Xu Hướng 2/2024 # Góc Nhìn Tổng Quan Về Văn Bản Sắc Phong Triều Nguyễn # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Góc Nhìn Tổng Quan Về Văn Bản Sắc Phong Triều Nguyễn được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(Phương Nam Plus) – Tổng kết 10 năm công tác số hóa các tư liệu lịch sử trên địa bàn Thừa Thiên Huế, Trung tâm Bảo tồn Di tích Cố đô Huế phối hợp với Thư viện Khoa học Tổng hợp Thành phố Hồ Chí Minh và Thư viện Tổng hợp tỉnh Thừa Thiên Huế biên soạn, xuất bản cuốn sách “Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn trên địa bàn Thừa Thiên Huế”.

Qua 143 năm (1802-1945) tồn tại, triều Nguyễn đã đóng góp cho lịch sử nước nhà nhiều thành tựu nổi bật trên tất cả các bình diện (kinh tế, văn hóa, xã hội, ngoại giao…). Trên phương diện di sản tư liệu thành văn, triều đại này đã để lại nguồn di sản Hán Nôm đồ sộ, phong phú và đa dạng.

“Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn trên địa bàn Thừa Thiên Huế” là cuốn sách khá quy mô, tóm tắt nội dung theo hình thức đề yếu của hơn 2000 đạo sắc phong. Nguồn: Trung tâm Bảo tồn di tích Cố đô Huế.

Trải qua nhiều biến thiên của thời cuộc (như sự tàn phá của chiến tranh, những ảnh hưởng khắc nghiệt của khí hậu và quan niệm, nhận thức về vấn đề lưu trữ, bảo tồn trong từng thời kỳ lịch sử có phần chưa được đầy đủ, chuẩn xác), nguồn di sản Hán Nôm nói chung và di sản Hán Nôm làng xã nói riêng đã và đang dần bị thất thoát, mất mát, hư hỏng khá nghiêm trọng, ảnh hưởng không nhỏ đến quá trình nghiên cứu và phát huy giá trị các giá trị độc đáo từ nguồn tư liệu quý giá này.

Sắc phong là loại hình văn bản hành chính cấp cao của vương triều, do hoàng đế ban bố và thưởng cấp cho thần dân trăm họ, nhằm để phong tặng, tưởng thưởng về hàm tước, quan vị, vật hạng, thần hiệu, mỹ tự…

Theo đó, “Thư mục đề yếu sắc phong triều Nguyễn trên địa bàn Thừa Thiên Huế” là cuốn sách khá quy mô, tóm tắt nội dung theo hình thức đề yếu của hơn 2000 đạo sắc phong hiện còn và đã được số hóa trên địa bàn tỉnh, sách dày hơn 800 trang, khổ 16 x24 cm, do Nhà xuất bản Thuận Hóa ấn hành. Công trình tổng hợp thư mục đề yếu của 2.198 sắc phong là kết quả của quá trình số hóa, lập phiếu thư mục của ban biên tập trên cơ sở hơn 10 năm tiến hành số hóa văn bản Hán Nôm ở nhiều làng xã của tỉnh Thừa Thiên Huế. Qua đó, đưa đến cho độc giả, các nhà nghiên cứu và những cá nhân, tổ chức quan tâm cái nhìn tổng quan về nguồn văn bản sắc phong thời Nguyễn.

Góc Nhìn Về Nghề Luật Sư Qua… Phim Tvb

Nghề Luật sư: Một góc nhìn từ phim TVB

Từ phim… “Thưa ngài Thẩm phán” (Hong Kong, 2024)

“TUÂN THỦ PHÁP LUẬT MẶC NHIÊN QUAN TRỌNG, NHƯNG KHÔNG LÀM ĐIỀU GÌ TRÁI VỚI LƯƠNG TÂM CỦA MÌNH CÀNG QUAN TRỌNG HƠN”

Bộ phim “Thưa ngài Thẩm phán” của TVB, tuy bối cảnh Hong Kong nhưng phản ánh rất chân thật, gần gũi về nghề luật sư, nhất là đối với các luật sư trẻ mới vào nghề. Bộ phim không nhiều vụ án quá kịch tích nhưng phản ánh chân thật nhiều góc cạnh về nghề Luật sư.

1. Mối quan hệ đặc biệt giữa Thầy và Trò trong nghề Luật sư Khác với những ngành nghề khác, muốn hành nghề Luật sư phải có “sư phụ” dẫn dắt để học nghề, thành nghề và hành nghề. Phim Hong Kong luôn khắc họa rất rõ nét mối quan hệ Thầy – Trò trong nghề luật sư. (Ở Việt Nam, muốn trở thành Luật sư cũng bắt buộc phải có Luật sư hướng dẫn trong thời gian tập sự – cũng là quan hệ Thầy – Trò vậy). Trong phim, hai Đại luật sư Phạm Tiểu Vũ và Nhiêu Lực Hoành là hai đệ tử của Luật sư Cừ, cùng thành danh trong giới luật pháp ở Hong Kong. Cuối đời, luật sư Cừ gặp nhiều bất hạnh trong chuyện gia đình và sức khỏe, từ Anh Quốc trở lại Hong Kong và bị mù. Hai người học trò đã rất mực kính trọng, thương yêu, dành sự chăm sóc đặc biệt đối với người Thầy của mình. Lại nói về quan hệ Thầy – Trò, lúc đầu, Luật sư Phạm theo nhầm thầy. Hai thầy trò đã có bất đồng và người thầy đó đã không ký xác nhận hồ sơ tập sự cho Luật sư Phạm, làm cho con đường trở thành Luật sư của Luật sư Phạm bị trễ nãi và gặp nhiều khó khăn (trong thời gian tập sự, học nghề không có lương). Tuy vậy, sau này người Thầy này cũng gặp khó khăn và nhờ Luật sư Phạm biện hộ. Mặc dù còn nhiều bất đồng và thậm chí oán giận người thầy cũ nhưng Luật sư Phạm vẫn ra sức biện hộ cho thầy cũ. Và tất nhiên, người thầy cũ cũng đã rất hối hận về việc gây ra không ít khó khăn trên con đường trở thành luật sư của chính học trò mình. Luật sư Phạm cũng có hai đệ tử: Luật sư Đặng Đại Chí và Luật sư Huỳnh Đồng. Mặc dù đã là Đại Luật sư nhưng vẫn nhờ sự giúp đỡ rất lớn của Thầy là Luật sư Phạm, như cùng thuê lại Văn phòng của Thầy, nhờ Thầy giới thiệu khách hàng, nhờ thầy “chỉ điểm”, động viên,… Các mối quan hệ Thầy – Trò được thể hiện trong phim phản ánh mối quan hệ đặc biệt giữa Thầy và Trò trong ngành Luật. Đó là sự dìu dắt, giúp đỡ của luật sư “sư phụ” với luật sư “đệ tử” và ngược lại là sự trân trọng, tri ân của luật sư “đệ tử” đối với luật sư “sư phụ”. Thế mới nói, chọn thầy để học là một trong những lựa chọn quan trọng của cuộc đời, nhất là đối với luật sư trong việc học nghề, thành nghề và hành nghề.

4. Văn hóa Công ty Luật Bộ phim cũng phản ánh về văn hóa Công ty Luật. Đó là những bất đồng nội bộ về văn hóa công ty tại Văn phòng Luật sư Mộc và Văn phòng Luật sư Nhiêu.

Văn phòng Luật sư Mộc thì có truyền thống “trọng nam khinh nữ” do khách hàng hay chọn Luật sư nam. Luật sư Hạ Tâm Ninh là luật sư nữ hiếm hoi được tuyển dụng sau này. Tại đây, cũng xảy ra vụ việc “ma cũ” ăn hiếp “ma mới” đến mức Luật sư này đã phải nghỉ việc. Tuy nhiên, sau đó vấn đề cũng được giải quyết, Luật sư điều hành đã mời Luật sư Hạ về làm việc lại và tiếp thu những góp ý của cô để xây dựng văn hóa công ty.

Không phù hợp về văn hóa công ty luật, còn có trường hợp Luật sư Giả tại Văn phòng Luật sư Nhiêu. Cô này hay nói xấu người khác, gặp người này thì hay nói xâu người kia, lôi kéo bè phái, đòi giành quyền điều hành từ Luật sư Nhiêu,… nhưng cuối cùng người không phù hợp nhất mới chính là người bị buộc phải ra đi.

5. Phải chăng Luật sư là không trọn vẹn trong chuyện tình cảm? (Trong tiêu đề trên có dấu hỏi). Không biết sao nhưng bộ phim phản ánh một điều là đã là luật sư thì có vẻ đời sống tình cảm khó trọn vẹn. Ngay như Luật sư Cừ, sư phụ của Luật sư Phạm và Luật sư Nhiêu, cuối đời cũng có tranh chấp với con cái, về Hong Kong sống một mình trong cảnh mù lòa. Luật sư Phạm cũng không có một cuộc sống hôn nhân hạnh phúc. Luật sư Nhiêu cũng chia tay vợ. Luật sư Chí – đệ tử của Luật sư Phạm – cũng không hạnh phúc trong cuộc sống hôn nhân. Dường như các Luật sư trong phim đều khó trọn vẹn chuyện tình cảm. Phải chăng, Luật sư có thù với thần tình ái?

Sắc Phong: Độc Bản Lưu Giữ Giá Trị Việt

Theo nghiên cứu của Viện Viễn Đông Bác Cổ, tại 90 huyện ở Đồng Bằng Bắc Bộ, các triều Vua Việt Nam đã ban hành khoảng 40.000 sắc phong. Phần lớn trong số đó đang bị hư hỏng do tác động của thời gian và những biến cố lịch sử.

Phần lớn những nơi lưu giữ sắc phong đều chung thực trạng “3 không”

Sắc phong là văn bản cao quý do Vua ban hành để tặng thưởng cho bách thần và các quan viên có công lao với vương triều, đất nước, cũng chính là sự ghi công của vương triều đối với nhân vật để không chỉ con cháu họ tộc được tự hào mà quê hương, làng xã cũng thơm danh.

Bên cạnh ý nghĩa lịch sử, sắc phong còn thể hiện giá trị thẩm mỹ độc đáo. Nhìn vào sắc phong, người ta có thể biết được xuất xứ triều đại nào, niên đại bao nhiêu, những nét văn hóa lịch sử đặc trưng của thời kỳ ấy ra sao. Bên cạnh đó, sắc phong còn là nguồn tư liệu chuẩn xác để nghiên cứu sự thay đổi địa danh (tên gọi các địa phương) và đơn vị hành chính.

Một sắc phong cổ bị biến dạng gần như hoàn toàn

Đã nhiều năm gắn bó với công tác tu bổ phục chế sắc phong, ông Trần Đăng Phương, Trưởng phòng Bảo quản Trung tâm Lưu trữ Quốc gia I, Cục Văn thư và Lưu trữ Nhà nước không thể nhớ hết đã từng “làm việc” với bao nhiêu đạo sắc phong. Những sắc phong qua bàn tay ông có thể khác nhau về niên đại, hình thức, giá trị thẩm mỹ… nhưng đều có một điểm chung là phần lớn đều hoặc bị nhuốm màu thời gian hoặc bị hư hỏng: rách, mủn, mục, bết dính, ố vàng… Nguyên nhân phần lớn là do ảnh hưởng của chiến tranh, thiên tai, điều kiện bảo quản không tốt và sử dụng không đúng cách.

Lần gần đây nhất, ngày 17.2, ông Trần Đăng Phương đã trực tiếp đến và  tu bổ phục chế sắc phong ngay tại đình Phú Vĩnh, một ngôi đình cổ nằm ở xã Bằng Giã, huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ, nơi đặc trưng với kiến trúc nghệ thuật triều Nguyễn và hiện còn lưu giữ 3/7 đạo sắc phong (01 sắc phong triều vua Tự Đức; 01 sắc phòng triều vua Đồng Khánh; 01 sắc phong triều vua Khải Định) 

Sắc phong triều vua Đồng Khánh ở đình Phú Vĩnh sau khi được tu bổ phục chế

Vì vấn đề tín ngưỡng nói chung, quan niệm của con người nói riêng nhiều địa phương không muốn đưa các sắc phong bị hư hỏng ra khỏi nơi thờ tự, ông Phương phải thực hiện việc phục chế sắc phong ngay tại đình. Đây là một thách thức không nhỏ bởi cơ sở vật chất tại đình không thể bằng ở xưởng phục chế nơi có đầy đủ phương tiện, công cụ phục vụ quá trình phục chế: máy hút ẩm, điều hòa nhiệt độ… 

Trước yêu cầu phải phục chế tại đình, ông Trần Đăng Phương đã phải tiến hành tiếp cận, đánh giá thẩm định mức độ hư hại và lựa chọn giải pháp tu bổ, phục chế phù hợp với từng đạo sắc phong, để rồi khi bắt tay vào việc cố gắng hoàn thành công việc trong một ngày. Lẽ ra theo nguyên tắc phải mất từ năm đến bảy ngày tại xưởng thì mới có thể hoàn tất công việc, đây là phương án tối ưu nhất trong trường hợp phải tiến hành phục chế ngay tại hiện trường. 

Sau này khi quá trình phục chế hoàn tất, ông Phương ví von đó là một “ca cấp cứu” tại bệnh viện dã chiến, “như thế đã là tốt rồi, còn hơn là không làm, cuối cùng thì “bệnh nhân” của tôi đã hồi phục”. 

Sắc phong triều vua Khải Định ở đình Phú Vĩnh sau khi được tu bổ phục chế

Có thể không nhớ được chính xác đã từng “hồi sinh” bao nhiêu đạo sắc phong, nhưng ông vẫn không thể quên được thực trạng lưu trữ và bảo quản sắc phong tại các đình, chùa hiện nay. “Phần lớn những nơi lưu trữ và bảo quản các đạo sắc phong có 3 điểm chung: không hiểu gì về nội dung (hoặc không đầy đủ), không biết bảo quản như thế nào và không biết sử dụng ra sao cho đúng cách” – ông Phương cho biết.

Bảo tồn, phục chế sắc phong không chỉ trông chờ vào chữ “duyên”

Nói về cơ duyên tiếp cận để có thể phục chế các đạo sắc phong cổ bị hư hại, ông Trần Đăng Phương nhấn mạnh rằng nhờ  “duyên”. Nhờ duyên nên một chuyên gia phục chế văn bản cổ như ông mới có thể tiếp cận những sắc phong mang tính độc bản vốn đang bị hư hại và có nguy cơ biến mất. Và cũng nhờ duyên nên các văn bản cổ đó mới đến được với bàn tay của người chuyên gia để rồi được “hồi sinh”.

Thế nhưng, bất cứ ai cũng có thể hiểu rằng, phục chế sắc phong – một công việc quan trọng như thế nhất thiết không được, và không thể được làm chỉ dựa vào chữ “duyên”. 

“Nhất định phải xóa bỏ thực trạng “3 không” tại các nơi lưu trữ sắc phong hiện nay”, ông Trần Đăng Phương nhấn mạnh “Không phải từ bây giờ, mà ngay từ năm 2014, Cục Văn thư và Lưu trữ nhà nước đã giao cho Trung tâm Lưu trữ Quốc gia cử những đoàn cán bộ đến tìm hiểu thực trạng và tiến hành tu bổ sắc phong tại các cơ sở thờ tự trên một số tỉnh, thành phố, đồng thời tuyên truyền, hướng dẫn cho người dân phương pháp bảo quản các tài liệu cổ quý giá này. 

Chuyên gia Nhật Bản hỗ trợ các cán bộ của Trung tâm Lưu trữ Quốc gia phục chế sắc phong cổ

Đặc biệt, trong năm 2024, Trung tâm Lưu trữ quốc gia I đã phối hợp với Chi cục văn thư Lưu trữ, Hội Khoa học Lịch sử tỉnh Đồng Tháp tổ chức lớp tập huấn về bảo quản tài liệu Hán Nôm cho các gia đình, dòng họ, cơ sở thờ tự trên địa bản của tỉnh. Lớp tập huấn góp phần tuyên truyền sâu rộng về nghiệp vụ, kinh nghiệm trong quản lý, bảo quản, sử dụng sắc phong. 

Trong chuyến công tác đó, kỉ niệm mà ông Phương nhớ nhất là ánh mắt của một cụ bà đã hơn 70 tuổi ở đền thờ Tuyên Trung Hầu sau khi nhìn thấy đạo sắc phong cho gia tộc của bà xưa kia được tu bổ phục chế, đã thốt lên rằng: “nếu có chết bây giờ thì tôi cũng có thể mãn nguyện nhắm mắt bởi đã hoàn tất di nguyện của thân phụ trước khi qua đời là “bằng mọi giá phải cố gắng hồi sinh đạo sắc phong của gia tộc đang được lưu giữ tại bản đền”.

Ông Trần Đăng Phương trong quá trình phục chế sắc phong cổ ở đền thờ Tuyên Trung Hầu (Đồng Tháp)

Trải qua sự bào mòn của thời gian và những biến cố, thăng trầm của lịch sử, sắc phong vẫn vẹn nguyên giá trị và ý nghĩa, là sự ghi nhận của lịch sử đối với công trạng của các bậc tiền nhân, để thế hệ sau này thêm hiểu về lịch sử, qua đó hun đúc niềm tự hào dân tộc. Vấn đề cốt yếu là làm sao gìn giữ và bảo tồn các văn bản ấy. Để làm được điều này, cần lắm sự đồng lòng, mối liên kết giữa người dân, nhà khoa học và các cơ quan chuyên môn… để các tài liệu cổ mang tính độc bản đó mãi được lưu truyền cho muôn đời sau.

Anh Vũ/ Vietnam Journey

Một Góc Nhìn Nghề Luật Sư Ở Mỹ

Chuyến bay mang ký hiệu KE 037 của Hãng hàng không Korean Air hạ cánh xuống sân bay quốc tế O’Hare vào lúc gần 11h sáng giờ địa phương. Sau hành trình từ TP.Hồ Chí Minh quá cảnh tại Seoul, chúng tôi đã chạm vào mùa hè nước Mỹ qua cửa ngõ Chicago và sẽ tham gia một số sự kiện nhân Hội nghị thường niên năm 2012 của Hiệp hội Luật sư Hoa Kỳ (ABA).

Theo dự báo thời tiết, nhiệt độ ở Chicago những ngày này khá lý tưởng, trung bình từ khoảng 17oC đến 27°C, nhưng độ ẩm khá cao và cuối giờ chiều tôi đã bắt gặp trận mưa rào đầu tiên.

Số liệu khảo sát hàng năm của ABA cho thấy, hiện Hoa Kỳ có khoảng trên 1,2 triệu luật sư trên tổng số dân khoảng 312 triệu, với tỉ lệ khoảng 01 luật sư/300 người dân. Theo tài liệu tham khảo của luật sư Richard S. Shine, rất khó ước lượng số lượng luật sư hành nghề trong lĩnh vực luật hình sự ở Hoa Kỳ, bởi không có cơ quan đăng ký Trung ương cho các luật sư này. Mặc dù mỗi luật sư hành nghề phải là thành viên của một trong 50 đoàn luật sư của tiểu bang, trong đó một số luật sư là thành viên của nhiều đoàn luật sư tiểu bang cùng một lúc, nhưng thực tế không có đoàn luật sư nào yêu cầu luật sư phải thông báo cho đoàn về việc mình có hành nghề luật hình sự hay không. Tuy nhiên, trong số các thành viên của ABA, có khoảng 19.000 người đã gia nhập bộ phận tư pháp hình sự, theo đó bày tỏ mối quan tâm về luật hình sự (bao gồm cả các công tố viên và luật sư bào chữa). Hiện ở Mỹ có khoảng 1.380 trợ tá bào chữa viên Nhà nước Liên bang và khoảng 10.000 luật sư tư nhân được chỉ định- là những người được các Tòa án liên bang trả lương theo quy định của Luật Tư pháp Hình sự nhằm đại diện cho các bị can có hoàn cảnh khó khăn tại các Tòa án liên bang. Ngoài ra, cần phải tính đến số lượng khoảng 31.000 người ở tiểu bang và khu vực so với 6.000 người ở liên bang làm việc trong các văn phòng bào chữa nhà nước.

Để có thể đạt được mức phát triển nghề luật sư như hiện nay, tùy thuộc rất nhiều vào cách thức tổ chức bộ máy quyền lực nhà nước, phân định chức năng tố tụng, cũng như một số nguyên tắc cơ bản được quy định trong Hiến pháp Hoa Kỳ. Mặc dù có sự khác biệt đáng kể giữa hệ thống tư pháp, nhưng trong điều kiện chủ trương mở rộng và bảo đảm tranh tụng dân chủ, hướng đến việc tôn trọng và bảo đảm quyền con người trong hoạt động tư pháp ở Việt Nam, một số quan niệm và cách tiếp cận phát triển nghề luật sư ở Mỹ cùng với các quốc gia phát triển khác, có thể là sự tham khảo hữu ích trong quá trình hoàn thiện mô hình tố tụng hình sự ở nước ta hiện nay.

Công Nghiệp Ô Tô Việt Nam, Góc Nhìn Luật Sư.

Trong chương trình luật sư doanh nghiệp kênh truyền hình VITV, luật sư Nguyễn Thanh Hà, chủ tịch SBLAW đã có phần trả lời phỏng vấn về các quy định phát triển công nghiệp ô tô Việt Nam, chúng tôi trân trọng giới thiệu nội dung bài phỏng vấn: PV: Thưa Luật sư, Luật sư có thể nêu những thay đổi chủ yếu trong biểu thuế suất nhập khẩu linh kiện ô tô vài năm trở lại đây? (Có thể từ năm 2000).

Luật sư trả lời: Có thể nói, công cụ thuế trong đó có thuế nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô có ảnh hưởng rất lớn đến định hướng và sự phát triển của ngành sản xuất và lắp ráp ô tô trong nước. Chính phủ, mà ở đây là thông qua Bộ Tài Chính đã dùng công cụ thuế để điều chỉnh nhằm đạt mục tiêu bảo hộ nhà sản xuất trong nước và tăng tỷ lệ nội địa hoá trong quá trình sản xuất xe.

Từ trước thời điểm năm 2005, việc đánh thuế đối với linh kiện ô tô được áp theo bộ linh kiện dạng CKD và IKD, tuy nhiên, từ thời điểm đó đến nay, Bộ Tài Chính đã xây dựng Biểu thuế suất cho từng linh kiện phụ tùng để thay thế cho cách tính thuế theo bộ linh kiện CKD, IKD. Với cách tính này, thuế suất nhập khẩu linh kiện ô tô đã tăng dần lên và theo hướng giảm bớt sự bảo hộ của nhà nước đối với ngành sản xuất và lắp ráp của các nhà sản xuất ô tô trong nước.

Xu hướng chung là thuế suất nhập khẩu linh kiện ô tô ngày càng tăng, tuy nhiên các mức thuế suất này đã không được duy trì một cách ổn định, lâu dài, ví dụ như trong năm 2008, Bộ Tài Chính đã có tới hơn 02 lần điều chỉnh mức thuế suất nhập khẩu đối với linh kiện và phụ tùng ô tô theo hướng tăng thuế, tuy nhiên, sang đầu năm 2009, mức thuế suất lại được điều chỉnh giảm xuống từ 2 đến 5% so với mức thuế suất cũ.

PV: Trong những thay đổi về chính sách từ trước đến nay, Luật sư cho rằng thay đổi nào có tác động mạnh nhất đến hoạt động sản xuất ô tô trong nước? (Tích cực và tiêu cực)

Luật sư trả lời: Theo quan điểm của tôi, việc thay đổi chính sách thuế trong giai đoạn nêu trên là việc thực hiện mục tiêu của Chính phủ nhằm xây dựng được một ngành công nghiệp ô tô đích thực cho Việt Nam, tuy nhiên, có thể nhận thấy việc dung công cụ thuế như trên đã không đem lại hiệu quả như mong muốn là xây dựng được ngành công nghiệp ô tô Việt Nam phát triển, nâng dần tỷ lệ nội địa hoá, ví dụ nhà nước sẽ tăng thuế đối với những linh kiện mà trong nước đã sản xuất được và áp dụng mức thuế xuất thấp đối với các linh kiện Việt Nam chưa sản xuất được.

Tuy nhiên, chính sách này cũng không đem lại hiệu quả khi các nhà sản xuất trong nước không nâng dần tỷ lệ nội địa hoá lên bởi vì chính sách tăng thuế suất đối với linh kiện lại không được đi kèm với các chính sách đồng bộ khác.

PV: Những thay đổi trong thông tư gần đây nhất của Bộ tài chính về Biểu thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện ô tô? (Thông tư 38/2009/TT-BTC)

Luật sư trả lời: Như Quý vị đã biết, bước vào năm 2009, nền kinh tế Việt Nam và thế giới rơi vào khủng hoảng sâu và ảnh hưởng rất lớn đến các nhà sản xuất ô tô trong nước vì nhu cầu tiêu dùng xe giảm. Đứng trước thực trạng đó, Bộ TC đã ban hành Thông tư số 38/2009/TT-BTC ngày 27/2/2009, theo đó từ ngày 09/03/2009, thuế suất thuế nhập khẩu ưu đãi đối với các linh kiện, phụ tùng ô tô trong Biểu thuế nhập khẩu đãi được điều chỉnh giảm từ 2 – 5%.

PV: Trong biểu thuế mới này, thuế nhập khẩu linh kiện ô tô giảm nhiều hơn so với trước đây, theo Luật sư, điều này có gây khó khăn cho các DN SX ô tô trong nước hay không?

Cụ thể là đối với động cơ đốt trong kiểu piston chuyển động tịnh tiến hoặc kiểu piston chuyển động quay tròn, đốt cháy bằng tia lửa điện dùng cho xe chở người dưới 16 chỗ ngồi, chưa lắp ráp hoàn chỉnh áp dụng thuế suất mới 20% thay cho mức 22 – 23% như Thông tư cũ, các bộ phận động cơ giảm xuống còn 15% thay cho mức 20%.

Luật sư trả lời: Có thể nhận định là, sau hàng loạt các Quyết định tăng thuế trong năm 2008, thì đây là lần giảm thuế đầu tiên trong năm 2009 sau khi có các kiến nghị của các nhà sản xuất ô tô trong nước về việc giảm thuế trong đó có thuế suất thuế nhập khẩu linh kiện và phụ tùng ô tô.

PV. Theo Luật sư cần có biện pháp gì để tạo thuận lợi hơn cho các DN SX ô tô trong nước? Luật sư có thể nêu một số kinh nghiệm bảo hộ ô tô trong nước của các nước Trung Quốc, nhất là Malaysia, có thể áp dụng cho VN? (VD: hãng Proton của Malaysia.

Với việc giảm thuế này, có thể nhận định các doanh nghiệp SX ô tô trong nước đã tác động được các nhà làm chính sách và việc giảm thuế này sẽ đem lại các lợi ích nhất định cho doanh nghiệp cụ thể là việc giảm thuế đối với linh kiện và phụ tùng dẫn tới giá thành xe lắp ráp trong nước cũng giảm theo, từ đó sẽ thúc đẩy các doanh nghiệp hạ giá thành xe và kích cầu tiêu dùng. giúp doanh nghiệp vượt qua những khó khăn do khủng hoảng kinh tế.

Luật sư trả lời: Đứng dưới góc độ pháp luật, theo tôi, để tạo thuận lợi hơn cho các DN SX ô tô trong nước, các nhà làm luật và chính sách, cụ thể ở đây là Chính Phủ, Bộ Tài Chính cần xây dựng được một chiến lược phát triển ngành công nghiệp ô tô nhất quán và rõ ràng thông qua các văn bản pháp lý cụ thể như các Nghị định và Thông tư.

Kinh nghiệm của các nước đi trước Việt Nam trong lĩnh vực bảo hộ ngành sản xuất ô tô trong nước như kinh nghiệm của Malaysia đối với thương hiệu xe Proton cho thấy Chính phủ cần phải có một chính sách rõ ràng ngay từ đầu và thực hiện nó một cách cương quyết, có lộ trình bảo hộ cụ thể. Malaysia đã nhập nguyên, mua đứt bản quyền với hãng Mitsubishi Corp. (Nhật Bản) một dây chuyền sản xuất ô tô bình dân, theo phương thức chìa khoá trao tay, và sản xuất ra chiếc ô tô Proton.

Với chính sách bảo hộ đánh thuế 300% xe nhập và bán trả góp giá thấp, chỉ 3.000USD mỗi chiếc Proton trong một sớm một chiều, mỗi người dân Ma-lai-xi-a đều có thể sở hữu một chiếc ô tô, và chỉ trong một thời gian ngắn đầu tư này hoàn vốn rồi sinh lãi. Đây cũng được coi là một bài học quý cho các nhà hoạch định chính sách phát triển ngành ô tô Việt Nam, có nghĩa là công cụ thuế chỉ là một mắt xích trong toàn bộ quá trình phát triển ngành công nghiệp ô tô, nó không thể là một biện pháp duy nhất mà cần có sự phối hợp đồng bộ.

Góc Nhìn:thêm Khuôn Khổ Để Sắp Xếp Lại Doanh Nghiệp

Chính phủ vừa ban hành Nghị định 128 về bán và chuyển giao doanh nghiệp (DN) 100% vốn nhà nước, được kỳ vọng thúc đẩy tiến trình sắp xếp lại các doanh nghiệp nhà nước (DNNN) trong thời gian tới.

Một trong những trọng tâm của công tác đẩy mạnh sắp xếp lại các DNNN là xây dựng và hoàn thiện khuôn khổ pháp lý cho các hoạt động này. Kể từ năm 2011 đến nay, Chính phủ đã rất nỗ lực trong việc ban hành các văn bản pháp luật, tiêu biểu như Nghị định 59 và các thông tư hướng dẫn về việc chuyển DN 100% vốn nhà nước thành công ty cổ phần.

Qua đó, điều chỉnh hoạt động cổ phần hóa, trong đó đột phá mới nhất là Quyết định 51 có hiệu lực từ ngày 1/11/2014 cho phép việc thoái vốn dưới mệnh giá và yêu cầu ở cấp độ cao hơn đối với việc thực thi niêm yết của các DNNN.

Nghị định 128 ban hành ngày 31/12/2014 về bán, chuyển giao DN 100% vốn nhà nước. Nếu như Nghị định 59 tập trung các quy định về cổ phần hóa thì Nghị định 128 nhấn mạnh vào hoạt động bán và chuyển giao.

Đối tượng và điều kiện áp dụng của Nghị định 128 ngoài các DN thuộc diện bán đã được Thủ tướng phê duyệt trong Đề án tổng thể sắp xếp DN 100% vốn nhà nước thì còn bao gồm các DN thuộc diện nhưng không thực hiện được.

Nghị định 128 mới ban hành có thể được coi là giải pháp tháo gỡ khó khăn trên khi áp dụng phương thức bán thỏa thuận trực tiếp trong trường hợp chỉ có một đơn đăng ký mua DN hợp lệ được chấp thuận. Nhà đầu tư nước ngoài cũng được mở rộng cửa chào đón khi được mua DN Việt với tỷ lệ không hạn chế (ngoại trừ một vài ngành nghề, lĩnh vực).

Nghị định cũng có một điều khoản mới là cho phép giảm giá tối đa 5% giá bán không bao gồm giá trị quyền sử dụng đất và không vượt quá số vốn chủ sở hữu nếu DN trả tiền một lần ngay sau khi mua.

Nghị định 128 bắt đầu có hiệu lực từ ngày 1/3/2024 và kỳ vọng sẽ thúc đẩy nhanh hơn nữa tiến trình sắp xếp lại DNNN trong thời gian tới.

LÝ AN

Cập nhật thông tin chi tiết về Góc Nhìn Tổng Quan Về Văn Bản Sắc Phong Triều Nguyễn trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!