Xu Hướng 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 1+ 2 Đọc Văn: Vào Phủ Chúa Trịnh ( Trích “Thượng Kinh Kí Sự” # Top 10 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 1+ 2 Đọc Văn: Vào Phủ Chúa Trịnh ( Trích “Thượng Kinh Kí Sự” # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 1+ 2 Đọc Văn: Vào Phủ Chúa Trịnh ( Trích “Thượng Kinh Kí Sự” được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Đọc văn : VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH ( Trích “ Thượng Kinh Kí Sự”- Lê Hữu Trác ) A) MỤC TIÊU BÀI HỌC Giúp HS : Cảm nhận được giá trị hiện thực sâu sắc của đoạn trích, cuộc sống và sinh hoạt nơi Phủ chúa. Thấy được nhân cách thanh cao của tác giả qua ngòi bút kí sự chân thành , sắc sảo về cuộc sống trong Phủ Chúa Trịnh. Tiết 1 : Đọc hiểu khái quát về Tác giả, tác phẩm, đoạn trích, giải thích từ khó, tìm hiểu bố cục và thể loại. -Tiết 2 : Đọc hiểu chi tiết cảnh Phủ Chúa qua con mắt và thái độ, tâm trạng của Lê Hữu Trác. B) CHUẨN BỊ CỦA THẦY VÀ TRÒ – Chân dung Lê Hữu Trác ( phóng to ) – Cuốn Thượng kinh kí sự. HS : Chuẩn bị soạn bài, chuẩn bị trả lời các câu hỏi phần HƯỚNG DẪN HỌC BÀI. -Tìm hiểu về nghề thuốc Đông y và Hải Thượng Lãn Ông C) TIẾN TRÌNH LÊN LỚP 1) Tổ chức kiểm tra bài cũ: GV kiểm tra sự chuẩn bị sách vở của HS. 2 ) Vào bài mới: HOẠT ĐỘNG CỦA GV và HS NỘI DUNG CƠ BẢN Hoạt động 1: Hướng dẫn đọc hiểu khái quát về phần Tiểu dẫn. Chủ yếu là GV giúp HS nắm vững về Tác giả và Tác phẩm -HS đọc nhanh Tiểu dẫn SGK/tr3. – GV nêu câu hỏi: Nội dung chính của phần Tiểu dẫn gồm những ý gì ?Tóm tắt từng ý chính ? – HS lần lượt trả lời – GV giúp HS định hướng ( một vài nét chính + HS ghi lại ngắn gọn ). – GV thuyết giảng về tác giả- tác phẩm Về tác giả : LHT có cuộc sống gắn liền với quê ngoại Hương Sơn – Hà Tĩnh. Sự nghiệp Y thuật ( Bộ Hãi Thượng Y Tông Tam Lĩnh có 66 quyển soạn gần 40 năm ), nhà y học nhà văn thơ lớn. Là người khiêm tốn, nhân hậu, không thích danh lợi chỉ thích nghiên cứu y học, viết sách, mở trường dạy học. Về tác phẩm : Thượng Kinh Kí Sự ( 1783 – 1785), in phần cuối bộ Y Tông Tâm Lĩnh như 1 phụ lục ghi chép lại chuyến đi từ Hà Tĩnh -à Kinh Đô Thăng Long chữa cho Trịnh Cán. Oâng biết thế tử bệnh nan y không thể chữa của mình, càng lo sợ tai vạ và chán ghét công danh, ông trở về quê với sự hân hoan HS đọc văn bản chia bố cục + GV cho HS đọc những đoạn tiêu biểu + HS đọc, giọng chậm, trầm, khoan thai và từ tốn phù hợp tâm sự của ông. GV gọi HS phát biểu về bố cục của đoạn trích HS trả lời theo cách chia của mình đã chuẩn bị. GV : nhận xét và định hướng về bố cục.GV hướng dẫn HS làm dấu vào SGK. GV diễn giảng về bố cục đoạn trích : . Đoạn 4 : Còn lại. Nhận xét bố cục mạch lạc, kể tả theo trình tự thời gian, sự việc, chọn ngôi kể thứ 1 xưng tôi, tái hiện những điều tự người viết chứng kiến và cảm nhận. HOẠT ĐỘNG 2 : Gv hướng dẫn đọc – hiểu chi tiết đoạn trích. 1) Đọc : GV hướng dẫn cách đọc : giọng chậm rãi, từ tốn, chú ý 1 số câu thoại, lời của quan chánh đường GV đọc mẫu trước 1 đoạn và gọi HS lần lượt GV và HS cùng tìm hiểu về từ khó. Câu hỏi : Quang cảnh Phủ Chúa được tái hiện theo trình tự nào? Cảnh vật và sinh hoạt ở đây có đặc điểm gì? Hình ảnh, chi tiết nào chứng tỏ tài quan sát kĩ càng, sắc sảo của tác giả? Qua đây có thể khái quát điều gì về đời sống sinh hoạt của vua Lê thời Lê – Trịnh? -HS : Quan sát văn bản, tìm kiếm, phân tích, khái quát, phát biểu trước lớp. – GV :Nhận xét, chốt ý chính. Diễn giảng : Quang cảnh nơi Phủ Chúa được kể – tả lại từ những điều trực tiếp mắt thấy tai nghe lần đầu của tác giả nên rất cụ thể và sống động. Lần lượt theo chân của người dẫn đường, có khi cùng với quan Chánh Đường Hoàng Đình Bảo, một sủng thần của Chúa Trịnh Sâm – Đặng Thị Huệ, từ ngoài vào trong từ xa đến gần. HS ghi nhớ kiến thức – tìm dẫn chứng minh họa. GV bình giảng : Trong cảnh trên, chi tiết tả cảnh thế tử cười, khen ông già thầy thuốc lạy mình khéo à Nó vừa chân thực vừa đậm chất hài hước kín đáo. Nó không chỉ cảnh sinh hoạt giàu sang, đài các của gia đình nhà Chúa mà còn nói lên quyền uy tối thượng của đấng con trời, cháu trời và thân phận nhỏ nhoi, thấp thỏm của các thầy thuốc hầu hạ và thái độ kín đáo và khách quan của người kể. I) TÌM HIỂU KHÁI QUÁT 1) Tiểu dẫn -Tác phẩm – Kí sự : văn xuôi bằng chữ Hán , ghi lại chuyến đi từ Hà Tĩnh llên Thăng Long chữa bệnh cho Trịnh Cán. à câu chuyện chân thật ở Việt Nam từ tkỉ XVIII. II) ĐỌC – HIỂU ĐOẠN TRÍCH 1) Cảnh sinh hoạt trong Phủ Chúa qua cái nhìn và cảm nhận trực tiếp của tác giả – Quang cảnh : + Ngoài: Mấy lần cửa, vườn hoa, quanh co hành lang, điếm Hậu mã, ngôi nhà Đại đường, khach khứa, người giúp việc, bảo vệ phục dịch đi lại nườm nượp, thị vệ nghiêm trang cảnh giác. + Trong : Trướng gấm, màn là, sập vàng, ghế rồng, đèn sáp lấp lánh, hướng hoa ngào ngạt, cung nhân xúm xít, màu mằt phấn, màu áo đỏ. Sinh hoạt : Thủ tục rườm rà, nhiêu khê, ăn uống xa hoa cực kì, đầy dủ của ngon vật lạ, cảnh mọi người hầu hạ, chào lạy à Cảnh xa hoa, giàu sang tột đỉnh nhưng là khung cảnh vàng son quyền quýđầy tù hãm, thiếu sinh khí việc ăn chơi hưởng lạc của nhà Chúa đã được phơi bày. HẾT TIẾT 1 CHUYỂN SANG TIẾT 2 HOẠT ĐỘNG CỦA GV VÀ HS NỘI DUNG CẦN ĐẠT Tiếp tục tìm hiểu hoạt động 2 : 2) GV nêu câu hỏi : Phát hiện và phân tích những câu văn bày tỏ thái độ, tâm trạng của Lê Hữu Trác trên đường vào Phủ Chúa, đó là thái độ, tâm trạng như thế nào? – HS : Liệt kê, phân tích ý nghĩa – GV : Nhận xét và thuyết giảng thêm: Ngạc nhiên, khâm phục trước cảnh giàu sang phú quý tột bậc . Vốn là con quan, sinh trưởng ở chốn phồn hoa, biết quen nhiều cảnh giàu có, sang trọng, thế mà nhìn thấy cảnh ở Phủ Chúa ông cũng bất ngơ,ø ngầm thái độ bất bình, ẩn vẻ mỉa mai sự xa hoa của Chúa Trịnh. Nhận xét bài kệ của tác giả- Hãy nhận xét về nội dung, nghệ thuật, tâm trạng, thái độ của tác giả qua bài kệ. GV nhận xét bổ sung và định hướng LỜI BÌNH: Qua lời lẽ, hình ảnh miêu tả cảnh giàu sang lối ước lệ, ngợi ca, sùng kính “ Cả Trời Nam sang nhất là đây Lầu từng gác vẽ tung mây Bóng mai ánh vào rèm châu, hiên ngọc, vẹt nói vườn ngự, hương hoa,” GV nêu vấn đề gợi tìm + Qua lời đối thoại với những thầy thuốc đồng hương, thái độ của tác giả như thế nào? – HS phát biểu. – GV chốt lại, diễn giảng thêm: Câu hỏi khá đột ngột, tiếp theo là câu trả lời như giãi bày, nhũn nhẵn. Đó là thái độ không xu phụ, học đòi quyền quý, tự hào về cách sốngvà nơi sống của mình, dù giữ kẽ thận trọng nhưng vẫn có thái độ cứng cõi. GV tiếp tục định hướng và giải thích vấn đề cho HS Trong và sau khi khám bệnh hầu mạch, kê đơn cho thế tử, diến biến thái độ tâm trạng của vị lương y diễn ra như thế nào?Vì sao cụ có những suy nghĩ như vậy? Suy nghĩ đó chứng tỏ điều gì? – GV nhận xét và chốt lại những ý cơ bản. GV bình giảng: Oâng gạt bỏ sở thích cá nhân sang 1 bên “ sống theo sở nguyện ”, thẳng thắn đưa ra ý kiến và kiên trì bảo vệ quan diểm của mìnhà 1 vị thầy thuốc quê mùa nhưng tài giỏi, có nhiều kinh nghiệm chuyên môn cao, có lương tâm, đức độ, xem nhẹ danh lợi yêu thích tự do giản dị, dù bản thân có cơ hộicó cuộc sống giàu sang.Oâng gián tiếp cho thấy thái độ khônh đồng tình trước sự xa hoa của người nắm giữ trọng trách quốc gia. Ý muốn về núi của ông đối nghịch gay gắt với quan điểm của gia đình Chúa Trịnh và quan lại dưới trướng HOẠT ĐỘNG 3: GV hướng dẫn tổng kết GV nêu câu hỏi tổng kết: Câu hỏi : Đánh giá chung về nội dung và nghệ thuật ? – HS : trả lời. – GV : nhận xét và đút kết qua phần Ghi nhớ GV yêu cầu HS đọc Ghi nhớ/tr9 Gv thuyết giảng : + Nội dung : Vẽ lại bức tranh sinh hoạt về cảnh sống trong Phủ Chúa. Con người và phẩm chất của vị lương y đức độ – tài năng. + Nghệ thuật :Kể, tả trung thực. Giọng điệu thấp thoáng mỉa mai, hài hước. 2) Thái độ, tâm trạng và suy nghĩ của tác giả: Ngạc nhiên, khâm phục trước cảnh giàu sang phú quý tột bực à thái độ bất bình trước cảnh sống cực kì xa hoa Hiểu rõ căn bệnh của thế tử nên ông rơi vào mâu thuẫn : + Chữa khỏi : sợ công danh trói buộc + Hòa hoãn : sọ trái với y đức, có lỗi với ông cha. à Ý thức về nhà nho trung với nước với vua xứng danh truyền thống, trọng trách chân chính đã chiến thắng. III) TỔNG KẾT Ghi nhớ 3) Củng cố : GV hướng dẫn HS củng cố : Câu hỏi : + Quang cảnh Phủ Chúa diễn ra như thế nào? + Thái độ của tác giả trong đoạn trích ? + Nghệ thuật đoạn trích ? 4) Dặn dò : HS học bài, làm bài tập ở phần luyện tập Chuẩn bị soạn bài “ Tự Tình II ”.Theo phần hướng dẫn trong SGK.

Soạn Bài: Vào Phủ Chúa Trịnh – Ngữ Văn 11 Tập 1

I. Tác giả, tác phẩm

1. Tác giả: Lê Hữu Trác (các em tham khảo phần giới thiệu tác giả trong SGK Ngữ Văn 11 Tập 1).

2. Tác phẩm

* Xuất xứ: Văn bản Vào phủ chúa Trịnh được trích trong tác phẩm Thượng kinh kí sự (Kí sự đến kinh đô) của tác giả Lê Hữu Trác. Đoạn trích nói về việc Lê Hữu Trác lên tới kinh đô, được dẫn vào phủ chúa để bắt mạch, kê đơn cho Trịnh Cấn.

* Thể loại: Văn bản được viết bằng thể kí sự – một thể loại văn học mới xuất hiện ở thế kỉ XVIII, ghi chép những câu chuyện, những sự việc có thực và tương đối hoàn chỉnh.

II. Hướng dẫn soạn bài

Câu 1:

* Quang cảnh trong phủ chúa Trịnh được miêu tả khá tỉ mỉ từ ngoài vào trong, từ bao quát đến cụ thể.

Phải đi qua mấy lần cửa, năm sáu lần trướng gấm

Được canh giữ rất nghiêm ngặt

Cảnh trí ở đây cũng khác lạ: cây cối um tùm, chim kêu ríu rít, vườn hoa đầy sắc hương, những dãy hành lang quanh co nối tiếp nhau.

Trong phủ là những đại đồng, quyền bổng, gác tía, kiệu son, mâm vàng chén bạc

Nội cung thế tử có sập vàng, ghế rộng, nệm gấm, màn là, hương hoa ngào ngạt,…

* Cung cách sinh hoạt trong phủ chúa:

Trong phủ có nhiều loại quan và người phục địch, người giữ cửa truyền báo rộn ràng, người có việc quan đi lại như mắc cửi.

Lời lẽ nhắc đến chúa và thế tử đều phải hết sức cung kính và lễ độ.

Chúa phải có phi tần chầu chực, tác giả cũng không được nhìn thấy mặt chúa, tất cả chỉ làm theo lệnh và thông qua quan chánh đường

Thế tử mặc dù chỉ mới là một đứa bé khoảng 5 – 6 tuổi, lúc nào cũng có tới 7 – 8 thầy thuốc túc trực bên cạnh và có người hầu cận 2 bên. Khi vào xem mạch lẫn khi lui ra, người thầy thuốc đều phải cúi lạy cung kính.

* Những quan sát, ghi nhận này nói lên cách nhìn, thái độ của Lê Hữu Trác đối với cuộc sống nơi phủ chúa:

Được thể hiện trực tiếp thông qua cách quan sát, những lời nhận xét và những lời bình giá của tác giả

Câu 2:

* Những chi tiết trong đoạn trích được cho là “đắt”, có tác dụng làm nổi bật giá trị hiện thực của tác phẩm là:

Chi tiết đối lập: thế tử – một đứa bé – ngồi chễm trệ trên sập vàng cho thầy thuốc – một cụ già – quỳ lạy. Để rồi “ngài” cười và ban cho một lời khen “rất trẻ con”: Ông này lạy khéo!

Khi đọc đến chi tiết này, chắc hẳn chúng ta đều đã biết được nguyên nhân gây ra căn bệnh của thế tử Cán. Một đứa trẻ có tuổi đời còn quá nhỏ nhưng lại bị kìm kẹp nơi thâm cung thiếu sinh khí tự nhiên để sống.

Ngoài ra, truyện cũng còn nhiều chi tiết khác rất độc đáo và sắc sảo để giúp người đọc thấy được cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa Trịnh.

Câu 3:

Cách chẩn đoán và chữa bệnh của Lê Hữu Trác cùng những diễn biến tâm tư của ông khi kê đơn cho ta thấy thái độ, tâm trạng và những suy nghĩ sâu sắc của nhà văn:

Câu 4:

Bút pháp kí sự của tác giả có điểm đặc sắc:

Sự quan sát tỉ mỉ, tinh tế và sắc sảo, kết hợp với bút pháp tả cảnh sinh động

Nội dung ghi chép trung thực

Cách kể chuyện khôn khéo, lôi cuốn và hấp dẫn. Đặc biệt là những chi tiết nhỏ có tính chất tạo nên cái thần của cảnh và sự việc.

Giọng điệu thấp thoảng ý mỉa mai, hài hước.

5

/

5

(

2

bình chọn

)

Đọc Hiểu Vào Phủ Chúa Trịnh

VÀO PHỦ CHÚA TRỊNH

( Trích “Thượng kinh kí sự ” – Lê Hữu Trác)

I – GỢI DẪN

1. Lê Hữu Trác (1724 – 1791) là người làng Liêu Xá, huyện Đường Hào, phủ Thượng Hồng, trấn Hải Dương (nay thuộc huyện Yên Mĩ, Hưng Yên). Ông là danh y lỗi lạc, nhà văn tài hoa, một nho sĩ coi thường danh lợi. Khi xã hội rối ren, người người đua chen danh lợi, ông đã lánh về quê mẹ là đất Hương Sơn, Hà Tĩnh để sống cuộc đời ẩn sĩ thanh cao, làm nghề bốc thuốc chữa bệnh. Vì vậy ông tự nhận mình là Hải Thượng Lãn Ông (ông già lười đất Thượng Hồng). Với tư cách thầy thuốc, ông đã để lại cho y học rất nhiều bài thuốc quý. Với tư cách nhà văn, ông đã đưa thể kí trung đại trở thành một thể văn xuôi tự sự nghệ thuật, với cái Tôi nghệ sĩ trữ tình và bản lĩnh.

2. Kí là một thể văn xuôi tự sự khá phát triển từ thời kì văn học trung đại. Tác phẩm kí thường lấy chất liệu từ là sự thực cuộc sống. Người viết kí trung thành với sự thật, khai thác sự thật theo quan điểm cá nhân. Kí có sự kết hợp nhuần nhuyễn giữa sự thực lịch sử và cảm xúc của người viết. Một số tác phẩm kí tiêu biểu của văn học trung đại : Hoàng Lê nhất thống chí (Ngô gia văn phái), Thượng kinh kí sự (Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác), Vũ trung tuỳ bút (Phạm Đình Hổ), Công dư tiệp kí (Vũ Phương Đề), Đại Việt sử kí toàn thư (Ngô Sĩ Liên), Dư địa chí (Nguyễn Trãi), Nam triều công nghiệp diễn chí (Nguyễn Khoa Chiêm), Nhị Thanh động kí sự (Ngô Thời Sĩ)…

3. Thượng kinh kí sự là tập kí sự viết bằng chữ Hán của Lê Hữu Trác, ghi lại chuyện tác giả lên kinh đô chữa bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm từ ngày 12 tháng Giêng năm Nhâm Dần (1782) đến ngày trở về Hương Sơn mùng 2 tháng 11 năm đó.

Tác giả đang sống cuộc sống ẩn dật ở quê mẹ (Hương Sơn, Hà Tĩnh) thì bỗng có chỉ triệu ra kinh chữa bệnh cho cha con Trịnh Sâm. Tác giả miễn cưỡng lên kinh. Ông đã ghi lại cảnh sắc thiên nhiên đất nước và cả những tâm sự của bản thân trên đường đi. Đến kinh, vào khám bệnh, tác giả đã ghi lại tỉ mỉ quang cảnh kinh đô và cảnh trong phủ chúa. Ông cũng ghi lại những cuộc gặp gỡ giao du của mình với công khanh nho sĩ chốn kinh thành. Ở kinh đô, ông luôn thương nhớ và mong trở về quê hương. Cuối cùng, ông lên đường trở về quê nhà với tâm trạng hân hoan, ung dung. Về đến nhà được vài ngày, ông nhận được tin phủ chúa đã bị kiêu binh nổi loạn tràn vào phá phách, quan Chánh đường Hoàng Đình Bảo oai phong là thế đã bị kiêu binh giết chết.

Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh ghi lại chi tiết việc tác giả vào phủ và khám bệnh cho thế tử ngày 1 tháng 2 năm 1782.

4. Đọc phần văn bằng giọng trần thuật. Phần bài thơ đọc chậm, nhấn giọng ngân nga.

II – KIẾN THỨC CƠ BẢN

Cuối thế kỉ XVII, đầu thế kỉ XVIII, các vua Lê mải ăn chơi hưởng thụ, tinh thần bạc nhược, không đủ sức lo việc đất nước. Cuộc sống của nhân dân vô cùng khổ cực, nạn quan tham nổi lên khắp nơi. Họ Trịnh đã nổi lên lấn át vua Lê, biến vua Lê thành bù nhìn. Bên cạnh triều đình bù nhìn của nhà Lê là phủ chúa đầy uy quyền. Cung vua phủ chúa đã song hành tồn tại. Kinh thành một lúc tồn tại hai hoàng cung. Quyền lực của chúa Trịnh lấn át vua Lê. Đất nước luôn đứng trước nguy cơ nội chiến. Nhân dân một lúc còng lưng cung tiến phục dịch hai triều đình. Hiện thực rối ren và suy đồi luân lí ấy đã khiến nhiều nhà nho biết suy nghĩ, có tự trọng rút lui vào ở ẩn. Họ tìm đến chốn thâm sơn cùng cốc, chốn nhà quê thanh tịnh để sống cuộc sống ẩn dật, lánh đời. Nhưng dù ở đâu những nho sĩ đầy lòng tự trọng ấy vẫn không gạt bỏ mọi nỗi đời, họ vẫn luôn hướng lòng mình và căng tai mình để nghe những âm thanh vang vọng của cuộc sống lầm than của người lao động. Và họ đã gửi gắm tâm sự trong những dòng thơ, những trang văn đầy trăn trở. Đó là một trong những lí do làm cho văn học Việt Nam giai đoạn này phát triển rực rỡ với sự ra đời của nhiều tác phẩm văn học có giá trị nghệ thuật cao và chứa đầy giá trị nhân văn.

Hải Thượng Lãn Ông Lê Hữu Trác là một trong những nhà nho nặng lòng với đất nước. Ông đã luôn cố gắng vận hết sức mình để giúp đời. Ông học võ, luyện văn rồi lại dồn tâm huyết cho nghề thuốc. Sự cố gắng ấy của ông đã để lại cho đời những sản phẩm thật đáng trân trọng. Đó là những bài thuốc hay, những trang văn luôn căng đầy nhiệt huyết và hơn hết đó là một nhân cách cao quý của một con người. Với tập kí Thượng kinh kí sự, Lê Hữu Trác đã thể hiện tài năng của mình với nhiều tư cách : thầy thuốc, nhà sử học và nhà văn. Với tư cách là nhà văn, ông đã đưa thể văn xuôi tự sự trung đại lên một tầm cao mới. Đoạn trích Vào phủ chúa Trịnh là một đoạn trích đặc sắc, tiêu biểu của tác phẩm. Nó cũng đã thể hiện khá đầy đủ những nét riêng trong cách viết kí của Lê Hữu Trác.

Đoạn trích đã tái hiện chi tiết và cụ thể hành trình tác giả vào phủ chúa để khám bệnh cho thế tử. Thế nhưng nội dung kể chuyện không đơn giản là tường thuật một cuộc khám bệnh. Ẩn đằng sau lời kể chuyện rất tự nhiên và có vẻ khách quan ấy là rất nhiều điều mà người đọc có thể thu nhận và khám phá.

Thứ nhất, người đọc hình dung được trình tự một cuộc bắt mạch và kê thuốc của một thầy thuốc đối với một bệnh nhân đặc biệt, vị thế tử nhỏ tuổi của phủ chúa.

Thứ hai, người đọc hình dung được một phủ chúa sang trọng, xa hoa và đầy uy quyền. Đó không phải là một phủ chúa mà là một hoàng cung. Từ đó, người đọc phần nào nhận ra được bộ mặt xã hội phong kiến Việt Nam thời kì vua Lê chúa Trịnh.

Thứ ba, người đọc thấy được một thầy thuốc, một người kể chuyện có một phong thái rất ung dung mặc dù ngôn ngữ kể chuyện, ngôn ngữ đối thoại của ông rất khách quan và đúng mực một kẻ bề tôi.

Tất cả những điều trên, có lẽ đều nhằm vào một mục đích duy nhất, mục đích cuối cùng và mục đích nghệ thuật sâu xa của nhà văn : đó là thể hiện thái độ của mình đối với “triều đình” phủ chúa.

Vốn con nhà quan lại nên cũng không mấy lạ lẫm với cảnh xa hoa của hoàng cung, vậy mà khi được triệu vào phủ chúa, tác giả đã không khỏi ngỡ ngàng trước cảnh lộng lẫy nơi đây. Mặc dù bị mời đi vội vã, ngồi trên chiếc cáng “chạy như ngựa lồng”, “bị xóc một mẻ, khổ không nói hết” nhưng bước chân vào phủ, ông vẫn có đủ thời gian để quan sát, để ngạc nhiên.

Có bao nhiêu sự làm ông thầy thuốc ẩn sĩ vừa từ Hương Sơn ra kinh thành, dù “vốn con quan, sinh trưởng, chốn phồn hoa, chỗ nào trong cấm thành mình cũng đã từng biết” vẫn phải ngạc nhiên. Cảnh thì đẹp như chốn “đào nguyên”, người đi lại phục vụ nhà chúa đông như mắc cửi, vào đến chỗ ở của thế tử thì phải qua bao nhiêu lần cửa. Nơi thế tử “dùng trà” (uống thuốc) cũng là gác tía với cột và đồ nghi trượng đều sơn son thếp vàng. Phòng ở của thế tử thì ngào ngạt hương hoa. Một cậu bé năm sáu tuổi sống như bậc đế vương. Trịnh Cán là con trai của Trịnh Sâm với Tuyên phi Đặng Thị Huệ (người thiếp yêu của chúa Trịnh Sâm). Căn nguyên căn bệnh của thế tử chính là sự quá xa hoa và thừa thãi.

Nhìn bề ngoài, cách nói, cách tiếp đón, các nghi lễ, người hầu… có vẻ như chúa Trịnh Sâm có một uy quyền thật lớn, phủ chúa thật mạnh, thật nghiêm trang. Thế nhưng, tất cả chỉ là một vở chèo hài hước. Đã có rất nhiều cái chệch choạc, uể oải, nhốn nháo và bệnh hoạn trong phủ chúa. Sự rệu rạo của nhà Trịnh thể hiện ở hình ảnh bệnh hoạn của Đông cung thế tử, người đã được chọn để nối ngôi chúa.

III – LIÊN HỆ

Qua Thượng kinh kí sự, có thể thấy rõ tính cách của Lê Hữu Trác, một người coi khinh bả danh lợi. Ông muốn làm việc gì có ý nghĩa và ông đã quyết tâm đi vào con đường làm thuốc, chữa bệnh, “quyết dựng lên một lá cờ đỏ trong y giới”. Lê Hữu Trác là một nhà y học nổi tiếng, qua Thượng kinh kí sự còn thấy ông là một nhà văn có tâm hồn, giàu cảm xúc trước thiên nhiên tạo vật. Những bài thơ của ông viết về thiên nhiên trong Thượng kinh kí sự hết sức trữ tình. Thượng kinh kí sự còn có giá trị đặc biệt ở những trang miêu tả cuộc sống trong phủ chúa. Ngòi bút của tác giả kín đáo và tinh tế. Ông có vẻ không phê phán một cái gì cả ; nhưng những điều được ông nói lên một cách chính xác, tự nó lại có ý nghĩa phê phán sâu sắc. Hình ảnh phủ chúa Trịnh hiện lên trong tác phẩm của ông với những cung điện kiêu xa, cầu kì, với những con người từ chúa Trịnh Sâm, ông quan đầu triều Hoàng Đình Bảo ( ? – 1786) đến đám công khanh quan lại… tất cả như vô nghĩa, tật bệnh, không thấy một người nào có năng lực, bản lĩnh. Họ đi đứng trịnh trọng, nói năng kiểu cách, làm thuốc, làm thơ cái gì cũng có vẻ biết, nhưng không biết cái gì đến nơi đến chốn. Cuối tác phẩm, tác giả nói Trịnh Sâm chết vì mắc một trong tứ chứng nan y. Không khí phủ chúa vẫn cứ âm u bằng lặng như thế, chưa thấy mầm mống của những đổi thay. Cái bằng lặng ấy gây cho người đọc cảm giác nặng nề, khó chịu, đến nỗi không chịu đựng được mà muốn thét to lên cho nó vỡ tan đi. Và với cái tin “cả nhà quan Chánh đường bị hại”, tác giả viết như muốn tổng kết lịch sử : “Than ôi ! giàu sang như đám mây bay. Đền vũ tạ, thú ca lâu phút chốc thành nơi hoang phế”. Thượng kinh kí sự là một tác phẩm kí sự bằng chữ Hán rất có giá trị trong văn học Việt Nam thế kỉ XVIII.

(Nguyễn Lộc, Từ điển văn học, NXB Văn học, 1986)

Tóm Tắt Vào Phủ Chúa Trịnh Lớp 11

Từ lâu cung đình của vua chúa được xem là nơi sang trọng, phần hoa bậc nhất của các vị vua, chúa. Có rất nhiều tác phẩm đã được ghi chép lại một trong số đó phải kể đến Vào phủ chúa Trịnh của Lê Hữu Trác. Bài tóm tắt vào phủ chúa Trịnh sẽ giúp hiểu hơn về nơi sang trọng bậc nhất của nhân gian và thái độ của nhân vật đối với quyền lực và địa vị trong xã hội lúc bấy giờ. Đây là bài tóm tắt của tác giả chắc chắn sẽ là tư liệu quan trọng dành cho học sinh lớp 11 tham khảo.

Lê Hữu Trác (1724 – 1791) hiệu là Hải Thượng Lãn Ông, người trấn Hải Dương, nay thuộc tỉnh Hưng Yên. Là một danh y, ông không chỉ chữa bệnh mà còn soạn sách và mở trường dạy học về nghề thuốc để truyền bá y học. Bộ “Hải thượng y tông tâm lĩnh”, là một công trình về nghiên cứu y học xuất sắc nhất của ông. Tác phẩm ghi chép lại những cảm xúc một cách chân thật nhất của ông trên mọi nẻo đường ở mọi miền quê ông đi khám bệnh.

-Về thể kí sự: là một thể kí ghi lại sự việc, câu chuyện một có thật một cách chân thực và tương đối hoàn chỉnh.

– Thượng kinh kí sự (kí sự đến kinh đô) là quyển cuối cùng nằm trong bộ “Hải thượng y tông tâm lĩnh”, được viết bằng chữ Hán và hoàn thành năm 1783. Thượng kinh kí sự tả quang cảnh ở kinh đô, đặc biệt là cuộc sống xa hoa và những quyền uy của vua chúa trong phủ chúa Trịnh. Đó đều là những điều mắt thấy tai nghe của Lê Hữu Trác trên đường từ Hương Sơn ra Thăng Long để khám bệnh cho thế tử Trịnh Cán và chúa Trịnh Sâm. Tác phẩm kết thúc với việc Lê Hữu Trác về lại với quê nhà tiếp tục cống hiến cho y thuật và sống một cuộc sống tự do, tự tại.

– Vào phủ chúa Trịnh được rút từ quyển Thượng kinh kí sự.

Tác phẩm được chia thành hai phần:

-Phần 1: Từ đầu đến “để tôi xem mạch Đông cung cho thật kĩ” – Cuộc sống xa hoa nơi phủ chúa

+ Quang cảnh nơi phủ chúa cực kì xa hoa, lộng lẫy và trang trọng không đâu sánh bằng

+ Cuộc sống sinh hoạt nơi phủ chúa nhiều lễ nghi và khuôn phép, người hầu thì tấp nập thể hiện sự sang trọng, quyền uy tột đỉnh.

-Phần 2: Còn lại – Quá trình tác giả bắt mạch, kê đơn và suy nghĩ của mình.

+ Thái độ của tác giả khi vào phủ thì rất ngạc nhiên trước khung cảnh và tỏ ra dưng dửng với vật chất xa hoa

+ Khi bắt mạch thì rất hồi hộp, căng thẳng và tỏ thái độ tôn kính.

+ Thể hiện phẩm chất của người làm y có tâm và đức độ, khinh thường quyền uy và danh vọng.

Tóm tắt Vào phủ chúa trịnh

Nhân vật trong câu chuyện là Lê Hữu Trác, thầy lang giỏi. Ông có lệnh vào phủ chúa Trịnh để chữa bệnh, ông đi vào chốn phồn hoa, vốn là quan trong triều đình nhưng khi thấy cảnh giàu sang, sung sướng, phồn hoa của vua chúa Trịnh cũng lấy làm ngạc nhiên. Sau khi trải qua nhiều lớp cửa ông cũng đến được nơi chúa ở, phòng chúa ở rất đặc biệt được sơn son thếp vàng, đều là những đồ quý giá mà nhân gian chưa từng thấy. Trong khi chờ đợi chúa, ông được ăn những đồ ngon vật lạ hiếm có trên đời, qua đó biết được khẩu vị của những bậc quyền quý. Ông có nhiệm vụ bắt mạch, tìm bệnh cho thế tử, nhận thấy bệnh của thế tử xuất phát từ chúa thường ở chốn màn che trướng phủ, ăn sướng, mặc ấm phủ tạng yếu, bệnh đã lâu nên trầm trọng. Vì nghĩ đến nước nhà, lòng trung thành đối với đất nước ông đã kê đơn thuốc giúp thế tử chữa trị bệnh. Sau khi hoàn thành công việc khám bệnh, ông từ giã trở về đợi thánh chỉ.

Giá trị nội dung

Thông qua tài quan sát và ngòi bút ghi chép sự thật một cách chân thực, tinh tế của mình, Lê Hữu Trác đã làm hiện lên bức tranh cuộc sống sinh động về sự xa hoa của phủ chúa Trịnh. Bằng sự chân thực tác giả cho thấy sự đối lập của cuộc sống trong phủ với cuộc sống bình thường ngoài kia. Trên chặng đường chữa bệnh của ông gặp biết bao cuộc sống khó khăn thì đây đích thực là cuộc sống quyền uy, cao sang nhất mà ông từng gặp. Qua đó, cũng thể hiện được phẩm chất của một Hải thượng lãn ông, đức độ, có cốt cách của một danh y có lương tâm.

Giá trị nghệ thuật

Đoạn trích thể hiện những đặc sắc trong nghệ thuật của một tay kí:

– Sử dụng nhuần nhuyễn thể loại kí bằng tài quan sát tinh tế, nhạy bén của mình. Việc ghi chép tỉ mỉ, sinh động đến từng chi tiết làm cho câu chuyện thêm phần chân thực và lôi cuốn.

-Tính chất trữ tình được thể hiện rõ qua việc kết hợp độc đáo giữa văn xuôi và thơ ca.

-Sử dụng kết hợp với nhiều phương thức biểu đạt khác nhau từ tự sự, miêu tả đến biểu cảm làm tính chất khách quan được thể hiện rõ nét. Đồng thời cũng là những cảm xúc, suy nghĩ của giác giả được bộc lộ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Giáo Án Ngữ Văn 11 Tiết 1+ 2 Đọc Văn: Vào Phủ Chúa Trịnh ( Trích “Thượng Kinh Kí Sự” trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!