nhân tiếp cận, khai thác, sử dụng.

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai và hệ thống thông tin Một cửa điện tử phải bảo đảm các yêu cầu, điều kiện theo quy định tại Điều 25 của Nghị định số 61/2024/NĐ-CP ngày 23 tháng 4 năm 2024 của Chính Phủ về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính, Nghị định số 45/2024/NĐ-CP ngày 08 tháng 4 năm 2024 của Chính phủ về việc thực hiện thủ tục hành chính trên môi trường điện tử và Thông tư số 22/2024/TT-BTTTT ngày 31 tháng 12 năm 2024 của Bộ trưởng Bộ Thông tin và Truyền thông quy định về tiêu chí chức năng, tính năng kỹ thuật của xây dựng Cổng Dịch vụ công và Hệ thống thông tin một cửa điên tử cấp bộ, cấp tỉnh.

Tất cả CBCCVC và người được phân công có nhiệm vụ, quyền hạn tiếp nhận, giải quyết thủ tục hành chính phải trực tiếp tham gia xử lý hồ sơ trên Hệ thống thông tin Một cửa điện tử của đơn vị, địa phương trong quá trình thực hiện các thủ tục hành chính đã triển khai trên hệ thống.

Bên cạnh đó Quy chế cũng đã quy định chi tiết về Hệ thống thông tin Một cửa điên tử và Cổng dịch vụ công tỉnh Gia Lai như:

– Về mô hình, tổ chức của Hệ thống thông tin Một cửa điện tử

Hệ thống thông tin một cửa điện tử triển khai tại các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh được tổ chức theo mô hình quản lý vừa tập trung, vừa phân tán với cơ sở dữ liệu được đặt tại các đơn vị, địa phương và Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh. Hệ thống được vận hành trên môi trường mạng, dữ liệu hồ sơ được liên thông, luân chuyển khép kín từ Bộ phận Một cửa đến các đơn vị, địa phương, CBCCVC tham gia vào quá trình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính.

Hệ thống thông tin Một cửa điện tử của các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh được tích hợp, chia sẻ dữ liệu với Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành của đơn vị, địa phương để xử lý hồ sơ trên môi trường mạng. Địa chỉ truy cập, các tài khoản đăng nhập Hệ thống Quản lý văn bản và điều hành đồng thời được sử dụng cho Hệ thống thông tin Một của điện tử tại các đơn vị, địa phương.

– Về nâng cấp, mở rộng Hệ thống thông tin Một của điện tử

Các phần mềm phục vụ công tác chuyên nghành có tham gia vào quy trình giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính theo cơ chế một cửa, một cửa liên thông khi đầu tư xây dựng mới bắt buộc phải đảm bảo khả năng kết nối, tích hợp với Hệ thống thông tin Một cửa điện tử đã triển khai. Đồng thời, đảm bảo khả năng đồng bộ dữ liệu, cung cấp đầy đủ thông tin phục vụ cho việc điều tra cứu, thống kê, báo cáo.

Các đơn vị, địa phương có nhu cầu sử dụng, nâng cấp, mở rộng Hệ thống thông tin Một cửa điện tử ngoài các chức năng của hệ thống đã triển khai (các chức năng riêng) phải được sự chấp thuận của Ủy ban nhân dân tỉnh hoặc đơn vị được Ủy ban nhân dân tỉnh giao trách nhiệm xây dựng, quản lý, vận hành.

Các thiết bị phục vụ ứng dụng Hệ thống thông tin Một cửa điện tử khi đầu tư mới, bổ sung hoặc thay thế phải đảm bảo chất lượng và tương thích với phần mềm của Hệ thống thông tin Một cửa điện tử nhằm đảm bảo khai thác các thông tin được thông suốt.

– Về mô hình, tổ chức của Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai được triển khai, vận hành trên hạ tầng kỹ thuật tại Trung tâm Tích hợp dữ liệu của tỉnh (đặt tại Trung tâm Công nghệ thông tin và Truyền thông tỉnh Gia Lai), hoạt động tai địa chỉ internet: http://dichvucong.gialai.gov.vn. Địa chỉ truy cập Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai phải được liên kết hoặc tích hợp trên Công thông tin điên tử tỉnh Gai Lai và Cổng/Trang thông tin điên tử của các đơn vị, địa phương để tạo điều kiện thuận tợi cho tổ chức, cá nhân dễ dàng tìm kiếm, khai thác, sử dụng.

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai cung cấp đầy đủ thông tin các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của các đơn vị, đia phương trên địa bàn tỉnh Gia Lai. Đối với các dịch vụ công trực tuyến mức độ 1 và 2 trên Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai, phải được trích xuất từ cơ sở dữ liệu quốc gia về thủ tục hành chính. Đối với các dịch vụ công trực tuyến mức độ 3 và 4 thuộc thẩm quyền giải quyết của các đơn vị, địa phương trên địa bàn tỉnh phải được tích hợp, quản lý tập trung trên Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai.

Các Dịch vụ công trực tuyến được cung cấp trên Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia lai đảm bảo đầy đủ các thông tin phải công khai theo qui định, đúng theo thủ tục hành chính hiện hành được công bố; đồng thời được tổ chức, phân chia theo ngành, lĩnh vực, đợn vị thực hiện, mức độ dịch vụ công trực tuyến và các tiêu chí khác đảm bảo thuận tiện cho việc khai thác, sử dụng.

Các đơn vị, đia phương có thủ tục hành chính được cung cấp dịch vụ công trực tuyến mức độ 3, mức độ 4 trên Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai, có trách nhiệm tổ chức thực hiện, quản lý các dịch vụ công trực tuyến theo phân quyền quản trị trên hệ thống.

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai đồng thời tích hợp phần mềm Đánh giá sự hài lòng của tổ chức, cá nhân đối với việc thực hiện các thủ tục hành chính của các đơn vị, đia phương.

– Về kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu

 Hệ thống thông tin Một cửa điện tử của các đơn vị, địa phương và Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai được kết nối, tích hợp, chia sẻ dữ liệu với nhau qua nền tảng tích hợp, chia sẻ dữ liệu của tỉnh (LGSP) và được kết nối, chia sẻ dữ liệu với Cổng Dịch vụ công quốc gia, Cổng Dịch vụ công của các Bộ, ngành Trung ương để đồng bộ các hồ sơ được thực hiện theo hình thức dịch vụ công trực tuyến, đồng thời, công khai kết quả, tiến độ giải quyết thủ tục hành chính.

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai kết nối với ứng dụng Zalo thông qua mục “Chính quyền điên tử tỉnh Gia Lai” để cung cấp chức năng tiếp nhận hồ sơ được thực hiện theo hình thức dịch vụ công trực tuyến và phục vụ nhu cầu tra cứu hồ sơ của tổ chức, cá nhân.

Việc kết nối, khai thác, sử dụng được thực hiện trên môi trường mạng gồm: mạng diện rộng (WAN) của tỉnh và mạng Internet.

Ngoài ra Quy chế còn đưa ra các hình thức hỗ trợ tổ chức, cá nhận tra cứu trực tuyến tình trạng giải quyết hồ sơ thủ tục hành chính như :

Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai (http://dichvucong.gialai.gov.vn).

Máy tra cứu hồ sơ tại Trung tâm Phục vụ hành chính công tỉnh hoặc Bộ phận Một cửa tại các đơn vị, địa phương.

Phân hệ hỗ trợ thực hiện các dịch vụ công trực tuyến của mục “Chính quyền điện tử tỉnh Gia Lai” trên ứng dụng Zalo.

– Vấn đề đảm bảo an toàn thông tin cũng được quy định cụ thể trong Quy chế:

Các tổ chức, cá nhân được cấp tài khoản tham gia vào quá trình quản lý, vận hành, sử  dụng Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia lai và Hệ thống thông tin Một cửa điện tử có trách nhiệm bảo mật tài khoản, tuân thủ các quy định về đảm bảo an toàn thông tin theo quy định.

Các đơn vị, địa phương quản lý, vận hành Cổng Dịch vụ công tỉnh Gia Lai và Hệ thống thông tin Một cửa điện tử có trách nhiệm triển khai các biện phám đảm bảo an toàn thông tin, an toàn dữ liệu, đinh kỳ sao lưu dự phòng và kịp thời khắc phục các sự cố mất an toàn thông tin trong phạm vi quản lý.

Quyết định này thay thế cho Quyết định số 18/2024/QĐ-UBND ngày 18/8/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Gia lai về việc ban hành Quy chế quản lý, vận hành và khai thác Hệ thống thông tin Một cửa điện tử, một cửa liên thông trong các cơ quan hành chính nhà nước tỉnh Gia Lai.

Nguyễn Hạnh

Bộ Nội Vụ Triển Khai Hệ Thống Quản Lý Văn Bản Và Một Cửa Điện Tử

Người dân đến làm thủ tục hành chính tại quận Ngô Quyền, Hải Phòng. Ảnh: Lâm Khánh/TTXVN

Triển khai Nghị định số 61/2024/NĐ-CP và Quyết định số 28/2024/QĐ-TTg quy định về việc thực hiện cơ chế một cửa, một cửa liên thông trong giải quyết thủ tục hành chính và việc gửi, nhận văn bản điện tử giữa các cơ quan trong hệ thống hành chính nhà nước, Bộ Nội vụ đã khẩn trương xây dựng Hệ thống quản lý văn bản và một cửa điện tử tại Bộ để chính thức đưa vào sử dụng hoàn toàn văn bản điện tử hành chính có xác thực chữ ký số, đồng thời kết nối với trục liên thông văn bản của Chính phủ để gửi, nhận văn bản điện tử với Chính phủ, các bộ, ngành, địa phương từ ngày 1/1/2024. Nhằm đưa Hệ thống quản lý văn bản, một cửa điện tử vào hoạt động hiệu quả, ngày 26/9, Bộ Nội vụ đã tổ chức Tập huấn triển khai hệ thống này và tập huấn về kiểm soát thủ tục hành chính, tiêu chuẩn ISO.

Theo số liệu thống kê của Văn phòng Bộ Nội vụ, bình quân một ngày văn thư Bộ tiếp nhận và xử lý khoảng 200 văn bản; cung cấp dịch vụ công đối với 32 thủ tục hành chính và 8 quy trình liên thông. Đây là khối lượng công việc rất lớn, đòi hỏi phải nhanh chóng, kịp thời, chính xác và linh hoạt phù hợp với lịch công tác của lãnh đạo Bộ, thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ. Thời gian qua, việc ứng dụng công nghệ thông tin trong quản lý, điều hành tại Bộ đã đạt một số kết quả, từng bước tạo môi trường làm việc điện tử hiện đại; giảm thời gian luân chuyển văn bản; xác định rõ trách nhiệm của từng công chức, viên chức trong thực hiện nhiệm vụ; tiết kiệm chi phí, nhân lực; nâng cao hiệu lực, hiệu quả làm việc, góp phần cải cách hành chính, vận hành Chính phủ điện tử tại Bộ.

Tuy nhiên, đến nay, văn bản đi và đến của Bộ Nội vụ chưa đáp ứng được yêu cầu chỉ đạo, điều hành của lãnh đạo Bộ. Tỷ lệ xử lý công việc điện tử chưa cao, hồ sơ trình lãnh đạo Bộ chưa được thực hiện trên môi trường mạng, văn bản điện tử của Bộ chưa đủ điều kiện pháp lý để xử lý khi gửi, nhận văn bản điện tử với Chính phủ, với các bộ, ngành và địa phương.

Bộ trưởng Nội vụ Lê Vĩnh Tân cho biết, khi Hệ thống quản lý văn bản, một cửa điện tử đi vào sử dụng, các chức năng quản lý văn bản đi, đến, văn bản trình ký, quản lý lịch họp sẽ được tự động hóa giúp nâng cao hiệu quả hoạt động của Bộ Nội vụ. Đồng thời, với cơ sở dữ liệu tập trung, giải pháp sẽ lưu được toàn bộ trạng thái xử lý văn bản, giúp lãnh đạo Bộ và lãnh đạo các đơn vị nhìn bao quát cũng như chi tiết về tình trạng xử lý văn bản tại các đơn vị thông qua hệ thống báo cáo tổng hợp như: số lượng văn bản chậm tiến độ xử lý, văn bản đang xử lý, văn bản đã xử lý. Từ đó, giúp lãnh đạo có thông tin điều hành và đôn đốc các đơn vị xử lý công việc.

Mặt khác, với việc đưa vào sử dụng phiên bản trên các thiết bị di động, ứng dụng chữ ký số sẽ giúp cho lãnh đạo Bộ và thủ trưởng các đơn vị thuộc, trực thuộc Bộ có thể xử lý văn bản ở bất cứ đâu. Hệ thống cũng kết nối với trục liên thông văn bản quốc gia, tiếp nhận và chuyển văn bản điện tử các văn bản đến và đi giữa các bộ, ngành và Chính phủ với hệ thống văn bản điện tử tại Bộ Nội vụ.

Bộ trưởng Lê Vĩnh Tân yêu cầu thủ trưởng các đơn vị thường xuyên đăng nhập vào hệ thống để tiếp nhận, xử lý văn bản điện tử; chỉ đạo, phân công xử lý, theo dõi tiến độ xử lý văn bản trên môi trường mạng đúng quy định.

Quyết Định Ban Hành Quy Chế Về Vận Hành, Khai Thác Và Quản Lý Các Thiết Bị Tin Học Trên Mạng Tin Học Diện Rộng Của Ubnd Tỉnh

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM THỪA THIÊN HUẾ Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Số: 1439/2006/QĐ-UBND Huế, ngày 06 tháng 06 năm 2006QUYẾT ĐỊNH“V/v ban hành quy chế về vận hành, khai thác và quản lý các thiết bị tin học trên mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh”

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾCăn cứ Luật Tổ chức HĐND và UBND ngày 26 tháng 11 năm 2003; Căn cứ Quyết định 136/2001/QĐ-TTg ngày 17/09/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Chương trình tổng thể cải cách hành chính Nhà nước giai đoạn 2001 – 2010;Căn cứ Quyết định số 112/2001/QĐ-TTg ngày 25/07/2001 của Thủ tướng Chính phủ về phê duyệt Đề án tin học hóa quản lý hành chính nhà nước giai đoạn 2001 – 2005;Căn cứ Quyết định số 1656/2005/QĐ-UBND ngày 19/5/2005 của UBND tỉnh về việc ban hành quy định địa chỉ IP, tên miền cho các cơ quan chuyên môn, các đơn vị sự nghiệp thuộc UBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố Huế;Căn cứ Chỉ thị số 42/CT-UBND ngày 29/9/2005 của UBND tỉnh về việc tập trung tăng cường thực hiện đề án Tin học hóa quản lý Nhà nước (đề án 112) trên địa bàn Tỉnh;

Xét đề nghị của Chánh Văn phòng UBND tỉnh,

QUYẾT ĐỊNH:Điều 1. Ban hành kèm theo Quyết định này Quy chế về vận hành, khai thác và quản lý các thiết bị tin học trên mạng tin học diện rộng (WAN) của UBND tỉnh.Điều 2. Quyết định này có hiệu lực sau 10 ngày kể từ ngày ký ban hành. Điều 3. Chánh Văn phòng UBND tỉnh, Giám đốc Trung tâm Tin học Hành chính, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh và UBND các huyện, thành phố Huế chịu trách nhiệm thi hành quyết định này./.Nơi nhận: TM.ỦY BAN NHÂN DÂN – Như điều 3; CHỦ TỊCH– BĐH Đề án 112 Chính phủ (B/C);– Cục Kiểm tra Văn bản – Bộ Tư pháp; (Đã ký)– TVTU; – TT HĐND tỉnh; Nguyễn Xuân Lý – CT và các PCT UBND tỉnh;– VP: LĐ và các CV: TH, CN, CNTT;– Trung tâm Công báo; Trung tâm Lưu trữ;– Trung tâm Tin học Hành chính (2 bản) – Lưu VT, LT 2 ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH THỪA THIÊN HUẾ CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúcQUY CHẾ“Về việc vận hành, khai thác và quản lý các thiết bị tin học trên mạng tin họcdiện rộng của UBND tỉnh”(Ban hành kèm theo Quyết định số: 1439 /2006/QĐ-UBND ngày 06/6/2006của UBND tỉnh Thừa Thiên Huế)CHƯƠNG INHỮNG QUY ĐỊNH CHUNGĐiều 1. Phạm vi áp dụng:Quy chế này được áp dụng đối với các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh; UBND các huyện, thành phố Huế và các cơ quan, đoàn thể, tổ chức xã hội trên địa bàn tỉnh (sau đây gọi là đơn vị) tham gia kết nối vào mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh nhằm mục đích đảm bảo tính đồng bộ, an ninh, an toàn, khai thác có hiệu quả hệ thống mạng tin học diện rộng của UBND tỉnh và phục vụ tốt cho việc tin học hóa quản lý hành chính nhà nước trên địa bàn Tỉnh.Điều 2. Các thiết bị tin học, thiết bị truyền thông, phần mềm ứng dụng,

Ứng Dụng Hệ Thống Quản Lý Và Điều Hành Văn Bản Điện Tử Voffice

Nhằm tăng cường ứng dụng công nghệ thông tin trong công tác quản lý, triển khai văn bản tài liệu, từ ngày 04/10 đến ngày 17/10/2024 Bệnh viện Việt Nam – Thuỵ Điển Uông Bí đã tổ chức tập huấn hướng dẫn sử dụng hệ thống quản lý và điều hành văn bản điện tử VOFFICE cho 75 cán bộ, viên chức Bệnh viện. Trong đó có gần 20 cán bộ là các cán bộ chủ chốt, gồm Lãnh đạo Bệnh viện và trưởng, phó các phòng chức năng.

Theo đó các học viên được chia thành 4 lớp tập huấn. Giảng viên là Chuyên viên Phòng Hành chính quản trị Bệnh viện đã giới thiệu hệ thống quản lý và điều hành văn bản điện tử VOFFICE tới các học viên. Đồng thời hướng dẫn học viên truy cập vào các tài khoản đã được phân quyền để thực hành những thao tác nghiệp vụ trên hệ thống như quản lý văn bản đi, văn bản đến, tra cứu tìm kiếm văn bản…

Giảng viên hướng dẫn các học viên tại lớp Tập huấn

Giảng viên hướng dẫn các học viên tại lớp Tập huấn

Áp dụng hệ thống quản lý văn bản điện tử sẽ số hoá các văn bản giấy, giúp các đơn vị khai thác, quản lý và sử dụng văn bản hiệu quả. Qua đó, Lãnh đạo các đơn vị sẽ theo dõi được tiến độ triển khai văn bản kịp thời. Hệ thống được thiết lập hơn 130 tài khoản tương ứng với 43 khoa, phòng, trung tâm trong Bệnh viện sẽ là phương thức hữu hiệu trao đổi văn bản giữa Bộ Y tế với các đơn vị y tế trực thuộc.

Theo kế hoạch, Bệnh viện sẽ thay thế hình thức chuyển, gửi văn bản giấy sang hình thức quản lý văn bản điện tử trên hệ thống VOFFICE trong thời gian tới.

Học viên tham gia lớp Tập huấn

Học viên tham gia lớp Tập huấn

Quyết Định Ban Hành Quy Chế Thực Hiện Cơ Chế Một Cửa, Cơ Chế Một Cửa Liên Thông Tại Ban Quản Lý Khu Kinh Tế Tỉnh Kon Tum

Chương II QUY TRÌNH THỰC HIỆN CƠ CHẾ MỘT CỬA, CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG

Chương III BỘ PHẬN TIẾP NHẬN VÀ TRẢ KẾT QUẢ; TỔ CHỨC, CÁ NHÂN ĐẾN NỘP HỒ SƠ VÀ NHẬN KẾT QUẢ

Điều 7. Vị trí của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh đặt tại Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh và chịu sự quản lý, chỉ đạo của Chánh Văn phòng Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh. Điều 8. Diện tích phòng làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả Diện tích phòng làm việc tối thiểu của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả là 40m2 trở lên. Trong đó, dành khoảng 50% diện tích để bố trí nơi ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức đến giao dịch. Điều 9. Trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1. Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải bảo đảm mức tối thiểu, gồm: máy vi tính, máy photocopy, máy fax, máy in, điện thoại cố định, ghế ngồi, bàn làm việc, nước uống, quạt mát hoặc máy điều hòa nhiệt độ. 2. Các trang thiết bị của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải được bố trí, sắp xếp gọn gàng, ngăn nắp. Ghế ngồi chờ cho cá nhân, tổ chức phải được xếp thành các băng tập trung, cố định, đối diện với hướng ngồi của công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Ghế ngồi phục vụ cá nhân, tổ chức trong giao dịch với công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả phải có chiều cao phù hợp với bàn làm việc, tạo thuận lợi tối đa cho cá nhân, tổ chức trong quá trình giao dịch. Không bố trí khung kính ngăn cách giữa cá nhân, tổ chức với công chức Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả. Điều 10. Thời gian làm việc của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1. Buổi sáng từ 7 giờ đến 11 giờ, buổi chiều từ 13 giờ đến 16 giờ 30 phút từ thứ Hai đến thứ Sáu hàng tuần trừ ngày nghỉ lễ theo quy định. 2. Thời gian còn lại trong ngày làm việc, Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả sử dụng để sắp xếp, tổng hợp, bàn giao, luân chuyển hồ sơ. Điều 11. Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1. Yêu cầu a) Đội ngũ công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả đảm bảo đủ về số lượng và có chuyên môn, nghiệp vụ phù hợp đáp ứng yêu cầu công việc; b) Có phẩm chất, đạo đức tốt, tinh thần trách nhiệm và tính chuyên nghiệp cao; c) Có tác phong, thái độ chuẩn mực, có khả năng giao tiếp tốt với cá nhân, tổ chức. 2. Trách nhiệm a) Thực hiện nghiêm túc, đầy đủ quy chế hoạt động của Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả; b) Tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, tổ chức thực hiện các giao dịch hành chính; c) Hướng dẫn cá nhân, tổ chức thực hiện thủ tục hành chính đầy đủ, rõ ràng, chính xác đảm bảo cá nhân, tổ chức chỉ phải bổ sung hồ sơ một lần; d) Tiếp nhận hồ sơ hành chính của cá nhân, tổ chức theo quy định; đ) Chủ động tham mưu, đề xuất sáng kiến cải tiến việc thực hiện thủ tục hành chính; kịp thời phát hiện, kiến nghị với cơ quan, người có thẩm quyền để sửa đổi, bổ sung, thay đổi hoặc hủy bỏ, bãi bỏ các quy định về thủ tục hành chính không khả thi hoặc không phù hợp với tình hình thực tế của địa phương; e) Mặc đồng phục trong quá trình thực thi nhiệm vụ; g) Thực hiện các quy định khác của pháp luật. 3. Quyền lợi a) Được tập huấn về chuyên môn nghiệp vụ và văn hóa ứng xử, giao tiếp với cá nhân, tổ chức; b) Được hưởng chế độ hỗ trợ theo quy định. 2. Quản lý công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả a) Công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh chịu sự quản lý trực tiếp, toàn diện của Chánh Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh. b) Căn cứ vào vị trí việc làm, chỉ tiêu biên chế, khối lượng, tính chất công Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh phân công, bố trí công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả theo hình thức chuyên trách hoặc kiêm nhiệm. Điều 12. Tổ chức, cá nhân đến nộp hồ sơ, nhận kết quả tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả 1. Là người đại diện theo pháp luật của pháp nhân, tổ chức kinh tế (nếu là tổ chức) hoặc là người có trách nhiệm do pháp nhân, tổ chức kinh tế ủy quyền hoặc giao nhiệm vụ đến đến nộp hồ sơ và nhận kết quả; là người đứng tên trong hồ sơ (nếu là hộ gia đình, cá nhân, thương nhân, doanh nhân) hoặc là người được ủy quyền đến nộp hồ sơ và nhận kết quả (trừ trường hợp nộp hồ sơ và nhận kết quả qua dịch vụ bưu chính công ích). 2. Có địa chỉ cư trú rõ ràng và số điện thoại liên hệ không bị gián đoạn trong suốt thời gian tiếp nhận hồ sơ, giải quyết và trả kết quả. 3. Thực hiện nếp sống văn minh, ứng xử văn hóa trong quá trình liên hệ, nộp hồ sơ, trao đổi, chờ giải quyết, nhận kết quả. 4. Không gây mất trật tự hoặc đe dọa, xúc phạm cơ quan, tổ chức, đơn vị và cán bộ, công chức trong Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh. Không chi tiền bồi dưỡng hay quà biếu cho công chức làm việc tại Bộ phận tiếp nhận và trả kết quả, kể cả cán bộ, công chức trong Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh.

Chương IV TRÁCH NHIỆM TRIỂN KHAI CƠ CHẾ MỘT CỬA, CƠ CHẾ MỘT CỬA LIÊN THÔNG

Điều 13. Trách nhiệm của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh 1. Chủ trì, phối hợp với Sở Tư pháp tham mưu Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh công bố các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Ban Quản lý Khu kinh tế tỉnh theo quy định. 2. Tổ chức thực hiện các thủ tục hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết đã được Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh quyết định công bố và các quy định trong Quy chế phối hợp ban hành kèm theo Quyết định số 04/2024/QĐ-UBND ngày 23/01/2024 của Ủy ban nhân dân tỉnh Kon Tum và nội dung Quy chế này.

Chương V KINH PHÍ THỰC HIỆN VÀ KHEN THƯỞNG, KỶ LUẬT

Điều 14. Kinh phí thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông 1. Kinh phí thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông do ngân sách nhà nước bảo đảm, được bố trí trong dự toán ngân sách nhà nước hàng năm được cấp có thẩm quyền giao cho Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh. 2. Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh được huy động và sử dụng các nguồn lực hợp pháp khác để tăng cường thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông thuộc phạm vi quản lý. Điều 16. Khen thưởng, kỷ luật Việc khen thưởng, kỷ luật tổ chức, cá nhân trong tổ chức thực hiện cơ chế một cửa, cơ chế một cửa liên thông thực hiện theo quy định tại Điều 15 Quy chế ban hành kèm theo Quyết định số 09/2024/QĐ-TTg.

Điều 18. Tổ chức thực hiện 1. Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh chủ tri phối hợp với các phòng chuyên môn trực thuộc Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh tổ chức, triển khai thực hiện tốt Quy chế này. 3. Chánh Văn phòng Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh có trách nhiệm theo dõi, hướng dẫn, đôn đốc và định kỳ hoặc đột xuất báo cáo Trưởng ban Ban Quản lý khu kinh tế tỉnh về tình hình thực hiện Quy chế này./.

Cổng Thông Tin Điện Tử Ban Chấp Hành Đảng Bộ Tỉnh Cà Mau

Tại Hội nghị lần thứ sáu, khóa XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương đã ban hành Nghị quyết số 18-NQ/TW ngày 25-10-2024 “Một số vấn đề về tiếp tục đổi mới, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả”. Qua hơn 1 năm thực hiện Nghị quyết đã đạt kết quả khá rõ ràng và đáng trân trọng.

Thứ nhất, về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị

Tính tại thời điểm tháng 6 năm 2024, cả nước có 42 tổng cục, tăng 2 lần so với năm 2011; có 826 cục, vụ thuộc tổng cục, tăng 4,7% và có 7.280 phòng trong tổng cục, tăng 4,7% so 2011; có 750 vụ, cục và tương đương trực thuộc bộ, tăng 13,6% và 3.970 phòng trong cục, vụ và tương đương thuộc bộ, tăng 13% so với năm 2011 – Chưa tính Quân đội và Công an.

Riêng các cơ quan tham mưu, giúp việc của Trung ương tăng 23 đầu mối cấp vụ (21,9%) và 40 đầu mối cấp phòng (37,4%). Các cơ quan tham mưu giúp việc các tỉnh, thành ủy tăng 162 đầu mối cấp phòng (9,32%) và tăng 1.265 biên chế (12,12%) so với năm 2011).

Vậy mà chỉ hơn 1 năm thực hiện, tính đến cuối năm 2024, toàn hệ thống chính trị đã giảm được 3 ban chỉ đạo; 7 tổng cục và tương đương; khoảng 200 cục, vụ và tương đương; 65 sở, ban, ngành cấp tỉnh; giảm 50 lãnh đạo cấp tổng cục; trên 300 lãnh đạo cấp cục, vụ; gần 200 lãnh đạo ban, sở, ngành cấp tỉnh và tương đương, gần 10.000 lãnh đạo cấp phòng.

Cách đây hơn 20 năm, khi Đảng ta lần đầu tiên ban hành “Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đạị hóa đất nước theo Nghị quyết Trung ương 3 khóa VIII, năm 1997, cả nước có 1.351.900 cán bộ, công chức. Nghị quyết số 13-NQ/TW ngày 16-8-1999 của Ban Chấp hành Trung ương lần thứ bảy khóa VIII “Một số vấn đề về tổ chức, bộ máy của hệ thống chính trị và tiền lương, trợ cấp xã hội thuộc ngân sách nhà nước” đã đề ra mục tiêu tinh giản biên chế: “Tích cực chỉ đạo việc giảm biên chế hành chính các cơ quan đảng, nhà nước, đoàn thể, biên chế gián tiếp trong các đơn vị sự nghiệp, doanh nghiệp nhà nước với mức phấn đấu giảm khoảng 15% “[1]. Vậy mà 10 năm sau – năm 2007, cả nước có 1.976.976 cán bộ, công chức, (tăng gấp rưỡi so với năm 1997), trong đó có sự tăng lên do bổ sung cán bộ cấp cơ sở là 216.247 người, chiếm 10,9%.

Liên tục những năm sau đó, nhiều nghị quyết, kết luận… của Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị đặt ra nhiệm vụ tinh giản biên chế nhưng biên chế không những không giảm mà vẫn ngày càng tăng, thậm chí tăng rất nhanh.

Theo báo cáo của Ban Chỉ đạo Trung ương về quản lý biên chế: Tính đến ngày 1-3-2024, số người hưởng lương và phụ cấp từ ngân sách nhà nước là 3.958.760 người. Trong đó, số cán bộ, công chức là 437.067 người; số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách trong đơn vị sự nghiệp công là 2.294.251 người (chưa tính 150.246 người do các đơn vị sự nghiệp tự quyết theo cơ chế tự chủ); số hưởng lương, phụ cấp ở cấp xã và thôn, tổ dân phố 1.227.442 người, chiếm 31,01% tổng số người hưởng lương, phụ cấp từ ngân sách nhà nước; chiếm khoảng 15,9% tổng chi thường xuyên ngân sách địa phương.

Cán bộ, công chức, viên chức ở Trung ương là 279.143 người; ở cấp tỉnh, cấp huyện là 2.080.280 người; ở cấp xã là 235.627 người; ngoài ra số hợp đồng theo Nghị định 68 là 131.867 người; hợp đồng khác là 239.342 người; còn lại người hoạt động không chuyên trách ở cấp xã là 991.815 người; hội đặc thù là 686 người (chưa tính Quân đội, Công an). Như vậy, năm 2024 đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức là 2.956.669 người (tăng gấp đôi so 1997) trong khi dân số chỉ tăng 20%.

Tại thời điểm ban hành Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII), tỷ lệ cán bộ, công chức trên 1.000 dân ở nước ta còn quá cao so với các nước xung quanh: Philipin 13; Ấn Độ 16; Indonexia: 17; Đông Ti Mo 18; Xingapore : 25; Malayxia : 26; Nhật Bản 35; Trung Quốc 48; Thái Lan 51; Việt Nam là 43 (chưa kể Quân đội, công an)[2]

Vậy mà mới chỉ sau 3 năm, chủ yếu năm 2024, cả nước đã giảm hơn 132.000 người (giảm 3,54%) so với trước khi thực hiện Nghị quyết. Trong số biên chế trên, công chức, viên chức, người lao động ở Trung ương và địa phương là 81.000 người (giảm khoảng 3,3%), người hưởng lương và phụ cấp ở cấp xã là hơn 51.000 (giảm khoảng 4,02%)[3].

Nhìn lại những chặng đường gian nan của việc sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn và tinh giản biên chế những năm qua và kết quả cụ thể nêu trên mới thấy hết được những nỗ lực đáng trân trọng của các cấp ủy đảng trong “cuộc chiến” tinh giản biên chế. Có thể nói, đây là lần đầu tiên sau hơn 20 năm chủ trương tinh giản biên chế của Đảng mới được thực hiện có kết quả cụ thể: giảm được 3,54% và chắc chắn sẽ giảm được tối thiểu 10% đến năm 2024 theo mục tiêu của Nghị quyết số 39 – NQ/TW ngày 17- 4 – 2024 của Bộ Chính trị về “Tinh giản biên chế và cơ cấu lại đội ngũ cán bộ, công chức”.

Nhiều địa phương, đơn vị có những chuyển biến tích cực trong sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, như Bộ Công an, Bộ Quốc phòng, Bộ Tài chính, Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh, Quảng Ninh, Hà Giang, Lào Cai, Yên Bái, Hòa Bình, Thanh Hóa, Hà Tĩnh, Quảng Nam, Đà Nẵng, Quảng Trị, Quảng Ngãi, Phú Yên, Lâm Đồng, Long An, Bình Thuận, Đồng Tháp, Ninh Thuận, Bến Tre…

Riêng Bộ Công an đã giảm 8 tổng cục và tương đương; 55 cục, vụ và tương đương; 20 sở cảnh sát phòng cháy chữa cháy; 819 phòng và gần 1.000 đơn vị cấp đội. Bộ Quốc phòng cổ phần hóa 88 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước, chỉ còn 17 doanh nghiệp có 100% vốn nhà nước. Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh cũng hợp nhất 3 đơn vị cấp vụ; sáp nhập, điều chuyển về các vụ, viện 6 đơn vị dưới cấp vụ; giảm hơn 100 phòng, ban tại Học viện trung tâm.

Tuy vậy, cũng còn nhiều nơi, việc đổi mới, kiện toàn, sắp xếp tổ chức bộ máy của hệ thống chính trị còn chuyển biến chậm. Một mặt, do quyết tâm chính trị chưa cao, còn cầu toàn, ngại va chạm. Mặt khác, do lúng túng trong quá trình thực hiện, chưa đầu tư thỏa đáng cho công tác quan trọng này. Có những cơ quan sau khi sắp xếp lại, nhất là khi sáp nhập đã bộc lộ những bất cập về cơ chế hoạt động, phân công nhiệm vụ và sự thiếu chuẩn bị về tâm thế cũng như những điều kiện khác nên hiệu quả chưa rõ nét. Không gian, môi trường làm việc chưa thực sự đáp ứng yêu cầu đổi mới, sáng tạo. Một bộ phận cán bộ ngại đổi mới, thiếu tinh thần dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm vì lợi ích chung. Công tác tổng kết thực tiễn, nghiên cứu khoa học, phát triển lý luận mới về tổ chức xây dựng đảng chưa theo kịp với thực tiễn.

Cũng có nguyên nhân chủ quan cần khắc phục như việc rà soát, bổ sung, sửa đổi, ban hành một số văn bản hướng dẫn còn chậm và lúng túng, nội dung chưa sát với thực tiễn, thiếu tính đồng bộ, liên thông.

Thứ nhất, phải hoàn thiện các thể chế về công tác tổ chức xây dựng đảng; coi trọng công tác tuyên truyền, tạo sự đồng thuận trong cả hệ thống chính trị và trong nhân dân.

Trên cơ sở Cương lĩnh, Điều lệ, Nghị quyết Đại hội XII của Đảng, Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư đã cụ thể hóa bằng việc ban hành nhiều nghị quyết, chỉ thị, kết luận về công tác tổ chức xây dựng đảng. Cấp ủy các cấp đã chủ động cụ thể hóa thành những chương trình, nhiệm vụ cụ thể và tổ chức thực hiện. Ban Tổ chức Trung ương cũng đã kịp thời ban hành nhiều văn bản hướng dẫn thực hiện chủ trương, nghị quyết của Đảng về công tác tổ chức xây dựng đảng.

Các cấp ủy đã tích cực tuyên truyền bằng nhiều hình thức, đa dạng, phong phú trong địa phương, đơn vị, tạo sự đồng thuận của đội ngũ cán bộ, đảng viên và nhân dân trong việc thực hiện.

Thứ hai, phải thực hiện sáng tạo, thận trọng và đồng bộ trong sắp xếp tổ chức bộ máy, tinh giản biên chế.

Công tác tổ chức bao gồm nhiều khâu và giữa chúng có mối quan hệ mật thiết với nhau. Đó là việc xác định lại chức năng, nhiệm vụ, tránh chồng chéo hay bỏ sót nhiệm vụ, đến việc sắp xếp lại bộ máy tinh gọn trên cơ sở xác định vị trí việc làm, xây dựng các quy chế hoạt động, công tác nhân sự, bồi dưỡng nguồn nhân lực. Những kết quả bước đầu về sắp xếp tổ chức bộ máy tinh gọn, giảm biên chế đã cho thấy cách làm đồng bộ, khoa học thì công tác tổ chức, sắp xếp nhân sự cũng như hoạt động của tổ chức bộ máy sau sáp nhập hay thu gọn đầu mối sẽ thuận lợi.

Thứ ba, phải giữ đúng nguyên tắc của Đảng, phát huy dân chủ, đề cao trách nhiệm người đứng đầu.

Nguyên tắc Đảng thống nhất lãnh đạo công tác cán bộ và quản lý đội ngũ cán bộ trong hệ thống chính trị được cụ thể hơn. Trung ương Đảng đã xác định rõ chủ thể chính chịu trách nhiệm về công tác tổ chức, cán bộ là cấp ủy, trực tiếp là Bộ Chính trị và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Thực hiện chủ trương tinh giản biên chế cũng đồng thời gắn với trách nhiệm của người đứng đầu cơ quan, đơn vị. Bộ Chính trị đã ban hành Kết luận số 17-KL/TW ngày 11-9- 2024 “Về tình hình thực hiện biên chế, tinh giản biên chế của các tổ chức trong hệ thống chính trị năm 2024-2024, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp giai đoạn 2024-2024”. Theo đó, lần đầu tiên đã có chế tài đối với người đứng đầu có thẩm quyền: “Không đề bạt, bổ nhiệm cán bộ là người đứng đầu, cấp phó của người đứng đầu phụ trách công tác tổ chức, cán bộ không thực hiện nghiêm và không có hiệu quả Nghị quyết 39 của Trung ương tại địa phương, đơn vị mà mình phụ trách về chỉ tiêu tinh giản biên chế”. Chính vì thế, các tổ chức đảng, nhất là cấp có thẩm quyền phải chủ động, tích cực trong chỉ đạo, xây dựng kế hoạch, lộ trình và triển khai tổ chức thực hiện.

Thứ tư, cần coi trọng tổng kết thực tiễn để nhân ra diện rộng.

Vì công tác tổ chức không chỉ đối với tổ chức đảng mà đối với cả hệ thống chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền chưa có tiền lệ nên phải vừa làm, vừa rút kinh nghiệm. Những vấn đề mới và khó cần thực hiện thí điểm và coi trọng tổng kết thực tiễn, phân tích khách quan cả những việc thành công và chưa thành công để làm sáng tỏ những vấn đề lý luận và thực tiễn đặt ra. Thể chế, quy chế, quy định đều do Đảng ban hành nên cần thường xuyên bổ sung, hoàn thiện để đáp ứng với đòi hỏi của thực tiễn. Các cấp ủy đảng phải thường xuyên sâu sát cơ sở, kịp thời tháo gỡ những khó khăn, vướng mắc trong quá trình tổ chức thực hiện, không cầu toàn, không bảo thủ, thụ động, trông chờ hay cách làm đối phó.

Thứ năm, phối hợp chặt chẽ, hiệu quả giữa các cơ quan trong hệ thống chính trị về công tác tổ chức, cán bộ.

Sắp xếp lại tổ chức trong hệ thống chính trị thực chất là sắp xếp lại từng tổ chức thành viên của hệ thống chính trị trên cơ sở đổi mới tư duy về thể chế chính trị trong điều kiện Đảng cầm quyền. Từ nền kinh tế tập trung quan liêu, bao cấp và từ mô hình hệ thống chính trị thời kỳ đấu tranh giành chính quyền sang nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa trong thời kỳ hội nhập quốc tế đang là đòi hỏi cấp bách để đổi mới hệ thống chính trị.

Sự sắp xếp tổ chức sẽ tiến hành từng bước, vững chắc trên cơ sở hoàn thiện lý luận về đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng trong điều kiện duy nhất cầm quyền nên sẽ gặp nhiều cản trở ngay từ nội bộ của các thành viên của hệ thống chính trị. Những biện pháp trước mắt mang tính mệnh lệnh hành chính như yêu cầu bắt buộc giảm ít nhất 10% đến năm 2024 cũng sẽ khó tiếp tục thực thi nếu như không đổi mới một cách căn bản về mô hình tổng thể hệ thống chính trị cho phù hợp với yêu cầu, nhiệm vụ của thời kỳ đổi mới và thời đại.

Sự phối hợp đồng bộ giữa các tổ chức trong hệ thống chính trị trong thời gian qua đã góp phần tạo sự đồng thuận, tăng cường tính gắn kết trong sắp xếp tổ chức bộ máy, thể hiện ở việc nhiều tỉnh mạnh dạn thí điểm hợp nhất một số tổ chức đảng, chính quyền, mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tuy vậy, cần sớm hoàn thiện thể chế cần thiết để gắn với việc phân cấp, phân quyền với ràng buộc trách nhiệm của tập thể, cá nhân, nhất là người đứng đầu.

Thứ sáu, tăng cường sự đoàn kết, thống nhất trong nội bộ.

Đoàn kết phải dựa trên quan điểm, nguyên tắc, quy định và thực hiện đúng nguyên tắc, quy định đó, không có ngoại lệ. Do đó, cần phải tiếp tục hoàn thiện các quy định về phân cấp quản lý cán bộ theo hướng “trực tiếp, hiệu quả nhất” gắn với cơ chế kiểm soát quyền lực, chống tham nhũng, lợi ích nhóm trong công tác tổ chức, cán bộ. Giáo dục đạo đức cách mạng, phát huy tinh thần nêu gương của người đứng đầu trong công tác tổ chức, cán bộ, gắn với kiểm tra, giám sát của cơ quan kiểm tra Đảng và giám sát của mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội. Tuy vậy, cũng không lấy giáo dục, tín nhiệm thay cho kiểm tra, giám sát mà phải tiếp tục hoàn thiện cơ chế hữu hiệu kiểm soát quyền lực đối với tất cả các tổ chức, cá nhân được trao quyền lực. Nơi làm tốt, người làm tốt công tác tổ chức, cán bộ phải được bảo vệ, tôn vinh vì có thể bị rớt phiếu tín nhiệm do đụng chạm. Vì thế cần có sự phân biệt, đánh giá khách quan để khuyến khích người đứng đầu cấp ủy, cơ quan, đơn vị dám nghĩ, dám làm, dám chịu trách nhiệm và dám đột phá.

Phát huy tối đa nhân tố con người; xây dựng đội ngũ cán bộ Ngành Tổ chức xây dựng Đảng “Trung thành, trung thực, trong sáng, gương mẫu, tinh thông”.

Bên cạnh đó là có quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, hiệu quả. Có tư duy đổi mới, sáng tạo, cách tiếp cận khoa học, phù hợp; mạnh dạn tổ chức thực hiện với bước đi thận trọng, chắc chắn, không chủ quan, nóng vội; kết hợp chặt chẽ, đồng bộ, toàn diện các mặt của công tác tổ chức xây dựng đảng, việc thực hiện Nghị quyết Trung ương 6 (khóa XII) sẽ đạt mục tiêu đề ra.

[1] Đảng Cộng sản Việt Nam, Văn kiện Hội nghị lần thứ bẩy Ban Chấp hành Trung ương khóa VIII , NXB Chính trị quốc gia 1999, tr 40

[2] Nguồn số liệu của World Bank 2024

[3] Theo báo cáo sơ bộ của các cấp ủy, tổ chức đảng trực thuộc Trung ương (chưa bao gồm Công an, Quân đội) – Tài liệu Hội nghị toàn quốc Ngành Tổ chức xây dựng Đảng năm 2024

PGS, TS Nguyễn Minh Tuấn Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh (Nguồn: Tạp chí Xây dựng Đảng)

Cập nhật thông tin chi tiết về Gia Lai: Ban Hành Quy Chế Quản Lý, Vận Hành, Khai Thác, Sử Dụng Hệ Thống Một Cửa Điện Tử Và Cổng Dịch Vụ Công Của Tỉnh trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!