Xu Hướng 2/2023 # Lafo: Chủ Sở Hữu Súng Tuân Thủ Pháp Luật # Top 3 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Lafo: Chủ Sở Hữu Súng Tuân Thủ Pháp Luật # Top 3 View

Bạn đang xem bài viết Lafo: Chủ Sở Hữu Súng Tuân Thủ Pháp Luật được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

LAFO có nghĩa là gì? LAFO là viết tắt của Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật. Nếu bạn đang truy cập phiên bản không phải tiếng Anh của chúng tôi và muốn xem phiên bản tiếng Anh của Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật, vui lòng cuộn xuống dưới cùng và bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật trong ngôn ngữ tiếng Anh. Hãy nhớ rằng chữ viết tắt của LAFO được sử dụng rộng rãi trong các ngành công nghiệp như ngân hàng, máy tính, giáo dục, tài chính, cơ quan và sức khỏe. Ngoài LAFO, Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật có thể ngắn cho các từ viết tắt khác.

LAFO = Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật

Tìm kiếm định nghĩa chung của LAFO? LAFO có nghĩa là Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật. Chúng tôi tự hào để liệt kê các từ viết tắt của LAFO trong cơ sở dữ liệu lớn nhất của chữ viết tắt và tắt từ. Hình ảnh sau đây Hiển thị một trong các định nghĩa của LAFO bằng tiếng Anh: Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật. Bạn có thể tải về các tập tin hình ảnh để in hoặc gửi cho bạn bè của bạn qua email, Facebook, Twitter, hoặc TikTok.

Như đã đề cập ở trên, LAFO được sử dụng như một từ viết tắt trong tin nhắn văn bản để đại diện cho Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật. Trang này là tất cả về từ viết tắt của LAFO và ý nghĩa của nó là Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật. Xin lưu ý rằng Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật không phải là ý nghĩa duy chỉ của LAFO. Có thể có nhiều hơn một định nghĩa của LAFO, vì vậy hãy kiểm tra nó trên từ điển của chúng tôi cho tất cả các ý nghĩa của LAFO từng cái một.

Ý nghĩa khác của LAFO

Bên cạnh Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật, LAFO có ý nghĩa khác. Chúng được liệt kê ở bên trái bên dưới. Xin vui lòng di chuyển xuống và nhấp chuột để xem mỗi người trong số họ. Đối với tất cả ý nghĩa của LAFO, vui lòng nhấp vào “thêm “. Nếu bạn đang truy cập phiên bản tiếng Anh của chúng tôi, và muốn xem định nghĩa của Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật bằng các ngôn ngữ khác, vui lòng nhấp vào trình đơn ngôn ngữ ở phía dưới bên phải. Bạn sẽ thấy ý nghĩa của Chủ sở hữu súng tuân thủ pháp luật bằng nhiều ngôn ngữ khác như tiếng ả Rập, Đan Mạch, Hà Lan, Hindi, Nhật bản, Hàn Quốc, Hy Lạp, ý, Việt Nam, v.v.

Quyền Sở Hữu Là Gì? Quy Định Pháp Luật Về Quyền Sở Hữu?

Quyền sở hữu là gì? Quy định pháp luật về quyền sở hữu? Quyền sở hữu theo quy định của Bộ luật dân sự. Trong các chế định của Luật Dân sự, quyền sở hữu là một chế định quan trọng nhất? Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức từ gia súc? Quyền sở hữu đối với cây trồng?

Khi xã hội ngày càng phát triển, các quan hệ dân sự và giao dịch dân sự ngày càng được mở rộng thì chế định về tài sản và quyền sở hữu lại là chế định cơ bản, quan trọng nhất trong Bộ luật Dân sự nhằm bảo vệ các quyền và lợi ích hợp pháp của các chủ sở hữu tài sản, bảo đảm trật tự trong giao dịch dân sự.

Trước yêu cầu thể chế hoá đầy đủ, đồng thời tăng cường các biện pháp để công nhận, tôn trọng, bảo vệ và bảo đảm tốt hơn quyền con người, quyền công dân trong các lĩnh vực của đời sống dân sự, cũng như các tư tưởng, nguyên tắc cơ bản của nền kinh tế thị trường, định hướng xã hội chủ nghĩa về quyền sở hữu trong đó có quyền sở hữu về tài sản.

Căn cứ theo Điều 158 Bộ luật Dân sự 2015 thì có quy định đó là quyền sở hữu sẽ bao gồm nội dung về quyền chiếm hữu, quyền sử dụng cũng như quyền định đoạt đối với tài sản của chủ sở hữu theo đúng theo quy định của pháp luật. Theo định nghĩa này thì có thể thấy rằng quyền sở hữu bao gồm ba quyền năng cơ bản đó là quyền sử dụng, quyền chiếm hữu và quyền định đoạt.

Theo quan điểm kinh tế học, sở hữu được coi là việc chiếm giữ những của cải vật chất của con người trong đời sống xã hội. Theo quan điểm này, sở hữu là một phạm trù kinh tế mang yếu tố khách quan, xuất hiện cùng với sự tồn tại của xã hội loài người.

Quá trình tồn tại của xã hội loài người luôn gắn liền với sự phân hóa tài sản trong việc chiếm giữ những của cải vật chất. Cùng với đó là sự phân chia giai cấp, và những người có quyền thế trong xã hội thấy rằng, chỉ điều hành xã hội bằng phong tục tập quán sẽ không có lợi cho mình nên cần phải có một bộ máy bạo lực với pháp luật là công cụ để bảo vệ sự chiếm hữu của cải vật chất cho mình và cho giai cấp mình.

Trên cơ sở kinh tế để bảo đảm cho sự thống trị về chính trị và tư tưởng chính là các quan hệ sở hữu có lợi cho giai cấp thống trị. Giai cấp thống trị phải dùng tới một bộ phận của pháp luật về sở hữu để thể hiện ý chí của giai cấp mình. Là một hình thái của thượng tầng kiến trúc, pháp luật về sở hữu ghi nhận và củng cố địa vị, ghi nhận lợi ích của giai cấp thống trị đối với việc đoạt giữ các của cải vật chất trước các giai cấp khác trong quá trình sản xuất, phân phối, lưu thông. Do đó, trong bất kỳ nhà nước nào, luật pháp về sở hữu cũng được sử dụng với ý nghĩa là một công cụ có hiệu quả của giai cấp nắm chính quyền để bảo vệ cơ sở kinh tế của giai cấp đó.

Trong khoa học pháp lý, quyền sở hữu được hiểu là một phạm trù pháp lý phản ánh các quan hệ sở hữu trong một chế độ sở hữu nhất định, bao gồm tổng hợp các quy phạm pháp luật về sở hữu nhằm điều chỉnh các quan hệ sở hữu trong đời sống xã hội. Các quy phạm pháp luật về sở hữu là cơ sở để xác nhận, quy định và bảo vệ các quyền lợi của chủ sở hữu trong việc chiếm hữu, sử dụng và định đoạt tài sản.

Quyền sở hữu với tư cách là một chế định của pháp luật dân sự, một bộ phận thuộc thượng tầng kiến trúc, quyền sở hữu chỉ xuất hiện khi xã hội đã có sự phân chia giai cấp và có Nhà nước. Pháp luật về sở hữu chính là sản phẩm của xã hội có giai cấp nhằm bảo vệ lợi ích trước hết là của giai cấp thống trị, giai cấp nắm quyền lãnh đạo trong xã hội. Pháp luật về sở hữu dù được ghi nhận và quy định dưới bất kỳ góc độ nào cũng luôn mang tính giai cấp và phản ánh những phương thức chiếm giữ của cải vật chất trong xã hội. “Vì vậy, pháp luật về sở hữu bao giờ cũng nhằm mục đích:

– Bảo vệ những quan hệ sở hữu phù hợp với lợi ích của giai cấp thống trị.

Tạo Điều kiện pháp lý cần thiết bảo đảm cho giai cấp thống trị khai thác được nhiều nhất những tư liệu sản xuất đang chiếm hữu để phục vụ cho sự thống trị; đồng thời xác định mức độ xử sự và các ranh giới hạn chế cho các chủ sở hữu trong phạm vi các quyền năng: chiếm hữu, sử dụng, định đoạt.

Với cách hiểu này, khái niệm quyền sở hữu có thể hiểu theo hai nghĩa sau:

– Theo nghĩa khách quan (còn được gọi là nghĩa rộng), quyền sở hữu là luật pháp về sở hữu trong một hệ thống pháp luật nhất định. Do đó, quyền sở hữu là tổng hợp một hệ thống các quy phạm pháp luật do Nhà nước ban hành để điều chỉnh các quan hệ xã hội phát sinh trong lĩnh vực chiếm hữu, sử dụng và định đoạt các tư liệu sản xuất, tư liệu tiêu dùng, những của cải vật chất trong đời sống xã hội.

– Theo nghĩa chủ quan (còn được gọi là nghĩa hẹp), quyền sở hữu là mức độ xử sự mà pháp luật cho phép một chủ thể được thực hiện các quyền năng chiếm hữu, sử dụng và định đoạt trong những điều kiện nhất định.Với cách hiểu này thì quyền sở hữu chính là những quyền năng dân sự chủ quan của từng loại chủ sở hữu nhất định đối với một tài sản cụ thể, được quy định trong các quy phạm pháp luật về sở hữu cụ thể.

Trên phương diện khoa học luật dân sự, quyền sở hữu được hiểu là một quan hệ pháp luật dân sự – quan hệ pháp luật dân sự về sở hữu. Bởi, bản thân nó chính là hệ quả của sự tác động của một bộ phận pháp luật vào các quan hệ xã hội (các quan hệ sở hữu). Theo cách hiểu này, quyền sở hữu bao gồm đầy đủ ba yếu tố của quan hệ pháp luật dân sự: chủ thể, khách thể và nội dung như một quan hệ pháp luật dân sự bất kỳ.

Được quy định tại Điều 179 Bộ luật Dân sự năm 2015, theo đó quyền chiếm hữu được hiểu theo một cách đơn giản thông thường nhất thì đây được xem là sự nắm giữ, quản lý cũng như chi phối đối với một hay nhiều tài sản của một hoặc nhiều chủ thể. Ví dụ: cá nhân nào đó thực hiện việc cất giữ đối với số tiền của họ trong tủ hay trong két sắt của nhà mình.

Dựa vào ba tiêu chí khác nhau thì quyền chiếm hữu sẽ có cách phân loại khác nhau, cụ thể:

+ Dựa vào tính ngay tình của việc chiếm hữu, quyền chiếm hữu được chia ra làm hai loại:

(2) Chiếm hữu ngay tình là áp dụng đối với các trường hợp mà người chiến hữu không biết và họ không thể bằng cách nào đó mà biết mình chiếm hữu không dựa trên cơ sở pháp luật.

– Dựa vào tính liên tục của việc chiếm hữu, cũng được chia ra làm chiếm hữu liên tục và chiếm hữu không liên tục:

Ví dụ: Ông A vào bệnh viện khám bệnh, gửi xe của mình cho người trông xe tên B ở bãi giữ xe của bệnh viên, thì trường hợp này, ông A là người chiếm hữu về mặt pháp lý đối với tài sản là chiếc xe máy, còn ông B là người chiếm hữu về mặt thực tế đối với tài sản là chiếc xe máy đó.

(2) Chiếm hữu không liên tục là việc một chủ thể chiếm hữu một tài sản không đảm bảo hai điều kiện của chiếm hữu liên tục như đã nêu ở trên.

– Dựa vào tính công khai của việc chiếm hữu:

Cách phân loại này được quy định tại Điều 183 Bộ luật Dân sự năm 2015, bao gồm hai loại như sau:

(2) Chiếm hữu công khai tức là việc tài sản đang chiếm hữu được sử dụng đúng theo tính năng, công dụng và được người chiếm hữu hiện thời bảo quản, giữ gìn như tài sản của chính mình và việc chiếm hữu được thực hiện một cách công khai, minh bạch.

Điều 189 Bộ Luật dân sự 2015 thì có quy định về quyền sử dụng được hiểu là quyền trong việc khai thác công dụng, cũng như hưởng các hoa lợi, lợi tức của tài sản. Tuy nhiên thì có thể hiểu một cách đơn giản thì quyền sử dụng là việc khai thác cũng như việc hưởng lợi ích từ khối tài sản khai thác được. Cũng như xét về quyền chiếm hữu, thì quyền sử dụng không chỉ thuộc về chủ sở hữu tài sản mà ở đây còn thuộc về những người không phải chủ sở hữu nhưng được chủ sở hữu giao quyền hoặc theo quy định của pháp luật. Ví dụ: việc cho người khác thuê nhà của mình để hưởng lợi tức.

+ Quyền sử dụng của chủ sở hữu:

+ Quyền sử dụng của người không phải là chủ sở hữu: người không phải là chủ sở hữu sẽ được sử dụng tài sản theo sự thỏa thuận với chủ sở hữu hoặc theo các quy định của pháp luật.

Căn cứ theo Điều 192 của Bộ luật Dân sự năm 2015 thì có quy định: quyền định đoạt tài sản là việc chủ sở hữu tài sản thực hiện việc chuyển giao quyền sở hữu tài sản cho người khác hoặc từ bỏ quyền sở hữu đó của mình. Ví dụ: một người tuyên bố hoặc có hành vi vứt bỏ một chiếc ti vi thuộc quyền sở hữu của bản thân mình trước đó đã sở hữu nó.

Quyển định đoạt thực chất là việc định đoạt số phận “thực tế” hoặc “pháp lý” của một tài sản. Định đoạt “thực tế” là bằng hành vi của mình làm cho tài sản không còn như phá hủy, vứt bỏ…. Còn định đoạt pháp lý được hiểu là việc chuyển quyền sở hữu sang cho chủ thể khác như: tặng cho, mua bán…

Đối với chủ thể của quyền định đoạt phải có năng lực hành vi dân sự. Đồng thời quyền định đoạt không có nghĩa tuyệt đối, trong những trường hợp nhất định mà pháp luật ràng buộc chủ thể có quyền định đoạt phải tuân theo những quy định để tránh vi phạm Hiến pháp và pháp luật và phải tuân theo trình tự, thủ tục về việc chuyển giao quyền định đoạt do pháp luật quy định.

Dựa vào chủ thể của quyền định đoạt pháp luật dân sự chia ra làm hai loại, cụ thể:

+ Quyền định đoạt của người không phải là chủ sở hữu

Đối với người không phải là chủ sở hữu tài sản chỉ có quyền định đoạt tài sản theo sự ủy quyền của chủ sở hữu hoặc theo các quy định của pháp luật.

Ta thấy quyền định đoạt tài sản là một quyền có vai trò rất quan trọng đối với chủ sở hữu, các quy định của pháp luật về quyền định đoạt là hợp lý để bảo vệ những quyền lợi vốn có của chủ sở hữu.

Với ba quyền năng cơ bản được pháp luật dân sự quy định như trên thì có thể thấy rằng: chủ sở hữu có toàn quyền quyết định đối với tài sản thuộc sở hữu của mình.

Như vậy, pháp luật dân sự Việt Nam đã định nghĩa rõ ràng về quyền sở hữu bằng phương pháp liệt kê chứ chưa đưa ra được một định nghĩa khái quát. Mặt khác, việc đưa khái niệm này vào Bộ luật dân sự 2015 ở nước ta là một điểm đặc biệt vì các nước trên thế giới chỉ đề cập tới khái niệm quyền sở hữu trong khoa học luật chứ không đưa vào luật thực định.

Nhà ông A trồng cây bưởi và cây đó nằm trên đất nhà ông A. Khi cây ra trái, thì trái đó lại nằm qua ranh giới (đất) phía bên nhà ông B. Điều này đã nảy sinh tranh chấp giữa hai ông. Ông A cho rằng cây mọc ở nhà ông thì trái đó thuộc sở hữu của ông A, còn ông B cho rằng trái bưởi nằm bên đất nhà ông thì ông có quyền hái nó. Xin Luật sư giải đáp thắc mắc giúp tôi, tôi xin chân thành cảm ơn!

-Như vây, trong trường hợp này quả bưởi lại nằm ranh giới đất của nhà ông B, Điều 265, Bộ luật dân sự

“Điều 265. Nghĩa vụ tôn trọng ranh giới giữa các bất động sản

2. Người có quyền sử dụng đất được sử dụng không gian và lòng đất theo chiều thẳng đứng từ ranh giới trong khuôn viên đất phù hợp với quy hoạch xây dựng do cơ quan nhà nước có thẩm quyền quy định và không được làm ảnh hưởng đến việc sử dụng đất liền kề của người khác.

-Theo khoản 2 điều này thì nếu ông A và ông B có thỏa thuận thì tuân theo thỏa thuận đó. Nếu ông A và ông B không có thỏa thuận thì bưởi nhà ông A nằm qua ranh giới phía bên nhà ông B thì ông A phải thực hiện việc cắt, tỉa cành và quả vượt quá sang nhà ông B. Ông B có quyền yêu cầu ông A cắt tỉa phần vượt quá đó, trường hợp ông A không đồng ý cắt tỉa thì ông B mới có quyền hái bưởi.

4. Xác lập quyền sở hữu đối với hoa lợi, lợi tức từ gia súc

Ngày 01/01/2014 A và B thoả thuận hợp đồng mua bán tài sản, A bán cho B 01 con bò trị giá 10 triệu đồng, để đảm bảo cho việc giao kết hợp đồng nói trên B đặt cọc cho A 5 triệu đồng và hẹn 10 ngày sau trả nốt số tiền còn lại và nhận bò. Chưa đúng hẹn anh B đến trả số tiền còn lại và nhận bò thì phát hiện con bò mà mình thoả thuận mua của anh A đẻ được 01 con bê. Hãy cho biết con bê thuộc quyền sở hữ của ai, tại sao?

A thỏa thuận mua con bò của B, như vậy giữa A và B đã giao kết một hợp đồng mua bán tài sản với đối tượng là con bò.

Theo như thỏa thuận đến ngày thứ 10, khi B trả hết tiền cho A và A giao con bò cho B thì B sẽ trở thành chủ sở hữu con bò.

Tại khoản 3 điều này, Con bê được sinh ra trước ngày B đến lấy bò. Lúc này tài sản mua bán là con bò chưa được chuyển giao cho A. Vậy nên hoa lợi, lợi tức có từ con bò( con bê) sẽ thuộc về bên bán là A.

5. Phân tích thời điểm xác lập quyền sở hữu đối với tài sản

Trong các hợp đồng, giao dịch dân sự về tài sản thì việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu và thời điểm chịu rủi ro là những vấn đề diễn ra hàng ngày, hàng giờ trong xã hội, có ý nghĩa vô cùng quan trọng, giúp cho việc xác định quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của các bên đối với tài sản khi tham gia hợp đồng. Tuy nhiên, việc xác định thời điểm chuyển giao quyền sở hữu hiện nay gặp nhiều khó khăn, bất cập nhất là đối với nhóm động sản và bất động sản bởi cùng lúc nhiều văn bản pháp luật như: “Bộ luật dân sự 2015”, Luật đất đai, Luật Nhà ở, Luật kinh doanh bất động sản…nhưng lại quy định khác nhau, thậm chí xung đột lẫn nhau.

Việc quy định về thời điểm chuyển quyền sở hữu trên trên thực tế có trường hợp gặp bất cập, không thể hiện được ý chí của các bên.

Ví dụ: Ông N thoả thuận bán cho bà L một căn nhà ở gắn liền với đất ở rộng 500 m 2 ở vị trí gần bờ sông với giá 800 triệu đồng. Hợp đồng đã được công chứng, bà L đã thanh toán đủ cho ông N và đã nhận nhà. Hai bên thỏa thuận bà L chịu trách nhiệm làm thủ tục đăng ký quyền sở hữu. Tuy nhiên trong thời gian chờ cơ quan đăng ký đất đai hoàn trả kết quả đăng ký quyền sở hữu thì sau một trận mưa lớn, khu vườn bị sạt lỡ cuốn trôi gần 50 m 2 đất. Vì vậy bà L đề nghị ông N giảm 200 triệu đồng để khấu trừ vào số diện tích đất vườn đã bị cuốn trôi do thiệt hại khách quan. Tuy nhiên ông N không đồng ý, ông cho rằng hợp đồng đã được công chứng và có hiệu lực. Theo Khoản 1, Điều 12 Luật Nhà ở năm 2014 nêu trên thì thời điểm chuyển quyền sở hữu nhà ở là kể từ thời điểm bên mua đã thanh toán đủ tiền mua và đã nhận bàn giao nhà.

Từ đây có thể thấy, cùng là đối tượng của hợp đồng (nhà gắn liền với đất) nhưng khi hợp đồng đã được ký kết, công chứng hoặc chứng thực theo quy định tuy nhiên việc xác định chủ sở hữu của nhà và đất lại không đồng nhất với nhau như ví dụ ở trên thì phần nhà lúc này đã chuyển dịch quyền sở hữu sang cho bên mua nhưng phần đất thì vẫn còn sở hữu của bên bán và nếu phải chịu rủi ro thì bên mua chỉ chịu rủi ro đối với phần nhà còn bên bán chụi rủi ro đối với phần đất mặc dù các bên đã thực hiện xong các nghĩa vụ đối với nhau.

Như vậy hiện nay việc xác định thời điểm chuyển quyền sở hữu hiện nay vẫn còn nhiều bất cập khi được cùng một lúc nhiều luật điều chỉnh.

Pháp Luật Về Sở Hữu Trí Tuệ

Dịch vụ tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Onekey & Partners – công ty Luật hàng đầu Việt Nam sẽ giúp các cá nhân, đơn vị bị “ăn cắp” chất xám được bảo vệ quyền lợi cũng như trí tuệ của mình để an tâm sáng tạo, phát triển.

Nhức nhối nạn vi phạm bản quyền, vi phạm sở hữu trí tuệ ở Việt Nam

Chưa ở đâu, chưa ở đất nước nào, tình trạng vi phạm bản quyền, vi phạm quyền sở hữu trí tuệ lại trở thành vấn nạn như tại Việt Nam. Các vi phạm xảy ra trong mọi lĩnh vực của đời sống xã hội, từ những lĩnh vực hữu hình như sản xuất, xuất bản, truyền hình đến các lĩnh vực trừu tượng như âm nhạc, văn học…

Đầu năm 2019, dư luận xôn xao bởi hàng loạt vụ vi phạm bản quyền: Vụ kiện tranh chấp bản quyền của tác giả bộ truyện tranh Thần đồng Đất Việt; ca khúc “Tình nhân ơi” của nhạc sĩ Châu Đăng Khoa bị tố “đạo thơ” của tác giả Linh Linh; Giáo viên môn Văn trường THCS Kiến Thiết ở quận 3, TPHCM tố một trường khác trọng quận này “ăn cắp” phương pháp giảng dạy…

Kiện tụng, tranh chấp xảy ra liên tục khiến không ít người nghi ngờ liệu pháp luật bảo vệ sở hữu trí tuệ ở Việt Nam đã có hay chưa.

Trên thực tế, hành lang pháp lý về vấn đề bản quyền, sở hữu trí tuệ ở nước ta đã có trong các quy định, các văn bản luật và dưới luật. Tuy nhiên, xử lý vi phạm theo đúng quy trình, thủ tục hành chính, hình sự, dân sự không hề đơn giản và rất phức tạp, còn chưa theo kịp thực tiễn.

Đó là còn chưa kể tới việc thiếu cán bộ chuyên trách có trình độ, nghiệp vụ cao, khiến quá trình xử lý bị chậm trễ, các đơn vị, cá nhân chủ thể quyền phải mòn mỏi đợi chờ công lý. Nhiều trường hợp cũng không mấy mặn mà với việc tố cáo các hành vi sai trái.

Tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Onekey & Partners

Bảo vệ, thực thi quyền sở hữu trí tuệ không chỉ khuyến khích tinh thần kinh doanh, thúc đẩy sáng tạo, đảm bảo minh bạch, công bằng mà còn tạo cơ chế thương mại bình đẳng, cạnh tranh lành mạnh.

Thấy rõ được tầm quan trọng của vấn đề này, công ty Luật Onekey & Partners đã thành lập một bộ phận chuyên trách, gồm đội ngũ các luật sư, chuyên gia có nhiều năm kinh nghiệm trong lĩnh vực sở hữu trí tuệ, nhằm đảm bảo quyền và lợi ích hợp pháp cho cá nhân, đơn vị, doanh nghiệp.

Các dịch vụ tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Onekey & Partners bao gồm:

– Tư vấn bảo hộ Nhãn hiệu hàng hoá, Kiểu dáng công nghiệp, Sáng chế/Giải pháp hữu ích

+ Tra cứu, tư vấn về khả năng đăng ký nhãn hiệu, kiểu dáng công nghiệp, sáng chế/giải pháp hữu ích;

+ Sửa đổi, chuyển nhượng, gia hạn giấy chứng nhận đăng ký nhãn hiệu;

+ Tư vấn, đại diện khách hàng thực hiện các biện pháp bảo hộ nhãn hiệu; sáng chế, giải pháp hữu ích và kiểu dáng công nghiệp

+ Tư vấn và hỗ trợ khách hàng xây dựng chiến lược phát triển nhãn hiệu, thương hiệu;

+ Đại diện khách hàng thực hiện các thủ tục đăng ký tại Việt Nam, và các quốc gia khác

– Tư vấn bảo hộ Quyền tác giả

+ Tư vấn chung về luật bản quyền;

+ Tư vấn và thực hiện các thủ tục chuyển nhượng/chuyển giao bản quyền;

+ Khiếu nại, khởi kiện các vi phạm về bản quyền;

– Tư vấn Li-xăng/chuyển nhượng quyền Sở hữu trí tuệ

+ Tư vấn chuyển giao quyền sử dụng hoặc quyền sở hữu các đối tượng Sở hữu trí tuệ đã được bảo hộ tại Việt Nam

+ Đại diện khách hàng thực hiện thủ tục phê chuẩn, đăng ký Li-xăng và chuyển giao công nghệ

+ Đại diện hoặc hỗ trợ khách hàng đàm phán hợp đồng chuyển giao;

+ Tư vấn khiếu nại, xử lý vi phạm và giải quyết tranh chấp về Sở hữu trí tuệ

+ Đại diện khách hàng nộp đơn khiếu nại, yêu cầu hủy bỏ văn bằng hoặc các biện pháp khác nhằm giải quyết tranh chấp về Sở hữu trí tuệ;

+ Theo dõi và giám sát quá trình giải quyết tranh chấp về Sở hữu trí tuệ;

+ Ðiều tra và giải quyết các vi phạm về sở hữu trí tuệ

+ Giám sát nhằm phát hiện và khiếu nại hiện tượng bên vi phạm tìm cách hợp thức hóa các vi phạm SHTT;

+ Giám sát thị trường để phát hiện hàng giả và các vi phạm khác về SHTT;

+ Điều tra thông tin về các chủ thể vi phạm và hoạt động xâm phạm của họ;

+ Xử lý vi phạm, khiếu nại và khiếu kiện trước cơ quan có thẩm quyền/Tòa án nhằm bảo vệ quyền SHTT;

Onekey & Partners là đại diện Sở hữu trí tuệ tại Việt Nam, có liên kết hợp tác rộng rãi với nhiều hãng luật, đại diện Sở hữu trí tuệ ở các nước. Do đó, hoạt động tư vấn pháp luật về sở hữu trí tuệ tại Onekey & Partners sẽ không chỉ được thực hiện ở Việt Nam mà còn mở rộng ra các quốc gia, vùng lãnh thổ trên thế giới.

Xây Dựng Nhà Ở Riêng Lẻ Phải Tuân Thủ Pháp Luật

Nhu cầu xây dựng nhà ở riêng lẻ của người dân nông thôn, đô thị rất cao. Pháp luật đã quy định rõ các trường hợp bị cấm xây dựng, phải xin phép xây dựng và được miễn xin phép xây dựng. Tuy nhiên trên thực tế, việc thực hiện các quy định này chưa nghiêm túc dẫn tới hiện tượng xây dựng tràn lan, trái phép, không đúng quy hoạch, sai mục đích sử dụng đất.

Luật sư Ngô Văn Định, Giám đốc Trung tâm Tư vấn pháp luật Hội Luật gia tỉnh cho hay, việc xây nhà ở dù là nhu cầu chính đáng nhưng người dân phải chấp hành đúng quy định pháp luật về đất đai, xây dựng. Muốn xây nhà ở, người dân cần chú ý khu vực đất có bị cấm xây dựng hay không, nhất là trường hợp đất ao, hồ, ruộng, vườn…

Bà N.T.Q. (ngụ P.Tân Phong, TP.Biên Hòa) phản ảnh, khu vực đất quy hoạch mặt nước, nông nghiệp thuộc KP.6 (P.Tân Phong), khu vực giáp ranh giữa KP.7 và KP.9 (P.Tân Phong), mặc dù bị cấm xây dựng nhà ở riêng lẻ nhưng trong thời gian qua, nhiều người dân vẫn tự ý xây nhà.

Tương tự ông N.V. (ngụ KP.7, P.Trảng Dài, TP.Biên Hòa) cũng cho biết, nhiều khu vực đất nông nghiệp trên địa bàn phường chưa được phép xây dựng nhà ở vẫn được phân lô, bán nền để xây dựng nhà ở riêng lẻ. Mặc dù địa phương đã gắn bảng ngăn cấm, khuyến cáo xử lý nghiêm các trường hợp xây dựng trái phép nhưng nhiều người vẫn không chấp hành. Không ít người còn lấp cả ao hồ, lấn suối để làm nhà, công trình phụ.

Về nội dung này, luật sư Ngô Văn Định cho hay, theo quy định của Luật Đất đai năm 2013, việc sử dụng đất phải đúng quy hoạch, kế hoạch sử dụng đất và đúng mục đích sử dụng đất. Do đó, nếu người dân muốn xây dựng nhà ở riêng lẻ trên đất nuôi trồng thủy sản, nông nghiệp thì phải thực hiện thủ tục chuyển đổi mục đích sang đất ở. Việc chuyển đổi này phải đúng quy định pháp luật, được địa phương cho phép, thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ về thuế khi chuyển đổi và việc xây dựng nhà ở cũng phải xin phép.

Tại Khoản 3, Điều 12 Luật Xây dựng năm 2014 nghiêm cấm các hành vi như: xây dựng công trình trong khu vực cấm xây dựng; công trình lấn chiếm hành lang bảo vệ công trình quốc phòng, an ninh, giao thông, thủy lợi, đê điều, năng lượng, khu di tích lịch sử – văn hóa và khu vực bảo vệ công trình khác theo quy định của pháp luật; công trình ở khu vực đã được cảnh báo về nguy cơ lở đất, lũ quét, lũ ống, trừ công trình xây dựng để khắc phục những hiện tượng này.

* Trường hợp nào được miễn xin phép xây dựng?

Theo thắc mắc của một số người dân tại các xã: Tà Lài (H.Tân Phú), Bình Sơn (H.Long Thành), Xuân Mỹ (H.Cẩm Mỹ), trường hợp nào xây dựng nhà ở riêng lẻ ở nông thôn phải xin phép xây dựng hoặc không cần xin phép (miễn) xây dựng?

Trợ giúp viên Lê Minh Tuấn, Trung tâm Trợ giúp pháp lý nhà nước tỉnh (Sở Tư pháp) cho biết, tại Khoản 2, Điều 89, Luật Xây dựng năm 2014 quy định, công trình được miễn giấy phép xây dựng gồm: công trình thuộc dự án đầu tư xây dựng được Thủ tướng Chính phủ, bộ trưởng, thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Chủ tịch UBND các cấp quyết định đầu tư; công trình xây dựng ở nông thôn thuộc khu vực chưa có quy hoạch phát triển đô thị và quy hoạch chi tiết xây dựng được duyệt; nhà ở riêng lẻ ở nông thôn, trừ nhà ở riêng lẻ xây dựng trong khu bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa…

“Như vậy, theo quy định của Luật Xây dựng năm 2014, nhà ở riêng lẻ ở nông thôn nếu xây dựng trên đất không thuộc khu vực bảo tồn, khu di tích lịch sử – văn hóa thì được miễn giấy phép xây dựng. Còn nhà ở riêng lẻ đô thị khi người dân muốn xây dựng cần phải xin phép cơ quan có thẩm quyền cấp phép xây dựng” – ông Tuấn nói.

Tuy nhiên ông Tuấn lưu ý, tại Khoản 2 và Khoản 3, Điều 93, Luật Xây dựng năm 2014 cũng quy định rõ, điều kiện cấp phép xây dựng đối với nhà ở riêng lẻ khu vực đô thị và nông thôn như sau: đối với nhà ở riêng lẻ tại đô thị phải đáp ứng các điều kiện quy định tại Khoản 1, Điều 93 và phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng; đối với nhà ở riêng lẻ thuộc khu vực, tuyến phố trong đô thị đã ổn định nhưng chưa có quy hoạch chi tiết xây dựng thì phải phù hợp với quy chế quản lý quy hoạch, kiến trúc đô thị hoặc thiết kế đô thị được cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành. Đối với nhà ở riêng lẻ tại nông thôn khi xây dựng phải phù hợp với quy hoạch chi tiết xây dựng điểm dân cư nông thôn.

Theo Sở TN-MT, tình trạng xây dựng nhà ở tràn lan, trái quy hoạch, trên đất ao hồ, ruộng lúa, không tuân thủ các quy định về đất đai, xây dựng… vẫn còn diễn ra tại nhiều địa phương trong tỉnh. Do đó, việc tăng cường hơn nữa trách nhiệm của chính quyền địa phương trong quản lý nhà nước về xây dựng, đất đai bằng những phương pháp hữu hiệu như: pháp luật, hành chính, phổ biến, tuyên truyền pháp luật… cần phải thực hiện thường xuyên, liên tục thì mới đạt hiệu quả cao.

Luật sư Ngô Văn Định, Hội Luật gia tỉnh cho hay, xây dựng nhà ở riêng lẻ tại khu vực đô thị mà không được cấp giấy phép xây dựng thì bị phạt tiền từ 20-30 triệu đồng. Ngoài việc bị áp dụng hình phạt chính là phạt tiền, người vi phạm còn bị xử phạt bổ sung như: buộc phải tháo dỡ công trình, phần công trình xây dựng vi phạm…

HÃY LIÊN HỆ VỚI CHÚNG TÔI ĐỂ ĐƯỢC TƯ VẤN

Cập nhật thông tin chi tiết về Lafo: Chủ Sở Hữu Súng Tuân Thủ Pháp Luật trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!