Xu Hướng 12/2022 # Hải Phòng Cần Chú Trọng Phát Triển Ba Trụ Cột Chiến Lược / 2023 # Top 20 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Hải Phòng Cần Chú Trọng Phát Triển Ba Trụ Cột Chiến Lược / 2023 # Top 20 View

Bạn đang xem bài viết Hải Phòng Cần Chú Trọng Phát Triển Ba Trụ Cột Chiến Lược / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

(Chinhphu.vn) - Để thực hiện thành công Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong thời gian tới, Thành phố Hải Phòng cần chú trọng phát triển kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao và du lịch là ba trụ cột chiến lược của Hải Phòng từ nay đến năm 2045.

Một góc thành phố Hải Phòng

Văn phòng Chính phủ vừa có Thông báo kết luận của Thủ tướng Chính phủ Nguyễn Xuân Phúc tại buổi làm việc với lãnh đạo thành phố Hải Phòng. Thay mặt Chính phủ, Thủ tướng đánh giá cao, biểu dương nỗ lực của các cấp ủy Đảng, chính quyền, quân và nhân dân thành phố Hải Phòng đã thực hiện xuất sắc “mục tiêu kép”: vừa quyết liệt, chủ động, với nhiều cách làm hay, sáng tạo trong phòng chống dịch COVID-19; vừa nỗ lực phát triển kinh tế xã hội, trở thành địa phương có tốc độ tăng trưởng kinh tế cao nhóm đầu trong cả nước. Tốc độ tăng trưởng kinh tế trong Quý I năm 2020 đạt 14,9% (gấp 3,92 lần mức trung bình cả nước); tỷ lệ hộ nghèo còn 0,72%.

Để thực hiện thành công Nghị quyết 45-NQ/TW của Bộ Chính trị, trong thời gian tới, Thành phố Hải Phòng cần chú trọng phát triển kinh tế biển, công nghiệp công nghệ cao và du lịch là ba trụ cột chiến lược của Hải Phòng từ nay đến năm 2045.

Cụ thể, kinh tế biển trên cơ sở tận dụng thành tựu của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế đưa Hải Phòng trở thành địa phương mạnh về biển, giàu từ biển, là trọng điểm phát triển kinh tế biển cả nước.

Xây dựng Hải Phòng trở thành một thành phố cảng quan trọng thu hút nhiều tập đoàn lớn trên thế giới đến đầu tư, kinh doanh; thu hút đầu tư trực tiếp nước ngoài (FDI) có chọn lọc; hình thành và phát triển các khu công nghiệp sinh thái đảm bảo hài hòa giữa phát triển công nghiệp, dịch vụ và bảo vệ môi trường; có cơ chế, chính sách đột phá, tạo điều kiện cho một số lĩnh vực công nghiệp mang tính đặc thù, thế mạnh.

Định hướng phát triển du lịch – một lĩnh vực phát triển quan trọng của thành phố kết nối giữa Đồ Sơn – Cát Bà – Hạ Long, liên kết vùng Hà Nội – Hải Phòng – Quảng Ninh trong phát triển du lịch, dịch vụ. Trong tương lai, Hải Phòng phải trở thành trung tâm du lịch chất lượng cao tầm quốc tế với dịch vụ chất lượng cao, mua sắm, giải trí, điểm đến của du khách trên thế giới.

Hải Phòng phải là trung tâm giáo dục – đào tạo, y tế và khoa học – công nghệ của vùng duyên hải Bắc Bộ; là đầu mối giao thông quan trọng của cả nước, cửa chính ra biển của các địa phương phía Bắc; nơi hội tụ tinh hoa văn hóa Việt Nam kết hợp hài hòa với những giá trị văn hóa nhân loại tiến bộ; người Hải Phòng văn minh, thanh lịch, năng động, thông minh, tiêu biểu cho trí tuệ và truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

Tăng cường phát triển đô thị và liên kết vùng, xây dựng Hải Phòng trở thành đô thị thông minh, hiện đại, một thành phố đáng sống gắn với sự phát triển của cuộc Cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Quy hoạch không gian đô thị đi trước một bước trên cơ sở tích hợp các yêu cầu phát triển bền vững theo hướng tránh tập trung quá nhiều vào lõi đô thị. Hoàn thành việc di chuyển trung tâm hành chính sang phía Bắc sông Cấm; phát triển đô thị vệ tinh có quy mô hợp lý, phù hợp với trình độ quản lý và khả năng huy động các nguồn lực xã hội với phương châm Nhà nước quy hoạch, doanh nghiệp thực hiện, người dân cùng tham gia và thụ hưởng như mong muốn của Chủ tịch Hồ Chí Minh xây dựng Hải Phòng trở thành “Thành phố gương mẫu của nước ta”.

Phấn đấu đến năm 2030, Hải Phòng đạt các tiêu chí của đô thị loại đặc biệt

Kết luận cũng nêu rõ cần phân kỳ phát triển thành phố một cách khoa học, theo từng giai đoạn phù hợp với quy hoạch phát triển. Phấn đấu đến năm 2030, Hải Phòng đạt các tiêu chí của đô thị loại đặc biệt. Nghiên cứu xây dựng hệ thống tàu điện ngầm trong thành phố. Phấn đấu đến năm 2045, Hải Phòng phải có trình độ phát triển cao trong nhóm thành phố hàng đầu Châu Á. Không chỉ trở thành đầu tàu về phát triển kinh tế, Hải Phòng cần quan tâm mạnh mẽ, tập trung nguồn lực đầu tư tương xứng các lĩnh vực văn hóa xã hội, bảo đảm môi trường sống an ninh, an toàn, văn minh.

Nhiệm vụ đối với Hải Phòng trong 08 tháng còn lại của năm 2020 rất quan trọng và là một cực tăng trưởng cho phát triển của đất nước. Do vậy cần triển khai đồng bộ các biện pháp như thúc đẩy giải ngân đầu tư công, phát triển doanh nghiệp, bán lẻ, dịch vụ, tạo môi trường kinh doanh thuận lợi hơn nữa thúc đẩy kinh tế tư nhân, xây dựng nông thôn mới, hỗ trợ người dân… cùng cả nước phấn đấu hoàn thành cao nhất mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội. Hải Phòng không được thỏa mãn với thành quả bước đầu mà cần thấy rõ nhiệm vụ nặng nề trước mắt và lâu dài để các cấp, các ngành, người dân và doanh nghiệp trên địa bàn thành phố triển khai tốt hơn.

Tiếp tục đẩy mạnh cải thiện môi trường đầu tư kinh doanh, tháo gỡ khó khăn, vướng mắc của doanh nghiệp, người dân. Phát triển mạnh các loại hình doanh nghiệp, thúc đẩy khởi nghiệp, đổi mới sáng tạo; chú trọng phát triển doanh nghiệp vừa và nhỏ, doanh nghiệp công nghiệp hỗ trợ, dịch vụ. Đẩy mạnh cải cách hành chính (phấn đấu chỉ số PCI của Hải Phòng phải thuộc nhóm dẫn đầu cả nước); xây dựng một chính quyền liêm chính, hành động, phục vụ trên nền tảng chính quyền điện tử công khai, minh bạch, hiện đại, chuyên nghiệp.

Làm tốt hơn nữa công tác quản lý đô thị, đặc biệt là quản lý trật tự xây dựng, an toàn giao thông, kỷ cương và văn minh đô thị. Chú trọng bảo vệ môi trường đô thị, cấp thoát nước, xử lý nước thải, rác thải, quản lý dân cư; môi trường nước, môi trường không khí, đặc biệt là xung quanh các khu công nghiệp, bảo đảm chất lượng cuộc sống của người dân và phát triển bền vững. Tập trung giải quyết tốt các vấn đề về nhà ở đô thị; xây dựng thiết chế văn hóa cho công nhân trong các khu công nghiệp, nhất là nhà ở cho công nhân.

Bảo đảm vững chắc an ninh chính trị, quốc phòng, trật tự an toàn xã hội. Tuyệt đối không để các đối tượng lợi dụng tình hình dịch bệnh gây mất an ninh trật tự. Tăng cường phòng, chống cháy nổ, cứu hộ, cứu nạn. Đẩy mạnh đấu tranh phòng chống các loại tội phạm, tệ nạn xã hội, nhất là tội phạm có tổ chức, ma túy, tín dụng đen, xâm hại phụ nữ, trẻ em…

Bên cạnh đó, thành phố Hải Phòng tập trung chỉ đạo tổ chức thành công Đại hội đảng bộ các cấp nhiệm kỳ 2020 – 2025, tiến tới Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng.

Chí Kiên

Sau 10 Năm Thực Hiện Chiến Lược Phát Triển Năng Lượng Quốc Gia / 2023

Bất cập của Quy hoạch điện lực quốc gia và kiến nghị khắc phục

KỲ 1: THÀNH TỰU 10 NĂM THỰC HIỆN CHIẾN LƯỢC PHÁT TRIỂN NĂNG LƯỢNG QUỐC GIA

 

PGS, TS. NGUYỄN CẢNH NAM – TẠP CHÍ NĂNG LƯỢNG VIỆT NAM

Chiến lược đã đề ra các mục tiêu cụ thể là:

1/ Phấn đấu đảm bảo cung cấp đủ năng lượng cho nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội, trong đó năng lượng sơ cấp năm 2010 đạt khoảng 47,5 – 49,5 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), đến năm 2020 đạt khoảng 100 – 110 triệu TOE, đến năm 2025 khoảng 110 – 120 triệu TOE và đến năm 2050 khoảng 310 – 320 triệu TOE.

2/ Nâng cao độ chính xác trong việc đánh giá trữ lượng các nguồn năng lượng sơ cấp (than, dầu khí, thuỷ điện và u-ra-ni-um). Mở rộng hợp tác với các nước trong khu vực và thế giới trong việc tìm kiếm, thăm dò, khai thác than, dầu khí và các dạng năng lượng khác ở nước ngoài bổ sung nguồn năng lượng thiếu hụt trong nước.

3/ Phát triển nguồn, lưới điện, đảm bảo đáp ứng đủ nhu cầu điện cho phát triển kinh tế – xã hội, đến năm 2010 độ tin cậy cung cấp của nguồn điện là 99,7%; lưới điện bảo đảm tiêu chuẩn n-1.

4/ Phát triển các nhà máy lọc dầu, từng bước đáp ứng đủ nhu cầu về các sản phẩm dầu trong nước, đưa tổng công suất các nhà máy lọc dầu lên khoảng 25 đến 30 triệu tấn dầu thô vào năm 2020.

5/ Bảo đảm mức dự trữ chiến lược xăng dầu quốc gia đạt 45 ngày tiêu thụ bình quân vào năm 2010, đạt 60 ngày vào năm 2020 và đạt 90 ngày vào năm 2025.

6/ Phấn đấu tăng tỷ lệ các nguồn năng lượng mới và tái tạo lên khoảng 3% tổng năng lượng thương mại sơ cấp vào năm 2010; khoảng 5% vào năm 2020, và khoảng 11% vào năm 2050.

7/ Hoàn thành chương trình năng lượng nông thôn, miền núi. Đưa số hộ nông thôn sử dụng năng lượng thương mại để đun nấu lên 50% vào năm 2010 và 80% vào năm 2020. Đến năm 2010 đạt 95% số hộ dân nông thôn có điện, đến năm 2020 hầu hết số hộ dân nông thôn có điện.  

8/ Xây dựng các mục tiêu, tiêu chuẩn dài hạn về môi trường theo hướng thống nhất với tiêu chuẩn môi trường khu vực và thế giới, phù hợp với điều kiện kinh tế của đất nước. Kiểm soát và giảm nhẹ ô nhiễm môi trường trong các hoạt động năng lượng; đến năm 2015 tất cả các công trình năng lượng phải đáp ứng tiêu chuẩn về môi trường.

9/ Chuyển mạnh các ngành điện, than, dầu khí sang hoạt động theo cơ chế thị trường cạnh tranh có sự điều tiết của Nhà nước. Hình thành thị trường bán lẻ điện cạnh tranh giai đoạn sau năm 2022; hình thành thị trường kinh doanh than, dầu khí trong giai đoạn từ nay đến năm 2015.

10/ Tích cực chuẩn bị các điều kiện cần thiết và đồng bộ để đưa tổ máy điện hạt nhân đầu tiên vận hành vào năm 2020, sau đó tăng nhanh tỷ trọng điện hạt nhân trong cơ cấu năng lượng quốc gia. Đến năm 2050, năng lượng điện hạt nhân chiếm khoảng 15 – 20% tổng tiêu thụ năng lượng thương mại toàn quốc.

11/ Tăng cường hợp tác quốc tế trong lĩnh vực năng lượng. Phấn đấu từ năm 2010-2015, thực hiện liên kết lưới điện khu vực (bằng cấp điện áp đến 500 kV), từ năm 2015 – 2020, thực hiện liên kết hệ thống khí thiên nhiên khu vực.

Kết quả đạt được sau 10 năm thực hiện Chiến lược

Các chỉ tiêu chính đạt được như sau:

Chỉ tiêu

Đơn vị tính

2007

2010

2015

2016

2017

Năng lượng sơ cấp

 

 

 

 

 

 

Tổng tiêu thụ 

106toe

30,6

44,3

63,7

64,8

68,23

Chỉ số phát triển

%

100

144,8

143,8

101,7

105,2

Ngành điện

 

 

 

 

 

 

Công suất đặt

MW

13.512

21.542

38.523

42.340,96

46.049,56

Chỉ số phát triển

%

100

159,4

178,8

109,9

108,8

Điện cung cấp

GWh

67,8

97,3

160,3

178,4

192,9

Chỉ số phát triển

%

100

143,5

164,7

111,3

108,1

– Nhập khẩu

2.630

5.599

2.393

2.715

1.321

– Điện phát ra

Tỷ kWh

64,2

91,7

157,9

175,7

191,6

Chỉ số phát triển

%

100

142,8

172,2

111,3

109,0

Ngành than

 

 

 

 

 

 

Sản lượng than cung cấp

103T

43.268

46.006

48.391

51.726

52.497

Chỉ số phát triển

%

100

106,3

105,6

106,5

101,5

Sản lượng khai thác

 

42.483

44.835

41.464

38.527

37.9995

Chỉ số phát triển

%

100

105,5

92,9

92,5

98,6

Nhập khẩu 

785

1.171

6.927

13.199

14.498

Chỉ số phát triển

%

100

149,2

591,5

190,5

109,8

Xuất khẩu

106T

32,1

19,8

1,7

1,4

1,15

Ngành dầu khí

 

 

 

 

 

 

Dầu thô

103T

 

 

 

 

 

Tổng sản lượng

 

15.920

15.014

18.746

17.230

13.5675

Chỉ số phát triển

%

100

94,3

124,9

91,9

78,7

Khai thác trong nước

 

15.920

14.795

16.880

15.200

12.0003

Khai thác ở nước ngoài

 

217

1.866

2.030

1.5673

Xuất khẩu

 

15.062

7.977

9.181

6.848

6.806

Khí tự nhiên dạng khí

103m3

7.080

9.402

10.660

10.610

9.920

Chỉ số phát triển

%

100

132,8

113,4

99,5

93,5

Xuất khẩu xăng dầu

106USD

627

969

2.875

3.170

3.2855

Nhập khẩu xăng dầu

103T

13.195

9.853

10.415

11.753

6.9915

Nguồn: Thống kê Năng lượng Việt Nam 2013; 2015; Niên giám TKVN 2010 & 2016, Báo cáo của EVN 2016 & 2017 và  BP Statistical June 2017, Ước tính; Tổng cục Hải Quan; Thời báo KTVN 2017-2018.

Qua số liệu nêu trên cho thấy, từ năm 2007 đến năm 2017 sau 10 năm thực hiện Chiến lược đã đạt được các kết quả chủ yếu sau: 

Thứ nhất: Về năng lượng sơ cấp (NLSC): Tổng năng lượng sơ cấp tiêu thụ đã tăng từ 30,6 lên khoảng 68,2 triệu TOE (tấn dầu quy đổi), tăng gần 2,23 lần.

Thứ hai: Về ngành điện: Tổng công suất các nguồn điện tăng từ 13.512 lên 46.050 MW, tăng 3,4 lần; tổng sản lượng điện phát ra tăng từ 64,2 lên 191,6 tỷ kWh, tăng gần 3 lần. Trong đó, thủy điện và điện từ các nguồn năng lượng tái tạo khác chiếm tới 44% tổng công suất nguồn điện và 46,5% tổng sản lượng điện phát ra; tổng lượng điện nhập khẩu giảm từ 2.630 xuống còn 1.321 triệu kWh, giảm một nửa; tỷ lệ hộ dân nông thôn có điện đến năm 2017 đạt 98,83%; đã liên kết lưới điện cấp 110kV với các nước: Trung Quốc, Cămpuchia và Lào (chủ yếu phục vụ cho nhập khẩu điện từ Trung Quốc, Lào và xuất khẩu điện cho Cămpuchia). Tỷ lệ tổn thất điện năng đã giảm từ mức khoảng 10% năm 2007 xuống còn hơn 7% năm 2017.

Thứ ba: Về ngành than: Sản lượng than sạch khai thác trong nước giảm từ 42,5 xuống còn 38 triệu tấn, giảm 10,6%; sản lượng xuất khẩu giảm từ 32,1 xuống còn 1,1 triệu tấn, giảm hơn 29 lần; sản lượng nhập khẩu tăng từ 0,8 lên 14,5 triệu tấn, tăng hơn 18,1 lần.

Tỷ lệ tổn thất than trong khai thác giảm mạnh từ năm 2007 đến năm 2017: trong khai thác hầm lò giảm từ 32,9% xuống còn khoảng 23% và trong khai thác lộ thiên giảm từ khoảng 8% xuống còn hơn 4,5%.

Đến nay các đơn vị trong ngành than đã lập và thực hiện báo cáo đánh giá tác động môi trường (ĐTM) được phê duyệt, đã đầu tư xây dựng hệ thống chống bụi, hệ thống xử lý nước thải đảm bảo nước thải ra môi trường đáp ứng yêu cầu theo quy chuẩn, trồng cây phục hồi môi trường tại các khu vực khai thác, các bãi thải đất đá sau khi kết thúc hoạt động.

Đặc biệt, Tập đoàn Công nghiệp Than – Khoáng sản Việt Nam đã hoàn thành hệ thống vận chuyển than bằng băng tải, với tổng công suất trên 20 triệu tấn/năm thay cho vận chuyển than bằng ô tô trên đường bộ tại địa bàn tỉnh Quảng Ninh và đã đầu tư xây dựng một nhà máy xử lý chất thải nguy hại tại xã Dương Huy (TP. Cẩm Phả, Quảng Ninh) để xử lý các chất thải rắn, chất thải nguy hại của các đơn vị trong và ngoài Tập đoàn trên địa bàn các tỉnh phía Bắc.   

Thứ tư: Về ngành dầu – khí: Sản lượng dầu thô giảm từ 15,9 xuống còn 13,6 triệu tấn. Trong đó, khai thác trong nước giảm từ 15,9 xuống còn khoảng 12 triệu tấn; sản lượng khai thác ở nước ngoài từ chưa có đã đạt khoảng trên dưới 2 triệu tấn/năm; sản lượng dầu thô xuất khẩu giảm từ 15,1 xuống còn 6,8 triệu tấn; sản lượng khí tự nhiên ở dạng khí đã tăng từ 7 tỷ m3/năm lên khoảng 10 tỷ m3/năm. Đặc biệt, Nhà máy Lọc dầu Dung Quất công suất 6,5 triệu tấn dầu thô/năm đã đi vào sản xuất từ năm 2009 và đến năm 2018 có thêm Nhà máy Lọc dầu Nghi Sơn công suất 10,0 triệu tấn bắt đầu đi vào hoạt động.

Thứ năm: Về năng lượng tái tạo: Sản lượng năng lượng tái tạo (không kể thủy điện các loại) đến năm 2016 đạt khoảng 0,1 triệu TOE, bằng 0,16% tổng NLSC; điện năng từ năng lượng mới và tái tạo đến năm 2017 đạt tổng công suất đặt 380MW (chiếm 0,83% tổng công suất nguồn điện) và sản lượng điện sản xuất 549 triệu kWh (chiếm 0,3% tổng sản lượng điện phát ra).

Thứ sáu: Về thị trường năng lượng: Đã bước đầu hình thành và vận hành thị trường phát điện cạnh tranh; sản xuất kinh doanh xăng dầu, khí đốt về cơ bản đã theo cơ chế thị trường, riêng sản xuất than còn nửa vời, lẫn lộn giữa theo thị trường và theo kế hoạch hóa.

Có thể nói ngành năng lượng thời gian qua đã có sự phát triển đáng kể, đặc biệt là ngành điện, về cơ bản đáp ứng đủ nhu cầu năng lượng cho phát triển kinh tế – xã hội, đảm bảo quốc phòng, an ninh của đất nước. Nếu tính cả thủy điện thì Việt Nam có tỷ lệ năng lượng tái tạo trong tổng năng lượng sơ cấp nói chung và tổng điện năng phát ra nói riêng vào nhóm các nước cao nhất thế giới.

Kỳ tới: Bất cập trong thực hiện các quy hoạch - tiềm ẩn rủi ro an ninh năng lượng

Lưu ý: Mọi trích dẫn và sử dụng bài viết này cần được sự đồng ý của tác giả thông qua Tạp chí Năng lượng Việt Nam.

Ba Cấp Độ Của Chiến Lược: Khi Quá Trình Quyết Định Kết Quả / 2023

Tóm tắt: Tầm quan trọng của chiến lược là điều không thể phủ nhận và câu hỏi cần đặt ra là: Làm sao phân biệt được sự khác nhau giữa một chiến lược tốt và một chiến lược xấu trước khi quá muộn? Bài báo này đề xuất một khung phân tích chiến lược dựa trên quá trình thay vì kết quả. Từ góc nhìn này, chiến lược tồn tại ở ba cấp độ khác nhau: chiến lược định hướng, chiến lược hành động, và chiến lược toàn diện. Qua lăng kính “ba cấp độ của chiến lược”, người làm chính sách có thể đánh giá mức độ hữu ích của chiến lược cũng như những hệ lụy tiềm tàng trước khi đưa chiến lược vào thực thi, từ đó cải thiện quá trình hoạch định chính sách và giảm thiểu nguy cơ mắc phải sai lầm chiến lược.

“Chiến lược mà không có chiến thuật là con đường chậm nhất dẫn đến chiến thắng. Chiến thuật mà không có chiến lược là âm thanh trước khi bại trận”.

Tôn Tử có lẽ chưa bao giờ viết ra những dòng chữ này[1] trong cuốn binh thư của mình nhưng đây là một câu châm ngôn phản ánh được gần như trọn vẹn triết lý của Binh Pháp Tôn Tử. Chiến lược là cái khung lớn đưa mọi vấn đề tưởng như nhỏ nhặt và rời rạc vào một bức tranh toàn cảnh, là sợi dây liên kết vô hình giúp ta tránh tình trạng “chỉ thấy cây mà không thấy rừng”. Chiến lược có thể giúp chính sách đạt được các mục tiêu chính yếu đồng thời tránh những hệ quả tiêu cực về lâu dài.[2]

Tuy nhiên không phải chiến lược nào cũng có giá trị như nhau hay có sức ảnh hưởng ngang nhau. Luôn có những chiến lược tốt bên cạnh những chiến lược xấu. Vậy điều gì tạo ra sự khác biệt giữa các chiến lược này? Một chiến lược “toàn diện” đúng nghĩa cần hội tụ được những yếu tố nào? Bài viết này sẽ đề xuất một khung phân tích chiến lược dựa vào quá trình thay vì kết quả. Theo tác giả, các chiến lược có thể được chia thành ba cấp độ khác nhau: chiến lược định hướng, chiến lược hành động và chiến lược toàn diện. Bài báo này sẽ phân tích sự khác biệt giữa các cấp độ chiến lược này cũng như chỉ ra năm yếu tố cơ bản cấu thành nên một chiến lược toàn diện; từ đó đưa ra một số khuyến nghị cụ thể để nâng cao chất lượng quá trình hoạch định chiến lược cho Việt Nam trong thời gian tới.

Chiến lược tốt và chiến lược xấu: đừng nhìn vào kết quả, hãy nhìn vào quá trình Tầm quan trọng của chiến lược

Mặc dù chiến thuật (tactics) và chiến lược (strategy) có mối quan hệ khăng khít, lệ thuộc lẫn nhau, nhưng hai khái niệm này khác nhau về cơ bản. Chiến thuật là một tổ hợp các hành động cụ thể nhắm đến các mục tiêu trong ngắn hạn. Do đó, chiến thuật có thể thay đổi một cách nhanh chóng và linh hoạt, tùy theo hoàn cảnh. Nếu như chiến thuật gắn liền với từng trận đánh thì chiến lược quan tâm tới toàn cục cả cuộc chiến. Có thể nói, chiến lược là một thứ lôgic vĩ mô kết nối các mục tiêu lớn với các nguồn lực cơ bản mà một quốc gia sẵn có.[3] Nhiệm vụ của chiến lược không phải là giành các thắng lợi nhỏ lẻ mà là đảm bảo sự hài hòa, nhất quán trong chính sách và ổn định vĩ mô về lâu dài.

Do đó, tầm quan trọng của chiến lược dường như hết sức hiển nhiên. Tuy vậy, chuyên gia Raphael Cohen của Viện nghiên cứu RAND nhận thấy rằng trên thực tế, chiến lược thường khiến người ta thất vọng bởi đa số các chiến lược đều dài dòng, thiếu thực chất trong khi lãnh đạo lại không sẵn sàng chấp nhận những sự đánh đổi khó khăn, vốn là một phần tất yếu của chiến lược.[4]

Những ý kiến này vô hình chung cho rằng chiến thuật quan trọng hơn chiến lược. Tuy nhiên, nếu nhìn vào hai cuộc chiến trường kỳ của Mỹ ở Việt Nam và I-rắc thì có thể thấy rằng tuy chiến thuật quân sự của người Mỹ hoàn toàn hiệu quả nhưng rốt cục họ vẫn không đạt được mục tiêu chính trị và thắng lợi cuối cùng, do không có chiến lược đúng đắn dẫn đường chỉ lối. Cần lưu ý rằng, khác với chiến thuật, chiến lược không phải là một công thức. Giá trị của chiến lược một phần rất lớn nằm ở chỗ định hình đường lối tư duy và dẫn dắt các cuộc tranh luận trong giới tinh hoa. Do đó, khó có thể thấy được ngay tính hiệu quả của chiến lược. Tuy vậy, điều này không chứng tỏ chiến lược không hữu dụng mà chỉ cho thấy chúng ta cần thiết kế một khung đánh giá hợp lý dành riêng cho chiến lược.

Chiến lược tốt và chiến lược xấu

Mặc dù chiến lược đóng vai trò quan trọng nhưng không phải chiến lược nào cũng có giá trị ngang nhau. Sự khác biệt rõ nhất giữa một chiến lược tốt và một chiến lược xấu nằm ở tác động của nó đối với chính sách. Nếu chính sách được dẫn dắt bởi một chiến lược thiếu tầm nhìn thì chắc chắn những mâu thuẫn trong chính sách sớm muộn sẽ xuất hiện và những hệ lụy lâu dài là điều không thể tránh khỏi.

Sau khi Hoàng đế Wilhelm II lên ngôi và quyết định bãi nhiệm Thủ tướng Bismarck, giới quân sự Đức bắt đầu theo đuổi chiến lược phát triển hải quân dựa trên thuyết rủi ro (risk theory) của Đô đốc Alfred von Tirpitz. Theo Tirpitz, việc xây dựng một hạm đội hùng mạnh trấn thủ ở Biển Bắc sẽ cho phép Đức ép nước Anh vào thế phải thỏa hiệp trong các vấn đề thuộc địa, từ đó tạo điều kiện để Đức thi hành chính sách bành trướng đầy tham vọng của mình. Vị đô đốc này đã không lường trước được phản ứng dữ dội của Anh trước chiến lược này. Người Anh không những không chịu nhượng bộ với Đức mà còn tăng cường vũ trang và thỏa hiệp với các kình địch khác để kiềm chế sự trỗi dậy của Đức. Cuối cùng, chính cuộc chạy đua hải quân này đã trở thành một trong những động lực lớn khiến Anh liên minh với Pháp và Nga để chống lại Đức trước thềm Chiến tranh thế giới lần thứ nhất.[7] Đây là một trong những ví dụ điển hình nhất của một chiến lược xấu bởi không những chiến lược không đạt được mục tiêu đã đề ra mà còn phản tác dụng, gây ra hậu quả nặng nề.

Tuy nhiên, chúng ta chỉ nhận định rằng chiến lược phát triển hải quân của Đức là một chiến lược xấu sau khi sự việc đã xảy ra hàng chục năm, thậm chí là lâu hơn. Tại thời điểm chiến lược hải quân này mới được Đô đốc Tirpitz đề xuất, khó ai có thể đoán biết trước được nó sẽ mang lại kết quả thế nào. Việc dự báo tương lai luôn hết sức khó khăn và dễ gặp nhiều rủi ro. Một nghiên cứu nổi tiếng cho thấy các chuyên gia thường xuyên đưa ra dự báo sai và thậm chí người càng am hiểu về lĩnh vực của mình thì càng dễ đưa ra các dự báo sai.[8] Một chiến lược có thể bị đánh giá là thiếu tầm nhìn nhưng nếu may mắn, kết quả lại có thể khiến ta nghĩ rằng đó là một chiến lược tốt. Do vậy, nhìn vào kết quả để đánh giá chiến lược là cách tiếp cận phiến diện, dễ dẫn đến kết luận thiếu chính xác. Nhìn chung, cách đánh giá này không mấy hữu ích đối với các nhà hoạch định chính sách, bởi họ cần xét đến các hệ quả tiềm tàng trước khi chiến lược được thực thi. Việc mổ xẻ vấn đề sau khi chiến lược đã thất bại là quá muộn.

Cách hữu hiệu nhất để đánh giá chiến lược là nhìn vào nội dung và quá trình xây dựng chiến lược đó. Theo cách tiếp cận này, chiến lược sẽ được chia làm ba cấp độ: định hướng, hành động, và toàn diện. Phần tiếp theo sẽ phân tích sâu sự khác biệt cơ bản giữa ba cấp độ của chiến lược, từ đó đưa ra một khung phân tích hiệu quả hơn cho các chiến lược gia.

Ba cấp độ của chiến lược

Chiến lược tồn tại ở ba cấp độ khác nhau: định hướng, hành động và toàn diện, theo mức độ tăng dần về độ hoàn thiện cũng như sự hữu ích đối với người làm chính sách. Ở cấp độ cơ bản nhất, một chiến lược định hướng vẽ ra bức tranh toàn cảnh, liệt kê một số nguyên tắc cơ bản và các mục tiêu chính mà một quốc gia cần theo đuổi. Việc đề ra các nguyên tắc cơ bản và xác định các mục tiêu lớn sẽ tạo ra định hướng để những người làm chính sách có thể phân bổ và sử dụng nguồn lực một cách hợp lý.

Ví dụ điển hình cho cấp độ chiến lược định hướng là bài báo trứ danh “Nguồn gốc hành vi của Liên Xô ” của nhà ngoại giao kỳ cựu George Kennan được đăng tải trên tạp chí Foreign Affairs vào năm 1947. Trong bài báo ẩn danh này, Kennan không nêu ra cụ thể Mỹ cần phải làm những gì để ngăn chặn Liên Xô mở rộng sức ảnh hưởng ở các khu vực trọng yếu nhưng ông phân tích tương đối sâu tâm lý bất an cố hữu trong tư duy đối ngoại của Liên Xô, đồng thời nhấn mạnh việc Mỹ cần kiên trì theo đuổi một chính sách kiềm chế lâu dài, bền bỉ nhưng cứng rắn để đối phó với Liên Xô. Cấp độ chiến lược định hướng do đó không cần đưa ra các khuyến nghị chính sách chi tiết nhưng như Kennan đã cho thấy, nó có thể tiên phong một lối suy nghĩ mới về một vấn đề trọng yếu, đặt nền móng tư duy cho các chính sách sau này.[9]

Cấp độ chiến lược hành động không những phải vạch ra được định hướng chung mà còn phải đề xuất những chương trình hành động và phương thức cụ thể để đạt được các mục tiêu đã đề ra. Nếu như một chiến lược định hướng có thể dừng lại ở việc kiến nghị Mỹ tập trung giải quyết vấn đề hạt nhân trên Bán đảo Triều Tiên thay vì can thiệp quân sự vào Trung Đông hay các khu vực khác thì một chiến lược hành động phải đề xuất những nước đi cụ thể. Ví dụ như Mỹ cần công nhận chương trình hạt nhân của Triều Tiên hay phải trang bị thêm các hệ thống phòng thủ tên lửa đạn đạo cho các đồng minh như Nhật Bản hay Hàn Quốc. Hơn nữa, cấp độ chiến lược hành động nhất thiết phải thiết lập một trình tự đối với các mục tiêu để các lãnh đạo có thể xác định được đâu là mục tiêu cần phải ưu tiên trong ngắn hạn, đâu là mục tiêu lâu dài, đâu là mục tiêu sống còn và đâu là mục tiêu thứ yếu. Các Chiến lược an ninh quốc gia Mỹ là ví dụ điển hình cho một cấp độ chiến lược hành động.

Ở cấp độ cao nhất và hoàn thiện nhất, một chiến lược toàn diện cần phải làm được tất cả những điều trên và hơn thế nữa. Chiến lược toàn diện không những phải vạch được ra định hướng căn bản, các nước đi cụ thể, xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu lớn, mà còn phải đảm bảo được sự cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực. Tác giả của một chiến lược toàn diện đúng nghĩa phải phơi bày toàn bộ những giả thiết căn bản (fundamental assumptions) của mình để những người đi sau có thể dễ dàng đánh giá và điều chỉnh chiến lược khi cần thiết. Chiến lược toàn diện cũng là cách thức phòng ngừa hữu hiệu trước căn bệnh “tự kỷ chiến lược” (strategic autism). Đây là căn bệnh mà các nước lớn đặc biệt dễ mắc phải bởi với nguồn lực dồi dào, họ có xu hướng phớt lờ phản ứng của các đối tượng xung quanh.[10] Sự thiếu nhạy cảm này rủi ro chiến lược bị phản tác dụng.

Chiến lược toàn diện: năm yếu tố cơ bản Yếu tố thứ nhất: cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực

Chiến lược luôn gắn liền với tầm nhìn dài hạn và hướng tới các mục tiêu lớn. Giống như một chiếc xe chạy đường trường cần sự ổn định hơn là tốc độ cao, để đạt được các mục tiêu dài hạn này thì quan trọng nhất là quản lý nguồn tài nguyên một cách hợp lý để đảm bảo sự cân bằng và ổn định. Vì vậy, chiến lược toàn diện trước tiên phải đảm bảo được sự cân đối giữa mục tiêu và nguồn lực, nghĩa là phải đảm bảo rằng những nguồn lực một quốc gia đang sẵn có đủ để thực hiện các mục tiêu đề ra.

Trong cuốn Sự hưng thịnh và suy vong của các cường quốc, sử gia Paul Kennedy đã cho thấy rằng, trong suốt 500 năm, yếu tố số một dẫn đến sự suy tàn của các cường quốc là tình trạng “dàn trải quá mỏng của các đế quốc” (imperial overstretch).[11] Kẻ thù lớn nhất của một cường quốc không phải là các đối thủ khác mà là chính nó. Sự trỗi dậy thần kỳ của Trung Quốc kể từ khi nước này thi hành chính sách mở cửa dưới thời Đặng Tiểu Bình là điều dễ nhận thấy.[12] Thế nhưng sở dĩ Trung Quốc bắt kịp Mỹ nhanh đến vậy một phần bởi Mỹ đã phung phí vô số tài nguyên cũng như sức mạnh mềm vào hai cuộc trường chinh đẫm máu ở Áp-ga-ni-xtan và I-rắc. Tổng thống Bush và nhóm cố vấn tân bảo thủ đã tin rằng Mỹ có đủ khả năng dân chủ hóa và tái thiết khu vực Trung Đông theo ý mình. Sự thất bại của Mỹ ở khu vực này là hệ quả tất yếu bởi họ đã đặt ra các mục tiêu vượt quá nguồn lực cho phép.

Để đảm bảo được sự cân bằng giữa mục tiêu và nguồn lực, ngoài việc kiềm chế tham vọng, trước hết phải xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu. Trong vô số các mục tiêu mà một quốc gia muốn theo đuổi, thường chỉ có một vài lợi ích thật sự sát sườn và có ảnh hưởng trực tiếp đến sự tồn vong của quốc gia. Các lợi ích khác có thể không quan trọng bằng hoặc quan trọng nhưng không quá cấp thiết. Để một chiến lược lên được cấp toàn diện thì trước hết phải chỉ ra thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu này một cách rõ ràng và thậm chí nêu rõ trong trường hợp nào thì thứ tự hiện nay sẽ thay đổi. Nói cách khác, chiến lược toàn diện vừa phải chính xác, vừa phải đủ linh hoạt. Khi thời gian, tiền bạc và sức ảnh hưởng chính trị là có hạn thì các nhà lãnh đạo cần phải xác định được đâu là những mục tiêu cấp bách hơn và có hệ quả tiềm tàng sâu rộng hơn để ưu tiên sự quan tâm cho các mục tiêu đó.

Yếu tố thứ hai: chỉ rõ các giả thiết căn bản

Bất kể ai, dù nhận thức được hay không, đều đang sử dụng các lý thuyết như các lăng kính để nhìn ra thế giới và giải thích các hiện tượng đang xảy ra.[13] Những người làm chính sách tuy không sử dụng ngôn ngữ nặng tính học thuật như các nhà nghiên cứu quan hệ quốc tế, nhưng điều đó không có nghĩa là họ không vận dụng lý thuyết hay đặt ra các giả thiết. Nếu như một vị cố vấn an ninh quốc gia khuyên tổng thống Mỹ tấn công phủ đầu Triều Tiên để tiêu hủy chương trình hạt nhân của nước này thì dù không nói ra, chúng ta cũng có thể hiểu rằng khuyến nghị của vị cố vấn này ngầm dựa trên ít nhất một số giả thiết căn bản như sau:

Thứ nhất, vũ lực là cách thức hiệu quả giải quyết vấn đề hạt nhân trên bán đảo Triều Tiên. Thứ hai, Mỹ có khả năng tìm và triệt hạ toàn bộ kho vũ khí hạt nhân sẵn có của Triều Tiên trong một khoảng thời gian tương đối ngắn với chi phí chấp nhận được. Thứ ba, cái giá phả trả cho một đòn tấn công phủ đầu tại thời điểm này dù có lớn nhưng vẫn nhỏ hơn việc chấp nhận việc tên lửa hạt nhân của Triều Tiên đe dọa lãnh thổ của Mỹ. Cuối cùng, chính quyền Bình Nhưỡng về cơ bản là khó đoán và thiếu lý trí. Vì vậy việc Triều Tiên sở hữu vũ khí hạt nhân là mối đe dọa trực tiếp đối với an ninh của Mỹ.

Những giả thiết này có thể không đúng, nhưng chúng góp phần tạo thành nền móng cho chiến lược. Do đó, các giả thiết thiếu thực tế sẽ dễ dẫn đến các tính toán sai lầm khiến một chiến lược trở thành kém chất lượng. Một định hướng chiến lược sẽ không phải là chiến lược toàn diện nếu tác giả không xác định rõ các giả thiết căn bản tạo nên nền tảng cho các kế sách của mình.

Việc không xác định rõ đâu là các giả thiết căn bản đặc biệt nguy hiểm về lâu dài bởi nó sẽ tạo ra rào cản đối với quá trình cập nhật và đánh giá chiến lược. Những giả thiết được đặt ra tại một thời điểm nhất định không thể luôn luôn đúng. Những thay đổi trong tương quan lực lượng, những tiến bộ trong khoa học – kỹ thuật cũng như những thay đổi trong bộ máy lãnh đạo ở các quốc gia có thể khiến các giả thiết trở nên lỗi thời sau một thời gian tương đối ngắn.

Một trong những giả thiết có ảnh hưởng nhất đằng sau chính sách kiềm chế của Mỹ trong thời kỳ đầu của Chiến tranh Lạnh cho rằng khối cộng sản do Liên Xô dẫn dắt là một “khối thống nhất”.[14] Có lẽ điều này chưa bao giờ đúng bởi tuy các nước cộng sản có chung ý thức hệ và mức song trùng lợi ích cao, nhưng cũng có những lợi ích quốc gia riêng biệt. Chủ nghĩa cộng sản sau năm 1945 không đơn thuần là một phong trào toàn cầu được chỉ đạo và dẫn dắt bởi Moscow. Trong Chiến tranh Triều Tiên, sở dĩ mãi đến tháng 6/1950 Triều Tiên mới tiến quân sang Nam Hàn là bởi những mâu thuẫn trong lợi ích và quan điểm nhất định giữa lãnh đạo các nước Liên Xô, Trung Quốc và Triều Tiên.[15] Mặc dù vậy, trong khoảng hai mươi năm đầu tiên của Chiến tranh Lạnh, Mỹ và các đồng minh đã coi Liên Xô và Trung Quốc cùng các nước cộng sản khác là một. Chính sách này đã vô tình đẩy Trung Quốc vào thế bắt buộc phải liên minh với Liên Xô và khiến cho Chiến tranh Lạnh ở Châu Á nóng lên rất nhiều. Mãi đến cuối những năm 60, khi rạn nứt Xô – Trung bắt đầu lộ rõ thì Mỹ và các nước phương Tây mới bắt đầu ý thức được việc này. Nixon và Kissinger đã nhanh chóng tận dụng điều này để bắt tay hòa hoãn Mỹ – Trung, đẩy Liên Xô vào thế bị cô lập ở Châu Á.

Điểm mấu chốt ở đây không phải là giả thiết ban đầu gần như sai hoàn toàn mà là các chiến lược gia phương Tây đã không nhận thấy rằng “khối cộng sản thống nhất” của họ chỉ đơn thuần là một giả thiết mà độ đúng sai có thể thay đổi theo thời gian. Việc không phơi bày toàn bộ các giả thiết ra ánh sáng và đặt chúng lên bàn cân sẽ tạo điều kiện để những giả thiết này tiếp tục ngầm chi phối chính sách và chiến lược, kể cả khi chúng đã lỗi thời. Do đó việc xác định rõ đâu là các giả thiết căn bản là một yếu tố quan trọng để chiến lược có thể được điều chỉnh và cập nhật kịp thời với những thay đổi trong diễn biến chính trị và cục diện thế giới.

Yếu tố thứ ba: dự báo phản ứng của đối tượng chịu ảnh hưởng

Khác với các cấp độ chiến lược thấp hơn, chiến lược toàn diện nhận thức một cách rõ ràng rằng chính trị quốc tế không tồn tại trong một môi trường “chân không”. Trong thế giới quan của một chiến lược gia ở cấp cao nhất, hành động của mọi quốc gia đều có tác động qua lại lẫn nhau và mỗi nước cờ đưa ra đều phải dựa trên một sự tiên liệu kĩ lưỡng về phản ứng của các đối thủ. Các chiến lược gia hiểu rằng tính hiệu quả của chiến lược trên thực tế sẽ hoàn toàn phụ thuộc vào phản ứng của các đối tượng chịu ảnh hưởng của chiến lược.

Tuy tính thiết yếu của việc dự báo trước phản ứng của đối tượng chịu ảnh hưởng bởi chiến lược dường như vô cùng hiển nhiên nhưng không phải định hướng chiến lược nào cũng chú trọng đúng mực tới vấn đề này. Tất cả các Chiến lược an ninh quốc gia của Mỹ đều liệt kê một cách tỉ mỉ những hành động mà Mỹ cần triển khai ở các khu vực trọng yếu và thậm chí còn chỉ ra đâu là những đối thủ chiến lược của Mỹ[16] nhưng lại không phân tích xem những nước này sẽ phản ứng ra sao trước những hành động của Mỹ. Tương tự, Chiến lược an ninh quốc gia mà chính quyền Abe công bố vào cuối năm 2013 tuy nêu rõ các mục tiêu, nguyên tắc, cách thức thực hiện và cũng chỉ đích danh sự trỗi dậy của Trung Quốc là một trong các mối quan ngại đối với Nhật Bản. Tuy nhiên, cũng như những người đồng cấp phía Mỹ, các chiến lược gia Nhật Bản không đánh giá các phản ứng tiềm tàng của các đối tượng như Trung Quốc hay Triều Tiên trước những đối sách mà họ vạch ra, ví dụ như củng cố liên minh Mỹ – Nhật hay tăng cường can dự, hợp tác quốc phòng với Ấn Độ và các nước ASEAN. Đây là một thiếu sót lớn bởi những hành động này có khả năng khiến thế lưỡng nan an ninh và sự nghi kỵ trong khu vực trở nên trầm trọng hơn, dẫn đến việc khiến Bắc Kinh cảm thấy họ càng phải đẩy mạnh các nỗ lực xây đắp đảo và thi hành chính sách đối ngoại cứng rắn hơn ở Biển Đông. Trong trường hợp này, chiến lược được đề xuất sẽ phản tác dụng. Đây là lý do vì sao nếu các định hướng chiến lược an ninh quốc gia như vậy chỉ dừng lại ở cấp độ chiến lược hành động thì sẽ chưa đạt tới cấp độ chiến lược toàn diện.

Yếu tố thứ tư: xây dựng được “thương hiệu”

Điểm chung giữa các chiến lược “xoay trục về Châu Á”, “trỗi dậy hòa bình” và “nước Mỹ trước tiên” là gì? Các chiến lược này tuy khác nhau về rất nhiều mặt nhưng đều có điểm chung là một cái tên rất “kêu” và dễ nhớ.

Một nghiên cứu mới đây cho rằng chiến lược xoay trục trên thực tế đã được triển khai bởi chính quyền George W. Bush kể từ đầu những năm 2000.[18] Theo học giả này thì chính sách của Obama đối với Trung Quốc về cơ bản chỉ khác chính sách của người tiền nhiệm về “lượng” chứ không có thay đổi về “chất”. Điều này có thể đúng, tuy nhiên nếu nói đến chính sách của Mỹ với Trung Quốc trong khoảng thời gian 2000-2007 thì người ta sẽ chỉ nhớ đến cụm từ “cổ đông có trách nhiệm” (responsible stakeholder) chứ ít ai lại liên hệ chính sách này với cụm từ xoay trục. Nếu như chính sách của Bush và Obama ở Châu Á về cơ bản là giống nhau thì điều này càng cho thấy sức ảnh hưởng của việc xây dựng thương hiệu tốt. Điều này cho thấy trong chính trị quốc tế thì “bình mới, rượu cũ” vẫn rất có giá trị.

Cũng cần lưu ý rằng việc xây dựng thương hiệu cho chiến lược không chỉ dừng lại ở việc đặt một cái tên hay. Các chiến lược thường sẽ đáng nhớ hơn nhiều nếu tên tuổi của nó gắn liền với một sáng kiến cụ thể, ví dụ như chính sách xoay trục của Obama ngay từ đầu đã gắn liền với Hiệp định TPP.[19] Một sáng kiến rõ ràng và cụ thể như TPP khiến cho chiến lược xoay trục về Châu Á của Mỹ trở nên bớt trừu tượng hơn, giúp Washington gửi đi thông điệp rõ ràng tới các đồng minh và đối tác rằng Mỹ có lợi ích chiến lược ở Châu Á – Thái Bình Dương và vì vậy sẽ duy trì các cam kết an ninh của mình ở khu vực này.

Tầm quan trọng của việc có một sáng kiến chủ đạo “chống lưng” cho chiến lược trở nên đặc biệt rõ rệt khi chúng ta nhìn vào chính sách đối ngoại của Trump ở Châu Á. Chỉ hai tháng sau khi lên nắm quyền, chính quyền Trump đã tuyên bố chấm dứt chính sách xoay trục về Châu Á do Obama khởi xướng.[20] Để đánh dấu sự khác biệt trong chính sách của mình với người tiền nhiệm, Trump đã nỗ lực phổ biến khái niệm “Ấn Độ – Thái Bình Dương”.[21] Tuy nhiên đến thời điểm này thì nhiều ý kiến cho rằng chính sách của Mỹ ở Châu Á dưới thời Trump vẫn chưa có thay đổi gì đáng kể so với chính sách của Obama.[22] Thiếu đi một sáng kiến trụ cột làm trọng tâm nên khái niệm Ấn Độ – Thái Bình Dương chưa nhận được nhiều sự quan tâm chú ý từ giới nghiên cứu bằng khái niệm xoay trục dưới thời Obama.[23] Đây là điều đáng tiếc bởi nếu chiến lược không nhận được sự quan tâm thường xuyên thì nó khó có thể trở nên hoàn thiện hơn theo thời gian. Do đó, để một chiến lược đạt được tầm toàn diện, các chiến lược gia không những phải chú trọng đến nội dung mà còn phải quan tâm đến việc xây dựng thương hiệu cho chiến lược và kèm theo là một sáng kiến có tính chủ đạo.

Yếu tố thứ năm: được “cập nhật” thường xuyên

Một chiến lược dù có hoàn hảo tới mấy cũng không thể nào trường tồn mãi với thời gian. “Hằng số” duy nhất trong chính trị quốc tế đó là mọi thứ đều có thể thay đổi, thậm chí một cách đột ngột và khó đoán. Vì vậy, chiến lược toàn diện buộc phải có khả năng thích ứng với sự thay đổi và để làm được điều này cần có một quá trình đánh giá, kiểm tra và cập nhật định kỳ và thường xuyên.

Bất chấp những thay đổi lớn và nhỏ trong cục diện thế giới kể từ khi Chiến tranh thế giới lần thứ hai kết thúc đến nay, chiến lược can dự sâu (deep engagement) vẫn là kim chỉ nam cho chính sách đối ngoại của Mỹ.[24] Một phần bởi Quốc hội Mỹ yêu cầu chính phủ phải thực hiện quá trình đánh giá chiến lược định kỳ.[25] Tất cả các Báo cáo quốc phòng 4 năm (Quadrennial Defense Review) và Chiến lược an ninh quốc gia đã được chính phủ Mỹ công bố từ trước đến nay tuy có khác nhau ít nhiều nhưng đều giữ cái lõi là chiến lược can dự sâu: (i) Mỹ không được rút lui về pháo đài của mình mà phải duy trì vị thế lãnh đạo trên trường quốc tế; (ii) an ninh của Mỹ gắn liền với hòa bình và ổn định trên toàn thế giới nên trong tình huống xấu nhất, Mỹ phải sẵn sàng đóng vai trò “cảnh sát toàn cầu”, kể cả ở những khu vực không phải sát sườn đối với Mỹ và (iii) Mỹ cần duy trì mọi cam kết đối với an ninh của các đồng minh, kể cả khi những nước này ỷ lại vào Mỹ bởi việc hủy bỏ các cam kết an ninh sẽ khiến cho Mỹ trở nên không đáng tin cậy trong con mắt của các đồng minh cũng như các đối thủ. Việc thiết lập một quá trình đánh giá và điều chỉnh chiến lược định kỳ sẽ cho phép các nhà hoạch định chính sách giữ lại những yếu tố chính yếu, cốt lõi của chiến lược, đồng thời loại bỏ những yếu tố đã lỗi thời và cân bằng lại chiến lược để có thể thích nghi với những thay đổi trong môi trường quốc tế.

Do đó một chiến lược toàn diện đúng nghĩa không thể dừng lại ở một văn kiện mà phải là sản phẩm của một quá trình hoạch định chiến lược lâu dài, trong đó bước đánh giá và cập nhật chiến lược phải được thực hiện một cách hết sức nghiêm túc.

Kết luận và hàm ý chính sách

Vị tướng nổi tiếng người Phổ Helmuth von Moltke từng nhận định rằng “không kế hoạch tác chiến nào sống sót được khi bắt đầu giao chiến với kẻ thù”.[26] Điều này làm nổi bật giá trị của chiến lược, vì giá trị của chiến lược không nằm ở chỗ vạch ra tường tận mọi đường đi nước bước mà nằm ở việc định hướng, dẫn dắt tư duy và xây dựng nền tảng lý luận vững chắc giúp các nhà lãnh đạo có thể điều chỉnh chính sách một cách phù hợp với hoàn cảnh và diễn biến.

Chiến lược sẽ phát huy tác dụng ở mức tối đa khi được đẩy lên cấp độ toàn diện. Một chiến lược toàn diện có giá trị hơn một chiến lược hành động hay một chiến lược định hướng thuần túy bởi chiến lược toàn diện đặc biệt chú trọng vào việc quản lý tài nguyên, đảm bảo sự cân đối giữa nguồn lực và mục tiêu. Hơn nữa, chiến lược toàn diện có khả năng thích ứng tốt nhất với những thay đổi theo thời gian bởi nó được thiết kế để quá trình đánh giá và điều chỉnh diễn ra một cách thuận lợi và hiệu quả nhất. Để xây dựng được một chiến lược toàn diện thì các chiến lược gia cần đảm bảo được năm yếu tố sau:

Thứ nhất, luôn đảm bảo được sự tương xứng giữa mục tiêu và nguồn lực. Chiến lược gia chỉ đề xuất những mục tiêu có thể thực hiện được với những nguồn lực sẵn có. Như vậy sẽ đảm bảo được rằng đây là một chiến lược khả thi để đưa vào vận dụng trong thực tế. Để làm được điều này cần xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu và chỉ rõ trong trường hợp nào thì thứ tự này sẽ thay đổi. Điều này giúp cho nguồn lực luôn được tập trung cho các mục tiêu chính yếu nhất, qua đó tối đa hóa tính hiệu quả của việc sử dụng tài nguyên. Thứ hai, phải chỉ rõ các giả thiết căn bản của chiến lược. Các nhà hoạch định chiến lược cần nêu rõ khi nào chiến lược của mình sẽ hữu dụng và khi nào sẽ không còn phù hợp. Thứ ba, chiến lược toàn diện phải có phần dự báo các phản ứng tiềm tàng của các đối tượng chịu ảnh hưởng bởi chiến lược. Bản chất của chiến lược là tương tác, chính vì lẽ đó kết quả của chiến lược sẽ ra sao hoàn toàn phụ thuộc vào phản ứng của các đối tượng chịu ảnh hưởng chính bởi chiến lược. Thứ tư, cần chú ý đến việc tạo điểm nhấn cho chiến lược, thông qua việc đặt tên và gắn liền những chiến lược đó với những hành động, sáng kiến cụ thể. Cuối cùng, một chiến lược toàn diện cần được cập nhật, đánh giá thường xuyên để luôn bắt kịp với các thay đổi trong xu thế và tình hình thế giới.

Hàm ý chính sách đối với Việt Nam

Từ khi mở cửa đến nay, Việt Nam vẫn kiên trì theo đuổi chiến lược đối ngoại với hai phương châm độc lập, tự chủ, “đa phương hóa, đa dạng hóa” và “chủ động hội nhập quốc tế” làm trụ cột. Chiến lược này nhìn chung đã gặt hái được những thành công đáng kể, bao gồm: (i) giúp Việt Nam phá thế bao vây cấm vận thời kỳ hậu Chiến tranh Lạnh, (ii) duy trì môi trường hòa bình và ổn định trong khu vực trong bối cảnh cạnh tranh nước lớn gia tăng và tranh chấp Biển Đông ngày một trở nên căng thẳng và (iii) nâng cao vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế. Sở dĩ chiến lược này có sức bền lớn đến vậy là bởi các phương châm chủ đạo về cơ bản vẫn phù hợp với các xu hướng lớn và cục diện quốc tế trong thời gian qua. Tuy nhiên, trong bối cảnh tranh chấp Biển Đông vẫn ở trong tình trạng bế tắc và cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung ngày một trở nên gay gắt hơn thì rất có thể chiến lược đối ngoại hiện nay sẽ cần phải được “cập nhật” và “nâng cấp” một cách toàn diện.

Thứ nhất, tài liệu định hướng chiến lược cần xác định rõ thứ tự ưu tiên giữa các mục tiêu quốc gia chính yếu cũng như mối quan hệ giữa các mục tiêu này. Hơn hết, nó cần nêu rõ trong trường hợp các mục tiêu xung đột với nhau thì với nguồn lực có hạn, mục tiêu nào cần phải được ưu tiên hơn. Ví dụ như Việt Nam coi trọng cả quan hệ với Mỹ và Trung Quốc nhưng nếu bị đặt vào tình huống phải chọn một trong hai nước thì Việt Nam sẽ chọn ai và vì sao?

Thứ hai, các chiến lược gia đối ngoại Việt Nam cần tích cực đánh giá hơn nữa các nguồn lực Việt Nam sẵn có để theo đuổi các mục tiêu đối ngoại. Mặc dù việc liệt kê và sắp xếp các mục tiêu lớn theo trình tự phù hợp sẽ giúp tập trung sự chú ý của đội ngũ lãnh đạo cũng như bộ máy chính quyền cho các ưu tiên lớn nhưng sự thành bại của chiến lược vẫn nằm ở sự ăn khớp giữa mục tiêu và nguồn lực. Để biết được Việt Nam có khả năng tự đảm bảo an ninh ở Biển Đông hay nắm vai trò dẫn dắt ASEAN hay không thì cần phải biết ta có những nguồn lực và thế mạnh nào có thể giúp thực hiện được những mục tiêu này. Nếu quá trình đánh giá chiến lược cho thấy nguồn lực không đủ để thực hiện những mục tiêu đã đề ra thì ít nhất cần điều chỉnh lộ trình theo đuổi các mục tiêu sao cho phù hợp với nguồn lực hiện có và đồng thời tìm cách huy động thêm các nguồn lực để phục vụ cho mục tiêu tham vọng hơn.

Thứ ba, các “đối tác” và “đối tượng” sẽ cần phải được xác định một cách rõ ràng hơn trong các tài liệu định hướng đối ngoại của Việt Nam trong thời gian tới. Việt Nam không nhất thiết phải công khai công bố nước nào là đối tác, nước nào là đối tượng, đặc biệt bởi đa số các quốc gia sẽ vừa là đối tác, vừa là đối tượng tùy vào hoàn cảnh cụ thể. Tuy nhiên, các nhà hoạch định chính sách cần xác định rõ đâu là những đối tác lớn nhất và đâu là những đối tượng lớn nhất đối với Việt Nam trong ít nhất 5-10 năm tới. Quan trọng hơn hết, cần dự báo phản ứng của những nước này trước những thay đổi vĩ mô trong chính sách đối ngoại của Việt Nam.

Việc Việt Nam thay đổi một cách đáng kể cán cân quyền lực ở Biển Đông theo hướng có lợi cho mình là điều bất khả thi, ít nhất trong thời gian trước mắt. Do đó cách duy nhất để tạo ra sự đột phá trong tranh chấp hiện nay là thay đổi tư duy đối ngoại triệt để. Đặc biệt, khi phía Trung Quốc ngày càng tăng cường quân sự hóa tranh chấp ở Biển Đông và nguồn lực sức mạnh cứng của ta có hạn, việc đánh giá lại và thậm chí diễn giải nguyên tắc quốc phòng “ba không” theo hướng linh hoạt hơn có thể sẽ trở nên cần thiết.

Việc theo đuổi nhất quán các nguyên tắc đối ngoại này có thể sẽ duy trì sự ổn định, mặt khác chính sự ổn định này có thể giúp cho các đối tượng dễ bề chuẩn bị sách lược để đối phó với ta. Hơn hết, chính sách này có thể làm mất đi một con bài mặc cả có giá trị của Việt Nam trong quan hệ với các cường quốc trong khu vực. Tuy cạnh tranh chiến lược Mỹ – Trung vẫn đang diễn ra gay gắt song không thể loại trừ khả năng hai siêu cường bắt tay nhau và “thí” những con tốt nhỏ hơn để duy trì đại cục về lâu dài, đặc biệt ở Biển Đông. Tình huống này đặc biệt dễ xảy ra nếu cả Mỹ và Trung Quốc đều tự tin rằng Việt Nam không sẵn sàng trở thành đồng minh (dù phi chính thức) của Mỹ trong bất kỳ hoàn cảnh nào. Cách diễn giải chính sách “ba không” như hiện nay không tạo động lực để Mỹ đưa ra các cam kết an ninh đối với Việt Nam bởi nó đặt ra các giới hạn “cứng” quá rõ ràng trong hợp tác quốc phòng song phương giữa hai nước. Mặt khác, nó cũng không tạo động lực để Trung Quốc nhân nhượng hơn đối với Việt Nam bởi Bắc Kinh sẽ nghĩ rằng dù họ có o ép Việt Nam đến mức nào đi nữa thì ta vẫn sẽ không dám liên minh với Mỹ để chống lại họ. Việc diễn giải lại chính sách “ba không” theo hướng cởi mở hơn không nhất thiết yêu cầu Việt Nam phải tìm kiếm đồng minh để chống lại nước khác hay thay đổi đáng kể chính sách đối ngoại của mình. Điểm mấu chốt ở đây là Việt Nam sẽ có đòn mặc cả lớn nhất khi ta để ngỏ khả năng sẽ hỗ trợ một bên để kiềm chế bên còn lại thay vì duy trì lập trường trung lập trong mọi tình huống.

Xây dựng một chiến lược toàn diện không đảm bảo đem lại mọi kết quả tốt đẹp nhất. Chính trị quốc tế vốn dĩ tiềm ẩn quá nhiều điều bất ngờ mà không chiến lược gia đại tài nào có thể dự đoán được hết. Tuy nhiên, ít nhất tại thời điểm này, một chiến lược toàn diện sẽ vẫn là nền tảng vững chắc nhất cho chính sách, là cách tốt nhất để các nhà lãnh đạo giảm thiểu rủi ro và bảo vệ lợi ích quốc gia về lâu dài./.

Ngô Di Lân là Nghiên cứu sinh Tiến sỹ, Đại học Brandeis. Tác giả xin chân thành cảm ơn TS. Lê Đình Tĩnh, TS. Tô Anh Tuấn và CN. Nguyễn Thùy Anh vì những góp ý cho bài báo. Mọi quan điểm trong bài là của riêng tác giả. Bài viết đã được xuất bản lần đầu trên Tạp chí Nghiên cứu Quốc tế, số 2 (113), tháng 6/2018. TÀI LIỆU THAM KHẢO Tiếng Việt

Lê Đình Tĩnh. “Bàn về tư duy chiến lược: Lý thuyết, thực tiễn và trường hợp Việt Nam.” Nghiên cứu Quốc tế 111, số 4 (12/2017): 7-35.

Nguyễn Nhật Huy và Sơ Nguyên, “Ấn Độ – Thái Bình Dương: Kỷ nguyên mới của địa chiến lược,” Zing News, ngày 3/4/2008, https://news.zing.vn/an-do-thai-binh-duong-ky-nguyen-moi-cua-canh-tranh-dia-chien-luoc-post827551.html

Văn Việt, “Chính quyền Trump tuyên bố chấm dứt chiến lược xoay trục sang châu Á”, VNExpress, ngày 16/3/2017, https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/chinh-quyen-trump-tuyen-bo-cham-dut-chien-luoc-xoay-truc-sang-chau-a-3556263.html

Tiếng Anh

Allison, Graham. Destined for War: Can America and China Escape Thucydides’s Trap?, New York: Houghton Mifflin Harcourt, 2017.

Bader, Jeffrey A. và Dollar, David. “Why the TPP is the linchpin of the Asia rebalance”, Brookings, ngày 28/7/2015, https://www.brookings.edu/blog/order-from-chaos/2015/07/28/why-the-tpp-is-the-linchpin-of-the-asia-rebalance.

Betts, Richard K. “Is Strategy an Illusion?” International Security 25, số 2 (2000): 5-50.

Clinton, Hillary. “America’s Pacific Century”, Foreign Policy, ngày 11/10/2011, http://foreignpolicy.com/2011/10/11/americas-pacific-century.

Cohen, Raphael S. “Why Strategies Disappoint-and How to Fix Them”, Lawfare, ngày 19/3/2017, https://www.lawfareblog.com/why-strategies-disappoint-and-how-fix-them

Donnelly, Thomas và Kristol, William. “The Obama-Trump foreign policy,” The Weekly Standard, ngày 9/2/2018, https://www.aei.org/publication/the-obama-trump-foreign-policy/

Edelstein, David M. và Krebs, Ronald R. “Delusions of Grand Strategy: The Problem With Washington’s Planning Obsession.” Foreign Affairs 94, số 6 (2015): 109-116.

Freedman, Lawrence. Strategy: A history, Oxford: Oxford University Press, 2015.

Gaddis, John L. Strategies of Containment: A Critical Appraisal of American National Security Policy during the Cold War, Oxford: Oxford University Press, 2005.

Kennedy, Paul. The rise and fall of the great powers, New Haven: Yale University Press, 1988.

Kissinger, Henry. Diplomacy, New York: Simon & Schuster, 1994.

Luttwak, Edward. The Rise of China vs. The Logic of Strategy, Cambridge: Harvard University Press, 2012.

Popescu, Ionut. “Grand Strategy Is Overrated”, Foreign Policy, ngày 11/12/2017, http://foreignpolicy.com/2017/12/11/grand-strategy-is-overrated-trump-national-security-strategy-nss/.

Rock, Stephen R.. “Risk theory reconsidered: American success and German failure in the coercion of Britain, 1890-1914.” Journal of Strategic Studies 11, số 3 (1988): 342-364.

Selverstone, Marc J. Constructing the Monolith: The United States, Great Britain, and International Communism, 1945-1950, Cambridge: Harvard University Press, 2009.

Silove, Nina. “The pivot before the pivot: US strategy to preserve the power balance in Asia.” International Security 40, số 4 (2016): 45-88.

Slater, Jerome. “The Domino Theory and International Politics: The Case of Vietnam.” Security Studies 3, số 2 (1993): 186-224.

Tama, Jordan. “Does Strategic Planning Matter? The Outcomes of U.S. National Security Reviews.” Political Science Quarterly 130, số 4 (2015-16): 735-765.

Tetlock, Philip E. Expert political judgment: How good is it? How can we know?, New Jersey: Princeton University Press, 2017.

Walt, Stephen M. “International Relations: One World, Many Theories.” Foreign Policy 110 (1998): 29-46.

Walt, Stephen. “Don’t Knock Offshore Balancing Until You’ve Tried It,” Foreign Policy, ngày 8/12/2016, http://foreignpolicy.com/2016/12/08/dont-knock-offshore-balancing-youve-tried-it-obama-middle-east-realism-liberal-hegemony/

[1] Đây là một câu châm ngôn được lưu truyền rộng rãi trên mạng Internet, được cho là của Tôn Tử nhưng nghiên cứu riêng của tác giả cho thấy câu châm ngôn này không hề xuất hiện trong cuốn Binh pháp.

[2] Lê Đình Tĩnh. “Bàn về tư duy chiến lược: Lý thuyết, thực tiễn và trường hợp Việt Nam.” Nghiên cứu Quốc tế 111, số 4 (12/2017): 7.

[4] Cohen, Raphael S. “Why Strategies Disappoint and How to Fix Them”, Lawfare, ngày 19/3/2017, https://www.lawfareblog.com/why-strategies-disappoint-and-how-fix-them.

[5] Ionut Popescu, “Grand Strategy Is Overrated”, Foreign Policy, ngày 11/12/2017, http://foreignpolicy.com/2017/12/11/grand-strategy-is-overrated-trump-national-security-strategy-nss/.

[6] David M. Edelstein và Ronald R. Krebs . “Delusions of Grand Strategy: The Problem With Washington’s Planning Obsession.” Foreign Affairs 94, số 6 (2015): 110.

[7] Stephen R. Rock. “Risk theory reconsidered: American success and German failure in the coercion of Britain, 1890-1914.” Journal of Strategic Studies 11, số 3 (1988): 342.

[12] Graham Allison phân tích tương đối kĩ về sự trỗi dậy của Trung Quốc trong vòng 40 năm qua trong cuốn sách của mình. Graham Allison, Destined for War: Can America and China Escape Thucydides’s Trap? (New York: Houghton Mifflin Harcourt, 2017).

[13] Stephen M. Walt. “International Relations: One World, Many Theories.” Foreign Policy 110 (1998): 29.

[16] Bản Chiến lược an ninh quốc gia 2017 do chính quyền Trump công bố chỉ rõ Nga và Trung Quốc là hai đối thủ cạnh tranh chiến lược của Mỹ.

[17] Hillary Clinton, “America’s Pacific Century”, Foreign Policy, ngày 11/10/2011, http://foreignpolicy.com/2011/10/11/americas-pacific-century.

[19] Jeffrey A. Bader và David Dollar, “Why the TPP is the linchpin of the Asia rebalance”, Brookings, ngày 28/7/2015, https://www.brookings.edu/blog/order-from-chaos/2015/07/28/why-the-tpp-is-the-linchpin-of-the-asia-rebalance.

[20] Văn Việt, “Chính quyền Trump tuyên bố chấm dứt chiến lược xoay trục sang châu Á”, VNExpress, ngày 16/3/2017, https://vnexpress.net/tin-tuc/the-gioi/chinh-quyen-trump-tuyen-bo-cham-dut-chien-luoc-xoay-truc-sang-chau-a-3556263.html.

[21] Nguyễn Nhật Huy và Sơ Nguyên, “Ấn Độ – Thái Bình Dương: Kỷ nguyên mới của địa chiến lược,” Zing News, ngày 3/4/2008, https://news.zing.vn/an-do-thai-binh-duong-ky-nguyen-moi-cua-canh-tranh-dia-chien-luoc-post827551.html.

[22] Thomas Donnelly và William Kristol, “The Obama-Trump foreign policy,” The Weekly Standard, ngày 9/2/2018, https://www.aei.org/publication/the-obama-trump-foreign-policy.

[23] Các tìm kiếm trên công cụ Google Scholar tại thời điểm này cho thấy chưa có bài nghiên cứu nào về chiến lược “Ấn Độ – Thái Bình Dương” sau khi chính quyền Trump công bố chiến lược này.

[24] Stephen Walt, “Don’t Knock Offshore Balancing Until You’ve Tried It,” Foreign Policy, ngày 8/12/2016, http://foreignpolicy.com/2016/12/08/dont-knock-offshore-balancing-youve-tried-it-obama-middle-east-realism-liberal-hegemony/

[25] Jordan Tama. “Does Strategic Planning Matter? The Outcomes of U.S. National Security Reviews.” Political Science Quarterly 130, số 4 (2015-16): 739.

[26] Lawrence Freedman, Strategy: A history (Oxford: Oxford University Press, 2015): 104.

Nghị Quyết Hội Nghị Trung Ương Về Chiến Lược Phát Triển Bền Vững Kinh Tế Biển / 2023

Nghị quyết Hội nghị Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Nghị quyết Hội nghị Trung ương về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển

Ngày 22/10, thay mặt Ban Chấp hành Trung ương, Tổng Bí thư Nguyễn Phú Trọng đã ký ban hành Nghị quyết Hội nghị lần thứ tám Ban Chấp hành Trung ương Khóa XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045 (Nghị quyết số 36-NQ/TW).

Trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết:

NGHỊ QUYẾT HỘI NGHỊ LẦN THỨ TÁM BAN CHẤP HÀNH TRUNG ƯƠNG ĐẢNG KHÓA XII về Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam đến năm 2030, tầm nhìn đến năm 2045

I- TÌNH HÌNH VÀ NGUYÊN NHÂN

Sau 10 năm thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 khoá X về Chiến lược biển Việt Nam đến năm 2020, nhận thức của toàn hệ thống chính trị, nhân dân và đồng bào ta ở nước ngoài về vị trí, vai trò của biển, đảo đối với phát triển kinh tế, bảo vệ chủ quyền quốc gia được nâng lên rõ rệt. Chủ quyền, an ninh quốc gia trên biển được giữ vững; công tác tìm kiếm cứu nạn, an toàn hàng hải cơ bản được bảo đảm; công tác đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển được triển khai chủ động, toàn diện. Kinh tế biển, các vùng biển, ven biển đang trở thành động lực phát triển đất nước; hệ thống kết cấu hạ tầng được quan tâm đầu tư; đời sống vật chất và tinh thần của người dân vùng biển được cải thiện. Nghiên cứu khoa học, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực về biển đạt được nhiều kết quả tích cực. Công tác quản lý, khai thác, sử dụng, bảo vệ tài nguyên môi trường biển, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng được chú trọng. Hệ thống chính sách, pháp luật, bộ máy quản lý nhà nước về biển, đảo từng bước được hoàn thiện và phát huy hiệu lực, hiệu quả.

Tuy nhiên, việc thực hiện Nghị quyết vẫn còn nhiều hạn chế, yếu kém và khó khăn, thách thức trong phát triển bền vững kinh tế biển. Phát triển kinh tế biển chưa gắn kết hài hoà với phát triển xã hội và bảo vệ môi trường. Công tác bảo vệ an ninh, an toàn, phối hợp tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn, ứng phó với sự cố môi trường trên biển còn nhiều bất cập.

Một số chỉ tiêu, nhiệm vụ đề ra chưa đạt được; lợi thế, tiềm năng là cửa ngõ vươn ra thế giới chưa được phát huy đầy đủ; việc thực hiện chủ trương phát triển một số ngành kinh tế biển mũi nhọn chưa đáp ứng được yêu cầu đề ra. Sự liên kết giữa các vùng biển, ven biển; vùng ven biển với vùng nội địa; địa phương có biển với địa phương không có biển và giữa các ngành, lĩnh vực còn thiếu chặt chẽ, kém hiệu quả.

Ô nhiễm môi trường biển ở nhiều nơi còn diễn ra nghiêm trọng, ô nhiễm rác thải nhựa đã trở thành vấn đề cấp bách; các hệ sinh thái biển, đa dạng sinh học biển bị suy giảm; một số tài nguyên biển bị khai thác quá mức; công tác ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, biển xâm thực còn nhiều hạn chế, bất cập. Khoa học và công nghệ, điều tra cơ bản, phát triển nguồn nhân lực biển chưa trở thành nhân tố then chốt trong phát triển bền vững kinh tế biển. Hợp tác quốc tế về biển chưa hiệu quả. Khoảng cách giàu-nghèo của người dân ven biển có xu hướng ngày càng tăng. Việc giữ gìn giá trị, phát huy bản sắc văn hóa biển chưa được quan tâm đúng mức.

Những hạn chế, yếu kém nêu trên có nguyên nhân khách quan, song nguyên nhân chủ quan là chủ yếu. Nhận thức của các cấp, các ngành, địa phương và người dân, doanh nghiệp về vai trò, vị trí của biển, phát triển bền vững kinh tế biển chưa đầy đủ; phương thức quản lý tổng hợp, thống nhất về biển dựa trên hệ sinh thái chưa theo kịp với yêu cầu phát triển và xu thế thời đại. Công tác lãnh đạo, chỉ đạo việc thực hiện Nghị quyết của một số cấp ủy, chính quyền còn thiếu thường xuyên, quyết liệt. Chính sách, pháp luật về biển chưa đầy đủ, thiếu đồng bộ, một số chủ trương lớn của Đảng chưa được thể chế hóa kịp thời. Công tác quản lý nhà nước về biển, đảo còn nhiều bất cập.

II- QUAN ĐIỂM, MỤC TIÊU 1. Bối cảnh, tình hình

Dự báo trong thời gian tới, tình hình quốc tế tiếp tục có nhiều diễn biến phức tạp, đặc biệt là sự cạnh tranh chiến lược giữa các nước lớn, tranh chấp chủ quyền ranh giới biển và sự bất đồng giữa các nước tại Biển Đông. Ô nhiễm môi trường xuyên biên giới, biến đổi khí hậu, nước biển dâng đã trở thành vấn đề cấp bách toàn cầu. Phát triển bền vững, hài hoà giữa phát triển với bảo tồn biển trở thành xu thế chủ đạo. Toàn cầu hóa và cách mạng khoa học-công nghệ tạo ra nhiều cơ hội và thách thức. Ở trong nước, ổn định kinh tế vĩ mô, phát triển bền vững; thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; an ninh, trật tự, an toàn xã hội vẫn là những khó khăn, thách thức lớn.

2. Quan điểm

(1) Thống nhất tư tưởng, nhận thức về vị trí, vai trò và tầm quan trọng đặc biệt của biển đối với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong toàn Đảng, toàn dân và toàn quân. Biển là bộ phận cấu thành chủ quyền thiêng liêng của Tổ quốc, là không gian sinh tồn, cửa ngõ giao lưu quốc tế, gắn bó mật thiết với sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Việt Nam phải trở thành quốc gia mạnh về biển, giàu từ biển, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh và an toàn; phát triển bền vững kinh tế biển gắn liền với bảo đảm quốc phòng, an ninh, giữ vững độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ, tăng cường đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển, góp phần duy trì môi trường hòa bình, ổn định cho phát triển. Phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam là trách nhiệm của cả hệ thống chính trị, là quyền và nghĩa vụ của mọi tổ chức, doanh nghiệp và người dân Việt Nam.

(2) Phát triển bền vững kinh tế biển trên nền tảng tăng trưởng xanh, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển; bảo đảm hài hoà giữa các hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, giữa bảo tồn và phát triển, giữa lợi ích của địa phương có biển và địa phương không có biển; tăng cường liên kết, cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực theo hướng nâng cao năng suất, chất lượng, hiệu quả và sức cạnh tranh; phát huy tiềm năng, lợi thế của biển, tạo động lực phát triển kinh tế đất nước.

(3) Giữ gìn giá trị, phát huy truyền thống lịch sử, bản sắc văn hóa biển đi đôi với xây dựng xã hội gắn kết, thân thiện với biển; bảo đảm quyền tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở công bằng, bình đẳng, tuân thủ Hiến pháp và pháp luật.

(4) Tăng cường quản lý tổng hợp, thống nhất tài nguyên và bảo vệ môi trường biển, bảo tồn đa dạng sinh học, các hệ sinh thái biển tự nhiên; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng. Đẩy mạnh đầu tư vào bảo tồn và phát triển giá trị đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái biển; bảo vệ tính toàn vẹn của hệ sinh thái từ đất liền ra biển. Gắn bảo vệ môi trường biển với phòng ngừa, ngăn chặn ô nhiễm, sự cố môi trường, tăng cường hợp tác khu vực và toàn cầu.

(5) Lấy khoa học, công nghệ tiên tiến, hiện đại và nguồn nhân lực chất lượng cao làm nhân tố đột phá. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho công tác nghiên cứu, điều tra cơ bản, đào tạo nguồn nhân lực về biển; kết hợp huy động các nguồn lực trong và ngoài nước. Chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập, hợp tác quốc tế, ưu tiên thu hút các nhà đầu tư chiến lược hàng đầu thế giới có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến trên nguyên tắc bình đẳng, cùng có lợi, tôn trọng độc lập, chủ quyền và toàn vẹn lãnh thổ của Việt Nam.

3. Mục tiêu đến năm 2030

a) Mục tiêu tổng quát

Đưa Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh; đạt cơ bản các tiêu chí về phát triển bền vững kinh tế biển; hình thành văn hóa sinh thái biển; chủ động thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng; ngăn chặn xu thế ô nhiễm, suy thoái môi trường biển, tình trạng sạt lở bờ biển và biển xâm thực; phục hồi và bảo tồn các hệ sinh thái biển quan trọng. Những thành tựu khoa học mới, tiên tiến, hiện đại trở thành nhân tố trực tiếp thúc đẩy phát triển bền vững kinh tế biển.

b) Mục tiêu cụ thể

– Về kinh tế biển: Các ngành kinh tế thuần biển đóng góp khoảng 10% GDP cả nước; kinh tế của 28 tỉnh, thành phố ven biển ước đạt 65 – 70% GDP cả nước. Các ngành kinh tế biển phát triển bền vững theo các chuẩn mực quốc tế; kiểm soát khai thác tài nguyên biển trong khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển.

– Về xã hội: Chỉ số phát triển con người (HDI) của các tỉnh, thành phố ven biển cao hơn mức trung bình của cả nước; thu nhập bình quân đầu người của các tỉnh, thành phố ven biển gấp từ 1,2 lần trở lên so với thu nhập bình quân của cả nước. Các đảo có người dân sinh sống có hạ tầng kinh tế – xã hội cơ bản đầy đủ, đặc biệt là điện, nước ngọt, thông tin liên lạc, y tế, giáo dục…

– Về khoa học, công nghệ, phát triển nguồn nhân lực biển: Tiếp cận, tận dụng tối đa thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến và thuộc nhóm nước dẫn đầu trong ASEAN, có một số lĩnh vực khoa học và công nghệ biển đạt trình độ tiên tiến, hiện đại trên thế giới. Đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển, hình thành đội ngũ cán bộ khoa học và công nghệ biển có năng lực, trình độ cao.

– Về môi trường, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng: Đánh giá được tiềm năng, giá trị các tài nguyên biển quan trọng. Tối thiểu 50% diện tích vùng biển Việt Nam được điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển ở tỉ lệ bản đồ 1: 500.000 và điều tra tỉ lệ lớn ở một số vùng trọng điểm. Thiết lập bộ cơ sở dữ liệu số hoá về biển, đảo, bảo đảm tính tích hợp, chia sẻ và cập nhật.

Ngăn ngừa, kiểm soát và giảm đáng kể ô nhiễm môi trường biển; tiên phong trong khu vực về giảm thiểu chất thải nhựa đại dương. Ở các tỉnh, thành phố ven biển, 100% chất thải nguy hại, chất thải rắn sinh hoạt được thu gom và xử lý đạt quy chuẩn môi trường; 100% khu kinh tế, khu công nghiệp và khu đô thị ven biển được quy hoạch, xây dựng theo hướng bền vững, sinh thái, thông minh, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, có hệ thống xử lý nước thải tập trung, đáp ứng các quy chuẩn, tiêu chuẩn về môi trường.

Quản lý và bảo vệ tốt các hệ sinh thái biển, ven biển và hải đảo; tăng diện tích các khu bảo tồn biển, ven biển đạt tối thiểu 6% diện tích tự nhiên vùng biển quốc gia; phục hồi diện tích rừng ngập mặn ven biển tối thiểu bằng mức năm 2000.

Năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai, động đất, sóng thần, quan trắc, giám sát môi trường biển, biến đổi khí hậu, nước biển dâng, bao gồm cả thông qua việc ứng dụng công nghệ vũ trụ và trí tuệ nhân tạo, đạt trình độ ngang tầm với các nước tiên tiến trong khu vực. Có biện pháp phòng, tránh, ngăn chặn, hạn chế tác động của triều cường, xâm nhập mặn, xói lở bờ biển.

4. Tầm nhìn đến năm 2045

Việt Nam trở thành quốc gia biển mạnh, phát triển bền vững, thịnh vượng, an ninh, an toàn; kinh tế biển đóng góp quan trọng vào nền kinh tế đất nước, góp phần xây dựng nước ta thành nước công nghiệp hiện đại theo định hướng xã hội chủ nghĩa; tham gia chủ động và có trách nhiệm vào giải quyết các vấn đề quốc tế và khu vực về biển và đại dương.

III- MỘT SỐ CHỦ TRƯƠNG LỚN VÀ KHÂU ĐỘT PHÁ 1. Một số chủ trương lớn

(1) Phát triển kinh tế biển và ven biển

a) Phát triển các ngành kinh tế biển

Đến năm 2030, phát triển thành công, đột phá về các ngành kinh tế biển theo thứ tự ưu tiên: (1) Du lịch và dịch vụ biển; (2) Kinh tế hàng hải; (3) Khai thác dầu khí và các tài nguyên khoáng sản biển khác; (4) Nuôi trồng và khai thác hải sản; (5) Công nghiệp ven biển; (6) Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới. Cụ thể:

– Du lịch và dịch vụ biển: Chú trọng đầu tư hạ tầng du lịch; khuyến khích, tạo điều kiện để các thành phần kinh tế tham gia phát triển du lịch sinh thái, thám hiểm khoa học, du lịch cộng đồng, các khu du lịch nghỉ dưỡng biển chất lượng cao tại các vùng ven biển; xây dựng, phát triển, đa dạng hoá các sản phẩm, chuỗi sản phẩm, thương hiệu du lịch biển đẳng cấp quốc tế trên cơ sở bảo tồn đa dạng sinh học, phát huy giá trị di sản thiên nhiên, văn hóa, lịch sử đặc sắc của các vùng, miền, kết nối với các tuyến du lịch quốc tế để Việt Nam trở thành điểm đến hấp dẫn của thế giới. Nghiên cứu thí điểm phát triển du lịch ra các đảo, vùng biển xa bờ. Tăng cường năng lực tìm kiếm cứu hộ, cứu nạn; đẩy mạnh các hoạt động thám hiểm khoa học; chú trọng công tác giáo dục, y tế biển… Hỗ trợ, tạo điều kiện để người dân ven biển chuyển đổi nghề từ các hoạt động có nguy cơ xâm hại, tác động tiêu cực đến biển sang bảo vệ, bảo tồn, tạo sinh kế bền vững, việc làm mới ổn định, nâng cao thu nhập cho người dân.

– Kinh tế hàng hải: Trọng tâm là khai thác có hiệu quả các cảng biển và dịch vụ vận tải biển. Quy hoạch, xây dựng, tổ chức khai thác đồng bộ, có hiệu quả các cảng biển tổng hợp, cảng trung chuyển quốc tế, cảng chuyên dùng gắn với các dịch vụ hỗ trợ; xây dựng hoàn thiện hạ tầng logistics và các tuyến đường giao thông, kết nối liên thông các cảng biển với các vùng, miền, địa phương trong nước và quốc tế. Đẩy mạnh phát triển đội tàu vận tải biển với cơ cấu hợp lý, ứng dụng công nghệ hiện đại, nâng cao chất lượng dịch vụ, đáp ứng nhu cầu thị trường vận tải nội địa, tham gia sâu vào các chuỗi cung ứng vận tải, từng bước gia tăng, chiếm lĩnh thị phần quốc tế.

– Khai thác dầu khí và các tài nguyên, khoáng sản biển khác: Nâng cao năng lực của ngành Dầu khí và các ngành tài nguyên, khoáng sản biển khác; từng bước làm chủ công tác tìm kiếm, thăm dò, khai thác, đáp ứng nhiệm vụ phát triển kinh tế biển trong thời kỳ mới. Đẩy mạnh công tác tìm kiếm, thăm dò, gia tăng trữ lượng dầu khí; nghiên cứu, thăm dò các bể trầm tích mới, các dạng hydrocarbon phi truyền thống; gắn việc tìm kiếm, thăm dò dầu khí với điều tra, khảo sát, đánh giá tiềm năng các tài nguyên, khoáng sản biển khác, khoáng sản biển sâu, đặc biệt là các khoáng sản có trữ lượng lớn, giá trị cao, có ý nghĩa chiến lược. Nâng cao hiệu quả khai thác các tài nguyên khoáng sản biển gắn với chế biến sâu; kết hợp hài hoà giữa khai thác, chế biến với bảo vệ môi trường, bảo tồn đa dạng sinh học biển.

– Nuôi trồng và khai thác hải sản: Chuyển từ nuôi trồng, khai thác hải sản theo phương thức truyền thống sang công nghiệp, ứng dụng công nghệ cao. Tổ chức lại hoạt động khai thác hải sản theo hướng giảm khai thác gần bờ, đẩy mạnh khai thác tại các vùng biển xa bờ và viễn dương phù hợp với từng vùng biển và khả năng phục hồi của hệ sinh thái biển đi đôi với thực hiện đồng bộ, có hiệu quả công tác đào tạo, chuyển đổi nghề cho ngư dân.

Thúc đẩy các hoạt động nuôi trồng, khai thác hải sản bền vững, tăng cường bảo vệ, tái sinh nguồn lợi hải sản, nghiêm cấm các hoạt động khai thác mang tính tận diệt. Hiện đại hóa công tác quản lý nghề cá trên biển; đẩy mạnh liên kết sản xuất theo hình thức tổ hợp tác, hợp tác xã, liên hiệp hợp tác xã; xây dựng một số doanh nghiệp mạnh tham gia khai thác hải sản xa bờ và hợp tác khai thác viễn dương. Đầu tư nâng cấp các cảng cá, bến cá, khu neo đậu tàu thuyền, tổ chức tốt dịch vụ hậu cần nghề cá. Đẩy mạnh ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến trong nuôi trồng, khai thác, bảo quản, chế biến hải sản, tạo ra các sản phẩm chủ lực, có chất lượng, giá trị kinh tế cao, đáp ứng nhu cầu của thị trường.

– Công nghiệp ven biển: Phải dựa trên cơ sở quy hoạch, cân nhắc lợi thế về điều kiện tự nhiên của từng vùng, ưu tiên phát triển các ngành công nghiệp công nghệ cao thân thiện với môi trường, công nghiệp nền tảng, công nghệ nguồn. Phát triển hợp lý các ngành sửa chữa và đóng tàu, lọc hoá dầu, năng lượng, cơ khí chế tạo, công nghiệp chế biến, công nghiệp phụ trợ.

– Năng lượng tái tạo và các ngành kinh tế biển mới: Thúc đẩy đầu tư xây dựng, khai thác điện gió, điện mặt trời và các dạng năng lượng tái tạo khác. Phát triển ngành chế tạo thiết bị phục vụ ngành công nghiệp năng lượng tái tạo, tiến tới làm chủ một số công nghệ, thiết kế, chế tạo và sản xuất thiết bị; ưu tiên đầu tư phát triển năng lượng tái tạo trên các đảo phục vụ sản xuất, sinh hoạt, bảo đảm quốc phòng, an ninh. Quan tâm phát triển một số ngành kinh tế dựa vào khai thác tài nguyên đa dạng sinh học biển như dược liệu biển, nuôi trồng và chế biến rong, tảo, cỏ biển…

b) Phát triển đồng bộ, từng bước hình thành khu kinh tế, khu công nghiệp, khu đô thị sinh thái ven biển

Tập trung xây dựng và nhân rộng các mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái ven biển gắn với hình thành và phát triển các trung tâm kinh tế biển mạnh. Khu kinh tế ven biển phải đóng vai trò chủ đạo trong phát triển vùng và gắn kết liên vùng. Đổi mới tư duy trong xây dựng và thực hiện các quy hoạch, kế hoạch phát triển hệ thống đô thị ven biển có cơ sở hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội đồng bộ, hiện đại theo mô hình, tiêu chí tăng trưởng xanh, đô thị thông minh. Đẩy nhanh xây dựng hoàn thiện kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển theo hướng tiếp cận mô hình khu kinh tế, khu công nghiệp sinh thái, có sức hấp dẫn các nhà đầu tư, thu hút và sử dụng hiệu quả các nguồn lực, nhất là nguồn nhân lực chất lượng cao; giải quyết tốt vấn đề môi trường, xã hội, nâng cao chất lượng cuộc sống người dân.

(2) Phát triển các vùng biển dựa trên lợi thế về điều kiện tự nhiên, hài hoà giữa bảo tồn và phát triển

Quy hoạch không gian biển theo các vùng bảo vệ-bảo tồn, vùng đệm và vùng phát triển kinh tế-xã hội để phát triển bền vững kinh tế biển trên cơ sở phát huy tối đa lợi thế so sánh về điều kiện tự nhiên, vị trí địa lý, bản sắc văn hóa, tính đa dạng của hệ sinh thái, bảo đảm tính liên kết vùng, giữa địa phương có biển và không có biển.

– Vùng biển và ven biển phía Bắc (Quảng Ninh-Ninh Bình): Tiếp tục xây dựng khu vực Hải Phòng-Quảng Ninh trở thành trung tâm kinh tế biển; là cửa ngõ, động lực phát triển vùng kinh tế trọng điểm Bắc Bộ gắn với cảng quốc tế Lạch Huyện; phát triển Quảng Ninh trở thành trung tâm du lịch quốc gia kết nối với các trung tâm du lịch quốc tế lớn của khu vực và thế giới.

– Vùng biển và ven biển Bắc Trung Bộ, Duyên hải Trung Bộ (Thanh Hóa-Bình Thuận): Phát triển các cảng biển nước sâu trung chuyển quốc tế, cảng biển chuyên dụng gắn với các khu liên hợp công nghiệp, dầu khí, điện, năng lượng tái tạo, công nghiệp sạch; phát triển các trung tâm du lịch lớn; nuôi trồng, khai thác, chế biến hải sản, dịch vụ hậu cần và hạ tầng nghề cá.

– Vùng biển và ven biển Đông Nam Bộ (Bà Rịa-Vũng Tàu-Thành phố Hồ Chí Minh): Phát triển cảng biển container quốc tế, dịch vụ hậu cần cảng biển, dịch vụ bảo đảm an toàn hàng hải, công nghiệp khai thác, chế biến dầu khí, công nghiệp hỗ trợ và các dịch vụ ngành Dầu khí.

– Vùng biển và ven biển Tây Nam Bộ (Tiền Giang-Cà Mau-Kiên Giang): Tập trung xây dựng phát triển Phú Quốc thành trung tâm dịch vụ, du lịch sinh thái biển mạnh mang tầm quốc tế; phát triển công nghiệp khí, chế biến khí, điện khí, năng lượng tái tạo, nuôi trồng, khai thác hải sản, dịch vụ hậu cần, hạ tầng nghề cá; kết nối với các trung tâm kinh tế lớn trong khu vực và thế giới.

(3) Bảo vệ môi trường, bảo tồn, phát triển bền vững đa dạng sinh học biển; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng và phòng, chống thiên tai

Mở rộng diện tích, thành lập mới các khu vực bảo tồn biển trên cơ sở quy hoạch không gian biển quốc gia; chú trọng bảo tồn đa dạng sinh học, phục hồi các hệ sinh thái, đặc biệt là các rạn san hô, thảm cỏ biển, rừng ngập mặn, rừng phòng hộ ven biển; bảo đảm tính toàn vẹn và mối quan hệ tự nhiên giữa các hệ sinh thái đất liền và biển.

Xây dựng các tiêu chí, yêu cầu kỹ thuật nghiêm ngặt theo chuẩn quốc tế về môi trường đối với các dự án đầu tư có nguy cơ ô nhiễm môi trường cao khu vực ven biển, bảo đảm phòng ngừa, ngăn chặn không để xảy ra các sự cố gây ô nhiễm môi trường, giảm thiểu và xử lý hiệu quả các nguồn gây ô nhiễm. Đầu tư xây dựng, củng cố lực lượng, trang thiết bị giám sát, cảnh báo tự động về chất lượng môi trường, ứng phó với sự cố môi trường, hoá chất độc hại trên biển; quản lý rác thải biển, nhất là rác thải nhựa; cải thiện, nâng cao chất lượng môi trường biển.

Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, động đất, sóng thần, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng trên cơ sở ứng dụng khoa học, công nghệ tiên tiến, đặc biệt là áp dụng các mô hình thông minh có khả năng thích ứng, chống chịu với thiên tai và tác động tiêu cực của biến đổi khí hậu. Đẩy mạnh các biện pháp phòng, chống biển xâm thực, xói lở bờ biển, ngập lụt, xâm nhập mặn…

(4) Nâng cao đời sống nhân dân, xây dựng văn hóa biển, xã hội gắn bó, thân thiện với biển

Nâng cao đời sống, bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư vùng ven biển, trên đảo và những người lao động trên biển. Chú trọng phát triển các thiết chế văn hóa cho cộng đồng dân cư biển và ven biển; phát huy bản sắc, giá trị lịch sử và văn hóa dân tộc, tri thức tốt đẹp trong ứng xử với biển, coi đây là nền tảng quan trọng để xây dựng văn hóa biển. Bảo tồn không gian văn hóa, kiến trúc và di sản thiên nhiên. Nâng cao nhận thức về biển và đại dương, xây dựng xã hội, ý thức, lối sống, hành vi văn hóa gắn bó, thân thiện với biển. Phát huy tinh thần tương thân tương ái của cộng đồng dân cư vùng biển, ven biển. Bảo đảm quyền tiếp cận, tham gia, hưởng lợi và trách nhiệm của người dân đối với biển một cách công bằng, bình đẳng.

(5) Bảo đảm quốc phòng, an ninh, đối ngoại và hợp tác quốc tế

Xây dựng lực lượng vũ trang cách mạng chính quy, tinh nhuệ theo hướng hiện đại, ưu tiên hiện đại hoá một số quân chủng, binh chủng, lực lượng thực thi pháp luật trên biển; không ngừng củng cố, tăng cường thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân khu vực biển; bảo đảm năng lực xử lý tốt các tình huống trên biển, giữ vững độc lập, chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và lợi ích quốc gia trên các vùng biển. Nâng cao năng lực ứng phó với các mối đe doạ an ninh truyền thống và phi truyền thống, bảo đảm an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đấu tranh làm thất bại mọi âm mưu lợi dụng các vấn đề về biển, đảo để chống phá. Kiên trì xây dựng và duy trì môi trường hòa bình, ổn định và trật tự pháp lý trên biển, tạo cơ sở cho việc khai thác và sử dụng biển an toàn, hiệu quả. Tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế, chủ động tham gia và đóng góp tích cực vào nỗ lực chung của cộng đồng quốc tế trong việc bảo tồn, sử dụng bền vững biển và đại dương; tranh thủ tối đa các nguồn lực, sự hỗ trợ quốc tế để nâng cao năng lực quản lý và khai thác biển, trong đó chú trọng các lĩnh vực khoa học, công nghệ, tri thức và đào tạo nguồn nhân lực.

(3) Phát triển kết cấu hạ tầng đa mục tiêu, đồng bộ, mạng lưới giao thông kết nối các trung tâm kinh tế lớn của cả nước, các khu công nghiệp, khu đô thị, các vùng biển với các cảng biển dựa trên hệ sinh thái kinh tế và tự nhiên, kết nối chiến lược Bắc-Nam, Đông-Tây giữa các vùng trong nước và với quốc tế.

IV- CÁC GIẢI PHÁP CHỦ YẾU 1. Tăng cường sự lãnh đạo của Đảng, đẩy mạnh công tác tuyên truyền, nâng cao nhận thức về phát triển bền vững biển, tạo đồng thuận trong toàn xã hội

Nâng cao nhận thức, tăng cường sự lãnh đạo của các cấp uỷ, tổ chức đảng, chính quyền trong tổ chức thực hiện, kiểm tra, giám sát quá trình triển khai thực hiện các chủ trương, giải pháp về phát triển bền vững kinh tế biển. Nâng cao hiệu quả, đa dạng hoá các hình thức, nội dung tuyên truyền chủ trương của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về biển, đảo, chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam trong toàn hệ thống chính trị, trong nhân dân, đồng bào ta ở nước ngoài và cộng đồng quốc tế; khẳng định chủ trương nhất quán của Việt Nam là duy trì môi trường hòa bình, ổn định, tôn trọng luật pháp quốc tế trên biển. Phát huy vai trò của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam, tổ chức đoàn thể các cấp trong công tác tuyên truyền, vận động các tầng lớp nhân dân giám sát và phản biện xã hội việc thực hiện Nghị quyết.

Kiện toàn hệ thống cơ quan quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển từ Trung ương đến địa phương bảo đảm hiện đại, đồng bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ có năng lực, chuyên môn cao. Nâng cao hiệu quả phối hợp giữa các cơ quan, giữa Trung ương với địa phương về công tác biển, đảo. Kiện toàn cơ quan điều phối liên ngành chỉ đạo thống nhất việc thực hiện Chiến lược phát triển bền vững kinh tế biển do Thủ tướng Chính phủ đứng đầu; tăng cường năng lực cho Bộ Tài nguyên và Môi trường thực hiện tốt chức năng, nhiệm vụ là cơ quan thường trực giúp Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ quản lý nhà nước tổng hợp và thống nhất về biển, đảo.

Kiện toàn mô hình tổ chức, nâng cao năng lực quản lý các đảo, quần đảo và vùng ven biển. Thực hiện bố trí dân cư trên các đảo gắn với chuyển đổi mô hình tổ chức sản xuất theo hướng thân thiện với biển và môi trường biển.

3. Phát triển khoa học, công nghệ và tăng cường điều tra cơ bản biển

Thúc đẩy đổi mới, sáng tạo, ứng dụng các thành tựu khoa học, công nghệ tiên tiến; đẩy mạnh nghiên cứu, xác lập luận cứ khoa học cho việc hoạch định, hoàn thiện chính sách, pháp luật về phát triển bền vững kinh tế biển. Ưu tiên đầu tư cho công tác điều tra cơ bản, nghiên cứu khoa học, công nghệ, đào tạo nguồn nhân lực biển; hình thành các trung tâm nghiên cứu, ứng dụng công nghệ sinh học biển, khai thác đáy biển sâu, công nghệ vũ trụ trong giám sát biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Đánh giá tiềm năng và lợi thế về điều kiện tự nhiên, tài nguyên, hệ sinh thái và các ngành, lĩnh vực kinh tế biển như hàng hải, khai thác, nuôi trồng, chế biến thuỷ, hải sản, năng lượng tái tạo, thông tin và công nghệ số, sinh dược học biển, thiết bị tự vận hành ngầm… Xây dựng và thực hiện có hiệu quả Chương trình trọng điểm điều tra cơ bản tài nguyên, môi trường biển và hải đảo; mở rộng nâng cao hiệu quả hợp tác quốc tế trong điều tra, nghiên cứu ở các vùng biển quốc tế. Đầu tư đội tàu nghiên cứu biển tiên tiến, thiết bị ngầm dưới biển có khả năng nghiên cứu ở các vùng biển sâu.

4. Đẩy mạnh giáo dục, đào tạo và phát triển nguồn nhân lực biển

Tăng cường giáo dục, nâng cao nhận thức, kiến thức, hiểu biết về biển, đại dương, kỹ năng sinh tồn, thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng, phòng, tránh thiên tai cho học sinh, sinh viên trong tất cả các bậc học, cấp học. Phát triển nguồn nhân lực biển chất lượng cao phù hợp với nhu cầu thị trường; có cơ chế, chính sách đặc biệt thu hút nhân tài, từng bước hình thành đội ngũ các nhà quản lý, nhà khoa học, chuyên gia đạt trình độ quốc tế, có chuyên môn sâu về biển và đại dương.

Có cơ chế hỗ trợ, nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển mạng lưới cơ sở đào tạo nguồn nhân lực biển đạt trình độ tiên tiến trong khu vực. Thực hiện có hiệu quả công tác đào tạo nghề, đáp ứng yêu cầu lao động của các ngành kinh tế biển và việc chuyển đổi nghề của người dân.

5. Tăng cường năng lực bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển

Hoàn thiện tổ chức các lực lượng bảo đảm quốc phòng, an ninh, thực thi pháp luật trên biển. Đầu tư trang thiết bị hiện đại, chú trọng đào tạo nhân lực, nâng cao hiệu quả thực thi pháp luật và tăng cường khả năng hiệp đồng, tác chiến của các lực lượng tham gia bảo vệ chủ quyền, quyền chủ quyền, quyền tài phán và các quyền lợi chính đáng, hợp pháp của đất nước. Xây dựng lực lượng công an khu vực ven biển, đảo, các khu đô thị, khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển vững mạnh, làm nòng cốt bảo đảm an ninh chính trị, trật tự, an toàn xã hội vùng biển, đảo. Nâng cao năng lực hoạt động của các lực lượng trực tiếp làm nhiệm vụ phòng, tránh và giảm nhẹ thiệt hại thiên tai, cứu nạn, cứu hộ, ứng phó với biến đổi khí hậu, nước biển dâng khu vực biển, đảo; bảo đảm an ninh, an toàn cho dân cư, người lao động và các hoạt động kinh tế khu vực biển; xây dựng vững chắc thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân vùng biển, đảo.

6. Chủ động tăng cường và mở rộng quan hệ đối ngoại, hợp tác quốc tế về biển

Thực hiện nhất quán đường lối đối ngoại độc lập tự chủ, đa dạng hóa, đa phương hóa; chủ động, nâng cao hiệu quả hội nhập quốc tế; kiên quyết, kiên trì đấu tranh bảo vệ chủ quyền và các lợi ích hợp pháp, chính đáng của quốc gia trên biển, đồng thời chủ động, tích cực giải quyết, xử lý các tranh chấp, bất đồng trên Biển Đông bằng các biện pháp hòa bình trên cơ sở luật pháp quốc tế, nhất là Công ước của Liên hợp quốc về Luật Biển 1982; giữ gìn môi trường hòa bình, ổn định và hợp tác để phát triển. Tăng cường quan hệ với các đối tác chiến lược, đối tác toàn diện và các nước bạn bè truyền thống, các nước có tiềm lực về biển, các nước có chung lợi ích trên nguyên tắc tôn trọng độc lập, chủ quyền, bình đẳng, cùng có lợi và phù hợp với luật pháp quốc tế.

Chủ động, tích cực tham gia các diễn đàn quốc tế và khu vực, nhất là các hoạt động hợp tác biển trong khuôn khổ ASEAN; phối hợp với các nước thực hiện đầy đủ và hiệu quả Tuyên bố về ứng xử của các bên trên Biển Đông (DOC), thúc đẩy ký Bộ Quy tắc ứng xử trên Biển Đông (COC).

Thúc đẩy các hoạt động hợp tác quốc tế về quản lý, sử dụng, bảo tồn bền vững biển, đại dương; thực hiện nghiêm túc các điều ước, thoả thuận khu vực và quốc tế về biển, đại dương mà Việt Nam đã tham gia; nghiên cứu tham gia các điều ước quốc tế quan trọng về biển, trước mắt ưu tiên các lĩnh vực về quản lý tài nguyên, bảo vệ môi trường, nghiên cứu khoa học biển; đẩy mạnh tham gia nghiên cứu khoa học, khảo sát, thăm dò, khai thác tài nguyên tại các vùng biển quốc tế. Tiếp tục đẩy mạnh hợp tác, tranh thủ sự hỗ trợ của các đối tác, các tổ chức quốc tế và khu vực để phát triển nguồn nhân lực, cơ sở hạ tầng vùng biển, ứng dụng khoa học, công nghệ hiện đại vào các ngành kinh tế biển, bảo vệ môi trường, phòng, chống thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu, nước biển dâng.

7. Huy động nguồn lực, khuyến khích các thành phần kinh tế đầu tư cho phát triển bền vững biển, xây dựng các tập đoàn kinh tế biển mạnh

Đẩy mạnh thu hút nguồn lực từ các thành phần kinh tế, nhất là kinh tế tư nhân, kinh tế có vốn đầu tư nước ngoài. Chủ động thu hút các nhà đầu tư lớn, có công nghệ nguồn, trình độ quản lý tiên tiến từ các nước phát triển. Ưu tiên đầu tư ngân sách nhà nước cho phát triển các huyện đảo, xã đảo tiền tiêu, xa bờ; xã hội hoá đầu tư kết cấu hạ tầng biển, đảo, các khu kinh tế, khu công nghiệp ven biển. Khuyến khích phát triển các doanh nghiệp thuộc mọi thành phần kinh tế, các tập đoàn kinh tế biển mạnh hoạt động sản xuất kinh doanh trên biển, đặc biệt là ở các vùng biển xa bờ, viễn dương. Tiếp tục cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước thuộc các ngành kinh tế biển, bảo đảm nâng cao năng lực quản trị, hiệu quả sản xuất kinh doanh, sức cạnh tranh.

V- TỔ CHỨC THỰC HIỆN

1. Các tỉnh uỷ, thành uỷ, các ban đảng, ban cán sự đảng, đảng đoàn, đảng ủy trực thuộc Trung ương tổ chức học tập, quán triệt sâu sắc nội dung Nghị quyết; xây dựng và tổ chức thực hiện chương trình, kế hoạch hành động với các mục tiêu, tiêu chí, nhiệm vụ, giải pháp, nguồn lực, cơ chế kiểm tra, giám sát, cơ quan chịu trách nhiệm và lộ trình chi tiết để cụ thể hoá, thể chế hoá Nghị quyết trong phạm vi trách nhiệm của cơ quan, tổ chức mình; tăng cường lãnh đạo, tạo sự thống nhất cả về nhận thức và hành động trong việc triển khai thực hiện Nghị quyết.

2. Đảng đoàn Quốc hội lãnh đạo công tác xây dựng luật, pháp lệnh, ưu tiên các dự án luật trực tiếp phục vụ triển khai thực hiện Nghị quyết; tăng cường giám sát của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng Dân tộc, các ủy ban của Quốc hội đối với phát triển bền vững kinh tế biển Việt Nam.

Các tàu hàng cập Cảng biển Cửa Việt ở Quảng Trị để nhận hàng hóa. (Ảnh: Nguyên Lý/TTXVN)

5. Đảng đoàn Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức chính trị-xã hội lãnh đạo, chỉ đạo đẩy mạnh vận động các tầng lớp nhân dân tích cực tham gia, giám sát việc thực hiện Nghị quyết.

Theo TTXVN (MH)

Cập nhật thông tin chi tiết về Hải Phòng Cần Chú Trọng Phát Triển Ba Trụ Cột Chiến Lược / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!