Xu Hướng 9/2023 # Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam # Top 9 Xem Nhiều | Bac.edu.vn

Xu Hướng 9/2023 # Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam # Top 9 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam được cập nhật mới nhất tháng 9 năm 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

ThS. Nguyễn Thị Quỳnh Anh – Trường Trung cấp Luật Buôn Ma Thuột

1. Đặt vấn đề

Điều 254 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Dịch vụ giám định là hoạt động thương mại, theo đó một thương nhân thực hiện những công việc cần thiết để xác định tình trạng thực tế của hàng hoá, kết quả cung ứng dịch vụ và những nội dung khác theo yêu cầu của khách hàng”. Định nghĩa này cho thấy, giám định thương mại là hoạt động của bên thứ ba nhằm đánh giá tình trạng thực tế của đối tượng giám định theo yêu cầu của cơ quan, tổ chức, cá nhân. Nền tảng để thực hiện việc giám định là sự kết hợp chặt chẽ giữa yếu tố con người, cơ sở vật chất, công nghệ, phương pháp tạo nên sự đánh giá chuyên nghiệp. Có thể nói, không chỉ góp phần hạn chế rủi ro trong kinh doanh, “giám định” còn góp phần giúp các cơ quan nhà nước trong công tác quản lý nhằm bảo đảm một môi trường kinh doanh an toàn, hiệu quả cho các nhà đầu tư.

Là thành viên của Tổ chức Thương mại Thế giới (WTO), Việt Nam đang không ngừng phát huy nội lực và từng bước hội nhập mạnh mẽ vào nền kinh tế quốc tế, xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật nhằm thu hút vốn đầu tư của các nhà đầu tư trong và ngoài nước. Theo đó, hoạt động giám định thương mại ngày càng phát triển. Trong phạm vi bài viết, chúng tôi đề cập tới một số quy định pháp luật về giám định thương mại còn bất cập, trên cơ sở đó đề xuất kiến nghị nhằm nâng cao vai trò của hoạt động giám định thương mại, đồng thời hướng tới việc hoàn thiện khung pháp lý về hoạt động này.

2. Một số quy định về giám định thương mại

2.1. Điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Điều 256 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Chỉ các thương nhân có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật và được cấp giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh dịch vụ giám định thương mại mới được cấp phép thực hiện dịch vụ giám định và cấp chứng thư giám định”.

Như vậy, chủ thể kinh doanh dịch vụ giám định thương mại là các thương nhân đáp ứng được các điều kiện nhất định. Cụ thể, theo quy định tại Điều 256 và Điều 257 Luật Thương mại năm 2005, để kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải đáp ứng các điều kiện sau: Là doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật; có giám định viên đủ tiêu chuẩn theo quy định; có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hóa, dịch vụ đó.

Một là, điều kiện về chủ thể: Theo quy định tại khoản 1 Điều 257 Luật Thương mại năm 2005, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải “là các doanh nghiệp được thành lập theo quy định của pháp luật”.

Khoản 1 Điều 4 Luật Doanh nghiệp năm 2005 quy định doanh nghiệp là tổ chức kinh tế có tên riêng, có tài sản, có trụ sở giao dịch ổn định, được đăng ký kinh doanh theo quy định của pháp luật nhằm mục đích thực hiện các hoạt động kinh doanh. Doanh nghiệp theo Luật Doanh nghiệp năm 2005 không phân biệt thành phần kinh tế, không phụ thuộc vào tính chất sở hữu của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp bao gồm công ty trách nhiệm hữu hạn, công ty cổ phần, công ty hợp danh và doanh nghiệp tư nhân (Điều 1 Luật Doanh nghiệp năm 2005).

Hai là, điều kiện về đội ngũ nhân sự: Khoản 2 Điều 257 và Điều 259 Luật Thương mại năm 2005 quy định doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thương mại phải có đội ngũ giám định viên đáp ứng tiêu chuẩn về mặt trình độ chuyên môn, cấp bậc và điều kiện về thâm niên công tác. Căn cứ trên cơ sở đáp ứng các điều kiện này, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thương mại ra quyết định công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm trước pháp luật về quyết định của mình(1). Điều kiện về mặt trình độ chuyên môn, cấp bậc và thâm niên công tác của giám định viên được quy định cụ thể như sau:

+ Trình độ chuyên môn: Giám định viên phải có trình độ cao đẳng hoặc đại học phù hợp với lĩnh vực giám định. Chẳng hạn trên thực tế, giám định viên trong lĩnh vực xăng dầu thường tốt nghiệp chuyên ngành an toàn hàng hải, điều khiển tàu biển, khai thác máy tàu biển hoặc công nghệ lọc hóa dầu, công nghệ hóa học,…. Đối với lĩnh vực pháp luật quy định phải có chứng chỉ chuyên môn, giám định viên cần đáp ứng điều kiện này để được công nhận và tiến hành giám định.

Với tính chất là hoạt động mang tính kỹ thuật cao, hoạt động xác định sự phù hợp để đưa ra chứng nhận, tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn của giám định viên như quy định tại Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 khá thấp. Bên cạnh đó, tiêu chí này chưa được cụ thể hóa và có cơ chế kiểm tra, đánh giá do đó sẽ không đem lại hiệu quả cao trong hoạt động chuyên môn của đội ngũ giám định viên. Trên thực tế, các cá nhân tốt nghiệp từ bất cứ chuyên ngành nào cũng có thể tham gia công tác giám định. Năng lực của giám định viên phụ thuộc vào kết quả của quá trình “học nghề” từ những cá nhân có kinh nghiệm trong lĩnh vực giám định, phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và xử lý tình huống, số liệu của mỗi cá nhân. Như vậy, xét về mặt kỹ thuật lập pháp, quy định về điều kiện trình độ chuyên môn của giám định viên không đảm bảo được tính thực thi. Xét về mặt thực tiễn, trình độ chuyên môn của giám định viên với tiêu chuẩn quy định như trên không đủ đảm bảo chất lượng của công tác giám định.

Mặc dù tiêu chuẩn về trình độ chuyên môn giám định viên trong quy định của Luật Thương mại năm 2005 không cao, trên thực tế tiêu chuẩn này vẫn không được đảm bảo. Khảo sát tại một số công ty thì giám định viên được phân hạng gồm: Giám định viên tập sự, giám định viên, giám định viên chính, nhóm trưởng (thường gọi là Team Leader), giám định viên cao cấp (chuyên gia)(2).

+ Kinh nghiệm công việc: Giám định viên phải có tối thiểu 03 (ba) năm công tác trong lĩnh vực giám định. Như vậy, sau 03 (ba) năm tập sự, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đánh giá năng lực và quyết định công nhận hay không công nhận giám định viên đối với các giám định viên tập sự.

Với khoảng thời gian 03 (ba) năm, mỗi giám định viên sẽ tích luỹ được kiến thức, kỹ năng giám định ở mức độ khác nhau phụ thuộc vào khả năng tiếp thu và tần suất công việc mà giám định viên đó tham gia thực hiện. Tuy vậy, quy định về khoảng thời gian 03 (ba) năm có thể coi là đủ đáp ứng yêu cầu. Bởi lẽ, ngoài định lượng tối thiểu về mặt thời gian công tác của giám định viên theo quy định, Giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định tùy trường hợp có thể công nhận hoặc không công nhận giám định viên và chịu trách nhiệm về quyết định của mình (Điều 259 Luật Thương mại năm 2005).

Tương tự điều kiện về chuyên môn, điều kiện về số năm kinh nghiệm làm căn cứ để công nhận giám định viên chưa được các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định tuân thủ đúng quy định pháp luật. Số năm kinh nghiệm được xác định dựa trên bản khai về quá trình công tác của mỗi giám định viên (thường gọi là chuyên viên). Thông thường, số năm kinh nghiệm được kê khai cao hơn thực tế trong trường hợp giám đốc xét thấy có thể công nhận một đối tượng nào đó là giám định viên. Mặc dù vậy, những vi phạm về thâm niên công tác rất ít khi bị phát hiện và truy cứu. Ngoại trừ trường hợp tranh chấp được đưa ra trước cơ quan nhà nước có thẩm quyền xem xét, sự vi phạm chỉ có thể bị phát hiện bởi những đoàn kiểm tra, đánh giá của khách hàng.

Ba là, khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định: Khoản 3 Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hoá, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hoá, dịch vụ đó. Đây là điều kiện cần thiết vì dịch vụ giám định thương mại là hoạt động kỹ thuật cao, đòi hỏi đội ngũ giám định viên có chuyên môn vững, kỹ năng thành thạo và cơ sở vật chất, trang thiết bị phù hợp. Quy định này góp phần tăng tính chính xác trong kết quả giám định, bảo vệ lợi ích cho khách hàng sử dụng dịch vụ này.

+ Việc xác định thế nào là “có khả năng” chưa được làm sáng tỏ. Trên thực tế, “có khả năng” được hiểu là có ban hành quy trình, phương pháp giám định dưới hình thức văn bản. Tuy nhiên, không có căn cứ nào để khẳng định việc có một hệ thống quy trình/phương pháp giám định đồng nghĩa với có khả năng thực hiện hoạt động giám định theo đúng phương pháp để mang lại hiệu quả cao.

+ Các quy trình, phương pháp giám định là văn bản hướng dẫn nghiệp vụ được ban hành bởi mỗi tổ chức giám định. Các văn bản này không có tính pháp lý(4). Bên cạnh đó, chủ thể kiểm tra, thẩm định về nội dung quy trình, phương pháp giám định cũng như cách thức kiểm tra, thẩm định này vẫn chưa được làm rõ. Như vậy, nội dung các quy trình, phương pháp giám định không được thẩm định về tính chính xác và hiệu quả.

+ Giám định thương mại được thực hiện không giới hạn trên đối tượng là hàng hóa, dịch vụ. Trong khi đó, các quy trình, phương pháp giám định – văn bản hướng dẫn nghiệp vụ được ban hành bởi mỗi tổ chức giám định – không thể bao quát được tất cả các đối tượng.

Từ các lý do trên cho thấy, quy định tại khoản 3 Điều 257 không bao quát mọi trường hợp và chỉ mang tính chung chung.

Quy định về điều kiện để thương nhân được cấp giấy phép thông hành gia nhập thị trường cung ứng dịch vụ giám định thương mại tại Điều 257 Luật Thương mại năm 2005 là điểm mới so với Luật Thương mại năm 1997. Ngoài ra, phạm vi kinh doanh dịch vụ giám định trong Luật Thương mại năm 2005 mở rộng không chỉ thực hiện trên đối tượng là hàng hóa như quy định của Luật Thương mại năm 1997, mà còn bao gồm cung ứng dịch vụ(5). Sự thay đổi này nhằm tăng cường năng lực của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, qua đó nâng cao chất lượng của hoạt động này trên thị trường. Tuy nhiên, các quy định còn chung chung, chưa có hướng dẫn cụ thể, trong khi cơ chế quản lý việc tuân thủ pháp luật khá lỏng lẻo dẫn tới hiệu quả điều chỉnh không cao.

2.2.  Giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước

Cơ quan nhà nước là khách hàng đặc biệt trong quan hệ cung ứng dịch vụ giám định thương mại. Với vai trò là chủ thể quản lý xã hội, Nhà nước phải đảm bảo cân bằng lợi ích, đảm bảo công bằng giữa các chủ thể. Xuất phát từ nền tảng lý luận này, tiêu chuẩn để doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định thực hiện giám định phục vụ quản lý nhà nước cao hơn tiêu chuẩn để được cung cấp dịch vụ giám định thương mại nói chung.

Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN ngày 13/12/2002 hướng dẫn thực hiện khoản 3 Điều 16 Nghị định 20/1999/NĐ-CP ngày 12/4/1999 về kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa (Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN) quy định điều kiện để doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định có thể thực hiện giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước như sau: Thời gian hoạt động của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định ít nhất là 18 tháng kể từ ngày được cấp giấy phép kinh doanh; có giám định viên đạt tiêu chuẩn theo quy định; có phương tiện kỹ thuật nghiệm được các chỉ tiêu quan trọng chủ yếu của loại hàng hoá đăng ký kiểm tra; có quy trình nghiệp vụ, kỹ thuật giám định phù hợp với hàng hoá cần được giám định theo trưng dụng của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; có một trong ba chứng chỉ: Chứng chỉ chứng nhận hệ thống đảm bảo chất lượng đối với hoạt động giám định phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN-ISO 9000 (thường gọi là chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng), chứng chỉ công nhận tổ chức giám định phù hợp tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO/IEC 17020:2001 đối với lĩnh vực hàng hoá đăng ký được kiểm tra (thường gọi là chứng chỉ về hệ thống quản lý chất lượng áp dụng riêng đối với tổ chức giám định), chứng chỉ công nhận phòng thử nghiệm phù hợp Tiêu chuẩn Việt Nam TCVN ISO/IEC 17025:2001 đối với phạm vi thử nghiệm các chỉ tiêu cơ bản của hàng hoá đăng ký được kiểm tra (thường gọi là chứng chỉ chứng nhận sự phù hợp của phòng thử nghiệm).

Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 2005 và Nghị định 20/2006/NĐ-CP ngày 20/02/2006 quy định chi tiết Luật Thương mại về kinh doanh dịch vụ giám định thương mại chưa đưa ra tiêu chí cụ thể về điều kiện này. Điều đó tạo ra sự lúng túng trong việc xác định tiêu chí chấp thuận một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đủ điều kiện thực hiện dịch vụ giám định theo yêu cầu của cơ quan nhà nước. Có hai quan điểm xử lý như sau: Thứ nhất, áp dụng quy định tại Thông tư số 16/2002/TT-BKHCH để có cơ sở giải quyết sự việc xảy ra trên thực tế trong thời gian chưa có hướng dẫn cụ thể; Thứ hai, không áp dụng quy định tại Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN vì thông tư này đã hết hiệu lực.

Về mặt lý luận, một văn bản hết hiệu lực thì văn bản hướng dẫn thi hành văn bản này cũng hết hiệu lực. Xử lý theo quan điểm thứ nhất sẽ trái với nguyên tắc này. Ngược lại, nếu xử lý theo quan điểm thứ hai thì không có tiêu chí để xem xét, chấp thuận một doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định đáp ứng đủ điều kiện để được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước. Bên cạnh đó, Thông tư số 16/2002/TT-BKHCN cũng không thuộc trường hợp hết hiệu lực theo quy định tại Điều 81 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 về các trường hợp hết hiệu lực của văn bản quy phạm pháp luật.

Thực tiễn hiện nay, Thông tư 16/2002/TT-BKHCN được coi là đã hết hiệu lực. Tuy nhiên, quy định về điều kiện, tiêu chuẩn để thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có thể được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước tại Thông tư này vẫn được các cơ quan nhà nước vận dụng một cách linh hoạt. Song song với thực tế này là tình trạng lúng túng của các cơ quan chức năng khi xem xét đơn đề nghị chấp thuận là tổ chức được quyền thực hiện giám định phục vụ quản lý nhà nước của các doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định.

2.3. Phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Theo đó, yếu tố lỗi được xem xét để xác định chế tài áp dụng. Trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định được phân biệt trong trường hợp lỗi vô ý và trường hợp lỗi cố ý cụ thể như sau(6):

Trường hợp lỗi cố ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng trực tiếp yêu cầu giám định.

Trường hợp lỗi vô ý, thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải trả tiền phạt cho khách hàng với mức phạt do các bên thỏa thuận nhưng không quá mười lần thù lao dịch vụ giám định.

Phạt vi phạm do chứng thư giám định có kết quả sai:

Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, phạt vi phạm chỉ được áp dụng khi trong hợp đồng có thỏa thuận về việc áp dụng hình thức chế tài này trừ một số trường hợp miễn trách nhiệm được quy định tại Điều 294 Luật Thương mại năm 2005. Tuy nhiên, khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định: “Thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của mình thì phải trả tiền phạt cho khách hàng”. Như vậy, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm trong trường hợp lỗi vô ý được hiểu là cần hay không cần sự thỏa thuận trước của các bên trong hợp đồng.

Trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định, điều kiện để áp dụng chế tài phạt vi phạm dù được giải thích là cần hay không cần yếu tố có thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này đều không thỏa đáng. Nếu không cần sự thoả thuận trước (áp dụng quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 thay vì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005), nguyên tắc chung về điều kiện áp dụng chế tài phạt vi phạm tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cần ghi nhận trường hợp ngoại lệ. Sự thừa nhận này tạo tính thống nhất, đồng bộ trong quy định của pháp luật. Ngược lại, nếu lý giải cần có sự thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 không đảm bảo được điều kiện này. Nội dung quy định thể hiện tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 sẽ khiến nhiều chủ thể cho rằng, việc thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm là không cần thiết. Khi vi phạm xảy ra, việc các bên thỏa thuận được vấn đề phạt vi phạm, thống nhất được mức phạt khi hợp đồng không quy định là rất khó khăn. Như vậy, nếu các bên không có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, có khả năng thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định sẽ không phải chịu một trách nhiệm vật chất nào trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi vô ý.

Trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi cố ý, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định phải chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại. Trường hợp này, chế tài phạt vi phạm có được áp dụng theo nguyên tắc chung được quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 không? Nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, chế tài phạt vi phạm vẫn được áp dụng đồng thời với chế tài bồi thường thiệt hại khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng về việc áp dụng chế tài phạt vi phạm thì mức phạt vi phạm được giới hạn ở mức nào? Cụ thể, mức phạt vi phạm bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí dịch vụ theo quy định tại khoản 1 Điều 266 hay không quá 8% giá trị hợp đồng bị vi phạm theo quy định tại Điều 301 Luật Thương mại năm 2005 trong khi khoản 1 Điều 266 quy định cho trường hợp vi phạm do lỗi vô ý. Ngược lại, nếu vận dụng Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 trong trường hợp lỗi cố ý thì Điều 300 Luật Thương mại năm 2005 cũng cần được vận dụng trong trường hợp lỗi vô ý để tạo tính đồng bộ, thống nhất trong hệ thống pháp luật giám định thương mại.

Trên thực tế, chế tài phạt vi phạm chỉ có thể được áp dụng khi các bên có thỏa thuận trước trong hợp đồng. Mức phạt vi phạm trong trường hợp vi phạm do lỗi vô ý cũng như trường hợp vi phạm do lỗi cố ý đều bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định.

Luật Thương mại năm 1997 quy định chế tài phạt vi phạm với mức phạt bị khống chế không quá 10 (mười) lần phí giám định trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai theo thỏa thuận của hai bên mà không phân biệt lỗi vô ý hay lỗi cố ý(7). Sự không phân biệt yếu tố lỗi tại Luật Thương mại năm 1997 xét ở góc độ nào đó là phù hợp với tư duy pháp lý thể hiện tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005. Theo quy định tại Điều 300 Luật Thương mại năm 2005, yếu tố lỗi không là một trong những căn cứ để xác định phạt vi phạm. Tuy nhiên, Điều luật này đưa ra các căn cứ miễn trách nhiệm do vi phạm hợp đồng. Như vậy, giống như pháp luật của nhiều nước trên thế giới, pháp luật thương mại Việt Nam tránh sử dụng khái niệm “lỗi” như một căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng nghĩa vụ hợp đồng. Thay vì sử dụng khái niệm này, pháp luật thương mại đưa ra căn cứ miễn trừ trách nhiệm, theo đó, bên vi phạm nghĩa vụ hợp đồng bị coi là có lỗi và phải chịu phạt vi phạm nếu không chứng minh được việc vi phạm hợp đồng là do trường hợp bất khả kháng hay trường hợp được miễn trách nhiệm theo thỏa thuận của các bên hoặc theo luật quy định. Đây là một trong những dấu hiệu cho thấy rằng, sau một thời gian đổi mới, chế định hợp đồng nước ta đã và đang bắt đầu vượt qua các thói quen và cách tư duy truyền thống để nhanh chóng hòa nhập vào quá trình toàn cầu hóa hiện nay(8). Qua đây có thể rút ra nhận xét, đối với trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai do lỗi vô ý của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, xét dưới góc độ kỹ thuật lập pháp, quy định tại khoản 1 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 dường như đã đi ngược lại với tư duy pháp lý hiện nay.

Bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

Khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 quy định thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định chịu trách nhiệm bồi thường thiệt hại trong trường hợp vi phạm pháp luật về kinh doanh dịch vụ giám định do lỗi cố ý. Trong khi đó, nguyên tắc phát sinh trách nhiệm bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 không xem lỗi là một trong những căn cứ phát sinh trách nhiệm này(9). Như đã phân tích ở phần chế tài phạt vi phạm, vượt qua tư duy truyền thống, tư duy pháp lý ngày nay không coi yếu tố lỗi là một trong những căn cứ để xác định trách nhiệm của bên không thực hiện hay thực hiện không đúng hợp đồng. Trong khoa học pháp lý, vấn đề trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức chỉ được đặt ra đối với một con người cụ thể. Trong quan hệ hợp đồng kinh doanh – thương mại, chủ thể tham gia giao kết và thực hiện hợp đồng chủ yếu là các tổ chức kinh doanh(10). Do vậy, việc xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức càng khó khăn hơn so với việc xác định yếu tố này ở cá nhân. Có thể nói, quy định tại Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 đã phù hợp với xu hướng pháp lý hiện nay. Tuy vậy, khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005, dù được giải thích là quy định áp dụng với trường hợp cụ thể, dường như đang trở lại với tư duy pháp lý truyền thống trước đây.

Theo quy định của Luật Thương mại năm 1997, nếu các bên không thỏa thuận trước về chế tài bồi thường thiệt hại trong trường hợp có vi phạm trong hoạt động giám định thì bên vi phạm chỉ phải chịu nộp tiền phạt, việc áp dụng đồng thời chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại cần có sự thỏa thuận trước của các bên(11). Trách nhiệm bồi thường thiệt hại theo quy định tại Điều 230 Luật Thương mại năm 1997 “phát sinh khi có đủ các yếu tố sau đây: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại vật chất, có mối quan hệ trực tiếp giữa hành vi vi phạm hợp đồng và thiệt hại vật chất và có lỗi của vi phạm hợp đồng”(12). Như vậy, việc áp dụng chế tài bồi thường thiệt hại theo Luật Thương mại năm 1997 cũng cần có yếu tố lỗi trong hành vi vi phạm, đồng thời còn phải có sự thỏa thuận trước về việc áp dụng chế tài này. Tuy nhiên, Luật Thương mại năm 1997 không phân chia thành lỗi cố ý hay vô ý làm căn cứ xác định mức độ trách nhiệm khi có hành vi vi phạm hợp đồng(13). Không thể xác định một cách chính xác trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của các tổ chức nên lỗi khi vi phạm hợp đồng theo quy định của Luật Thương mại năm 1997 là lỗi suy đoán.

Từ các phân tích trên cho thấy, khác với Luật Thương mại năm 1997, việc áp dụng chế tài phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai trong Luật Thương mại năm 2005 có sự phân chia yếu tố lỗi thành lỗi cố ý hay vô ý. Mặc dù sự phân biệt này có ý nghĩa đảm bảo quyền lợi của doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định hơn so với quy định tương ứng trong Luật Thương mại năm 1997. Tuy nhiên, yếu tố lỗi là một phạm trù tâm lý vì nó được biểu biện thông qua trạng thái tâm lý và mức độ nhận thức của con người đối với hành vi của họ và hậu quả của những hành vi ấy(14). Do vậy, việc chứng minh lỗi cố ý hay vô ý không mang tính tuyệt đối và khó thực hiện. Đặc biệt, đối với chủ thể là một tổ chức như tổ chức giám định, việc xác định yếu tố lỗi càng khó thực hiện một cách chính xác. Xét về mặt ý nghĩa thực tiễn, hiệu quả của việc phân định yếu tố lỗi trong căn cứ xác định trách nhiệm không cao. Về mặt kỹ thuật lập pháp, sự phân biệt yếu tố lỗi trong quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 về phạt vi phạm, bồi thường thiệt hại trong trường hợp kết quả giám định sai không rõ ràng, logic và đi ngược lại với xu hướng lập pháp được thể hiện tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005.

Vấn đề đặt ra tiếp theo là trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai. Hoạt động giám định được thực hiện khách quan, chính xác hay không phụ thuộc vào giám định viên, giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định. Yếu tố lỗi trong trường hợp kết quả giám định sai xét cho cùng thuộc về giám định viên hoặc/và giám đốc doanh nghiệp kinh doanh tổ chức giám định. Tuy nhiên, hiện nay pháp luật chỉ quy định trách nhiệm vật chất của thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định trong trường hợp kết quả giám định sai. Việc không quy định cụ thể trách nhiệm vật chất của cá nhân trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai sẽ dẫn đến tình trạng vi phạm nguyên tắc độc lập, khách quan, khoa học, chính xác không được khắc phục.

Tóm lại, về mặt lý luận, quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 đã gây ra những cách hiểu khác nhau khi áp dụng các chế tài trong kinh doanh – thương mại. Nếu xem quy định tại Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 là trường hợp ngoại lệ của quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005, thì cần có sự ghi nhận trường hợp ngoại lệ trong quy định chung về căn cứ áp dụng chế tài phạt vi phạm/bồi thường thiệt hại quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005.

3. Kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật giám định thương mại ở Việt Nam

Thứ nhất, về chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai

Việc xây dựng chế tài phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại trong trường hợp chứng thư giám định có kết quả sai cần được thực hiện trên nguyên tắc đảm bảo tính thống nhất, đồng bộ trong hệ thống pháp luật giám định thương mại nói riêng và hệ thống pháp luật nói chung. Theo đó, quy định này cần được sửa đổi theo hướng thống nhất với quy định chung về phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại được quy định tại Điều 300 và Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 và tạo cơ chế răn đe hợp lý đối với hành vi cấp chứng thư giám định có kết quả sai của doanh nghiệp làm dịch vụ giám định. Nên sửa đổi quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều 266 Luật Thương mại năm 2005 để không còn sự nhầm lẫn như phân tích ở trên. Có thể sửa đổi hai khoản này thành một khoản chung như sau:

“Trường hợp thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định cấp chứng thư giám định có kết quả sai thì phải chịu trách nhiệm trả tiền phạt và bồi thường thiệt hại phát sinh cho khách hàng theo quy định của pháp luật. Mức phạt vi phạm do các bên thỏa thuận nhưng không vượt quá mười lần thù lao dịch vụ giám định”.

Thứ hai, quy định cụ thể, chi tiết các điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại

Các quy định về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định khá chung chung, chưa được hướng dẫn cụ thể làm cho việc hiểu và áp dụng trong thực tiễn chưa thống nhất. Cụ thể là quy định về điều kiện chuyên môn của giám định viên; điều kiện có khả năng thực hiện quy trình, phương pháp giám định hàng hóa, dịch vụ theo quy định của pháp luật, tiêu chuẩn quốc tế hoặc đã được các nước áp dụng một cách phổ biến trong giám định hàng hóa, dịch vụ đó; điều kiện để thương nhân kinh doanh dịch vụ giám định có thể được yêu cầu giám định bởi cơ quan nhà nước. Sự thiếu hướng dẫn và quy định cụ thể dẫn đến nhiều lúng túng trong quá trình áp dụng cũng như hiệu quả điều chỉnh không cao.

Thứ ba, bổ sung quy định về thẻ giám định viên

Từ sự phân tích về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, chúng tôi cho rằng, cần bổ sung quy định mỗi doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định phải có mẫu thẻ giám định viên riêng biệt và cấp thẻ giám định viên cho các giám định viên được công nhận, khi các giám định viên thực hiện công tác tại hiện trường thì phải đeo thẻ do tổ chức giám định cấp. Quy định này có các ý nghĩa sau:

+ Đeo thẻ giám định viên khi thực hiện công tác giám định tại hiện trường, giám định viên sẽ ý thức hơn về trách nhiệm của mình, uy tín của tổ chức giám định. Từ đó, hoạt động của mỗi giám định viên sẽ được chú trọng hơn về tính đúng đắn. Chất lượng công tác giám định theo đó được nâng cao.

+ Quy định tổ chức giám định cấp thẻ giám định viên cho giám định viên của tổ chức mình sẽ tăng tính quy củ, chuyên nghiệp hơn trong hoạt động kinh doanh dịch vụ giám định.

Thứ tư, cần tổ chức định kỳ các kỳ thi giám định viên và cấp chứng chỉ công nhận

Từ sự phân tích về điều kiện kinh doanh dịch vụ giám định thương mại, chúng tôi kiến nghị tổ chức định kỳ các kỳ thi giám định viên dựa trên sự hệ thống hóa các điều kiện về mặt chuyên môn, kiến thức, kỹ năng. Việc công nhận giám định viên sẽ được giám đốc doanh nghiệp kinh doanh dịch vụ giám định căn cứ vào chứng chỉ được cấp khi vượt qua kỳ thi này và sự đánh giá khả năng thực hiện công việc trên thực tế của mỗi cá nhân

(1). Khoản 2 Điều 259 Luật Thương mại năm 2005.

(2). Kết quả khảo sát và phỏng vấn các chuyên gia trong lĩnh vực giám định trong 03 năm của tác giả.

(3). Khoản II Phần II Thông tư 33/1999/TT-BTM ngày 18/11/1999 hướng dẫn thực hiện Nghị định số 20/1999/NĐ-CP ngày 12/4/1999 của Chính phủ về kinh doanh dịch vụ giám định hàng hóa.

(4). Mai Tiến Dũng (2006), ” Vấn đề giám định – Vinacontrol”, http:// www.vibonline.com.vn/vi-VN/Forum/TopicDetail.aspx?TopicID=762.

(5). Điều 172 Luật Thương mại năm 1997 và Điều 254 Luật Thương mại năm 2005.

(6). Điều 266 Luật Thương mại năm 2005.

(7). Khoản 4 Điều 178 Luật Thương mại năm 1997.

(8). Lê Thị Diễm Phương (2009), Hoàn thiện chế định phạt vi phạm trong pháp luật hợp đồng thương mại Việt Nam, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 52-53.

(9). Điều 303 Luật Thương mại năm 2005 quy định trách nhiệm bồi thường thiệt hại phát sinh khi có đầy đủ các căn cứ sau: Có hành vi vi phạm hợp đồng, có thiệt hại thực tế, hành vi vi phạm hợp đồng là nguyên nhân trực tiếp gây ra thiệt hại.

(10). Nguyễn Phú Cường (2009), Bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng trong kinh doanh – thương mại, Luận văn Thạc sỹ Luật học, Trường Đại học Luật TP. Hồ Chí Minh, tr. 31.

(11). Khoản 3 Điều 379 Bộ luật Dân sự năm 1995 và Khoản 4 Điều 178 Luật Thương mại năm 1997.

(12). Trường Đại học Luật Hà Nội (2009), Giáo trình Luật Dân sự Việt Nam, Nxb. Công an nhân dân, tr. 48-51.

(13). Nguyễn Phú Cường (2009), tlđd, tr. 31.

(14). Lê Thị Diễm Phương (2009), tlđd, tr. 50.

Nguồn: http://www.moj.gov.vn (Cổng thông tin điện tử Bộ Tư pháp)

Tư Vấn Luật Thương Mại Việt Nam

I. Luật thương mại Việt Nam

Phạm vi điều chỉnh Luật thương mại theo hướng xác định hoạt động thương mại theo nghĩa rộng và đưa ra các quy định định khung cho các hoạt động này. Phạm vi cụ thể:

Hoạt động thương mại thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam;

Hoạt động thương mại thực hiện ngoài lãnh thổ Việt Nam mà các bên thoả thuận chọn áp dụng Luật Thương Mại hoặc luật nước ngoài, điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên có quy định áp dụng Luật Thương mại;

Hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi của một bên trong giao dịch với thương nhân thực hiện trên lãnh thổ Việt Nam nếu bên thực hiện hoạt động không nhằm mục đích sinh lợi đó chọn áp dụng Luật Thương mại.

II. Một số nội dung chú ý về Luật thương mại: 1. Nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại:

Luật Thương mại quy định các nguyên tắc cơ bản trong hoạt động thương mại phù hợp với nguyên tắc của Bộ Luật Dân sự cũng như thực tiễn hoạt động thương mại tại Việt Nam. Khái niệm hoạt động thương mại của Việt Nam hiện đã bao trùm các lĩnh vực thương mại hàng hoá, thương mại dịch vụ và các khía cạnh thương mại của đầu tư và sở hữu trí tuệ.

Luật Thương mại thừa nhận và thể chế những nguyên tắc như:

Nguyên tắc bình đẳng trước pháp luật của thương nhân trong hoạt động thương mại;

Tự do, tự nguyện thoả thuận trong hoạt động thương mại;

Áp dụng thói quen trong hoạt động thương mại được thiết lập giữa các bên;

Bảo vệ quyền lợi chính đáng của người tiêu dùng;

Thừa nhận giá trị pháp lý của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại…

2. Nguyên tắc áp dụng luật:

Trong mối quan hệ với Bộ luật Dân sự, Luật Thương mại được xác định là luật chuyên ngành và trong mối quan hệ với các luật quy định các hoạt động thương mại đặc thù thì Luật Thương mại được xác định là luật chung. Theo đó, các giao dịch trong phạm vi điều chỉnh của Luật thương mại tương ứng với từng phạm vi pháp luật đặc thù khác nhau thì phải tuân thủ theo quy định tương ứng của pháp luật chuyên ngành và pháp luật thương mại, dân sự.

3. Quyền và nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng mua bán hàng hóa:

Các nội dung chủ yếu của hợp đồng, chào hàng và chấp nhận chào hàng, sửa đổi, bổ sung chào hàng…đã được quy định theo pháp luật Dân sự nên Luật Thương mại không quy định, việc này bảo đảm được tính hệ thống và sự phù hợp với Bộ Luật Dân sự và pháp luật chuyên ngành.

4. Hoạt động mua bán hàng hóa:

Hàng hóa theo Luật Thương mại bao gồm tất cả các loại động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai. Luật Thương Mại cũng đưa ra quy định về việc áp dụng các biện pháp tự vệ khẩn cấp của Nhà nước phù hợp với các chuẩn mực của WTO, phương thức hoạt động xuất nhập khẩu, ghi nhãn hàng hóa và xuất xứ hàng hóa.

Về hoạt động mua bán hàng hóa trong nước:

Luật quy định thương nhân được mua bán tất cả các loại hàng hóa trừ hàng hóa cấm kinh doanh; đối với hàng hóa hạn chế kinh doanh, kinh doanh có điều kiện thì khi kinh doanh, thương nhân phải đáp ứng các điều kiện do pháp luật quy định.

Về hoạt động mua bán hàng hóa quốc tế:

Luật Thương Mại khẳng định quyền hoạt động xuất khẩu, nhập khẩu của thương nhân. Căn cứ vào điều kiện kinh tế – xã hội của từng thời kỳ và điều ước quốc tế mà Việt Nam là thành viên, Chính phủ sẽ có quy định cụ thể về những hàng hóa thuộc diện cấm xuất khẩu – nhập khẩu, những hàng hóa cần tiến hành cấp giấy phép xuất khẩu – nhập khẩu. Các quy định này được chính phủ ban hành dựa trên nguyên tắc chung của pháp luật Việt Nam và lộ trình Việt Nam cam kết gia nhập WTO.

5. Hoạt Động Cung ứng dịch vụ

Luật Thương mại không quy định cụ thể về tất cả các loại dịch vụ mà chỉ có thể quy định khung chung về thương mại dịch vụ. Theo đó, các dịch vụ trước hết phải tuân thủ quy định của luật chuyên ngành.

III. Luật sư tư vấn luật thương mại:

Căn cứ vào thực tiễn hoạt động thương mại và quy định pháp Luật Thương Mại Việt Nam, Luật sư tư vấn, hổ trợ dịch vụ pháp lý:

Tư vấn Hợp đồng mua bán hàng hóa: Tư vấn pháp lý xúc tiến thương mại:

Khuyến mại;

Trưng bày, giới thiệu hàng hoá, dịch vụ;

Hội chợ, triển lãm thương mại.

Các hoạt động trung gian thương mại:

Đại diện cho thương nhân;

Môi giới thương mại;

Uỷ thác mua bán hàng hóa;

Đại lý thương mại.

Tư vấn luật thương mại về các hoạt động cụ thể khác

Gia công trong thương mại;

Đấu giá hàng hoá;

Đấu thầu hàng hoá, dịch vụ;

Dịch vụ logistics;

Quá cảnh hàng hóa qua lãnh thổ Việt Nam và dịch vụ quá cảnh hàng hóa;

Dịch vụ giám định;

Cho thuê hàng hóa;

Nhượng quyền thương mại.

III. LIÊN HỆ LUẬT SƯ TƯ VẤN, GIẢI QUYẾT TRANH CHẤP

Địa chỉ: 12 Mạc Đỉnh Chi, Phường Đa kao, Quận 1, Thành phố Hồ Chí Minh

Tìm Hiểu Về Luật Thương Mại Việt Nam

Căn cứ vào Điều 103 và Điều 106 của Hiến pháp nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam năm 1992, được sửa đổi, bổ sung theo Nghị quyết số 51/2001 / QH10 ngày 25 tháng 12 năm 2001 của Quốc hội khóa X, kỳ họp thứ 10; Luật thương mại quy định về các hoạt động thương mại.

Lịch sử và nguyên tắc của luật thương mại Việt Nam

Dưới chế độ phong kiến, Việt Nam là một xã hội tự cung tự cấp, trong đó nông nghiệp được đánh giá cao và thương mại bị hạn chế. Thương nhân không thể tự hình thành một đẳng cấp được xã hội thừa nhận và không có tư cách pháp nhân riêng, vì vậy không có luật riêng cho họ. Các giao dịch thương mại đôi khi bị chi phối bởi luật hình sự hoặc luật hành chính của các quốc gia phong kiến. Giao dịch giữa các thương nhân được điều chỉnh phần lớn bởi các chuẩn mực đạo đức, phong tục và tập quán cũng như thói quen kinh doanh trong các bang hội và làng nghề.

Khi Việt Nam trở thành thuộc địa của Pháp ở cuối của thế kỷ 19, những ý tưởng về tự do hóa thương mại và luật thương mại châu Âu bắt đầu được phổ biến vào Việt Nam. Các quy tắc quy định các hình thức góp vốn khác nhau để thành lập các hiệp hội nghề nghiệp như hiệp hội đối tác, hiệp hội hợp tác xã tư nhân, hiệp hội cùng có lợi và hiệp hội cổ đông. Trong các phong trào cải cách quốc gia, nhiều nhà dân chủ tư sản địa phương yêu cầu khuyến khích phát triển công nghiệp và thương mại. Chịu ảnh hưởng rất lớn từ Bộ luật Thương mại của Pháp, Vua Bảo Đại, vào ngày 12 tháng 6 năm 1946, đã ban hành một lệnh ban hành Bộ luật Thương mại để áp dụng tại miền Trung Việt Nam. Đó là Bộ luật thương mại đầu tiên tại Việt Nam.

Tuy nhiên, sau vài năm triển khai Luật Thương mại năm 1997 đã bộc lộ những hạn chế và bất cập của nó, không thỏa mãn quá trình và phát triển các hoạt động thương mại thực tế trong và ngoài nước. Điều này đòi hỏi một luật thương mại mới, được xây dựng theo các nguyên tắc sau:

– Thể chế hóa các hướng dẫn và chính sách của nhà nước Việt Nam về phát triển kinh tế thị trường dưới sự quản lý của Nhà nước, tập trung vào phát triển thị trường hàng hóa và dịch vụ.

– Tôn trọng và thúc đẩy quyền tự do trong các hoạt động thương mại.

– Tuân thủ các nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự, trong đó nguyên tắc tôn trọng tự do và tự nguyện trong việc đưa ra các cam kết và thỏa thuận được xác định là nền tảng của hoạt động thương mại.

– Tuân thủ luật pháp hiện hành về thương mại, trong đó luật thương mại chi phối các nguyên tắc và thể chế chung về thương mại hàng hóa và dịch vụ.

– Tuân thủ các điều ước quốc tế về thương mại mà Việt Nam đã ký kết hoặc gia nhập, cũng như các luật lệ và thông lệ thương mại quốc tế.

– Đảm bảo tính minh bạch và nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, không cản trở các hoạt động thương mại hợp pháp trên thị trường.

Luật thương mại mới đã được Quốc hội thông qua vào ngày 14 tháng 6 năm 2005 và có hiệu lực vào ngày 1 tháng 1 năm 2006. Nó bao gồm 9 chương với 324 điều. So với Luật Thương mại năm 1997, phạm vi điều chỉnh của luật mới đã được mở rộng để không chỉ bao gồm thương mại hàng hóa mà còn cả các hoạt động cung cấp dịch vụ và các hoạt động xúc tiến thương mại.

Theo như các nguyên tắc của hoạt động thương mại, Luật Thương mại năm 1997 đã quy định một số nguyên tắc như quyền bình đẳng trước pháp luật và hợp tác trong hoạt động thương mại và bảo vệ lợi ích hợp pháp của người sản xuất và người tiêu dùng. Tuy nhiên, các điều khoản này đã không thể hiện rõ bản chất của các hoạt động thương mại và không nêu rõ đây là những nguyên tắc hay chính sách. Để khắc phục nhược điểm này, Luật Thương mại năm 2005 đã xác định lại các nguyên tắc cơ bản của hoạt động thương mại cho phù hợp với các nguyên tắc được quy định trong Bộ luật Dân sự, các hoạt động thương mại thực tế tại Việt Nam và thông lệ quốc tế. Chúng bao gồm các nguyên tắc như:

– Bình đẳng của thương nhân trước pháp luật trong hoạt động thương mại.

– Tự do và tự nguyện hợp đồng trong các hoạt động thương mại.

– Áp dụng thực tiễn trong hoạt động thương mại đã được thiết lập giữa các bên.

– Bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của người tiêu dùng.

– Công nhận tính hợp lệ của thông điệp dữ liệu trong hoạt động thương mại.

Xử lý vi phạm luật thương mại

b) Vi phạm quy định về hàng hóa, dịch vụ giao dịch trong nước, hàng hóa, dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu; tạm nhập để tái xuất, tạm xuất để tái nhập; chuyển qua cửa khẩu; quá cảnh;

c) Vi phạm quy định về thuế, hóa đơn, chứng từ, sổ kế toán, báo cáo;

d) Vi phạm quy định về giá cả hàng hóa, dịch vụ;

đ) Vi phạm các quy định về ghi nhãn hàng hóa lưu thông nội địa và xuất nhập khẩu;

f) Buôn lậu, buôn bán hàng hóa nhập lậu, hàng giả hoặc nguyên liệu, nguyên liệu để sản xuất hàng giả, hoặc kinh doanh bất hợp pháp;

g) Vi phạm các quy định về chất lượng hàng hóa và dịch vụ giao dịch trong nước, hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu, nhập khẩu;

h) Lừa dối và lừa dối khách hàng trong việc mua bán hàng hóa hoặc cung cấp dịch vụ;

i) Vi phạm các quy định về bảo vệ quyền lợi của khách hàng;

j) Vi phạm các quy định về quyền sở hữu trí tuệ đối với hàng hóa và dịch vụ giao dịch trong nước; và hàng hóa và dịch vụ xuất khẩu hoặc nhập khẩu;

k) Vi phạm quy định về xuất xứ hàng hóa;

l) Các vi phạm khác trong hoạt động thương mại theo quy định của pháp luật.

Các hình thức xử lý vi phạm pháp luật thương mại (điều 321)

1. Tùy thuộc vào tính chất, mức độ nghiêm trọng và hậu quả của vi phạm, các tổ chức và cá nhân vi phạm sẽ bị xử lý theo một trong các hình thức sau:

a) Xử phạt theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính;

2. Trong trường hợp hành vi vi phạm gây tổn hại đến lợi ích của Nhà nước hoặc quyền và lợi ích hợp pháp của các tổ chức hoặc cá nhân, thì phải bồi thường theo quy định của pháp luật.

Lời kết

Bộ luật thương mại có rất nhiều nguyên tắc và quy định riêng thành từng điều khoản rất rõ ràng, trong nội dung bài viết này chỉ là một vài ý kiến nhỏ trong bộ luật thương mại. Toàn bộ người dân Việt Nam hiện nay đang thực hiện theo bộ luật thương mại ở Việt Nam, bộ luật này đã được thông qua vào ngày 14 tháng 6 năm 2005 bởi Quốc hội Cộng hòa Xã hội Chủ nghĩa Việt Nam lần thứ XI tại kỳ họp thứ 7. Đến thời điểm hiện tại chưa có thay đổi hay sửa chữa lớn, tuy nhiên trong tương lai chúng ta chưa thể nói trước được gì.

Chế Tài Trong Thương Mại Theo Quy Định Của Luật Thương Mại

Trong quan hệ thương mại, luôn có yếu tổ rủi ro ảnh hưởng đến việc giao kết, thực hiện hợp đồng. Vì vậy, để hoạt động này diễn ra mà quyền lợi của các bên trong hợp đồng thương mại được đảm bảo, pháp luật đã quy định một loạt các loại chế tài thương mại. Để tìm hiểu rõ hơn về chế tài trong thương mại, Lawkey xin gửi tới khác hàng bài viết sau.

Chế tài thương mại là chế tài do vi phạm hợp đồng trong thương mại, xác định những hậu quả pháp lý bất lợi của bên có hành vi vi phạm hợp đồng.

Hành vi vi phạm hợp đồng trong thương mại thương mại có thể là không thực hiện hợp đồng, thực hiện không đầy đủ hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ theo thỏa thuận của các bên trong họp đồng thương mại hoặc theo quy định của pháp luật.

Chế tài thương mại luôn mang tính cưỡng chế nhà nước đối với người vi phạm pháp luật thương mại.

Chế tài này được thể hiện trong các văn bản quy phạm pháp luật.

Là hình thức trách nhiệm của một bên trong quan hệ hợp đồng trong thương mại đối với bên kia của hợp đồng, trách nhiệm của bên vi phạm đối với bên bị vi phạm nghĩa vụ hợp đồng.

Thực hiện chức năng tác động về tài sản đối với bên vi phạm, có nghĩa bên vi phạm sẽ phải gánh chịu những hậu quả bất lợi về tài sản khi có hành vi vi phạm hợp đồng.

Theo quy định của pháp luật, các chế tài thương mại được áp dụng khi mà một bên trong quan hệ hợp đồng thương mại thực hiện hành vi vi phạm hợp đồng thương mại. Đó có thể là những hành vi mà pháp luật quy định hoặc những hành vi mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng.

Các trường hợp không áp dụng chế tài thương mại

Bên vi phạm hợp đồng được miễn trách nhiệm trong các trường hợp sau đây:

– Xảy ra trường hợp miễn trách nhiệm mà các bên đã thoả thuận;

– Xảy ra sự kiện bất khả kháng;

– Hành vi vi phạm của một bên hoàn toàn do lỗi của bên kia;

– Hành vi vi phạm của một bên do thực hiện quyết định của cơ quan quản lý nhà nước có thẩm quyền mà các bên không thể biết được vào thời điểm giao kết hợp đồng.

Bên vi phạm hợp đồng sẽ có nghĩa vụ chứng minh trong các trường hợp trên.

Các loại chế tài trong thương mại

Các loại chế tài trong thương mại được quy định tại Điều 292 Luật thương mại 2005, bao gồm:

– Buộc thực hiện đúng hợp đồng.

– Buộc bồi thường thiệt hại.

– Tạm ngừng thực hiện hợp đồng.

– Đình chỉ thực hiện hợp đồng.

– Huỷ bỏ hợp đồng.

– Các biện pháp khác do các bên thoả thuận không trái với nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam, điều ước quốc tế mà Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên và tập quán thương mại quốc tế.

Điện thoại: (024) 665.65.366 Hotline: 0967.59.1128

Email: contact@lawkey.vn Facebook: LawKey

Hiệp Định Thương Mại Tự Do Việt Nam

1. EVFTA là gì

EVFTA là một Hiệp định toàn diện, chất lượng cao, cân bằng về lợi ích cho cả Việt Nam và EU, đồng thời phù hợp với các quy định của Tổ chức Thương mại thế giới (WTO).

Hiệp định gồm 17 Chương, 2 Nghị định thư và một số biên bản ghi nhớ kèm theo với các nội dung chính là: thương mại hàng hóa (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), quy tắc xuất xứ, hải quan và thuận lợi hóa thương mại, các biện pháp vệ sinh an toàn thực phẩm (SPS), các rào cản kỹ thuật trong thương mại (TBT), thương mại dịch vụ (gồm các quy định chung và cam kết mở cửa thị trường), đầu tư, phòng vệ thương mại, cạnh tranh, doanh nghiệp nhà nước, mua sắm của Chính phủ, sở hữu trí tuệ, thương mại và Phát triển bền vững, hợp tác và xây dựng năng lực, các vấn đề pháp lý-thể chế.

2. Nội dung Hiệp định EVFTA 2023

Hiệp định Thương mại Tự do Việt Nam – EU (EVFTA) gồm Lời mở đầu và 17 chương, cụ thể gồm:

– Chương 1: Mục tiêu và Định nghĩa chung

– Chương 2: Đối xử quốc gia và mở cửa thị trường đối với hàng hóa

– Chương 3: Phòng vệ Thương mại

– Chương 4: Hải quan và Thuận lợi hóa thương mại

– Chương 5: Hàng rào kỹ thuật đối với thương mại

– Chương 6: Các biện pháp an toàn thực phẩm và kiểm dịch động thực vật

– Chương 7: Các rào cản phi thuế quan đối với thương mại và đầu tư trong sản xuất năng lượng tái tạo

– Chương 8: Tự do hóa Đầu tư, Thương mại Dịch vụ và Thương mại điện tử

– Chương 9: Mua sắm công

– Chương 10: Chính sách cạnh tranh

– Chương 11: Doanh nghiệp thuộc sở hữu nhà nước, doanh nghiệp được cấp đặc quyền hoặc ưu đãi đặc biệt và doanh nghiệp độc quyền chỉ định

– Chương 12: Sở hữu trí tuệ

– Chương 13: Thương mại và Phát triển bền vững

– Chương 14: Tính minh bạch

– Chương 15: Giải quyết tranh chấp

– Chương 16: Hợp tác và nâng cao năng lực

– Chương 17: Các điều khoản về thể chế, các điều khoản chung và các điều khoản cuối cùng.

Văn bản pháp luật này thuộc lĩnh vực Thương mại được chúng tôi cập nhật và đăng tải, mời các bạn sử dụng file tải về để lưu làm tài liệu sử dụng.

Đặc Điểm Khuyến Mại Trong Luật Thương Mại

Định nghĩa : khuyến mại là hoạt động xúc tiến thương mại của thương nhân nhằm xúc tiến việc mua bán hàng hóa, cung ứng dịch vụ bằng cách dành cho khách hàng những lợi ích nhất định

Chủ thể được thực hiện hành vi khuyến mại:

– thương nhân trực tiếp tổ chức thực hiện KM hàng hóa mà mình kinh doanh

– thương nhân kinh doanh dịch vụ KM, thực hiện KM cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác theo thỏa thuận với thương nhân đó.

– Chi nhánh của Thương nhân có các quyền như thương nhân

– Văn phòng đại diện của thuơng nhân Việt Nam, của doanh nghiệp có vốn đầu tư nước ngoài tại Việt Nam và của thương nhân nước ngoài tại Việt Nam không được thực hiện hoạt động khuyến mại hoặc thuê thương nhân khác thực hiện khuyến mại tại Việt Nam cho thương nhân mà mình đại diện. (khoản 2 Điều 91 Luật Thương mại 2005)

Hàng hóa dịch vụ được khuyến mại (điều 93- LTM 2005) là hàng hóa dịch vụ được thương nhân sử dụng các hình thức KM để xúc tiến việc bán hàng hóa/ cung ứng dịch vụ đó.

– Hàng hóa được khuyến mại phải là hàng hóa dịch vụ được kinh doanh hợp pháp

hàng hóa dịch vụ phải thuộc phạm vi đăng ký kinh doanh

Hàng hóa dịch vụ dùng để KM: là hàng hóa dịch vụ thương nhân dùng để tặng thưởng cung ứng không thu tiền cho khách hàng

Hàng hóa này có thể là hàng hàng hóa, dịch vụ mà thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ khác nhưng phải là hàng hóa được kinh doanh hợp pháp

3. Các hình thức KM (điều 92 – LTM 2005)

v Đưa hàng mẫu cung ứng dịch vụ mẫu để khách hàng dùng thử không phải trả tiền

– Hàng hóa đưa cho khách hàng dùng thử là hàng hóa đang bán hoặc sẽ bán trên thị trường hình thức này không nhất thiết gắn liền với hành vi mua hay sử dụng dịch vụ của khách hàng và không bị hạn chế về số lượng, giá trị hàng mẫu, thời gian phát tặng hàng mẫu cho khách hàng

v Tặng hàng hóa cho khách hàng cung ứng dịch vụ ko thu tiền: là hình thức thương nhân dùng hàng hóa dịch vụ làm quà tặng cho khách hàng không thu tiền

– hàng hóa dịch vụ là quà tặng có thể là hàng hóa dịch vụ thương nhân đang kinh doanh hoặc hàng hóa dịch vụ của thương nhân khác

– hạn mức tối đa về giá trị quà tặng , giá trị dịch vụ tặng cho khách hàng không bị hạn chế theo đơn giá hàng hóa dịch vụ (có thể mua 1 tặng 2 hoặc mua 2 tặng 1)

– tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dịch vụ được KM

v Bán hàng cung ứng dịch vụ với giá thấp hơn giá bán hàng hóa giá cung ứng dịch vụ trước đó

– hình thức này được áp dụng trong thời gian KM đã đăng ký hoặc thông báo.

– Nếu hàng hóa dịch vụ thuộc diện Nhà nước quản lý giá thì việc KM theo hình thức này được thực hiện theo quy định của chính phủ

– mức giảm tối đa đối với hàng hóa dịch vụ được KM không được vượt quá 50% giá của hàng hóa dịch vụ đó ngay trước thời gian KM

– tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ được KM

– thời gian thực hiện giảm giá đối với một loại nhãn hiệu hàng hóa dịch vụ không được vượt quá 90 ngày/ năm. Một chương trình KM không được vượt quá 45 ngày (NĐ 37)

v Bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm theo phiếu mua hàng, phiếu sử dụng dịch vụ để khách hàng được hưởng 1 số lợi ích nhất định

Đây là hình thức KM theo đó khách hàng được sử dụng phiếu mua hàng có mệnh giá cụ thể để thanh toán cho những lần mua sau trong hệ thống bán hàng của thương nhân. Hoặc phiếu sử dụng dịch vụ miễn phí hay với giá rẻ theo điều kiện do nhà cung ứng dịch vụ đưa ra

: dịch vụ Karaoke đưa cho khách phiếu sử dụng dịch vụ với nội dung là: cầm phiếu này đến cơ sở để hát karaoke từ 23h den 05h se được tính giá rẻ hơn giá bình thường 10%

Hoặc Khách hàng mua sản phẩm của Việt tiến trên 1.000.000 sẽ được phiếu mua hàng trị giá 200.000 ở 1 lần mua hàng tiếp theo trong 1 khoảng thời gian nhất định

– Giá trị vật chất dùng để KM không được vượt quá 50% giá của đơn vị hàng hóa dịch vụ được KM trước thời gian KM

– Tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM không được vượt quá 50% tổng giá trị hàng hóa dịch vụ được KM

v Bán hàng cung ứng dịch vụ có kèm phiếu dự thi cho khách hàng để chọn người trao thưởng

– với hình thức nàykhách hàng mua hàng hoặc sử dụng dịch vụ sẽ có cơ hội tham gia 1 cuộc thi và có thể được giả thưởng hoặc không (phụ thuộc kết quả dự thi)

– tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ dùng để KM trong 1 chương trình KM không được vượt quá 50% tổng giá trị của hàng hóa dịch vụ được KM

– thương nhân thực hiện KM phải tổ chức thi và công bố giải thưởng theo thể lệ và giải thưởng đã công bố

v Bán hàng cung ứng dịch vụ kèm theo việc tham gia các chương trình mang tính may rủi (bốc thăm, cào số…)

– thương nhân thực hiện KM sẽ chủ động trong việc cơ cấu giải thưởng, số lượng giá trị giải thưởng, địa điểm trao giải thưởng…

– Trong trường hợp giá trị giải thưởng từ 100 triệu đồng trở lên, thương nhân phải thông báo cho Sở Thương mại nơi tổ chức khuyến mại chậm nhất 7 (bảy) ngày làm việc trước khi thực hiện khuyến mại

v Tổ chức chương trình khách hàng thường xuyên : việc tặng thưởng cho khách hàng căn cứ trên số lượng hoặc giá trị mua hàng hóa, dịch vụ mà khách hàng thực hiện được thể hiện dưới hình thức như thẻ khách hàng, phiếu ghi nhận việc mua hàng hóa, sử dụng dịch vụ hoặc các hình thức khác

VD : thẻ thành thành viên của siêu thị coopmark dành cho khách hàng thân thiết

v Tổ chức cho khách hàng tham gia các chương trình văn hóa văn nghệ giải trí và các sự kiện khác vì mục đích KM

VD: đoàn diễu hành mang sản phẩm đi quanh các phố chính, hay tổ chức người thuyết minh về sản phẩm tại các điểm công cộng mà khách hàng tiềm năng thường lui tới như các siêu thị, khu mua sắm

v Các hình thức khuyến mại khác nếu được cơ quan quản lý Nhà nước về thương mại chấp nhận

VD : có một số sản phẩm bột giặt có trọng lượng từ 500gr tăng lê 550gr giá không đổi…

4. Các hình thức KM bị cấm

Khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ bị hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng

Sử dụng hàng hóa, dịch vụ dùng để khuyến mại là hàng hóa, dịch vụ cấm kinh doanh; hàng hóa, dịch vụ hạn chế kinh doanh; hàng hóa chưa được phép lưu thông, dịch vụ chưa được phép cung ứng.

Khuyến mại hoặc sử dụng rượu, bia để khuyến mại cho người dưới 18 tuổi. Khuyến mại hoặc sử dụng thuốc lá, rượu có độ cồn từ 30 độ trở lên để khuyến mại dưới mọi hình thức.

Khuyến mại thiếu trung thực hoặc gây hiểu lầm về hàng hóa, dịch vụ để lừa dối khách hàng; Hứa tặng, thưởng nhưng không thực hiện hoặc thực hiện không đúng.

Khuyến mại để tiêu thụ hàng hóa kém chất lượng, làm phương hại đến môi trường, sức khỏe con người và lợi ích công cộng khác

Khuyến mại tại trường học, bệnh viện, trụ sở của cơ quan Nhà nước, tổ chức chính trị, tổ chức chính trị – xã hội, đơn vị vũ trang nhân dân.

Khuyến mại nhằm cạnh tranh không lành mạnh.

5. Kinh doanh dịch vụ KM a. Khái niệm Kinh doanh dịch vụ khuyến mại là hoạt động thương mại theo đó một thương nhân thực hiện khuyến mại cho hàng hóa, dịch vụ của thương nhân khác trên cơ sở hợp đồng” (Điều 89 LTM 2005) b. Hợp đồng dịch vụ KM

Chủ thể : cả 2 bên chủ thể trong Hợp đồng dịch vụ KM đều là thương nhân

Đối tượng HĐ : thực hiện KM theo yêu cầu của bên thuê dịch vụ

Hình thức HĐ : Hợp đồng dịch vụ khuyến mại phải được lập thành văn bản hoặc bằng hình thức khác có giá trị tương đương.” Điều 90 Luật Thương mại 2005.

: có những điều khoản như một HĐ dịch vụ và những điều khoản khác do 2 bên thỏa thuận phù hợp với nội dung công việc

Cập nhật thông tin chi tiết về Giám Định Thương Mại Trong Luật Thương Mại Việt Nam trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!