Xu Hướng 2/2024 # Góc Nhìn So Sánh Pháp Luật Thương Mại Và Pháp Luật Dân Sự # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Góc Nhìn So Sánh Pháp Luật Thương Mại Và Pháp Luật Dân Sự được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

1. Về bán đấu giá

Cả đấu giá hàng hóa và bán đấu giá tài sản đều yêu cầu tính công khai trong quá trình tiến hành bán hàng hoặc tài sản được đưa ra đấu giá, với kỳ vọng của người chủ sở hữu hàng hóa hoặc tài sản là chọn được người mua, người trả giá cao nhất.

Pháp luật thương mại đã đưa ra hai phương thức để người chủ sở hữu hàng hóa đứng ra tổ chức bán hoặc người tổ chức đấu giá theo sự ủy quyền của người chủ sở hữu hàng hóa lựa chọn, đó là:

(i) Phương thức trả giá lên là phương thức bán đấu giá, theo đó người trả giá cao nhất so với giá khởi điểm là người có quyền mua hàng;

(ii) Phương thức đặt giá xuống là phương thức bán đấu giá, theo đó người đầu tiên chấp nhận ngay mức giá khởi điểm hoặc mức giá được hạ thấp hơn mức giá khởi điểm là người có quyền mua hàng(3).

Như vậy, khác với phương thức trả giá trong pháp luật dân sự chỉ quy định duy nhất là phương thức trả giá lên, trong pháp luật thương mại còn quy định phương thức đặt giá xuống. Thoạt nhìn tưởng chừng có sự khác biệt, song về bản chất, xét dưới góc độ sự kỳ vọng của người chủ sở hữu bán hàng hóa hay người đấu giá tài sản thì cùng gặp nhau ở điểm hàng hóa, tài sản của họ được bán ra với giá cao nhất, cho dù áp dụng phương pháp nào.

2. Về tài sản đưa ra bán đấu giá

Theo pháp luật thương mại thì tài sản đưa ra bán đấu giá là hàng hóa, bao gồm tất cả động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai và những vật gắn liền với đất đai(5).

Theo pháp luật dân sự, thì tài sản bán đấu giá là động sản, bất động sản, giấy tờ có giá và các quyền tài sản được phép giao dịch theo quy định của pháp luật, cụ thể như sau: (i) Tài sản để thi hành án theo quy định của pháp luật về thi hành án(6); (ii) Tài sản là tang vật, phương tiện vi phạm hành chính bị tịch thu sung quỹ nhà nước theo quy định của pháp luật về xử lý vi phạm hành chính; (iii) Tài sản bảo đảm trong trường hợp pháp luật về giao dịch bảo đảm quy định phải xử lý bằng bán đấu giá; (iv) Tài sản nhà nước được xử lý bằng bán đấu giá theo quy định của pháp luật về quản lý, sử dụng tài sản nhà nước; tài sản là quyền sử dụng đất trong trường hợp Nhà nước giao đất có thu tiền sử dụng đất hoặc cho thuê đất được bán đấu giá theo quyết định của cơ quan nhà nước có thẩm quyền; (v) Các tài sản khác phải bán đấu giá theo quy định của pháp luật(7).

Mặc dù, hàng hóa được đưa ra đấu giá trong pháp luật thương mại chỉ nhấn mạnh đến động sản, kể cả động sản hình thành trong tương lai; tuy nhiên, với cách quy định trong cụm từ: “những vật gắn liền với đất đai” đã hàm ý cả hàng hóa là bất động sản. Còn trong Nghị định số 17, thì các loại tài sản được đưa ra bán đấu giá cũng bao gồm cả động sản và bất động sản như trong pháp luật thương mại, nhưng đa dạng hơn về loại hình tài sản và chỉ là những tài sản hiện hữu, tồn tại có thực ngay tại thời điểm tổ chức đấu giá, không bao gồm các loại tài sản hình thành trong tương lai.

3. Về người tổ chức đấu giá

Pháp luật thương mại quy định chủ sở hữu hàng hóa có thể tự đứng ra tổ chức đấu giá hàng hóa. Lúc này, người tổ chức đấu giá và người bán hàng là một hoặc thuê người tổ chức đấu giá thực hiện việc bán hàng hoá công khai là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá(8).

Trong khi đó, người có tài sản bán đấu giá trong pháp luật dân sự, ngoài chủ sở hữu tài sản, người được chủ sở hữu ủy quyền bán tài sản, còn có người có trách nhiệm chuyển giao tài sản để bán đấu giá hoặc cá nhân, tổ chức có quyền bán tài sản của người khác theo quy định của pháp luật(9), nghĩa là chủ thể đa dạng hơn, ngoài cá nhân, tổ chức lựa chọn tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để bán tài sản thuộc sở hữu của mình, còn có chủ thể đặc biệt là các cơ quan hành chính nhà nước địa phương, cơ quan thi hành án… Người tổ chức đấu giá tài sản có thể là các trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập, doanh nghiệp bán đấu giá tài sản, doanh nghiệp hoạt động đa ngành nghề có kinh doanh dịch vụ bán đấu giá tài sản hoạt động theo pháp luật doanh nghiệp hoặc là hội đồng bán đấu giá tài sản do Chủ tịch ủy ban nhân dân cấp huyện quyết định thành lập(10).

Nếu như thương nhân kinh doanh dịch vụ đấu giá không bị ràng buộc, yêu cầu về chuyên môn nghiệp vụ đấu giá, thì Giám đốc Trung tâm dịch vụ bán đấu giá tài sản, người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp bán đấu giá tài sản phải là đấu giá viên, tức là người được cấp chứng chỉ hành nghề đấu giá(11); còn đối với hội đồng bán đấu giá tài sản phải ký hợp đồng với tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp để tổ chức này cử đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá tài sản của hội đồng, trừ hội đồng bán đấu giá tài sản trong trường hợp đặc biệt được thành lập để bán đấu giá tài sản nhà nước, tài sản là quyền sử dụng đất có giá trị lớn, phức tạp hoặc trong trường hợp không thuê được tổ chức bán đấu giá chuyên nghiệp thực hiện việc bán đấu giá(12).

Qua đó, có thể thấy rằng, yêu cầu về tổ chức đấu giá trong pháp luật dân sự chặt chẽ hơn, có lẽ do tài sản được đưa ra đấu giá chủ yếu là tài sản của nhà nước (như quyền sử dụng đất) hoặc là tài sản nhà nước tịch thu của các cá nhân, tổ chức vi phạm hành chính, tài sản phải thi hành án,… Trong khi đó, quyền quyết định trong đấu giá hàng hóa thuộc về người chủ sở hữu hoặc thương nhân được ủy quyền tổ chức đấu giá hay nói cách khác, trong đấu giá tài sản mang dấu ấn của “pháp luật công”, còn đấu giá hàng hóa mang tính chất của “pháp luật tư”. Chính vì thế mà một số quy định sẽ được nêu ở phần sau cũng có sự khác biệt theo lý do này.

4. Về thông báo, niêm yết đấu giá

Pháp luật thương mại phân biệt hai trường hợp để xác định thời hạn ra thông báo, niêm yết đấu giá hàng hóa: (i) Nếu người tổ chức đấu giá là thương nhân có đăng ký kinh doanh dịch vụ đấu giá thì thời hạn niêm yết việc bán đấu giá là bảy ngày làm việc trước khi bán đấu giá hàng hóa tại nơi tổ chức đấu giá, nơi trưng bày hàng hóa và nơi đặt trụ sở của người tổ chức đấu giá; (ii) Nếu người tổ chức đấu giá là người bán hàng thì thời hạn niêm yết đấu giá hàng hóa do người bán hàng tự quyết định; tất nhiên phải tiến hành trước khi bán đấu giá hàng hóa. Về địa điểm niêm yết, pháp luật không quy định bắt buộc cụ thể trong trường hợp này(13).

Trong việc niêm yết, thông báo công khai việc bán đấu giá tài sản, pháp luật dân sự cũng chia ra các trường hợp, nhưng tiêu chí để phân biệt chủ yếu được dựa vào bất động sản, động sản, giá trị động sản cũng như phụ thuộc vào ý chí của người có tài sản, cụ thể như sau:

Đối với bất động sản, tổ chức bán đấu giá tài sản phải niêm yết việc bán đấu giá tài sản tại nơi bán đấu giá, nơi có bất động sản bán đấu giá và ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn nơi có bất động sản bán đấu giá chậm nhất là ba mươi ngày trước ngày mở cuộc bán đấu giá, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

Đối với tài sản thuộc sở hữu của cá nhân, tổ chức, thời hạn niêm yết việc bán đấu giá tài sản có thể được rút ngắn theo thỏa thuận của các bên.

Đối với tài sản bán đấu giá là động sản có giá khởi điểm từ ba mươi triệu đồng trở lên và bất động sản, thì đồng thời với việc niêm yết, tổ chức bán đấu giá tài sản phải thông báo công khai ít nhất hai lần, mỗi lần cách nhau ba ngày trên phương tiện thông tin đại chúng của Trung ương hoặc địa phương, nơi có tài sản bán đấu giá về việc bán đấu giá tài sản.

Thông báo công khai trên phương tiện thông tin đại chúng cũng được thực hiện đối với tài sản bán đấu giá là động sản có giá khởi điểm dưới ba mươi triệu đồng, nếu người có tài sản bán đấu giá yêu cầu(14).

Nhìn chung, thời hạn niêm yết trong pháp luật dân sự kéo dài hơn, được tổ chức nhiều lần hơn tùy thuộc vào loại tài sản, cũng như ý chí của người có tài sản.

5. Về đăng ký tham gia đấu giá

Pháp luật thương mại không bắt buộc người muốn đấu giá phải đăng ký tham gia và nộp tiền đặt trước, mà đây là quy phạm lựa chọn, phụ thuộc vào ý chí của người tổ chức đấu giá. Khoản tiền đặt trước, được quy định nếu người tổ chức đấu giá yêu cầu người tham gia phải nộp không quá 2% giá khởi điểm của hàng hoá được đấu giá(15).

Trong khi đó, theo pháp luật dân sự, việc đăng ký tham gia đấu giá và nộp phí, cũng như phải nộp trước một khoản tiền cho tổ chức bán đấu giá tài sản là điều kiện bắt buộc đối với người muốn tham gia đấu giá tài sản. Phí tham gia đấu giá tài sản được thực hiện theo quy định của pháp luật về phí và lệ phí, tùy thuộc vào giá trị tài sản được đưa ra đấu giá. Còn khoản tiền đặt trước do tổ chức bán đấu giá tài sản và người có tài sản bán đấu giá thỏa thuận quy định, nhưng tối thiểu là 1% và tối đa không quá 15% giá khởi điểm của tài sản bán đấu giá và được nộp cho tổ chức bán đấu giá tài sản(16).

6. Về tiến hành cuộc đấu giá

Hình thức đấu giá tài sản trong pháp luật dân sự đa dạng hơn, đó là đấu giá trực tiếp bằng lời nói và đấu giá bằng bỏ phiếu, ngoài ra còn có các hình thức khác do người có tài sản bán đấu giá và tổ chức bán đấu giá tài sản thỏa thuận, nhưng chỉ có một phương thức đấu giá là phương thức trả giá lên. Trong trường hợp đấu giá bằng bỏ phiếu, nếu có từ hai người trở lên cùng trả giá cao nhất, thì đấu giá viên tổ chức đấu giá tiếp giữa những người cùng trả giá cao nhất để chọn ra người mua được tài sản bán đấu giá. Nếu không có người trả giá cao hơn, thì đấu giá viên tổ chức bốc thăm để chọn ra người mua được tài sản bán đấu giá. Tại cuộc bán đấu giá tài sản, người đã trả giá cao nhất mà rút lại giá đã trả trước khi đấu giá viên điều hành cuộc bán đấu giá công bố người mua được tài sản, thì cuộc bán đấu giá vẫn tiếp tục và bắt đầu từ giá của người trả giá liền kề trước đó, người rút lại giá đã trả bị truất quyền tham gia trả giá tiếp và không được hoàn trả khoản tiền đặt trước, nếu như người mua được tài sản bán đấu giá mà người này từ chối mua, thì sẽ mất khoản tiền đặt trước để tham gia đấu giá(18).

(1). Khoản 1 Điều 185 Luật Thương mại năm 2005.

(2). Điều 1 Bộ luật Dân sự năm 2005.

(3). Khoản 2 Điều 185 Luật Thương mại năm 2005.

(4). Khoản 1 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(5). Khoản 2 Điều 3 Luật Thương mại năm 2005.

(6). Khoản 4 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(7). Khoản 2 Điều 1 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(8). Điều 186 Luật Thương mại năm 2005.

(9). Khoản 6 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(10). Điều 14, Điều 19 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(11). Khoản 2 Điều 15, điểm a khoản 2 Điều 16, khoản 2 Điều 2 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(12). Điểm b khoản 1 Điều 21, khoản 1 Điều 20 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(13). Điều 196 Luật Thương mại năm 2005.

(14). Khoản 1, khoản 2 Điều 28 Nghị định 17/2010/NĐ-CP.

(15). Điều 199 Luật Thương mại năm 2005.

(16). Điều 29 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

(17). Điều 201, Điều 204, Điều 205 Luật Thương mại năm 2005.

(18). Điều 34, Điều 38, Điều 39 Nghị định số 17/2010/NĐ-CP.

Pháp Luật Hợp Đồng Việt Nam Nhìn Ở Góc Độ So Sánh Với Luật Cộng Hòa Pháp

Pháp luật hợp đồng Việt Nam nhìn ở góc độ so sánh với luật Cộng hòa Pháp

TS. Đoàn Thị Phương Diệp

Khoa Luật, Trường Đại học Kinh tế Luật, Đại học Quốc gia TP. Hồ Chí Minh.

Tóm tắt: Thời gian áp dụng Bộ luật Dân sự năm2024 trong thực tiễn là chưa đủ để có thể nhìn nhận và phân tích những ưu điểm cũng như những hạn chế trong các quy định. Do vậy, việc phân tích, so sánh pháp luật Việt Nam với pháp luật Pháp – một hệ thống pháp luật khá tiên tiến và nhiều tương đồng, để có cách hiểu cũng như cách giải thích phù hợp với thực tiễn, là một việc cần thiết, để từ đó chúng ta có cơ sở cho những đề xuất nhằm làm hoàn thiện hơn nữa các quy định của pháp luật hiện hành.

Từ khóa: luật hợp đồng, hợp đồng vô hiệu

Keywords: contract law, invalid contract

 

1. Những thay đổi của pháp luật hợp đồng ở Việt Nam trong bối cảnh áp dụng Bộ luật Dân sự năm 2024

Sự thống nhất trong các quy định về hợp đồng ở Việt Nam hiện nay. Chế định “hợp đồng dân sự” quy định trong Bộ luật Dân sự(BLDS) năm 1995 được BLDS năm 2005 thay bằng “Hợp đồng” và được BLDS năm 2024 quy định chung trong phần thứ ba về “Nghĩa vụ và hợp đồng”. Sự thay đổi tên gọi trong này hàm ý rằng, BLDS năm 2024 sẽ là văn bản xác lập nguyên tắc chung về hợp đồng, các quy định của Luật Thương mại năm 2005 hay Luật Kinh doanh bất động sản, Luật Kinh doanh bảo hiểm…. sẽ điều chỉnh các hợp đồng chuyên biệt cho từng lĩnh vực. Điều này bảo đảm tính thống nhất trong các quy định của hợp đồng trong các lĩnh vực khác nhau.

Vấn đề thực hiện và chấm dứt hợp đồng. BLDS 2024 bổ sung hai quy định có ý nghĩa dưới tác động của pháp luật quốc tế.

Thứ nhất, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420 BLDS 2024). Theo quy định này, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án cho phép chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Quy định này giúp “bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng, cân bằng quyền và lợi ích khi có sự chênh lệch quá mức, loại bỏ bất công, bảo đảm lẽ công bằng trong xã hội”

, quy định về thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản (Điều 420 BLDS 2024). Theo quy định này, trong trường hợp hoàn cảnh thay đổi cơ bản, bên có lợi ích bị ảnh hưởng có quyền yêu cầu bên kia đàm phán lại hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, trường hợp các bên không thể thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý, một trong các bên có thể yêu cầu Tòa án cho phép chấm dứt hợp đồng tại một thời điểm xác định hoặc sửa đổi hợp đồng để cân bằng quyền và lợi ích hợp pháp của các bên do hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Quy định này giúp “bảo vệ tốt hơn quyền và lợi ích của bên yếu thế trong quan hệ hợp đồng, cân bằng quyền và lợi ích khi có sự chênh lệch quá mức, loại bỏ bất công, bảo đảm lẽ công bằng trong xã hội” [4] . BLDS cũng xác định rõ hoàn cảnh thay đổi cơ bản khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Sự thay đổi hoàn cảnh do nguyên nhân khách quan xảy ra sau khi giao kết hợp đồng;

b) Tại thời điểm giao kết hợp đồng, các bên không thể lường trước được về sự thay đổi hoàn cảnh;

c) Hoàn cảnh thay đổi lớn đến mức nếu như các bên biết trước thì hợp đồng đã không được giao kết hoặc được giao kết nhưng với nội dung hoàn toàn khác;

d) Việc tiếp tục thực hiện hợp đồng mà không có sự thay đổi nội dung hợp đồng sẽ gây thiệt hại nghiêm trọng cho một bên;

đ) Bên có lợi ích bị ảnh hưởng đã áp dụng mọi biện pháp cần thiết trong khả năng cho phép, phù hợp với tính chất của hợp đồng mà không thể ngăn chặn, giảm thiểu mức độ ảnh hưởng đến lợi ích”.

Điều 1195 BLDS Cộng hoà Pháp có quy định khá tương đồng “Trong trường hợp có sự thay đổi không lường trước được tại thời điểm ký kết hợp đồng khiến cho việc thực hiện quá tốn kém cho một bên mà bên này không đồng ý chấp nhận rủi ro đó, thì bên đó có thể yêu cầu đàm phán lại hợp đồng. Hợp đồng tiếp tục được thực hiện trong quá trình đàm phán lại.

Trong trường hợp từ chối đàm phán lại hoặc đàm phán không thành công, các bên có thể thoả thuận về chấm dứt hợp đồng, vào ngày và theo các điều kiện mà họ xác định, hoặc yêu cầu thẩm phán đồng ý với sự điều chỉnh này của họ. Trong trường hợp không có thỏa thuận trong một thời gian hợp lý, thẩm phán có thể, theo yêu cầu của một bên, sửa đổi hợp đồng hoặc chấm dứt hợp đồng vào thời điểm và với các điều kiện đã sửa đổi”.

Trên cơ sở so sánh với Điều 420 BLDS Việt Nam 2024 nêu trên, có thể thấy quy định của luật Việt Nam khá cụ thể và chặt chẽ trong việc giải thích rõ các điều kiện cho phép không tiếp tục thực hiện (chấm dứt) hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản. Chúng tôi cho rằng, tinh thần của điều luật hoàn toàn phù hợp với thực tiễn tại Việt Nam trong bối cảnh áp dụng nguyên tắc về tôn trọng quyền tự định đoạt của các bên vì suy cho cùng, hợp đồng là kết quả của sự thoả thuận tự nguyện và rằng các bên phải chịu trách nhiệm với các quyết định của mình khi tham gia vào hợp đồng. Với nhìn nhận như vậy, có thể thấy pháp luật hợp đồng Việt Nam một mặt thừa nhận thông lệ quốc tế trong lĩnh vực này [5] , mặt khác giữ lại những nét riêng cần có phù hợp với bối cảnh pháp lý của Việt Nam hiện nay.

Thứ hai, về bồi thường thiệt hại do vi phạm hợp đồng (Điều 419 BLDS 2024). BLDS 2024 tiếp tục kế thừa quy định của BLDS 2005 về trách nhiệm bồi thường thiệt hại cả về vật chất và tinh thần trong trường hợp có hành vi vi phạm hợp đồng. Điều này có nghĩa là, việc bồi thường thiệt hại tính mạng, sức khoẻ tiếp tục không đặt ra trong khuôn khổ trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng. Bên cạnh đó, BLDS 2024 khẳng định rằng, “trường hợp có thiệt hại do vi phạm nghĩa vụ gây ra thì bên có nghĩa vụ phải bồi thường toàn bộ thiệt hại, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác” (Điều 360 BLDS 2024) và “bên có quyền phải áp dụng các biện pháp cần thiết, hợp lý để thiệt hại không xảy ra hoặc hạn chế thiệt hại cho mình” (Điều 362 BLDS 2024).

Vô hiệu hợp đồng là thuật ngữ pháp lý được sử dụng khá phổ biến trong pháp luật các quốc gia trên thế giới [7] . Do vậy, việc nghiên cứu mang tính so sánh chế định này trong luật Việt Nam và pháp luật các quốc gia khác là sự cần thiết trong bối cảnh hội nhập kinh tế quốc tế với sự cần thiết phải xây dựng một số các chuẩn mực pháp lý tiệm cận.

   Theo quy định của pháp luật Việt Nam, vô hiệu hợp đồng được xác định trên cơ sở kết hợp hai chế định, chế định về giao dịch dân sự và chế định hợp đồng. Theo quy định của khoản 1 Điều 407 BLDS 2024, “quy định về giao dịch dân sự vô hiệu từ Điều 123 đến Điều 133 của Bộ luật này cũng được áp dụng đối với hợp đồng vô hiệu”. Bên cạnh đó chế định hợp đồng còn xác định một số các trường hợp đặc thù của vô hiệu hợp đồng.

2.1 Vô hiệu hợp đồng trên cơ sở vô hiệu giao dịch dân sự

    Theo quy định tại Điều 122 BLDS năm 2024 “Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác”. Về các điều kiện có hiệu lực của một giao dịch dân sự, Điều 117 BLDS 2024 quy định:

“1. Giao dịch dân sự có hiệu lực khi có đủ các điều kiện sau đây:

a) Chủ thể có năng lực pháp luật dân sự, năng lực hành vi dân sự phù hợp với giao dịch dân sự được xác lập;

b) Chủ thể tham gia giao dịch dân sự hoàn toàn tự nguyện;

c) Mục đích và nội dung của giao dịch dân sự không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội.

2. Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”.

Quy định này về tổng thể có thể nói là khá tương đồng với cách hiểu và giải thích về vô hiệu trong luật Cộng hoà Pháp. Trong pháp luật Cộng hoà Pháp, vô hiệu hợp đồng được xem là một chế tài áp dụng cho trường hợp có các vi phạm về giao kết hợp đồng [8] , chế tài này được xác lập một cách khác biệt so với chế tài áp dụng trong trường hợp vi phạm hợp đồng. Theo quy định của Điều 1128 BLDS Cộng hoà Pháp, có ba điều kiện cần phải đáp ứng để hợp đồng có hiệu lực:

   – Sự ưng thuận của các bên giao kết hợp đồng

   – Năng lực của các bên giao kết hợp đồng

– Nội dung của hợp đồng hợp pháp và cụ thể [9]

Như vậy, có thể thấy rằng, ở góc độ tổng thể, pháp luật Cộng hoà Pháp không xem hình thức của hợp đồng là một điều kiện có hiệu lực của hợp đồng. Tuy nhiên, thực tiễn cũng ghi nhận hai trường hợp ngoài lệ mà theo đó nếu không tuân thủ hình thức nhất định thì hiệu lực pháp lý của hợp đồng sẽ “có vấn đề”. Trường hợp thứ nhất là, các hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu nếu không được xác lập bằng văn bản có công chứng (hợp đồng hôn nhân hay hợp đồng thế chấp…) [10] . Trường hợp thứ hai là, các hợp đồng được xếp vào nhóm hợp đồng thực tế (hay hợp đồng thực tại – theo một số tác giả) [11] , loại hợp đồng này yêu cầu phải có sự chuyển giao đối tượng thì mới phát sinh hiệu lực, đây cũng là một yêu cầu về hình thức cần tuân thủ [12] . Trong khi đó, luật hợp đồng Úc chia các trường hợp vô hiệu thành hai nhóm: vô hiệu theo quy định của pháp luật (bị cấm bởi pháp luật) và vô hiệu do vi phạm các quy định cấm của thông lệ. Cả hai trường hợp này đều không cho phép tuyên bố vô hiệu hợp đồng do vi phạm điều kiện về hình thức [13]

Về điều kiện về hình thức, khoản 2 Điều 117 BLDS quy định: “Hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự trong trường hợp luật có quy định”. Có hai cách giải thích đối với quy định này: thứ nhất, chỉ khi nào pháp luật có quy định, ví dụ như “hợp đồng có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực”, trong trường hợp này nếu không công chứng, chứng thực thì xem như vi phạm điều kiện về hình thức; thứ hai, chỉ cần có quy định “hợp đồng phải được xác lập bằng văn bản” hoặc “hình thức của hợp đồng là văn bản có công chứng, chứng thực” nếu các bên không xác lập bằng văn bản hay không công chứng, chứng thực thì xem như đã vi phạm điều kiện có hiệu lực về hình thức của hợp đồng. Quy định này của BLDS 2024 đã thu hẹp phạm vi các trường hợp tuyên bố vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức. Có thể chứng minh cho xu hướng này qua hai minh chứng: thứ nhất, các yêu cầu về hình thức mang tính bắt buộc đã không còn nhiều trong BLDS 2024, trong số các hợp đồng thông dụng được quy định chỉ còn hợp đồng tặng cho tài sản, hợp đồng hợp tác, hợp đồng mua bán tài sản là bất động sản… là bắt buộc phải xác lập bằng văn bản hoặc bằng văn bản có công chứng, chứng thực; thứ hai, theo quy định tại Điều 129 BLDS 2024 “Giao dịch dân sự vi phạm quy định điều kiện có hiệu lực về hình thức thì vô hiệu, trừ trường hợp sau đây:

1. Giao dịch dân sự đã được xác lập theo quy định phải bằng văn bản nhưng văn bản không đúng quy định của luật mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó;

2. Giao dịch dân sự đã được xác lập bằng văn bản nhưng vi phạm quy định bắt buộc về công chứng, chứng thực mà một bên hoặc các bên đã thực hiện ít nhất hai phần ba nghĩa vụ trong giao dịch thì theo yêu cầu của một bên hoặc các bên, Tòa án ra quyết định công nhận hiệu lực của giao dịch đó. Trong trường hợp này, các bên không phải thực hiện việc công chứng, chứng thực”.

Như vậy, quy định này một lần nữa hạn chế việc tuyên bố giao dịch dân sự vô hiệu do vi phạm điều kiện về hình thức. Từ các minh chứng trên, chúng tôi cho rằng, quy định hình thức của giao dịch dân sự là điều kiện có hiệu lực của giao dịch được áp dụng trong trường hợp pháp luật có quy định, nghĩa là chỉ khi nào pháp luật có quy định rõ ràng rằng “giao dịch dân sự có hiệu lực khi được công chứng, chứng thực” hay tương tự “giao dịch dân sự có hiệu lực từ thời điểm bên có nghĩa vụ chuyển giao đối tượng hợp đồng cho bên có quyền”… mà các bên không thực hiện yêu cầu công chứng, chứng thực, chuyển giao… thì mới có thể bị yêu cầu tuyên bố vô hiệu. Chúng tôi cho rằng, cách giải thích này là phù hợp trong bối cảnh thu hẹp các trường hợp áp dụng để đi đến không tuyên bố vô hiệu khi hợp đồng được xác lập vi phạm điều kiện về hình thức. Vì suy cho cùng, sự tự nguyện và thoả thuận của các bên trong hợp đồng mới là điều quan trọng chứ không phải là hình thức chuyển tải nó.

2.2 Vô hiệu hợp đồng do có đối tượng không thể thực hiện được

Theo quy định tại khoản 1 Điều 408 BLDS 2024 “Trường hợp ngay từ khi giao kết, hợp đồng có đối tượng không thể thực hiện được thì hợp đồng này bị vô hiệu”. Quy định này được đặt ra trong chế định về hợp đồng chứ không nằm trong các quy định về điều kiện có hiệu lực của giao dịch dân sự nói chung (Điều 117). Điều này có nghĩa là, nó chỉ được áp dụng đối với việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu chứ không được áp dụng đối với các loại giao dịch dân sự khác (hành vi pháp lý đơn phương, giao dịch dân sự có điều kiện). Đây không phải là quy định mới của BLDS 2024, tuy nhiên từ thời điểm được đưa vào và áp dụng từ BLDS 2005 đến nay quy định này chưa được giải thích kể cả bằng án lệ. Thực tiễn có xu hướng chấp nhận rằng đối tượng không thể thực hiện được của hợp đồng là những hành động không thể thực hiện được do các nguyên nhân khác quan (bao gồm cả sự kiện bất khả kháng), chẳng hạn như hợp đồng mua bán một căn nhà mà chẳng may căn nhà ấy bị cháy trước khi chuyển quyền sở hữu, hay hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất mà đột ngột phát sinh quy hoạch dẫn đến quyền sử dụng đất là không thể chuyển nhượng được.

2.3 Về hậu quả pháp lý của việc tuyên bố hợp đồng vô hiệu

Chính vì xem như giao dịch dân sự chưa hề được xác lập (không phát sinh giá trị pháp lý) nên hậu quả kéo theo tuyên bố vô hiệu là phải khôi phục lại tình trạng ban đầu như trước khi xác lập giao dịch bằng cách các bên phải hoàn trả cho nhau những gì đã nhận (khoản 2 Điều 131 BLDS 2024 và Điều 1178 BLDS Cộng hoà Pháp).

Sự khác nhau cơ bản giữa các quy định của BLDS Việt Nam và Cộng hoà Pháp nằm ở quy định về vô hiệu tuyệt đối hoặc vô hiệu tương đối. Nếu vô hiệu tuyệt đối hoặc tương đối chỉ tồn tại ở khía cạnh khoa học pháp lý ở Việt Nam thì nó được ghi nhận rõ ràng trong BLDS Cộng hoà Pháp cùng với những hậu quả pháp lý khá cụ thể cho từng trường hợp vô hiệu này [24] . Thực tiễn ở Việt Nam cũng tồn tại cách phân loại này, tuy nhiên theo chúng tôi, điều này hoàn toàn không có ý nghĩa gì khi thiếu vắng cơ sở pháp lý cho việc vận dụng./.

[1] Khoản 1 Điều 386 BLDS năm 2024[2] Ordonnance 2024-31 ngày 10/2/2024 sửa đổi bổ sung pháp luật hợp đồng Cộng hoà Pháp[3] Khoản 2 Điều 399 BLDS 2024 “Sự im lặng của bên được đề nghị không được coi là chấp nhận đề nghị giao kết hợp đồng, trừ trường hợp có thỏa thuận hoặc theo thói quen đã được xác lập giữa các bên”.Mối liên hệ giữa thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản với giao dịch bảo đảm, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 3/2024[4] Nguyễn Văn Huy,, Tạp chí Dân chủ và Pháp luật, số tháng 3/2024Thực hiện hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345) năm 2024, tr.  60-67[5] Ngô Thu Trang – Nguyễn Thế Đức Tâm,Tạp chí Nhà nước và Pháp luật, số 1(345) năm 2024, tr. 60-67Các thuật ngữ hợp đồng thông dụng, Nxb. Từ điển Bách khoa, 2011, tr. 572 “Vô hiệu và huỷ hợp đồng cho phép bao quanh hai đặc tính lớn của lý do triệt tiêu hợp đồng”.[6] Nhà pháp luật Việt-Pháp,Nxb. Từ điển Bách khoa, 2011, tr. 572 “Vô hiệu và huỷ hợp đồng cho phép bao quanh hai đặc tính lớn của lý do triệt tiêu hợp đồng”.[7] Nhà pháp luật Việt-Pháp, tlđd, tr. 571[8] Patrick Canin- Maitre de Conférences à L’Université Grenoble 2, Droit civil- Les obligations, 6e édition, Hachette supérieur, Trang 58[9] Nguyên văn của quy định tại Điều 1128 BLDS Pháp “Sont nécessaires à la validité d’un contrat : 1° Le consentement des parties ; 2° Leur capacité de contracter ; 3° Un contenu licite et certain”.[10] Điều 1394 BLDS Cộng hoà Pháp quy định “Toutes les conventions matrimoniales seront rédigées par acte devant notaire, en la présence et avec le consentement simultanés de toutes les personnes qui y sont parties ou de leurs mandataires” , nghĩa là các thoả thuận về quan hệ tài sản giữa vợ chồng phải xác lập bằng văn bản trước công chứng viên.[11] Contrat réel[12] Điều 1919 BLDS Cộng hoà Pháp về hợp đồng gửi giữ (contrat de dépôt), theo quy định này thì hợp đồng gửi giữ có hiệu lực khi có sự chuyển giao thực tế đối tượng của hợp đồng (trừ trường hợp việc chuyển giao là “giả định” nếu đối tượng của hợp đồng đã được cầm cố)[13] Daniel Khoury, Yvonne Yamouni, Understanding Contract law, 8th edition, LexisNexis Butterworths- Australia, 2010, trang 364 và về sau.[14] Thuật ngữ này cũng được sử dụng trong Giáo trình Luật Dân sự 1, Đại học Cần Thơ – TS. Nguyễn Ngọc Điện, 2007.[15] Patrick Canin, tlđd, tr. 49[16] Điều 86 BLDS 2024 có quy định về năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân, tuy nhiên chỉ đơn giản là một định nghĩa chứ không phải là quy định về năng lực giao kết hợp đồng.[17] Daniel Khoury, Yvonne Yamouni, tlđd, tr. 363[18] Nguyễn Ngọc Điện, Giáo trình Luật Dân sự 1- Trường Đại học Cần Thơ, 2007, tr. 7, 8Giáo trình pháp luật về hợp đồng và bồi thường thiệt hại ngoài hợp đồng, Nxb. Hồng Đức, 2013, tr. 156-158.[19] Đỗ Văn Đại (chủ biên),, Nxb. Hồng Đức, 2013, tr. 156-158.[20] Đỗ Văn Đại (chủ biên), tlđd, tr. 152[21] Ví dụ cụ thể là trường hợp hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất có tranh chấp, theo quy định tại Điều 188 khoản 2 Luật Đất đai 2014 quy định một trong các điều kiện để chuyển nhượng quyền sử dụng đất là “đất không có tranh chấp”. Tuy nhiên Luật đất đai không nói rằng nếu vi phạm điều kiện này thì hợp đồng sẽ bị tuyên bố vô hiệu. Do đó trên thực tế khi quyền sử dụng đất là đối tượng của hợp đồng chuyển nhượng bị tranh chấp, các Toà án áp dụng luật dân sự để tuyên bố vô hiệu, và có Toà án cho rằng hợp đồng này bị vô hiệu vì đã vi phạm điều cấm của pháp luật nhưng có Toà án thì lại cho rằng vô hiệu do đối tượng của hợp đồng không thể thực hiện được.ère, 3 février 1999, JCP 1999, II, 10083, note M. Billiau et G. Loiseau.[22] Cass. Civ. 1, 3 février 1999, JCP 1999, II, 10083, note M. Billiau et G. Loiseau.

 Cass. civ. 1ère, 29 octobre 2014, n° 13-19729.

[23] Patrick Canin, tlđd, tr. 51-54[24] Vộ hiệu tuyệt đối- la nullité absolue và vô hiệu tương đối – la nullité relative được quy định tại Điều 1179 BLDS Cộng hoà Pháp.

Năng Lực Pháp Luật Dân Sự Là Gì? So Sánh Năng Lực Pháp Luật Dân Sự Của Cá Nhân Và Pháp Nhân?

Năng lực pháp luật dân sự là gì? So sánh và phân tích sự khác nhau giữa năng lực chủ thể của cá nhân so với pháp nhân. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự của cá nhân và pháp nhân có gì giống và khác nhau?

Khoản 1. Điều 16. Bộ luật dân sự năm 2024 quy định:

“Điều 16. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân

1. Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân có quyền dân sự và nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là phạm vi các quyền, nghĩa vụ dân sự mà cá nhân đó có được do pháp luật quy định.

→ Để được tư vấn các quy định của pháp luật về năng lực pháp luật, tư vấn pháp luật dân sự trực tuyến miễn phí, vui lòng gọi cho chúng tôi qua Hotline: .

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có các đặc điểm sau đây:

– Mọi cá nhân đều có năng lực pháp luật dân sự như nhau. (Khoản 2. Điều 16. Bộ luật dân sự năm 2024).

Tất cả các cá nhân là công dân của một quốc gia đều có các quyền, nghĩa vụ mà quốc gia đó quy định cho công dân nước mình. Vì vậy, quyền và nghĩa vụ trong năng lực pháp luật dân sự của mọi cá nhân là giống nhau.

– Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân có từ khi người đó sinh ra và chấm dứt khi người đó chết. (Khoản 3. Điều 16. Bộ luật dân sự năm 2024).

Mọi cá nhân đều được công nhận là công dân của một quốc gia (khi có đủ các điều kiện về quốc tịch) kể từ khi sinh ra cho đến khi chế. Vì vậy, năng lực pháp luật dân sự như là một yếu tố gắn liền suốt cuộc đời của mỗi cá nhân. Có quan điểm cho rằng: Năng lực pháp luật dân sự của một cá nhân có từ thời điểm cá nhân đó được cấp giấy khai sinh. Khẳng định này là sai vì theo quy định trên thì năng lực pháp luật của cá nhân có từ khi cá nhân sinh ra.

Quyền và nghĩa vụ của cá nhân với tư cách là năng lực pháp luật do Nhà nước quy định nên luôn luôn được xác định trong các văn bản pháp luật do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành (Hiến pháp, Bộ luật dân sự và các văn bản pháp luật khác).

– Phạm vi năng lực pháp luật dân sự của cá nhân phụ thuộc vào hình thái kinh tế – xã hội của mỗi quốc gia và vào từng giai đoạn phát triển của quốc gia đó.

Năng lực pháp luật dân sự của cá nhân là do một nhà nước nhất định ghi nhân và quy định cho công dân của mình như là một bộ phận không thể thiếu được của cá nhân. Tuy nhiên, phạm vi năng lực pháp luật dân sự của cá nhân ở mỗi chế độ sẽ có sự khác nhau. Chẳng hạn, trong các nhà nước chiếm hữu nô lệ trước đây, các cá nhân nô lệ không được coi là chủ thể của quan hệ dân sự, họ hoàn toàn không có năng lực pháp luật.

Ngay trong một quốc gia nhưng tùy vào từng giai đoạn phát triển khác nhau mà năng lực pháp luật dân sự của cá nhân cũng được quy định khác nhau. Ví dụ: Ở nước ta, trước năm 1980, cá nhân có quyền sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất, từ năm 1980 đến năm 1992 thì cá nhân không có quyền sở hữu đất đai và các tư liệu sản xuất quan trọng khác, từ năm 1992 trở đi cá nhân thì có quyền sở hữu các tư liệu sản xuất quan trọng, cá nhân không có quyền sở hữu đất đai nhưng có quyền sử dụng đất và có quyền chuyển quyền sử dụng đất.

→ Luật sư tư vấn luật trực tuyến miễn phí qua điện thoại: – Một cuộc gọi, giải quyết mọi vấn đề pháp luật.

Bộ luật Dân sự năm 2024 quy định:

Năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân bằng hành vi của mình xác lập, thực hiện quyền, nghĩa vụ dân sự.”

Như vậy, có thể hiểu năng lực hành vi dân sự của cá nhân là khả năng của cá nhân trong việc nhân thức, làm chủ hành vi của mình để xác lập và thực hiện các quyền, nghĩa vụ dân sự. Vì thế, có thể thấy rằng, cá nhân nào có đầy đủ khả năng nhận thức để làm chủ hành vi của mình trong mọi trường hợp thì cá nhân đó là người có năng lực hành vi dân sự đầy đủ; cá nhân nào có nhận thức nhưng chỉ đủ để làm chủ hành vi trong một số trường hợp thì cá nhân đó là người có năng lực hành vi nhưng không đầy đủ; cá nhân nào không có khả năng nhận thức hoặc có nhưng không đủ để làm chủ hành vi của mình trong mọi trường hợp thì cá nhân đó là người không có năng lực hành vi dân sự.

Khả năng nhân thức và làm chủ hành vi của cá nhân thường được xác định thông qua “độ trưởng thành” của cá nhân và độ trưởng thành thường được xác định thông qua độ tuổi. Trên cơ sở đó, Bộ luật dân sự năm 2024 có những quy định để xác định mức độ năng lực hành vi dân sự của cá nhân thông qua các điều luật (từ Điều 20 đến Điều 22).

Từ quy định của các điều luật trên, năng lực hành vi dân sự của cá nhân có thể sắp xếp theo ba mức độ sau đây:

– Mức năng lực hành vi dân sự đầy đủ:

Thuộc mức độ năng lực đầy đủ là những cá nhân có đầy đủ nhận thức để kiểm soát và làm chủ mọi hành vi của mình trong mọi trường hợp. Bao gồm các cá nhân tròn mười tám tuổi trở lên và không bị tuyên bố mất hoặc hạn chế năng lực hành vi dân sự.

Thuộc mức năng lực hành vi không đầy đủ là những cá nhân có nhận thức nhưng nhận thức đó chỉ đủ để kiểm soát và làm chủ hành vi của mình trong một số trường hợp. Bao gồm các cá nhân từ tròn sáu tuổi đến chưa đủ mười tám tuổi gọi là người có năng lực hành vi dân sự chưa đầy đủ; cá nhân bị Tòa án tuyên bố là hạn chế năng lực hành vi dân sự gọi là người bị hạn chế năng lực hành vi dân sự.

– Mức không có năng lực hành vi dân sự:

Thuộc mức không có năng lực hành vi dân sự là những cá nhân không thể nhận thức để kiểm soát và làm chủ hành vi của mình trong mọi trường hợp.

Cũng như các chủ thể khác, pháp nhân tham gia các quan hệ pháp luật phải có đủ năng lực chủ thể. Năng lực chủ thể của pháp nhân là khả năng cho phép của pháp nhân và khả năng tự có của chính pháp nhân để pháp nhân trở thành chủ thể độc lập khi tham gia các quan hệ pháp luật.

“Điều 86. Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân

Năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân phụ thuộc vào khả năng của chính pháp nhân đó. Vì thế có thể nói rằng năng lực chủ thể của pháp nhân cũng bao gồm hai yếu tố là: Khả năng cho phép của pháp luật đối với pháp nhân chính là năng lực pháp luật dân sự và khả năng tự có của chính pháp nhân đó là năng lực hành vi dân sự. Cần phân biệt chi nhánh của pháp nhân, ví dụ chi nhánh của pháp nhân là công ty cổ phần không phải là pháp nhân. Vì theo quy định tại Khoản 1. Điều 84. Bộ luật dân sự năm 2024 đã xác định: Chi nhánh, văn phòng đại diện là đơn vị phụ thuộc của pháp nhân, không phải là pháp nhân.

→ Mọi vấn đề thắc mắc khác về hợp đồng năng lực pháp luật vui lòng liên hệ Hotline: – Tổng đài tư vấn luật dân sự miễn phí trên toàn quốc.

– Cả năng lực chủ thể của pháp nhân và năng lực chủ thể của cá nhân đều có khả năng tham gia vào quan hệ pháp luật với tư cách là một chủ thể và tự mình thực hiện các quyền, nghĩa vụ phát sinh từ quan hệ pháp luật đã tham gia.

– Cả hai đều có năng lực chủ thể được tạo thành bởi hai yếu tố là năng lực pháp luật dân sự tức là khả năng do pháp luật quy định và năng lực hành vi dân sự tức là khả năng tự có của chính chủ thể đó. Năng lực pháp luật và năng lực hành vi là hai yếu tố cần và đủ tạo nên năng lực chủ thể của cá nhân và pháp nhân, giữa chúng có mối quan hệ chặt chẽ, hợp nhất.

– Cả năng lực pháp luật dân sự của pháp nhân và của cá nhân đều là tiền đề pháp lý để thực hiện năng lực hành vi nghĩa là phạm vi các quyền do pháp luật quy định cho cá nhân, pháp nhân chỉ có các quyền và thực hiện các quyền đã được pháp luật ghi nhận. Vì vậy, cá nhân và pháp nhân chỉ được thực hiện những hành vi nhất định trong trường hợp pháp luật cho phép và không cấm.

– Cả năng lực hành vi dân sự của pháp nhân và năng lực hành vi dân sự của cá nhân đều là “phương tiện” để hiện thực hóa năng lực pháp luật. Điều này được lý giải bởi các quyền của cá nhân, pháp nhân được pháp luật ghi nhận chỉ trở thành hiện thực thành các quyền dân sự cụ thể nếu đã được chính chủ thể đó bằng khả năng hành vi của mình thực hiện.

So Sánh Luật Dân Sự Và Luật Hình Sự Của Nước Việt Nam

Luật dân sự và luật hình sự: Không phải ai cũng hiểu được

Vốn dĩ, luật dân sự và là hai bộ luật hoàn toàn khác biệt. Nó có nội dung khác nhau, hướng tới những đối tượng hoàn toàn khác nhau. Từ đó, đảm bảo tính thực thi của pháp luật nước Việt Nam trên tất cả các đối tượng. luật hình sự

Với dân Luật, những người làm Luật, điều này vô cùng rõ ràng. Còn với những người ngoài ngành, rất ít ai có thể hiểu được điều đó. Họ không thể phân biệt được những điểm khác biệt của hai bộ luật này. Do đó, có nhiều sai lầm trong việc tìm hiểu về luật.

XEM THÊM NHỮNG BÀI VIẾT LIÊN QUAN:

So sánh luật dân sự và luật hình sự

Luật dân sự được coi là bộ luật cơ bản của nước Việt Nam dân chủ cộng hòa, Đó là do tòa án chỉ tiến hành giải quyết bất kỳ sự việc nào nếu nhân được đơn của đương sự. Còn với những hành vi vi phạm hình sự, dù bị hại có đưa đơn lên tòa án hay không thì cơ quan điều tra, viện kiểm sát vẫn phải tiến hành thủ tục khởi tố và điều tra vụ án một cách bài bản.

So sánh luật dân sự và luật hình sự: Về mặt quy định, thủ tục, trình tự

Bộ luật dân sự của nước ta cũng là luật quy định những thủ tục, quy trình quản lý của nhà nước với các tổ chức, cá nhân phải có trách nhiệm tham gia quan hệ xã hội với nhau. Nếu không tham gia quan hệ đúng cách theo quy định trong luật, nhà nước sẽ không bảo vệ quyền lợi cho họ. Đặc biệt, quan hệ đó cũng không được nhà nước thừa nhận là hợp pháp.

Luật hình sự có tính chất công, do đó, nó cũng được gọi với một tên khác là “luật Công”. Nó được thực hiện theo các biện pháp cưỡng chế. Trong trường hợp một cá nhân, tổ chức gây tội, gây ra các hành vi phạm tội theo luật sẽ bị xử lý theo luật. Nhà nước ngay lập tức sẽ tiến hành những hình phạt, cách thức cưỡng chế hoặc biện pháp tư pháp để giải quyết hậu quả.

Bộ luật hình sự thực hiện điều chỉnh các hành vi có tính chất chủ quan, cố tình được thực hiện bởi 1 tổ chức hay cá nhân nào đó có đủ hành vi, năng lực. Như việc cố tình thực hiện mua bán ma túy, các chất cấm dù đã nắm được luật cũng như tính chất nguy hại của nó.

Khi xử lý những hành vi vi phạm luật dân sự, cách thức của nhà nước và cơ quan thực thi là trả nó về với hiện trạng ban đầu. Từ đó, tránh những rắc rối cũng như tranh chấp khó chịu sau đó. Với luật Hình sự, việc thực thi có đôi chút khác biệt. Không chỉ hoàn trả thực trạng ban đầu, người vi phạm còn phải bồi thường. Trong trường hợp nghiêm trọng hơn còn có thể bị phạt tù dài – ngắn khác nhau.

Ngoài ra, có một điểm quan trọng nữa giúp bạn phân biệt hai bộ luật này. Nếu một hành vi cần phải thi hành hoặc giải quyết tranh chấp nhưng không có bộ luật nào quy định cụ thể. Nó sẽ được giải quyết bởi các quyết định tuân theo bộ luật dân sự.

Trụ sở chính: Số 45 – 47 Trần Đình Xu, P. Cầu Kho, Q.1, TP. HCM

Chi nhánh HN: Số 19 Ngõ 130, Hồ Tùng Mậu, P. Mai Dịch, Q. Cầu Giấy – HN.

TP. HCM: 0974. 007. 007 – Đà Nẵng: 0964. 007. 007 – Hà Nội: 0833. 007. 007

So Sánh Các Quy Định Của Bộ Luật Dân Sự 2024 Và Bộ Luật Dân Sự 2005

Tôi muốn hỏi về sự khác nhau của hai bộ luật dân sự mới và cũ quy định về các phương thức xử lý tài sản bao đảm theo thỏa thuận. So sánh Bộ luật dân sự 2024 và Bộ luật dân sự 2005, phân tích và đánh giá những điểm mới của bộ luật dân sự 2024 quy định về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm

Câu hỏi được biên tập từ chuyên mục tư vấn luật Dân sự của Công ty luật Minh Khuê

Trong Bộ luật dân sự (BLDS) 2005 không có các quy định về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm , còn trong BLDS năm 2024 có quy định rõ về phương thức xử lý tài sản bảo đảm và có những quy định mới như sau:

Về phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp có quy định tại điều 303:

“Điều 303: Phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp

1. Bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm có quyền thỏa thuận một trong các phương thức xử lý tài sản cầm cố, thế chấp sau đây:

a) Bán đấu giá tài sản;b) Bên nhận bảo đảm tự bán tài sản;c) Bên nhận bảo đảm nhận chính tài sản để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm;d) Phương thức khác.2. Trường hợp không có thỏa thuận về phương thức xử lý tài sản bảo đảm theo quy định tại khoản 1 Điều này thì tài sản được bán đấu giá, trừ trường hợp luật có quy định khác.”

Bộ luật dân sự 2024 cũng quy định có 3 phương thức nhưng 3 quy định đó khác vơi 3 quy định của nghị định số 163/2006/NĐ-CP về giao dịch bảo đảm. Có quy định thêm vào phương thức bên nhận bảo đảm tự bán tài sản và không có phương thức bên nhận bảo đảm nhận các khoản tiền hoặc tài sản khác từ người thứ ba trong trường hợp thế chấp quyền đòi nợ. Và các phương thức được quy định rõ ở các điều 304, điều 305 cũng là những điểm mới trong BLDS 2024. BLDS 2024 quy định cụ thể việc bán đấu giá tài sản và việc tự bán tài sản bảo đảm như sau:

“Điều 304. Bán tài sản cầm cố, thế chấp1. Việc bán đấu giá tài sản cầm cố, thế chấp được thực hiện theo quy định của pháp luật về bán đấu giá tài sản.2. Việc tự bán tài sản cầm cố, thế chấp của bên nhận bảo đảm được thực hiện theo quy định về bán tài sản trong Bộ luật này và quy định sau đây:a) Việc thanh toán số tiền có được từ việc xử lý tài sản được thực hiện theo quy định tại Điều 307 của Bộ luật này;b) Sau khi có kết quả bán tài sản thì chủ sở hữu tài sản và bên có quyền xử lý tài sản phải thực hiện các thủ tục theo quy định của pháp luật để chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên mua tài sản.”

“Điều 305. Nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm1. Bên nhận bảo đảm được quyền nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ của bên bảo đảm nếu có thỏa thuận khi xác lập giao dịch bảo đảm.2. Trường hợp không có thỏa thuận theo quy định tại khoản 1 Điều này thì bên nhận bảo đảm chỉ được nhận chính tài sản bảo đảm để thay thế cho việc thực hiện nghĩa vụ khi bên bảo đảm đồng ý bằng văn bản.3. Trường hợp giá trị của tài sản bảo đảm lớn hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì bên nhận bảo đảm phải thanh toán số tiền chênh lệch đó cho bên bảo đảm; trường hợp giá trị tài sản bảo đảm nhỏ hơn giá trị của nghĩa vụ được bảo đảm thì phần nghĩa vụ chưa được thanh toán trở thành nghĩa vụ không có bảo đảm.4. Bên bảo đảm có nghĩa vụ thực hiện các thủ tục chuyển quyền sở hữu tài sản cho bên nhận bảo đảm theo quy định của pháp luật.”

Như vậy, ta thấy được ở BLDS 2024 đã quy định rõ về các phương thức xử lý tài sản bảo đảm cầm cố, thế chấp còn BLDS 2005 lại không có quy định nào nói về phương thức xử lý tài sản bảo đảm mà chỉ có trong nghị định của Chính Phủ .

Bộ phận tư vấn pháp luật Dân sự – Công ty luật Minh Khuê

Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan

Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan, Ly Hôn Đơn Phương Theo Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan, Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan (1996), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, Bùa Chú Thái Thượng Lão Quân, Chất Thải Công Nghiệp Thông Thường, Quy Mo To Chuc Dan Quan Tu Ve Trang Thai San Sang Chien Dau Thuong Xuyen, Bộ Luật Dân Sự Thái Lan, Luật Tục Dân Tộc Thái, Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Luật Tục Thái, Luật Tục Của Dân Tộc Thái, Luật ân Xá Thái Lan, Luật Bảo Hiểm Đối Với Chế Độ Thai Sản, Luật Bảo Hiểm Chế Độ Thai Sản, Luật Người Thái, Luật Bảo Hiểm Về Chế Độ Thai Sản, Luật Tục Thái ở Việt Nam, Luật Bảo Hiểm Về Thai Sản, Luật Mang Thai Hộ, Luật Tục Của Người Thái, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trang Thái Sscd Từ Thường Xuyên Lên Cao, Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn, Luật Giao Thông Thái Lan, Luật Bảo Hiểm Về Chế Độ Nghỉ Thai Sản, Kỷ Luật Sa Thải Giám Đốc Chi Nhánh, Luật Bảo Hiểm Thai Sản Năm 2024, Luật Bảo Hiểm Nghỉ Thai Sản, Luật Bảo Hiểm Cho Người Thai Sản, Điều Luật Mang Thai Hộ, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Luật Bảo Hiểm Cho Người Thai Sản Năm 2024, Định Luật Giới Hạn Sinh Thái, Giáo Trình Luật Thương Mại 2 Đại Học Luật Hà Nội, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Đúng Pháp Luật, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đánh Giá Hiện Trạng Và Nghiên Cứu Sử Dụng Bèo Tây Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Tại Thành Phố Thái N, Mẫu Đơn Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Sổ Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Kiến Thức Của Thai Phụ Về Đái Tháo Đường Thai Kỳ, Kiến Thức ,thái Độ, Hành Vi Về Rác Thải Nhựa, Đơn Đăng Ký Sổ Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Luật Yêu Thương, Đề Thi Môn Luật Thương Mại 2, Bộ Đề Thi Vấn Đáp Môn Luật Thương Mại 1, Luật Thương Mại, Luật Thương Mại 2, Luat Thuong Mai 3, Đề án Luật Thương Mại, Đề Thi Vấn Đáp Môn Luật Thương Mại, Bộ Luật Thương Mại, Luật Yêu Thương Pdf, Bộ Luật Thương Mại 36/2005, Luật Thương Mại Mới Nhất, Luật Thương Mại 2005, Dự Thảo Luật Thương Mại Sửa Đổi, Luật Thương Mại Quốc Tế, Luật Thi Đua Khen Thưởng, Dự Thảo Luật Thương Mại, Điều 306 Luật Thương Mại, Điều 301 Luật Thương Mại, Luận Văn Luật Thương Mại, Quy Chế Khen Thưởng Kỷ Luật, Báo Cáo Thực Tập Luật Thương Mại, Đề án Luật Thương Mại Quốc Tế, Mục Lục Luật Thương Mại Năm 2005, Bảng Giá Khám Thai ở 125 Thái Thịnh, Hướng Dẫn Thi Hành Luật Thương Mại, Bộ Luật Hình Sự Về Tội Cố ý Gây Thương Tích, Tiểu Luận Luật Thương Mại, Điều 6 Luật Thương Mại 2005, Luật Trọng Tài Thương Mại 2010, Bài Giảng Luật Thương Mại Quốc Tế, Điều 7 Luật Thương Mại 2005, Luật Thương Mại Hàng Hóa Quốc Tế, Giáo Trình Luật Thương Mại 2, Luận Văn Tốt Nghiệp Luật Thương Mại, Báo Cáo Thực Tập + Ngành Luật Thương Mại, Báo Cáo Tổng Kết Luật Thi Đua Khen Thưởng, Điều 3 Luật Thương Mại 2005, Góp ý Dự Thảo Luật Thi Đua Khen Thưởng, Bộ Luật Kinh Doanh Thương Mại, Khoa Kinh Tế Luật Đại Học Thương Mại, Điều 1 Luật Thương Mại 2005, Điều Luật Cố ý Gây Thương Tích, Giáo Trình Luật Thương Mại, Luật Thi Đua Khen Thưởng 2024, Bộ Luật Hình Sự Về Cố ý Gây Thương Tích, Bộ Luật Hình Sự Tội Cố ý Gây Thương Tích, Điều 71 Luật Thi Đua Khen Thưởng, Dự Thảo Luật Thương Mại 2024, Bộ Luật Hình Sự Gây Thương Tích, Bộ Luật Hình Sự Cố ý Gây Thương Tích, Quyết Định Khen Thưởng Kỷ Luật, Thủ Tục Hủy Bỏ Kết Quả Đăng Ký Thường Trú Trái Pháp Luật,

Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan, Ly Hôn Đơn Phương Theo Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan, Bộ Luật Dân Sự Và Thương Mại Thái Lan (1996), Nxb Chính Trị Quốc Gia, Hà Nội, Bùa Chú Thái Thượng Lão Quân, Chất Thải Công Nghiệp Thông Thường, Quy Mo To Chuc Dan Quan Tu Ve Trang Thai San Sang Chien Dau Thuong Xuyen, Bộ Luật Dân Sự Thái Lan, Luật Tục Dân Tộc Thái, Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Luật Tục Thái, Luật Tục Của Dân Tộc Thái, Luật ân Xá Thái Lan, Luật Bảo Hiểm Đối Với Chế Độ Thai Sản, Luật Bảo Hiểm Chế Độ Thai Sản, Luật Người Thái, Luật Bảo Hiểm Về Chế Độ Thai Sản, Luật Tục Thái ở Việt Nam, Luật Bảo Hiểm Về Thai Sản, Luật Mang Thai Hộ, Luật Tục Của Người Thái, Thời Gian Hội Nghị Chi Bộ Ra Nghị Quyết Chuyển Trang Thái Sscd Từ Thường Xuyên Lên Cao, Văn Bản Pháp Luật Về Chất Thải Rắn, Luật Giao Thông Thái Lan, Luật Bảo Hiểm Về Chế Độ Nghỉ Thai Sản, Kỷ Luật Sa Thải Giám Đốc Chi Nhánh, Luật Bảo Hiểm Thai Sản Năm 2024, Luật Bảo Hiểm Nghỉ Thai Sản, Luật Bảo Hiểm Cho Người Thai Sản, Điều Luật Mang Thai Hộ, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải, Quyết Định Xử Lý Kỷ Luật Sa Thải, Luật Bảo Hiểm Cho Người Thai Sản Năm 2024, Định Luật Giới Hạn Sinh Thái, Giáo Trình Luật Thương Mại 2 Đại Học Luật Hà Nội, Mẫu Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Trái Pháp Luật, Quyết Định Kỷ Luật Sa Thải Nhân Viên, Quyết Định Sa Thải Đúng Pháp Luật, Pháp Luật Về Bảo Vệ Quyền Lợi Người Tiêu Dùng Với Pháp Luật Thương Mại, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đề Tài Nghiên Cứu Khoa Học Về Rác Thải: ý Tưởng Công Trình Xanh – Tái Sử Dụng Rác Thải Trong Học Đườ, Đánh Giá Hiện Trạng Và Nghiên Cứu Sử Dụng Bèo Tây Xử Lý Nước Thải Chăn Nuôi Lợn Tại Thành Phố Thái N, Mẫu Đơn Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Sổ Đăng Ký Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Kiến Thức Của Thai Phụ Về Đái Tháo Đường Thai Kỳ, Kiến Thức ,thái Độ, Hành Vi Về Rác Thải Nhựa, Đơn Đăng Ký Sổ Chủ Nguồn Thải Chất Thải Nguy Hại, Luật Yêu Thương, Đề Thi Môn Luật Thương Mại 2, Bộ Đề Thi Vấn Đáp Môn Luật Thương Mại 1,

Cập nhật thông tin chi tiết về Góc Nhìn So Sánh Pháp Luật Thương Mại Và Pháp Luật Dân Sự trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!