Xu Hướng 12/2022 # Một Số Bất Cập Trong Thực Hiện Pháp Luật Về Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật / 2023 # Top 17 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Một Số Bất Cập Trong Thực Hiện Pháp Luật Về Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật / 2023 # Top 17 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Bất Cập Trong Thực Hiện Pháp Luật Về Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Võ Tuyết Hà – Sở Tư pháp Quảng Bình

Hiện nay, trong hệ thống pháp luật nước ta đang song song tồn tại 2 văn bản luật quy định về trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật. Đó là Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân năm 2004 (gọi tắt là Luật năm 2004) và Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 (gọi tắt là Luật năm 2008). Theo quy định của 2 văn bản luật này, thì đối với các cơ quan, người có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở Trung ương, nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật thực hiện theo Luật 2008; còn các cơ quan có thẩm quyền ban hành văn bản quy phạm pháp luật ở địa phương là Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp, thì nội dung, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật ngoài việc tuân thủ theo Luật năm 2004 còn được thực hiện theo Luật năm 2008. Điều này đã dẫn đến một số bất cập trong việc triển khai thực hiện các luật nói trên ở địa phương. Nhân đây tôi xin trao đổi một số vấn đề xung quanh quy định về nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 1 Luật năm 2008, thì “Văn bản quy phạm pháp luật là văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành theo thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân, trong đó có quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được Nhà nước bảo đảm thực hiện để điều chỉnh các quan hệ xã hội”.

Mặt khác, tại khoản 12 Điều 2 Luật năm 2008, thì trong hệ thống văn bản quy phạm pháp luật có “văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân”, và tại Điều 21 Luật năm 2008 quy định “Văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân được ban hành theo nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân”.

Như vậy, Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân các cấp khi ban hành văn bản quy phạm pháp luật, thì “nội dung, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục” được thực hiện theo quy định của Luật năm 2004, còn các vấn đề khác như: Nguyên tắc xây dựng, ban hành văn bản, ngôn ngữ kỹ thuật văn bản, tham gia góp ý kiến xây dựng văn bản quy phạm pháp luật, hiệu lực và nguyên tắc áp dụng văn bản quy phạm pháp luật… thì được thực hiện theo quy định của Luật năm 2008. Việc cùng một lúc phải áp dụng 2 luật đã dẫn đến một số bất cập trong quá trình thực hiện, đó là:

Thứ nhất, về tính khả thi của văn bản

Khoản 2 Điều 1 Luật năm 2008 quy định: “Văn bản do cơ quan nhà nước ban hành hoặc phối hợp ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục được quy định trong Luật này hoặc trong Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân thì không phải là văn bản quy phạm pháp luật”.

Luật năm 2004 và Luật năm 2008 đã quy định cụ thể, chi tiết các vấn đề về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản  để các chủ thể có thẩm quyền tuân thủ thực hiện. Tuy nhiên, nếu trong quá trình thực hiện, các tổ chức, cá nhân thực hiện không đúng hoặc không tuân thủ đầy đủ các quy định của pháp luật về thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục ban hành văn bản quy phạm pháp luật mà 2 luật trên quy định, thì văn bản được ban hành đó không phải là văn bản quy phạm pháp luật. Đây là một vấn đề khó bảo đảm tính khả thi trong thực tiễn áp dụng. Vì theo quy định trên, trong quá trình ban hành văn bản quy phạm pháp luật nếu thiếu một trong các thủ tục như lấy ý kiến, khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội ở địa phương, hoặc không gửi hồ sơ đến cơ quan tư pháp thẩm định theo quy định của pháp luật… thì văn bản đó không được coi là văn bản quy phạm pháp luật.

Thực tiễn trong những năm qua, ở địa phương việc khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối tượng chịu sự tác động đối với các dự thảo văn bản quy phạm pháp luật ít được thực hiện, điều này xuất phát từ những nguyên nhân khác nhau nhưng vấn đề cốt lõi nhất đó là kinh phí cấp riêng cho hoạt động xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật còn quá khiêm tốn, thậm chí có địa phương chưa có, trong khi đó hàng năm ở một tỉnh thông thường Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân cấp tỉnh ban hành khoảng từ 40 đến 60 văn bản quy phạm pháp luật (bao gồm cả nghị quyết, quyết định, chỉ thị quy phạm pháp luật). Đặc biệt là các năm đầu của một giai đoạn mới, sau các kỳ Đại hội Đảng để triển khai, thể chế hóa các văn kiện, nghị quyết của Đảng thành pháp luật, đòi hỏi phải ban hành nhiều văn bản quy phạm pháp luật hơn, vì vậy, vấn đề kinh phí đã khó khăn nay lại càng khó khăn hơn dẫn đến việc thực hiện đúng quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật trong khảo sát, lấy ý kiến góp ý của đối tượng chịu sự tác động khó được thực hiện theo quy định của pháp luật.

Riêng việc thẩm định dự thảo văn bản quy phạm pháp luật, khó có thể khẳng định chắc chắn rằng tất cả các địa phương trên toàn quốc thực hiện 100% văn bản quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân tỉnh ban hành được thẩm định hoặc lấy ý kiến góp ý của cơ quan tư pháp. Riêng ở tỉnh Quảng Bình, 9 tháng đầu năm 2011, ủy ban nhân dân tỉnh đã ban hành 05 quyết định quy phạm pháp luật, nhưng trong số đó có 04 văn bản quy phạm pháp luật được Sở Tư pháp thẩm định, 01 văn bản không qua Sở Tư pháp thẩm định. Vậy trường hợp này giải quyết ra sao khi không coi nó là văn bản quy phạm pháp luật, do đó, không thể áp dụng các biện pháp sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ hoặc đình chỉ thi hành theo Điều 9 của Luật này và nội dung của văn bản này không trái với các quy định của hệ thống pháp luật hiện hành?

Hiện nay, việc xử lý văn bản quy phạm pháp luật được thực hiện theo quy định tại Nghị định số 40/2010/NĐ-CP ngày 12/4/2010 của Chính phủ về kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật (sau đây gọi là Nghị định số 40/2010/NĐ-CP). Nhưng tại Mục 4, Chương III, Nghị định số 40/2010/NĐ-CP chỉ quy định việc xử lý đối với trường hợp văn bản có chứa quy phạm pháp luật nhưng không ban hành theo đúng hình thức, thẩm quyền. Cụ thể đó là: Văn bản có chứa quy phạm pháp luật do Hội đồng nhân dân, ủy ban nhân dân ban hành nhưng không được ban hành bằng hình thức nghị quyết của Hội đồng nhân dân, quyết định, chỉ thị của ủy ban nhân dân; văn bản có chứa quy phạm pháp luật hoặc văn bản có thể thức và nội dung như văn bản quy phạm pháp luật do Chủ tịch ủy ban nhân dân các cấp, Thủ trưởng các cơ quan chuyên môn thuộc ủy ban nhân dân cấp tỉnh, cấp huyện hoặc người đứng đầu các cơ quan, đơn vị thuộc ở cấp tỉnh, cấp huyện ban hành mới bị xử lý. Còn việc xử lý đối với văn bản ban hành không đúng trình tự, thủ tục thì không quy định.

Thứ hai, về quy định một văn bản có thể sửa đổi, bổ sung, thay thế, hủy bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản theo quy định tại Điều 9 Luật năm 2008

Tại khoản 3 Điều 9 Luật năm 2008 quy định: “Một văn bản quy phạm pháp luật có thể được ban hành để đồng thời sửa đổi, bổ sung, thay thế, huỷ bỏ, bãi bỏ nội dung trong nhiều văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành”. Nội dung này chưa được điều chỉnh trong Luật năm 2004.

Thứ ba, về hiệu lực văn bản quy phạm pháp luật

Điều 79 Luật năm 2008 quy định về hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật như sau: Chỉ trong những trường hợp thật cần thiết, văn bản quy phạm pháp luật mới được quy định hiệu lực trở về trước. Không được quy định hiệu lực trở về trước đối với các trường hợp sau đây: Quy định trách nhiệm pháp lý mới đối với hành vi mà vào thời điểm thực hiện hành vi đó pháp luật không quy định trách nhiệm pháp lý; quy định trách nhiệm pháp lý nặng hơn.

Tại khoản 2, Điều 51 Luật năm 2004 quy định: Không quy định hiệu lực trở về trước đối với văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Uỷ ban nhân dân.

Như vậy, Luật năm 2008 cho phép quy định hiệu lực trở về trước của văn bản quy phạm pháp luật, tuy rằng có cấm các trường hợp cụ thể nhưng Luật năm 2004 bắt buộc “không được quy định hiệu lực trở về trước của văn bản”. Trong trường hợp này việc áp dụng văn bản phải được thực hiện theo quy định tại khoản 3, Điều 83 Luật năm 2008, cụ thể: Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành mà có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản được ban hành sau. Vậy phải áp dung các quy định của Luật năm 2008 để thực hiện.

Thực tế cho thấy, quá trình thẩm định một số dự thảo văn bản không có sự thống nhất giữa cơ quan thẩm định và cơ quan soạn thảo văn bản. Một số quy định có lợi cho địa phương, cho cơ quan nhà nước và thậm chí cho một nhóm đối tượng thì cơ quan soạn thảo quy định hiệu lực áp dụng hiệu lực trở về trước và họ cũng không phải là không có lý khi áp dụng quy định này. Vậy, vấn đề này cần giải quyết sao đây?

Nguồn: http://www.moj.gov.vn (Tạp chí Dân chủ và Pháp luật)

Bất Cập Trong Thực Thi Pháp Luật Về Xử Lý Vi Phạm Hành Chính / 2023

Hàng năm, UBND tỉnh còn giao cho Sở Tư pháp thành lập đoàn kiểm tra liên ngành, kiểm tra công tác XLVPHC tại 8 huyện, thị xã, thành phố và các xã, phường, thị trấn trên địa bàn. Ngoài kiểm tra thường xuyên, UBND tỉnh cũng thành lập đoàn kiểm tra liên ngành theo chuyên đề về XLVPHC; UBND cấp huyện và một số sở, ngành chủ động xây dựng kế hoạch và tiến hành thanh tra, kiểm tra tình hình thi hành pháp luật về XLVPHC theo từng ngành, lĩnh vực quản lý.

Theo thống kê, 5 năm thực thi pháp luật về XLVPHC trên địa bàn tỉnh, trung bình mỗi năm có trên 22.000 vụ việc vi phạm hành chính bị xử lý, tập trung chủ yếu trong các lĩnh vực giao thông, xây dựng, đất đai, an toàn vệ sinh thực phẩm… Quá trình áp dụng pháp luật về XLVPHC cho thấy, số vụ việc vi phạm ngày càng có xu hướng tăng do sự phát triển của đời sống xã hội, do tăng trưởng kinh tế và việc tăng cường công tác thanh tra, kiểm tra, xử lý vi phạm của cơ quan chức năng.

Nhiều bất cập phát sinh

Theo Sở Tư pháp, trong quá trình áp dụng các quy định trong Luật XLVPHC phát sinh nhiều vướng mắc.

Cơ quan chức năng ghi nhận hiện nay, đối với một số hành vi vi phạm hành chính, có tình trạng một hành vi sai phạm xuất hiện trong nhiều nghị định, mỗi nghị định lại quy định mức xử phạt khác nhau. Đơn cử, hành vi xả rác nơi công cộng được nhắc tới trong 2 văn bản.

Nghị định 46/2016 nêu rõ mức phạt tiền đối với người xả rác nơi công cộng là 300.000-400.000 đồng (Điều 12). Trong khi đó, Nghị định 155/2016 lại quy định người sai phạm nộp phạt 5-7 triệu đồng. Đáng nói, 2 nghị định trên đều có hiệu lực thi hành từ năm 2016.

Hay với hành vi đi vệ sinh không đúng nơi quy định, Nghị định 167/2013 xác định mức phạt tiền là 100.000-300.000 đồng (Điều 7), còn tại Nghị định 155/2016 thì quy định mức phạt tiền 1-3 triệu đồng.

Không chỉ có mức phạt mà thẩm quyền xử phạt, quy trình xử lý trong nhiều văn bản hướng dẫn thi hành Luật XLVPHC cũng chưa sát thực tế, chưa phù hợp với nhiều quy định pháp luật khác.

Như việc xử phạt đối với hành vi gây rối trật tự tại phiên tòa được hướng dẫn thi hành trong Nghị định 167/2013. Nghị định này không quy định, đề cập, hoặc dẫn chiếu đến thẩm quyền xử phạt của các chức danh trong hệ thống tòa án như chánh án, chủ tọa phiên tòa…

Quá trình thi hành luật tại nhiều địa phương còn cho thấy tình trạng tồn tại song song 2 nghị định đều quy định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực xây dựng, mặc dù vậy, thẩm quyền và quy trình xử lý sai phạm ở 2 nghị định hoàn toàn không giống nhau,…

Việc có những bất cập trong các quy định pháp luật là điều có không thể tránh khỏi, nhưng cũng cần sớm có những điều chỉnh cho phù hợp để giúp cơ quan chức năng thực thi pháp luật hiệu quả hơn.

Bài, ảnh: ĐÌNH BẢO

Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật / 2023

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 với mục tiêu tạo khuôn khổ pháp lý trong xây dựng, ban hành VBQPPL hướng tới vận hành hệ thống pháp luật thống nhất, đồng bộ, minh bạch, khả thi, dễ tiếp cận, từ đó tăng cường hiệu lực, hiệu quả trong việc áp dụng và thực thi pháp luật. Tuy nhiên, quá trình triển khai thực hiện luật đã bộc lộ nhiều hạn chế, bất cập với nhiều nguyên nhân. Hiệu quả bước đầu

Sau khi Luật Ban hành VBQPPL, Nghị định số 34 được ban hành, tỉnh Bạc Liêu đã tiến hành phổ biến, quán triệt và tổ chức thực hiện nghiêm túc, qua đó tạo sự chuyển biến về nhận thức và nâng cao trách nhiệm của các cấp, các ngành, người đứng đầu các cơ quan, đơn vị đối với công tác xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật.

Việc triển khai thi hành luật và các văn bản quy định chi tiết đến cán bộ, công chức thuộc diện quản lý bằng nhiều hình thức như: tổ chức phổ biến, tập huấn, đào tạo tại chỗ để nâng cao trình độ chuyên môn, nghiệp vụ và năng lực xây dựng pháp luật (XDPL) cho đội ngũ công chức. Tạo điều kiện cho công chức phụ trách lĩnh vực tham gia đầy đủ các hội nghị phổ biến, tập huấn, bồi dưỡng do ngành Tư pháp tổ chức, nhất là những hội nghị phổ biến, quán triệt các quy định mới. Đảm bảo đội ngũ làm công tác XDPL về cơ bản nắm được tinh thần và nội dung mới của luật năm 2015.

Quá trình triển khai thực hiện luật, qua khảo sát cho thấy nhận thức của các cấp, các ngành ở địa phương được nâng lên một bước về ý nghĩa, vai trò của công tác XDPL, tạo cơ sở pháp lý thuận lợi cho hoạt động XDPL, góp phần đưa công tác XDPL ngày càng đi vào nền nếp. Các quy trình từ việc chuẩn bị hồ sơ trình, bảo đảm thời hạn trình, tuân thủ thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, quy định thời điểm có hiệu lực của văn bản, việc đăng Công báo, đăng tải VBQPPL trên Cơ sở dữ liệu quốc gia về pháp luật được thực hiện nghiêm túc. Chất lượng của VBQPPL ngày càng được nâng cao, nội dung của VBQPPL bảo đảm tính hợp hiến, cơ bản bảo đảm tính hợp pháp và tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống pháp luật, đa số văn bản bảo đảm tính khả thi, đáp ứng yêu cầu thực tiễn.

Cụ thể, trong quy trình lập đề nghị xây dựng VBQPPL, đối với các nghị quyết của HĐND, quyết định của UBND cấp tỉnh trước khi soạn thảo phải thực hiện quy trình lập đề nghị xây dựng văn bản. Trong giai đoạn này, cơ quan lập đề nghị xây dựng văn bản phải thực hiện một số nhiệm vụ như đánh giá tác động của chính sách, lấy ý kiến, gửi hồ sơ đề nghị để Sở Tư pháp thẩm định chính sách, trình cơ quan có thẩm quyền thông qua chính sách… Đây là một giai đoạn đòi hỏi rất nhiều thời gian, công sức, tuy nhiên, không ít trường hợp, vì nhiều lý do cần ban hành chính sách sớm, gấp, các cơ quan được giao nhiệm vụ soạn thảo thực hiện không đúng quy định về thời hạn. Chẳng hạn như việc quy định thời gian đánh giá tác động chính sách phải đảm bảo, nhưng không ít văn bản vì cần trình gấp mà thời gian cho quá trình đánh giá tác động chỉ từ 1 – 2 ngày, hoặc “nhắm mắt” cho qua, dẫn đến không ít văn bản, khi đưa vào thực tiễn áp dụng sau đó không triển khai được, không phù hợp với đời sống. Điều đáng nói là giai đoạn quan trọng, cần thiết như đánh giá tác động của chính sách từ quy trình đánh giá tác động đến yêu cầu lập báo cáo đánh giá tác động của chính sách hầu hết vẫn chỉ thực hiện một cách hình thức. Nhiều báo cáo đánh giá tác động của chính sách còn sơ sài, chủ yếu sử dụng phương pháp đánh giá định tính, chưa làm rõ được sự cần thiết ban hành văn bản, hoặc chưa làm nổi bật được những chi phí mà xã hội phải thực hiện so với lợi ích quản lý mà Nhà nước thu về của mỗi chính sách. Ý kiến của các đối tượng chịu tác động trong các phần đánh giá tác động khá mờ nhạt, chưa nói là không lấy được ý kiến của các đối tượng chịu sự tác động. Các cơ quan, ban ngành được lấy ý kiến đều nhận thức mơ hồ trách nhiệm của mình, trả lời theo kiểu hình thức, chiếu lệ cho xong.

Một vấn đề vướng mắc nữa chính là cách xác định VBQPPL. Cùng một nội dung nhưng có địa phương ban hành VBQPPL, có địa phương lại ban hành văn bản cá biệt. Vì vậy, quá trình thực hiện còn thiếu thống nhất. Nhiều địa phương khi đánh giá việc tổ chức thi hành Luật Ban hành VBQPPL đã phản ánh đối với cách xác định VBQPPL, mặc dù luật quy định rõ hơn khái niệm “VBQPPL” và khái niệm “Quy phạm pháp luật” để xác định những văn bản do một số cơ quan, người có thẩm quyền ban hành không phải VBQPPL. Tuy vậy, trong thực tiễn áp dụng, vẫn còn nhiều lúng túng trong việc xác định văn bản nào là VBQPPL. Một số địa phương cũng gặp khó khăn trong việc xác định hình thức văn bản để bãi bỏ VBQPPL của HĐND, UBND cấp huyện, cấp xã đã ban hành trước ngày Luật Ban hành VBQPPL có hiệu lực. Ở nhiều cấp xã, hầu hết vẫn còn băn khoăn việc khi nào thì được quyền ban hành VBQPPL, khi nào thì không. Tình trạng ban hành văn bản theo kiểu sao chép nội dung của các văn bản Trung ương về áp dụng cho địa phương vẫn còn xảy ra, nhất là ở cấp xã, cấp huyện.

…………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………..

………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………………….

Kim Phượng

Một Số Điểm Đáng Lưu Ý Của Luật Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật 2022 / 2023

Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, có hiệu lực thi hành kể từ 01/7/2016 thay thế cho Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2008 và Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND. So với 2 văn bản Luật trước đây thì Luật này có nhiều điểm mới trên cơ sở kế thừa, hợp nhất 2 văn bản hiện hành, bổ sung, quy định cụ thể trình tự, thủ tục ban hành văn bản ….

Trangtinphapluat.com trân trọng giới thiệu tới bạn đọc một số điểm mới đáng lưu ý của Luật Ban hành văn bản QPPL năm 2016:

– Bỏ Nghị quyết liên tịch giữa Chính phủ với các cơ quan trung ương của tổ chức chính trị xã hội

– Bỏ hình thức ban hành chỉ thỉ của cấp tỉnh, huyện, xã

– Văn bản quy phạm pháp luật phải quy định cụ thể, không quy định lại nội dung đã được quy định trong các văn bản quy phạm pháp luật khác.

– Các điều trong văn bản luật phải có tiêu đề. Không quy định chương riêng về thanh tra, khiếu nại, cáo cáo, khen thưởng và xử lý vi phạm nếu không có nội dung mới.

– Chính phủ quy định thể thức và kỹ thuật trình bày văn bản QPPL, trước đây là Bộ Nội vụ và Văn phòng Chính phủ hướng dẫn.

– Văn bản quy định chi tiết chỉ quy định nội dung được giao và không lặp lại nội dung của văn bản được quy định chi tiết và phải được ban hành, có hiệu lực cùng thời điểm với văn bản được quy định chi tiết.

– Hội đồng nhân dân cấp tỉnh được ban hành nghị quyết để quy định những biện pháp có tính chất đặc thù phù hợp với điều kiện phát triển kinh tế – xã hội của địa phương.

– HĐND, UBND cấp huyện, xã chỉ được ban hành văn bản quy phạm pháp luật để quy định những vấn đề được luật giao.

– Phòng Tư pháp có trách nhiệm thẩm định dự thảo Nghị quyết của HĐND cấp huyện trước khi trình UBND cấp huyện. Trước đây, Phòng Tư pháp chỉ thẩm định văn bản QPPL của UBND, văn bản QPPL của HĐND Phòng Tư pháp chỉ góp ý, còn Ban Pháp chế thẩm tra.

– Văn bản QPPL của cấp xã có hiệu lực sau 07 ngày kể từ ngày ký, theo quy định trước đây thì sau 5 ngày.

– Chỉ văn bản của trung ương mới được quy định hiệu lực trở về trước trong trường hợp thật cần thiết để đảm bảo lợi ích chung của xã hội , thực hiện các quyền, lợi ích của tổ chức, cá nhân được quy định trong luật, nghị quyết của Quốc hội.

– Văn bản QPPL hết hiệu lực thì văn bản quy định chi tiết cũng hết hiệu lực, trước đây chỉ có Luật Ban hành văn bản QPPL của HĐND, UBND mới quy định vấn đề này, còn văn bản trung ương thì không quy định, dẫn đến nhiều văn bản Luật hết hiệu lực thi hành nhưng các Nghị định, Thông tư hướng dẫn vẫn có hiệu lực thi hành.

– Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau. Quy định này vẫn chưa khắc phục được bất cập trong trường hợp 2 Nghị định do Chính phủ ban hành trong cùng một ngày, có hiệu lực cùng thời điểm nhưng lại quy định khác nhau về cùng vấn đề thì áp dụng văn bản nào?

Phương Thảo

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Bất Cập Trong Thực Hiện Pháp Luật Về Ban Hành Văn Bản Quy Phạm Pháp Luật / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!