Xu Hướng 3/2024 # Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích # Top 3 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xóa án tích là một quy định thể hiện tính nhân văn của Nhà nước đối với những người đã bị kết án hình sự, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, thay đổi bản thân để cống hiến cho xã hội. BLHS năm 2024 đã có nhiều quy định mới, tiến bộ về chế định xóa án tích như: Bổ sung quy định mới về các trường hợp không coi là có án tích như người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, người được miễn hình phạt…; quy định cụ thể điều kiện đương nhiên được xoá án tích và trách nhiệm của Nhà nước trong việc xoá án tích cho người bị kết án như rút ngắn thời hạn để đương nhiên được xoá án tích, sửa đổi thời điểm để bắt đầu tính thời hạn đương nhiên xoá án tích…

1.1. Hoàn thiện quy định xóa án tích trong BLHS

– Thứ nhất, quy định của pháp luật hiện hành chưa quy định khái niệm pháp lý của án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích để nhận thức và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần bổ sung thêm quy định về nội dung này theo hướng:

Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội khi họ bị kết án và bị áp dụng hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trừ một số trường hợp không bị coi là có án tích theo quy định của pháp luật hình sự, tồn tại trong một khoảng thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được coi như chưa bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự. Án tích được tính từ ngày bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được xóa án tích theo quy định tại Bộ luật này.

“Điều….: Án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích

– Thứ hai, Điều 69 quy định về xóa án tích nhưng khoản 2 của Điều luật quy định ” 2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích” là chưa phù hợp, bởi xóa án tích và không bị coi là có án tích là hai khái niệm có bản chất khác nhau.

“Điều….Không bị coi là có án tích Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần tách 02 khoản quy định tại Điều 69 thành 02 Điều luật khác nhau. Cụ thể:

Đối với hình phạt chính: a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn; b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân; d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình; đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

– Thứ ba, khoản 1 Điều 73 BLHS năm 2024 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích: “1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên”. Tuy nhiên, quy định này chưa thể hiện trường hợp phạm nhiều tội hoặc của nhiều bản án. Trong khi đó, Điều 55 BLHS năm 2024 quy định: Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.”.

Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Và Điều 56 BLHS 2024 quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:

Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.

Trong đó quy định về xóa án tích đối với trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bán án vẫn còn nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho cả người phạm tội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào Điều 73 quy định sau:

1.2. Ban hành văn bản hướng dẫn quy định về xóa án tích

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (cũ)

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (mới)

1. Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì thời hạn xoá án tích căn cứ vào hình phạt chính đã được tổng hợp trong bản án. Trường hợp hình phạt chính không tổng hợp được với hình phạt chính của tội hoặc bản án khác thì thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính nặng nhất đã tuyên.

Để việc áp dụng quy định về xóa án tích được thống nhất, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn các nội dung sau:

– Thứ nhất, về trường hợp người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 BLHS năm 2024 nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương nhiên xóa án tích không?

Về nội dung này TANDTC đã hướng dẫn tại công văn số 64/TANDTC: Điều 70 của Bộ luật hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của BLHS.

– Thứ hai, về xác định án tích để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng.

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

” Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Đồng thời, theo tinh thần của mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định: ” Khi áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, cần phân biệt: a. Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo”.

Hướng dẫn trên có thể tạo ra sự không công bằng trong áp dụng pháp luật và do BLHS năm 1999 đã hết hiệu lực nên cần có văn bản hướng dẫn mới phù hợp .

Ví dụ 1: A có 05 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS năm 2024, chưa được xóa án tích lại phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng. Như vậy, trong trường hợp này 05 tiền án trên chỉ là yếu tố định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2024.

Tuy nhiên, giả sử A có 02 tiền án (trong đó, có 01 tiền án về tội hiếp dâm; 01 tiền án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản), đều chưa được xóa án tích, lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng thì trong trường hợp này, tiền án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xem xét là yếu tố định tội theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2024, còn tiền án về tội hiếp dâm được coi là tình tiết tăng nặng TNHS để áp dụng đối với bị can, bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS và như vậy TNHS có thể sẽ nặng hơn so với trường hợp A có 05 tiến án về tội chiếm đoạt. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể trường hợp này, bảo đảm tính công bằng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Ví dụ 2: B có 03 tiền án, trong đó: có 02 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy vào các năm 2012 và năm 2013; 01 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản năm 2024 đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, đều chưa được xóa án tích; năm 2024, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2024 thì tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ là yếu tố định tội theo quy định tại khoản 1 điều 74 BLHS năm 2024.

Còn tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS hay tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2024?

Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung này để áp dụng trong thực tiễn.

Ngoài ra, theo chúng tôi cần thống nhất hướng dẫn cụ thể trường hợp nếu bản án có vi phạm trong việc không xác định một người là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” thì lần phạm tội sau của người đó vẫn bị áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” mà không bắt buộc bản án trước đó phải xác định người đó là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”, theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2024. Bởi thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp ở lần phạm tội trước, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nhưng bản án lại có sự thiếu sót khi không áp dụng, sau đó người này tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích, trường hợp này đang dẫn đến nhiều cách giải quyết khác nhau tại các Tòa án trên cả nước. Do ó cần có hướng dẫn để thống nhất việc áp dụng pháp luật trong xét xử.

– Thứ ba, trong thực tiễn vẫn xảy ra trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm họ chưa đủ 18 tuổi nhưng khi giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án thì họ đã trên 18 tuổi. Như vậy, với trường hợp này sẽ áp dụng những quy định chung về chế định xóa án tích quy định từ Điều 70 đến 73 BLHS năm 2024 hay áp dụng quy định tại Điều 107 BLHS năm 2024.

“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.”

Theo quy định Điều 107 BLHS năm 2024 về xóa án tích:

Có quan điểm cho rằng: theo nội dung quy định của Điều 107 là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên quy định tại Điều 107 được áp dụng cho người phạm tội đến thời điểm xét xử vẫn chưa đủ 18 tuổi, nếu họ từ đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2024.

Quan điểm khác cho rằng: Điều 107 được quy định trong chương XII với tên gọi “những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, theo đó quy định tại Điều 107 sẽ được áp dụng đối với người chưa thành niên từ thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Điều này sẽ thể hiện được nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo khi bị kết án và chính sách nhân đạo của nhà nước ta.

Do vậy, trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể vấn đề trên theo hướng: quy định tại Điều 107 với nội dung là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên đến thời điểm xét xử họ đã đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2024 mà không áp dụng Điều 107 BLHS năm 2024. Ngoài ra, trong giai đoạn điều tra, truy tố người chưa đủ 18 tuổi đã được hưởng những chính sách khoan hồng, nguyên tắc xử lý người chưa thành niên của pháp luật, đặc biệt là trong việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt ở mức thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội; thực tế, có những trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm dưới 18 tuổi nhưng một thời gian dài sau mới bị phát hiện (có trường hợp hơn 10 năm, như trường hợp Lý Nguyễn Chung trong vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn). Việc áp dụng này là phù hợp và không trái với các quy định khác của pháp luật.

– Thứ tư, về xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 89 BLHS năm 2024 quy định: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Như vậy, nhà làm luật chưa quy định trong trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì hậu quả pháp lý như thế nào? Có tính lại thời hạn để xóa án tích hay không?

Trường hợp nếu tính lại thì do khác với người bị kết án phạm tội (thời hạn tính xóa án tích sẽ được tính lại kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới theo quy định tại khoản 2 Điều 73 BLHS năm 2024) thì với pháp nhân thương mại bị kết án thì thời hạn tính xóa án tích của được tính lại kể từ khi chấp hành xong bản án mới (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết khác của tòa án). Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần hoàn thiện các quy định về xóa án tích của pháp nhân thương mại bị kết án theo hướng thời điểm tính thời hạn xóa án tích của pháp nhân thương mại nên giống với cá nhân là đều được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Mặt khác, Điều 89 BLHS chỉ quy định thời hạn xóa án tích cho pháp nhân thương mại phạm tội bị kết án là 2 năm “kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung…”, do vậy không có sự phân biệt hình phạt chính là gì, trong khi đó theo Điều 33 BLHS năm 2024 thì hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm 3 loại: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Có thể thấy, nếu pháp nhân thương mại bị áp dụng hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đồng nghĩa là chấm dứt sự tồn tại và hoạt động của pháp nhân, việc tính thời hạn xóa án tích với phạm nhân thương mại bị kết án không có ý nghĩa về mặt pháp lý và thực tiễn. Do vậy, chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể điều kiện xóa án tích và cách tính thời hạn xóa án tích một cách cụ thể, đối với từng loại hình phạt để thống nhất trong áp dụng.

– Thứ năm, về thời hạn đương nhiên xóa án tích

+ Điều 369 BLTTHS năm 2024 quy định: “1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích”.

+ Trong khi đó, Điều 48 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định: 1. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày”.

Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung của Luật Lý lịch tư pháp ghi: “Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi, có thời gian cư trú ở nước ngoài hoặc không xác định được nơi cư trú; người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này; trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người bị kết án bởi nhiều bản án thì thời hạn không quá 20 ngày.

+ Công văn số 34/TTLLTPQG-TTrC ngày 24/01/2024 của Trung tâm lý lịch tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện đương nhiên được xóa án tích, có hướng dẫn “ Về thời hạn cấp Phiếu LLTP đối với người được đương nhiên xóa án tích có yêu cầu cấp Phiếu LLTP: Thực hiện theo khoản 1 Điều 48 Luật LLTP là tối đa 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ”.

Như vậy, theo chúng tôi có sự chưa tương thích giữa quy định của các văn bản pháp luật về thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với cá nhân. Do vậy, thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung trên, để thống nhất áp dụng trong thực tiễn.

HĐXX cuả TAND tỉnh Bắc Ninh xét xử một vụ án hình sự – Ảnh: Vũ Minh Phương

Một Số Bất Cập Trong Quy Định Về Hoạt Động Thanh Tra Lại Và Kiến Nghị Hoàn Thiện

Một số bất cập trong quy định về hoạt động thanh tra lại và kiến nghị hoàn thiện

THS. NGUYỄN NAM PHƯƠNG*

THS. NGUYỄN VÕ NAM TRUNG**

*,** GV. Khoa Luật, Trường Đại học Cần Thơ.

Tóm tắt: 

Các quy định điều chỉnh đối với hoạt động thanh tra lại hiện nay đang tồn tại một số điểm bất cập trên cả phương diện lý luận, thẩm quyền và thời hiệu tiến hành, đã làm ảnh hưởng đáng kể đến kết quả thanh tra. Về lý luận, không xác định được thanh tra lại thuộc loại hình nào của thanh tra nhà nước. Về thẩm quyền, việc thanh tra lại chưa bao phủ đối với tất cả các kết quả thanh tra. Bên cạnh đó, pháp luật thanh tra chưa có quy định đầy đủ cho quy trình tiến hành một cuộc thanh tra lại. 

Do đó, cần phải nghiên cứu, hoàn thiện các quy định của pháp luật thanh tra, đặc biệt là Luật Thanh tra về những vấn đề này.

Từ khóa: Luật thanh tra, thanh tra nhà nước, hoạt động thanh tra, thanh tra lại.

Abstract: There are a lot of shortcomings of the regulations on re-inspection activities. Such shortcomings are in terms of both theory, authority and time limitation for re-inspection, which have significantly affected the inspection results. In theory, it is not possible to classify the re-inspection to any type of the state inspection. In terms of authority, the re-inspection does not cover all inspection results. In addition, the legal regulations on inspection do not provide sufficient provisions for process of conducting re-inspection. Therefore, it is necessary to review for further improvement of the legal regulations on inspection, especially the Law on Inspection.  

            Keywords: law on inpsection, state inspection, inspection activities, re-inspection.

Hoạt động thanh tra có tính chất tài phán do kết quả thanh tra là đánh giá sự tuân thủ pháp luật của đối tượng thanh tra, xử lý hoặc kiến nghị xử lý những vi phạm pháp luật (VPPL). Các hoạt động tài phán đều có cơ chế xem xét lại phán quyết như việc phúc thẩm lại bản án sơ thẩm trong hoạt động xét xử hay giải quyết khiếu nại, khiếu kiện đối với quyết định xử phạt vi phạm hành chính… Đối với thanh tra, cơ chế để kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra là hoạt động thanh tra lại.

Thuật ngữ “phúc tra” trong Pháp lệnh Thanh tra năm 1990 là dùng để chỉ các hoạt động mà hiện nay được hiểu là thanh tra lại [1] . Sau khi Pháp lệnh này hết hiệu lực, Luật Thanh tra năm 2004 không quy định thẩm quyền kiểm tra lại kết quả thanh tra cho cơ quan quản lý nhà nước cùng cấp hoặc cơ quan thanh tra cấp trên như quy định trước đó. Hoạt động phúc tra được khôi phục ở Luật Thanh tra năm 2010 với tên gọi chính thức là thanh tra lại. Luật Thanh tra năm 2010 dành 04 Điều để quy định về hoạt động này và Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số Điều của Luật Thanh tra; Nghị định số 07/2012/NĐ-CP 09/02/2012 của Chính phủ quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành hướng dẫn thêm ở 11 Điều. Các quy định này là cơ sở để kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra. Tuy nhiên, các quy định hiện nay còn nhiều điểm chưa đầy đủ, chưa hợp lý như sau:

  Thứ nhất, chưa xác định rõ thanh tra lại thuộc loại hình thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành trong hoạt động thanh tra nhà nước.

Thứ hai, chưa đảm bảo được nguyên tắc tất cả các kết luận thanh tra đều thuộc diện có thể bị thanh tra lại.

Thứ ba, chưa quy định số lần thanh tra lại đối với cùng một vụ việc.

1. Loại hình của thanh tra lại

Luật Thanh tra năm 2010 quy định về tổ chức, hoạt động thanh tra nhà nước và thanh tra nhân dân [2] . Thanh tra lại là một phần trong các hoạt động thanh tra nhà nước bởi chủ thể tiến hành là các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Về loại hình, thanh tra nhà nước chỉ bao gồm thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành [3] . Vấn đề đặt ra là thanh tra lại không thuộc loại hình nào trong hai loại hình của thanh tra nhà nước.

Đối tượng của hoạt động thanh tra hành chính là các cơ quan, tổ chức, cá nhân có quan hệ trực thuộc hoặc thuộc quyền quản lý trực tiếp [4] . Thanh tra lại không thuộc loại hình thanh tra hành chính, đối tượng của thanh tra lại thường không có quan hệ về mặt trực thuộc (ví dụ, Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra hành chính đối với Đài truyền hình Việt Nam là cơ quan thuộc Chính phủ) [5] . Trong hoạt động thanh tra lại, Thanh tra Chính phủ tiến hành thanh tra vụ việc đã được Chánh Thanh tra tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL [6] . Các đối tượng thuộc quyền tiến hành thanh tra của Thanh tra tỉnh bao gồm cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân (UBND) cấp tỉnh, UBND cấp huyện và doanh nghiệp nhà nước do Chủ tịch UBND cấp tỉnh quyết định thành lập [7] . Các đối tượng này có quan hệ trực thuộc đối với UBND cấp tỉnh chứ không có quan hệ trực thuộc đối với Thanh tra Chính phủ hay Chính phủ. Về nội dung, cơ quan có thẩm quyền thanh tra lại được tiến hành kiểm tra kết luận thanh tra của cấp dưới mà không phân biệt kết luận đó là của cuộc thanh tra hành chính hay thanh tra chuyên ngành. Ví dụ: Thanh tra Chính phủ kiểm tra tính chính xác, hợp pháp của kết luận thanh tra và quyết định xử lý sau thanh tra của Bộ trưởng khi cần thiết [8] mà kết luận hay xử lý của Bộ trưởng có thể mang nội dung chuyên ngành.

Thanh tra lại cũng không thuộc loại hình thanh tra chuyên ngành. Hoạt động thanh tra lại do nhiều cơ quan thực hiện trong đó có cả Thanh tra Chính phủ và Thanh tra tỉnh. Tuy nhiên, hai cơ quan này không có thẩm quyền thực hiện hoạt động thanh tra chuyên ngành do thanh tra chuyên ngành phải được thực hiện bởi các cơ quan quản lý nhà nước theo ngành, lĩnh vực [9]

Từ phân tích trên, có thể thấy rằng, mặc dù là thanh tra nhà nước, hoạt động thanh tra lại có đặc thù riêng, mang tính chất kiểm tra của cấp trên đối với cấp dưới đã vượt khỏi khuôn khổ thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Do đó, cần xác định, đây là loại hình thanh tra riêng biệt nhằm kiểm tra lại hoạt động của thanh tra hành chính và thanh tra chuyên ngành. Xuất phát từ sự lẫn lộn giữa các loại hình như vậy mà pháp luật thanh tra đã thiếu sót trong các quy định về thẩm quyền, thủ tục của thanh tra lại. Do đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi câu cuối của khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010 thành: “thanh tra nhà nước bao gồm thanh tra hành chính, thanh tra chuyên ngành và thanh tra lại”.

2. Thẩm quyền thanh tra lại

Thứ nhất, đang thiếu đồng bộ giữa Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn. Luật Thanh tra năm 2010 quy định, cơ quan thanh tra cấp trên được thanh tra lại đối với vụ việc đã được thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới kết luận mà không quy định việc thanh tra lại đối với kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp dưới. Chẳng hạn, Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Bộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch UBND cấp tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPLBộ trưởng kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chủ tịch UBND cấp tỉnh, Chánh Thanh tra Bộ, Chánh Thanh tra tỉnh kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL”. Các quy định về thẩm quyền thanh tra lại của Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng tương tự. Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo tính khả thi của Luật Thanh tra, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cần sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010 theo hướng quy định cơ quan thanh tra cấp trên được quyền thanh tra lại đối với kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra và thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới.

, đang thiếu đồng bộ giữa Luật Thanh tra năm 2010 và các văn bản hướng dẫn. Luật Thanh tra năm 2010 quy định, cơ quan thanh tra cấp trên được thanh tra lại đối với vụ việc đã được thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới kết luận mà không quy định việc thanh tra lại đối với kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp dưới. Chẳng hạn, Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượckết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượckết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL [10] . Tuy nhiên, khoản 2 Điều 47 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP ngày 22/9/2011 của Chính phủ bổ sung đối tượng của thanh tra lại bao gồm cả kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra cấp dưới là Chánh Thanh tra bộ và Chánh Thanh tra tỉnh. Theo đó, “Tổng Thanh tra Chính phủ quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượckết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL khi được Thủ tướng Chính phủ giao; quyết định thanh tra lại vụ việc đã đượckết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL”. Các quy định về thẩm quyền thanh tra lại của Thanh tra bộ, Thanh tra tỉnh cũng tương tự. Chúng tôi cho rằng, để đảm bảo tính khả thi của Luật Thanh tra, đồng thời bảo đảm tính thống nhất của hệ thống pháp luật, cần sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010 theo hướng quy định cơ quan thanh tra cấp trên được quyền thanh tra lại đối với kết luận của thủ trưởng cơ quan thanh tra và thủ trưởng cơ quan quản lý nhà nước cấp dưới.

Thứ hai, thiếu quy định việc thanh tra lại đối với kết luận thanh tra, quyết định xử lý sau thanh tra của thủ trưởng cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành thuộc Tổng cục hoặc thuộc Cục. Điều 33 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP ngày 09/02/2012 của Chính phủ khi quy định về cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành và hoạt động thanh tra chuyên ngành quy định Chánh Thanh tra bộ quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Tổng cục trưởng, Cục trưởng thuộc bộ kết luận khi được Bộ trưởng giao hoặc Chánh thanh tra sở quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chi cục trưởng thuộc sở kết luận khi được Giám đốc sở giao. Như vậy, Luật Thanh tra năm 2010 và Nghị định số 07/2012/NĐ-CP chưa quy định đối với trường hợp hoạt động thanh tra do các Chi cục thuộc Cục, Cục thuộc Tổng cục tiến hành thì cơ quan nào sẽ thanh tra lại. Đối với quy định cụ thể ở các nghị định về thanh tra ngành, lĩnh vực như nghị định về thanh tra ngành nông nghiệp và phát triển nông thôn, thanh tra ngành nội vụ… lại có những quy định khác nhau. Có nghị định quy định về việc giao cho Cục, Tổng cục được thanh tra lại đối với kết quả thanh tra của cơ quan cấp dưới; có một số nghị định lại không quy định. Điểm a, b khoản 1 Điều 19 Nghị định số 82/2012/NĐ-CP ngày 09/10/2012 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành tài chính quy định Tổng cục trưởng quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Cục trưởng cục thuộc Tổng cục kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL; Cục trưởng Cục thuế quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Chi cục trưởng Chi cục thuế kết luận nhưng phát hiện có dấu hiệu VPPL. Khoản 2 Điều 4 Nghị định số 126/2013/NĐ-CP ngày 24/12/2013 của Chính phủ quy định về tổ chức và hoạt động thanh tra ngành kế hoạch và đầu tư quy định cơ quan được giao thực hiện chức năng thanh tra chuyên ngành lĩnh vực kế hoạch và đầu tư bao gồm Tổng cục Thống kê và Cục thống kê. Tuy nhiên, về thẩm quyền thanh tra lại, khoản 1 Điều 27 Nghị định này chỉ quy định Chánh Thanh tra Bộ Kế hoạch và Đầu tư quyết định thanh tra lại vụ việc đã được Tổng cục trưởng Tổng cục Thống kê, Chủ tịch UBND cấp tỉnh kết luận thuộc phạm vi, thẩm quyền quản lý nhà nước của Bộ Kế hoạch và Đầu tư. Tương tự như đối với thẩm quyền của Thanh tra bộ, chúng tôi cho rằng, nên giao cho Cục được thanh tra lại đối với hoạt động thanh tra do các Chi cục trực thuộc thực hiện và Tổng cục được thanh tra lại đối với hoạt động thanh tra do Cục trực thuộc thực hiện. Tương ứng với nó là thẩm quyền ra quyết định thanh tra lại của Cục trưởng, Tổng cục trưởng.

Vì vậy, theo chúng tôi, cần sửa đổi Luật Thanh tra năm 2010 theo hướng quy định chính thức về thời hiệu thanh tra lại là 01 năm đối với hoạt động thanh tra chuyên ngành và 02 năm đối với hoạt động thanh tra hành chính. Ngoài ra, cần bổ sung quy định về thời hiệu thanh tra lại được tính từ ngày ký kết luận thanh tra của lần thanh tra đầu tiên. Các hoạt động thanh tra lại có thể được thực hiện nhiều lần bởi nhiều cơ quan nhưng phải trong thời hiệu này.

* * *

[1] Xem các Điều 11, 17, 21 Pháp lệnh Thanh tra năm 1990.[2] Điều 1 Luật Thanh tra năm 2010.[3] Khoản 1 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010.[4] Khoản 2 Điều 3 và Điều 18, 19, 24, 25 Luật Thanh tra năm 2010.[5] Điểm a khoản 2 Điều 15 Luật Thanh tra năm 2010.[6] Điểm đ khoản 5 Điều 2 Nghị định số 50/2024/NĐ-CP ngày 09/4/2024 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và cơ cấu tổ chức của Thanh tra Chính phủ.[7] Điều 20 Luật Thanh tra năm 2010.[8] Điểm d khoản 2 Điều 15 Luật Thanh tra năm 2010.[9] Khoản 3 Điều 3 Luật Thanh tra năm 2010.[10] Điểm b khoản 2 Điều 16 Luật Thanh tra năm 2010.[11] Điểm b khoản 2 Điều 19 Luật Thanh tra năm 2010.[12] Điểm b khoản 2 Điều 22 Luật Thanh tra năm 2010; khoản 3 Điều 47 Nghị định số 86/2011/NĐ-CP; khoản 1 Điều 33 Nghị định số 07/2012/NĐ-CP.[13] Điều 24 Luật Thanh tra năm 2010.Kết luận của Thanh tra Chính phủ có cơ sở pháp lý, [14] Trang thông tin điện tử của Báo Thanh tra, http://thanhtra.com.vn/thanh-tra/ket-luan-cua-thanh-tra-chinh-phu-co-co-so-phap-ly_t114c2n50427 , truy cập ngày08/10/2024.[15] Do Nghị định số 86/2011/NĐ-CP quy định chi tiết, hướng dẫn thi hành chung cho Luật Thanh tra năm 2010 chứ không phải chỉ hướng dẫn về thanh tra hành chính.[16] Khoản 3 Điều 156 Luật Ban hành VBQPPL 2024.

Một Số Kiến Nghị Nhằm Hoàn Thiện Những Quy Định Pháp Luật Về Quản Lý Thuế Ở Việt Nam

Trân trọng cảm ơn người dùng đã đóng góp vào hệ thống tài liệu mở. Chúng tôi cam kết sử dụng những tài liệu của các bạn cho mục đích nghiên cứu, học tập và phục vụ cộng đồng và tuyệt đối không thương mại hóa hệ thống tài liệu đã được đóng góp.

Many thanks for sharing your valuable materials to our open system. We commit to use your countributed materials for the purposes of learning, doing researches, serving the community and stricly not for any commercial purpose.

Sự xuất hiện của Nhà nước đòi hỏi cơ sở vật chất để đảm bảo điều kiện cho nó tồn tại và thực hiện các chức năng của mình. Nhà nước dùng quyền lực chính trị để ban hành những quy định pháp luật cần thiết làm công cụ phân phối một phần của cải xã hội và hình thành quỹ tiền tệ tập trung của Nhà nước.

Để thuế thực sự là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển, đảm bảo công bằng xã hội, bài viết này xin đề cập đến tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước, xã hội, người dân và hướng hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế tại Việt Nam.

Chúng ta đều biết rằng, thuế có vai trò rất quan trọng đối với một quốc gia, đối với đời sống xã hội và sự phát triển kinh tế của quốc gia đó. Có một hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, cơ chế quản lý thuế thích hợp là một trong những yếu tố đảm bảo công bằng xã hội, đảm bảo tính dân chủ cao.

Nền kinh tế của Việt Nam trước đây vận hành theo cơ chế kế hoạch hóa tập trung quan liêu bao cấp, mọi chi tiêu của Nhà nước hầu như đều được Nhà nước tự cân đối thông qua vay nợ và phát hành thêm tiền vào lưu thông. Chính cơ chế bao cấp đã tạo một thói quen cho người dân sự ỷ lại, trông chờ vào Nhà nước. Thậm chí đa số người dân không hiểu được tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước và trách nhiệm của người dân trong việc thực hiện nghĩa vụ về thuế với Nhà nước. Do vậy, trong tiềm thức, người dân cho rằng trốn thuế không có gì là xấu xa. Người ta có thể lên án hành động trọm cắp một đồ vật có giá trị vài trăm ngàn đồng của một cá nhân nhưng hành động trốn thuế hàng tỷ đồng của một chủ doanh nghiệp tư nhân thì lại cho là bình thường. Nhận thức cho thấy sự hiểu biết về tính dân chủ của dân chúng chưa cao; và đây cũng là một trong những nguyên nhân dẫn đến thủ tục hành chính rườm rà, nạn tiêu cực phát triển.

Như vậy, việc tuyên truyền nội dung từng sắc thuế và nghĩa vụ nộp thuế đối với người dân đóng vai trò rất quan trọng. Thực hiện tốt điều này sẽ giúp dân chúng hiểu được nghĩa vụ phải nộp thuế của họ đối với Nhà nước và trách nhiệm của công chức Nhà nước đối với nhân dân để từ đây tránh được tình trạng nhũng nhiễu trong các cơ quan bộ máy Nhà nước, tránh được tình trạng tiêu cực xảy ra. Khi Nhà nước thu đúng, đủ tiền thuế vào ngân sách, Nhà nước sẽ có quỹ ngân sách dồi dào, đồng thời tăng khả năng tích lũy cho nền kinh tế. Thực tế những năm gần đây, Nhà nước đã quan tâm đến việc hoàn thiện hệ thống pháp luật thuế nhưng lại chưa chú trọng đến việc tuyên truyền hệ thống pháp luật thuế trong dân chúng. Các quy định pháp luật về quản lý thuế vừa bất cập, thiếu tính đồng bộ lại không mang tính khả thi. Thói quen mua bán hàng hóa phải lấy và xuất hóa đơn hầu như còn quá mới mẻ trong dân chúng. Đại bộ phận dân chúng không quan tâm đến việc số tiền thuế cấu thành trong giá cả hàng hóa, dịch vụ mà mình đã trả cho người bán có vào túi Nhà nước hay không. Người dân thì vậy, còn những người đảm nhiệm công việc thu thuế cho Nhà nước hầu như cũng chưa thật sự thấy được tầm quan trọng của thuế đối với Nhà nước, xã hội. Rất nhiều cán bộ có thẩm quyền thu thuế đã thông đồng với đối tượng nộp thuế để trốn thuế. Thậm chí, những công chức Nhà nước cũng chưa có ý thức trong việc chấp hành pháp luật thuế. Họ chỉ thắc mắc tại sao lương Nhà nước trả cho họ quá thấp, trong khi đó họ không hiểu rằng do thu ngân sách Nhà nước ít cho nên phần chi cho tiền lương của công chức Nhà nước cũng rất hạn hẹp. Chúng ta phải hình dung rằng, chiếc bánh ngân sách được làm chủ yếu từ nguyên liệu thuế, mà phần nguyên liệu này do các tổ chức, cá nhân trong xã hội đóng góp nên, nếu nguyên liệu ít, chiếc bánh sẽ nhỏ và ngược lại. Như vậy, mỗi người trong chúng ta phải có ý thức trong việc chấp hành nghĩa vụ về thuế với Nhà nước, có quỹ ngân sách Nhà nước dồi dào thì tiền lương của công chức mới cao, các chế độ chính sách xã hội mới được đảm bảo và phần tích lũy cho nền kinh tế mới nhiều. Thực hiện được điều này, hoạt động quản lý thuế của Nhà nước đóng vai trò hết sức quan trọng. Quản lý thuế là những biện pháp mà Nhà nước đề ra để thu đúng, thu đủ tiền thuế vào ngân sách, tránh tình trạng thất thu thuế xảy ra, đồng thời cũng tránh tình trạng lạm thu đối với nền kinh tế. Nếu ngân sách Nhà nước bị thất thu sẽ ảnh hưởng lớn đến việc thực hiện các chức năng và nhiệm vụ của Nhà nước. Còn nếu tình trạng lạm thu xảy ra sẽ là một trong những nguyên nhân kìm hãm nền kinh tế phát triển. Như vậy, nếu hoạt động quản lý thuế của Nhà nước tốt sẽ tạo được quỹ ngân sách dồi dào đồng thời là một trong những yếu tố kích thích nền kinh tế phát triển.

Để hoạt động quản lý thuế của Nhà nước đạt hiệu quả cao, đồng thời đảm bảo công bằng trong nghĩa vụ đóng góp về thuế của người dân đối với Nhà nước, chúng tôi xin có một số kiến nghị nhằm hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế, cụ thể:

Thứ nhất, Cần có quy định thống nhất và chặt chẽ hoạt động mua bán hàng hóa buộc phải sử dụng hóa đơn, chứng từ. Từ khi chúng ta chuyển nền kinh tế từ cơ chế tập trung quan liêu bao cấp sang cơ chế thị trường có sự quản lý Nhà nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa, thói quen mua bán hàng hóa phải xuất và lấy hóa đơn hầu như không được người bán và người mua quan tâm. Khi người tiêu dùng mua hàng hóa, họ chỉ quan tâm đến giá cả và chủng loại hàng hóa mà họ cần mua, chứ chưa quan tâm đến việc phải có chứng cứ pháp lý để khiếu kiện khi hàng hóa kém chất lượng hoặc không đúng quy cách đã thỏa thuận. Trong khi đó hóa đơn mua hàng, ở một số nước phát triển trên thế giới cũng như ở Việt Nam là bằng chứng pháp lý rất quan trọng để bảo vệ quyền lợi của người tiêu dùng. Người tiêu dùng chỉ thấy sự phiền hà khi phải đòi hóa đơn từ người bán mà chưa thấy được nếu có tờ hóa đơn trong tay thì vấn đề chứng minh hàng hóa đó được mua ở đâu, trách nhiệm của người bán khi hàng hóa kém chất lượng, hư hỏng…

Đã đến lúc, Nhà nước phải có những quy định để buộc hoạt động mua bán hàng hóa phải có hóa đơn. Muốn thực hiện được điều này, Nhà nước phải hoàn thiện pháp luật về thuế thu nhập cá nhân. Cụ thể, thay vì đánh thuế trên từng cá nhân có thu nhập cao như hiện nay, chúng ta nên đánh thuế theo hộ gia đình (dựa trên quan hệ huyết thống ba đời: ông bà, cha mẹ, con cái). Nhà nước nên thu thuế theo hướng sau khi đã trừ đi các khoản chi phí cần thiết cho cuộc sống, số thu nhập còn lại chia đều cho các thành viên trong gia đình đến một mức độ nhất định thì phải nộp thuế thu nhập cá nhân. Cách thu thuế như trên vừa đảm bảo bình đẳng trong nghĩa vụ đóng góp của cá nhân vừa tạo thói quen cho người dân khi mua hàng hóa phải lấy hóa đơn. Bởi vì nếu họ không lấy hóa đơn, thì những khoản chi phí họ bỏ ra để phục vụ cho nhu cầu tiêu dùng hàng ngày sẽ không được coi là chi phí để trừ vào thu nhập chịu thuế. Để quy định này mang tính khả thi, trước tiên cơ quan thuế phải thực hiện công tác quản lý đối tượng nộp thuế thật tốt. Cơ quan thuế phải phối hợp với cơ quan công an và chính quyền địa phương để tiến hành cấp và quản lý mã số thuế cho từng hộ gia đình. Điều này, bước đầu sẽ gặp khó khăn, nhưng về lâu dài, chúng ta cũng phải tiến hành. Bởi vì, có như vậy, người dân mới thực sự hiểu được quyền và nghĩa vụ tài chính của mình đối với Nhà nước.

Tóm lại, để góp phần tăng nguồn thu cho ngân sách Nhà nước, đảm bảo khả năng tích lũy của nền kinh tế chiếm tỷ trọng lớn trong GDP, đồng thời kích thích nền kinh tế phát triển chúng ta cần phải quan tâm đến việc tuyên truyền pháp luật thuế và hoàn thiện những quy định của pháp luật về quản lý thuế. Thực tế những năm gần đây, vấn đề thất thu thuế đang là mối quan tâm của không chỉ Nhà nước mà còn đối với các doanh nghiệp và tầng lớp dân cư. Nếu hệ thống thuế của chúng ta bất cập, không đảm bảo công bằng về nghĩa vụ đóng góp của các chủ thể trong xã hội sẽ là một trong những nguyên nhân dẫn đến sự bất công trong xã hội. Có một hệ thống thuế hoàn thiện và công bằng cũng như cơ chế quản lý thuế thích hợp sẽ giúp cho các chủ thể trong xã hội nhận thức được rằng, thực hiện tốt nghĩa vụ thuế đối với Nhà nước vừa là quyền vừa là nghĩa vụ. Số thu từ thuế sẽ được Nhà nước hoàn trả gián tiếp lại cho người dân thông qua việc xây dựng các công trình phúc lợi công cộng, đảm bảo các chính sách về mặt xã hội và tăng tích lũy cho nền kinh tế.

Muốn đất nước phát triển, các chế độ xã hội được đảm bảo, Nhà nước cần phải quan tâm hơn nữa đến việc tuyên truyền hệ thống pháp luật thuế trong dân chúng, phải giúp người dân hiểu rằng thực hiện tốt nghĩa vụ thuế với Nhà nước là hành động yêu nước. Để thực hiện được điều này thì từ phía Nhà nước phải xây dựng được hệ thống pháp luật thuế hoàn thiện, những quy định về quản lý thuế phải hiệu quả, đảm bảo thuế vừa là nguồn thu chủ yếu của ngân sách Nhà nước, vừa là công cụ kích thích nền kinh tế phát triển lại vừa là công cụ nhằm điều tiết thu nhập và thực hiện công bằng xã hội.

Một Số Bất Cập Và Kiến Nghị Hoàn Thiện Các Quy Định Của Luật Phá Sản 2014

Abstract: The 2014 Law on Bankruptcy has created a solid legal framework for bankruptcy of businesses and cooperatives. However, the legal provisions of bankruptcy still exist some shortcomings, thereby causing difficulties for the bankruptcy of enterprises and cooperatives in practice. This article provides analysis of the shortcomings in the bankruptcy legal provisions as well as recommendations for further improvements.

1. Một số bất cập, hạn chế của Luật Phá sản năm 2014 Thứ nhất, quy định về tiêu chí để xác định “Doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán”

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, “phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân (TAND) ra quyết định tuyên bố phá sản”[1]. Quy định này cho thấy, một doanh nghiệp, HTX tuyên bố phá sản phải đáp ứng 02 điều kiện sau đây: (i) doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và (ii) doanh nghiệp, HTX bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản.

Về tiêu chí “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”[2]. So sánh với Luật Phá sản năm 2004, có thể thấy Luật Phá sản năm 2014 đã tiến bộ hơn khi thay thế quy định “doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản” thành “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” để thể hiện đúng bản chất của đối tượng là doanh nghiệp, HTX có nguy cơ bị tuyên bố phá sản; đồng thời đưa ra tiêu chí định lượng để xác định tình trạng doanh nghiệp, HTX thay vì sử dụng tiêu chí định tính như trước đây (doanh nghiệp, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu)[3].

Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít doanh nghiệp, HTX lại là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ phải thanh toán cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Các doanh nghiệp, HTX này hoàn toàn có thiện chí trả nợ cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Vì lý do chưa thu hồi được tiền từ việc xoay vòng vốn trong kinh doanh, các doanh nghiệp, HTX này không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản không đồng ý thương lượng gia hạn, theo đó đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, HTX. Đặc biệt, có trường hợp chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX đang gặp khó khăn tạm thời nhằm mục tiêu đẩy doanh nghiệp, HTX vào tình trạng “bị ép phải phá sản”. Tình trạng này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, HTX, thậm chí lại là nguyên nhân chính khiến cho doanh nghiệp, HTX làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”.

Thứ hai, quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án và định giá lại tài sản trong Luật Phá sản năm 2014 chưa thống nhất với Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2024 quy định việc xây dựng và ban hành VBQPPL phải “bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật”.Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được xem xét trên cả hai phương diện hình thức và nội dung. Về mặt hình thức, tính thống nhất thể hiện qua cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của các quy phạm pháp luật. Về mặt nội dung, tính thống nhất đòi hỏi pháp luật phải có tính nhất quán. Điều này có nghĩa các VBQPPL trong cùng một lĩnh vực hoặc trong những lĩnh vực khác nhau phải tạo ra sự nhất quán trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định, hạn chế tình trạng các văn bản quy định khác nhau về cùng một vấn đề[4].

Bên cạnh đó, quy định của Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về trường hợp định giá lại tài sản cũng chưa thống nhất. Theo Luật Phá sản năm 2014, định giá lại tài sản chỉ được thực hiện trong một trường hợp duy nhất là “khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”[9]. Trong khi đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định 02 trường hợp có thể định giá lại tài sản kê biên gồm: (i) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; (ii) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản[10]. Như vậy, so với Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại. Việc người được thi hành án (trong đó có các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị phá sản) không có quyền yêu cầu việc định giá lại tài sản của doanh nghiệp, HTX bị phá sản có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong việc được thanh toán các khoản nợ.

Thứ ba, quy định về kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định 02 trường hợp phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán: (i) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán; (ii) Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán[11]. Để bảo đảm thực hiện quy định này, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp có thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thìphải bồi thường”[12]. Bên cạnh đó, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, HTX (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2024/NĐ-CP ngày 14/8/2024) có quy định: ” Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”[13].

Trong số các tài liệu kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX rơi vào 02 trường hợp trên, Luật Phá sản năm 2014 quy định phải có ” Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động”[14]. Đây là tài liệu bắt buộc, có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, HTX nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nói cách khác, qua báo cáo tài chính thì Thẩm phán có thể nắm bắt được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, HTX. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 lại không nêu cụ thể báo cáo tài chính có phải kiểm toán hay không?

Thực tiễn giải quyết thủ tục phá sản của Tòa án cho thấy, nếu không quy định cụ thể việc kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX sẽ ảnh hưởng đến việc xác định tính trung thực hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX của Tòa án. Bởi lẽ, Tòa án không phải là cơ quan chuyên môn để có thể xác thực các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp, HTX đã nộp. Điều này gián tiếp tạo “cơ hội” cho các doanh nghiệp, HTX cố tình thực hiện việc phá sản một cách giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với chủ nợ, người lao động của doanh nghiệp, HTX.

Thứ tư, quy định về tạm ứng chi phí phá sản và mở tài khoản để nộp tiền tạm ứng chi phí phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, TAND dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản và thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp tạm ứng chi phí phá sản. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp tạm ứng chi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải thực hiện việc tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng[17]. “Tạm ứng chi phí phá sản” là khoản tiền do TAND quyết định để đăng báo, tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản[18].

Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 không quy định cụ thể về cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Nghị định số 22/2024/NĐ-CP ngày 16/02/2024 của Chính phủ hướng dẫn quy định về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản chỉ bao hàm quy định hướng dẫn về cách tính mức thù lao đối với quản tài viên mà không có bất cứ quy định nào hướng dẫn cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 và Nghị định số 22/2024/NĐ-CP cũng quy định chưa cụ thể về thủ tục mở, quản lý tài khoản do Tòa án mở tại Ngân hàng để thu tiền tạm ứng chi phí phá sản. Điều này gây lúng túng cho Tòa án trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như tài khoản mở tại ngân hàng được sử dụng cho một vụ hay nhiều vụ phá sản?

Một là, cần xem xét quy định lại tiêu chí để đánh giá ” doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” theo hướng tăng lên thời gian để doanh nghiệp, HTX có đủ thời gian cần thiết thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã đến hạn theo yêu cầu của chủ nợ cũng như thực hiện việc xoay vòng vốn nhằm phục vụ cho kế hoạch kinh doanh. Theo đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

Hai là, để bảo đảm sự thống nhất của các văn bản pháp luật, cần sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) theo hướng thống nhất về thời hạn ra quyết định thi hành án đối với các quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, HTX. Theo đó, cần xác định thời hạn ban hành quyết định tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản theo tinh thần của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền và lợi ích của người được thi hành án là các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản, Luật Phá sản năm 2014 cần kế thừa quy định của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) bằng việc bổ sung thêm một trường hợp vào Điều 123 về định giá lại tài sản khi “Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản”.

Ba là, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 cần được sửa đổi theo hướng bổ sung yêu cầu thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, HTX trong trường hợp mất khả năng thanh toán. Theo đó, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 được viết lại như sau: “a) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động. Báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận“.

Bốn là, Chính phủ cần sớm sửa đổi Nghị định số 22/2024/NĐ-CP theo hướng bổ sung quy định về cách tính tạm ứng chi phí phá sản cũng như thủ tục mở và quản lý tài khoản ngân hàng của Tòa án để thực hiện việc thu, chi khoản tiền tạm ứng chi phí phá sản cho phù hợp với quy định pháp luật về phá sản cũng như tài chính, kế toán./.

Tác giả: ThS. Trương Thị Quỳnh Trâm, Toà án nhân dân Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13(389), tháng 7/2024

[1] Khoản 2 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.

[2] Khoản 12 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.

[3] Điều 3 Luật Phá sản năm 2004.

[4] Nguyễn Nhật Khanh, Tính thống nhất của Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 02/2024, tr. 66.

[5] Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản năm 2014, điểm g khoản 1 Điều 2 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[6] Khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014.

[7] Khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[8] Điều 128 Luật Phá sản năm 2014, Mục 1 Chương VI Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[9] Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 99 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[11] Khoản 3, 4 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014.

[12] Khoản 5 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.

[13] Điều 54 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2024/NĐ-CP).

[14] Điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.

[15] Điểm a khoản 4 Điều 15 Luật Phá sản năm 2004.

[16] Phan Thị Mỹ Hạnh, Phá sản doanh nghiệp và thi hành Luật Phá sản ở Việt Nam, Tạp chí Dầu khí số 4/2024, tr. 60.

[17] Điều 38 Luật Phá sản năm 2014.

[18] Khoản 14 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014.

Quy Định Về Giải Thể Doanh Nghiệp Tại Luật Doanh Nghiệp Năm 2014 Và Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện

1. Giải thể doanh nghiệp – phương thức chấm dứt hoạt động kinh doanh được doanh nghiệp lựa chọn phổ biến tại Việt Nam

Giải thể doanh nghiệp là việc chấm dứt sự tồn tại của doanh nghiệp bằng cách thanh lý tài sản của doanh nghiệp để thực hiện toàn bộ các nghĩa vụ trả nợ của doanh nghiệp[1]. Trong điều kiện kinh tế thị trường, giải thể doanh nghiệp là hoạt động diễn ra phổ biến tại nhiều nền kinh tế trên thế giới. Nhiều quốc gia trên thế giới luật hóa vấn đề giải thể doanh nghiệp trong các đạo luật về doanh nghiệp của họ. Chẳng hạn, Luật Công ty năm 2024 của Canada đã dành hẳn Chương XVIII từ Section 207 đến Section 229 để điều chỉnh việc giải thể và thanh lý tài sản của công ty bị giải thể. Khác với quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014 của Việt Nam – trao quyền quyết định cho phép doanh nghiệp được giải thể cho cơ quan đăng ký kinh doanh, Luật Công ty năm 2024 của Canada trao quyền quyết định giải thể và giám sát việc giải thể công ty cho Tòa án. Tại Canada, các giám đốc của công ty và các cổ đông có quyền biểu quyết tại Đại hội cổ đông thường niên đều có quyền đưa ra đề nghị thanh toán tự nguyện và giải thể công ty[2]. Tương tự như Luật Công ty năm 2024 của Canada, Luật Doanh nghiệp thương mại năm 2005 của Cambodia có Chương 3 từ Điều 251 đến Điều 269 quy định về giải thể và thanh lý tài sản của doanh nghiệp. Tại Cambodia, cơ quan có thẩm quyền tiếp nhận hồ sơ giải thể và giải quyết cho doanh nghiệp giải thể là Bộ Thương mại, ngoài ra, còn có sự tham gia của tòa án trong việc giám sát giải thể doanh nghiệp[3]. Luật Công ty năm 2013 của Trung Quốc quy định việc giải thể công ty tại Chương X, từ Điều 180 – Điều 190. Theo quy định tại Luật này thì thứ tự thanh lý tài sản của một công ty bị giải thể trước hết phải thanh toán chi phí giải thể, sau đó đến quyền lợi của người lao động và cuối cùng là các khoản nợ của công ty. Sau khi hoàn thành việc thanh toán các nghĩa vụ nợ, Tổ thanh lý tài sản nộp hồ sơ giải thể đến Đại hội cổ đông của công ty hoặc nộp cho tòa án cũng như cho cơ quan đăng ký kinh doanh để hoàn tất thủ tục giải thể công ty[4].

Tại Việt Nam, quy định về giải thể doanh nghiệp gắn liền với quá trình ra đời và phát triển của pháp luật doanh nghiệp qua các thời kỳ lịch sử khác nhau, từ năm 1990 đến nay. Hiện tại, các quy định đó được điều chỉnh từ Điều 201 đến Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Thực tiễn gần 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho thấy, phần lớn doanh nghiệp Việt Nam chọn phương thức giải thể để chấm dứt hoạt động kinh doanh. Cụ thể, kê lại tài sản của mình, phiệm tập hợpgười thanh lý tài sản của công ty bị giải thể.ranh khắc nghiệt macông ttheo thống kê của Tổng cục Thống kê (Bộ Kế hoạch & Đầu tư), chỉ trong năm 2024, số doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể là 16.314 doanh nghiệp, tăng 34,7% so với năm 2024, trung bình mỗi ngày ở Việt Nam có 45 doanh nghiệp hoàn tất thủ tục giải thể[5].

Về mặt pháp lý, doanh nghiệp có thể lựa chọn một trong hai phương thức sau để chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp: một là, thực hiện thủ tục giải thể – thủ tục hành chính được tiến hành tại cơ quan đăng ký kinh doanh cấp tỉnh; hai là, thực hiện thủ tục phá sản mang tính tố tụng tư pháp, yêu cầu tòa án tuyên bố chấm dứt hoạt động kinh doanh của doanh nghiệp. Thực tế, hầu hết các doanh nghiệp tại Việt Nam đều chọn phương thức chấm dứt hoạt động kinh doanh theo thủ tục giải thể để rút lui khỏi thương trường, còn thủ tục phá sản ít được cộng đồng doanh nghiệp Việt Nam đón nhận. Bằng chứng là theo thống kê của Tòa án nhân dân tối cao, trong giai đoạn 10 năm thực thi Luật Phá sản năm 2004 (từ năm 2004 đến năm 2014) các tòa án trên cả nước chỉ tuyên bố phá sản có… 84 doanh nghiệp. Thậm chí từ ngày 01/01/2024 đến nay, số lượng doanh nghiệp bị phá sản tại Việt Nam cũng không đáng kể so với phương thức giải thể doanh nghiệp – vốn được nhà đầu tư lựa chọn phổ biến hơn. Số lượng doanh nghiệp phá sản ít xuất phát từ nhiều nguyên nhân khác nhau như do thủ tục phá sản doanh nghiệp tại Việt Nam phức tạp, nhiêu khê so với mặt bằng chung của thế giới. Theo thống kê của Ngân hàng Thế giới (WB), để phá sản một doanh nghiệp tại Việt Nam, nhà đầu tư phải mất gần 5 năm, tiêu tốn 14,5% chi phí tài chính trên giá trị tài sản của doanh nghiệp 6. Trong hoàn cảnh đó, thủ tục giải thể doanh nghiệp tất yếu được các nhà đầu tư lựa chọn như giải pháp phù hợp nhất để đóng cửa doanh nghiệp.

Tuy nhiên, để giải thể một doanh nghiệp hợp pháp thì doanh nghiệp phải thuộc một trong bốn trường hợp giải thể được quy định tại Điều 201 Luật Doanh nghiệp năm 2014. Ngoài ra, doanh nghiệp phải thanh toán hết các khoản nợ cho các chủ nợ trong thời hạn 06 tháng, kể từ ngày thông qua quyết định giải thể và không bị “vướng” vào tranh chấp tố tụng tại tòa án hoặc trọng tài…

2. Những hạn chế của pháp luật về giải thể doanh nghiệp

Qua quá trình thực thi Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã phát sinh một số bất cập sau :

Thứ nhất, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa có quy định kiểm soát tình trạng doanh nghiệp bỏ trốn, “mất tích” trong nền kinh tế.

Thực tế, trong thời gian dài đã có một bộ phận doanh nghiệp chấm dứt hoạt động kinh doanh mà không tuân thủ trình tự, thủ tục và điều kiện giải thể doanh nghiệp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp năm 2014. Thống kê cho thấy, tại thời điểm tháng 04/2024, cả nước có khoảng 8.000 doanh nghiệp “mất tích”, với nợ bảo hiểm xã hội khoảng 2.000 tỷ đồng 7. Điển hình là vụ biến mất của Công ty TNHH Nam Phương (100% vốn Hàn Quốc tại khu công nghiệp Tây Bắc Củ Chi, TP. Hồ Chí Minh) vào thời điểm tháng 01/2024 đã gây ảnh hưởng đến quyền lợi của gần 600 công nhân. Hoặc trường hợp Công ty TNHH BumJin Vina tại Khu công nghiệp Vĩnh Lộc, quận Bình Tân, TP. Hồ Chí Minh mà Ông Park Kye Ho – Giám đốc, đại diện pháp luật của công ty đã bỏ trốn vào ngày 10/02/2024 để lại khoản nợ bảo hiểm xã hội hơn 2,9 tỷ đồng chưa thanh toán hoặc Công ty KL Texwell Vina có trụ sở chính tại tỉnh Đồng Nai cũng biến mất vào thời điểm tháng 02/2024 để lại khoản nợ lương người lao động tháng 01/2024 gần 13,7 tỉ đồng và khoản nợ bảo hiểm xã hội 17,5 tỉ đồng 8

Việc nhiều doanh nghiệp biến mất, bỏ trốn trong nền kinh tế Việt Nam không còn là hiện tượng cá biệt. Song, toàn bộ nội dung Luật Doanh nghiệp 2014, Nghị định 96/2024/NĐ-CP, Nghị định 78/2024/NĐ-CP, kể cả Nghị định 108/2024/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung Nghị định 78/2024/NĐ-CP) của Chính phủ lại không có điều khoản nào đề cập đến nội dung doanh nghiệp bỏ trốn và các quy định pháp luật cụ thể để xử lý hiện tượng doanh nghiệp giải thể “chui” nói trên.

Nghị định 108/2024/NĐ-CP được ban hành có quy định về trình tự, thủ tục thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp tại Điều 63, song cũng chỉ quy định chung chung như sau: Trường hợp doanh nghiệp ngừng hoạt động kinh doanh một năm mà không thông báo cho cơ quan đăng ký kinh doanh và cơ quan thuế thì Phòng Đăng ký kinh doanh thông báo bằng văn bản về hành vi vi phạm và yêu cầu người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp đến trụ sở của Phòng để giải trình. Sau 10 ngày làm việc, kể từ ngày kết thúc thời hạn hẹn trong thông báo mà người được yêu cầu không đến hoặc nội dung giải trình không được chấp thuận thì Phòng Đăng ký kinh doanh ra quyết định thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp. Hoặc, trường hợp doanh nghiệp bị cưỡng chế thi hành quyết định hành chính thuế theo quy định tại khoản 26 Điều 1 Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Quản lý thuế thì trong thời hạn 10 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được văn bản đề nghị thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của thủ trưởng cơ quan quản lý thuế thì Phòng Đăng ký kinh doanh thực hiện thu hồi Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

Mặt khác, đến thời điểm 04/2024, Chính phủ cũng chưa ban hành Nghị định về xử phạt hành chính trong lĩnh vực quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp bỏ trốn để xử lý hành vi của các nhà đầu tư rút lui khỏi thương trường không tuân thủ luật định. Thời gian qua, các nghị định về xử phạt hành chính phần lớn chỉ gián tiếp xử phạt doanh nghiệp trong các lĩnh vực khác của nền kinh tế như lĩnh vực kế toán (Nghị định 41/2024/NĐ-CP), lĩnh vực đăng ký doanh nghiệp (Nghị định 50/2024/NĐ-CP) hoặc trong lĩnh vực quản lý thuế, hóa đơn (Nghị định 49/2024/NĐ-CP),… mà không có một văn bản nào quy định về xử phạt hành chính áp dụng đối với doanh nghiệp bỏ trốn, giải thể “chui”.

Điều 36 của Nghị định 50/2024/NĐ-CP về xử phạt hành chính trong lĩnh vực kế hoạch và đầu tư chỉ đề cập đến mức xử phạt từ 5 – 10 triệu đồng đối với hai hành vi vi phạm của doanh nghiệp khi giải thể, đó là doanh nghiệp không tiến hành giải thể trong các trường hợp giải thể bắt buộc (doanh nghiệp bị thu hồi giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, công ty không còn đủ số lượng thành viên tối thiểu theo luật định trong thời hạn 6 tháng và kết thúc thời hạn hoạt động ghi trong điều lệ công ty mà không được gia hạn) và doanh nghiệp không gửi quyết định giải thể đến cho các cơ quan hữu quan theo luật định. Vấn đề xử lý đối với hành vi bỏ trốn của chủ doanh nghiệp vẫn còn bỏ ngỏ trong quy định tại Nghị định 50/2024/NĐ-CP.

Trước đó, vào thời điểm năm 2009, khi hiện tượng chủ doanh nghiệp bỏ trốn có chiều hướng gia tăng, Thủ tướng đã ban hành Quyết định 30/2009/QĐ-TTg về hỗ trợ đối với người lao động mất việc làm trong doanh nghiệp gặp khó khăn do suy giảm kinh tế. Điều 2 của Quyết định 30/2009/QĐ-TTg quy định: người lao động bị mất việc làm tại doanh nghiệp mà chủ doanh nghiệp bỏ trốn trong năm 2009 thì Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc trung ương ứng ngân sách địa phương trả cho người lao động có trong danh sách trả lương của doanh nghiệp khoản tiền lương mà doanh nghiệp còn nợ người lao động. Như vậy, Quyết định 30/2009/QĐ-TTg có nhắc đến khái niệm “chủ doanh nghiệp bỏ trốn”, nhưng tiêu chí như thế nào là “chủ doanh nghiệp bỏ trốn” đến nay vẫn chưa có định nghĩa cụ thể. Đồng thời, cũng chưa có quy định về quy trình xử lý tài sản đối với doanh nghiệp có chủ bỏ trốn. Đây chính là “điểm thắt”, khiến người lao động và chủ nợ của doanh nghiệp bỏ trốn bị thiệt hại nghiêm trọng về quyền lợi. Có thể nói, các hạn chế trên của pháp luật doanh nghiệp và pháp luật về xử phạt hành chính trong lĩnh vực giải thể doanh nghiệp đã làm cho tình trạng giải thể doanh nghiệp “chui” tại Việt Nam thời gian qua có chiều hướng diễn biến xấu, gây nhiều hệ lụy tiêu cực về kinh tế – xã hội cho nền kinh tế.

Thứ hai, chưa có Nghị định hướng dẫn trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định tại khoản 9 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Nhằm tạo thuận lợi cho doanh nghiệp và cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình thực thi luật trong thực tiễn, khoản 9 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 đã giao Chính phủ ban hành Nghị định quy định chi tiết thi hành Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Tuy nhiên, đến thời điểm tháng 05/2024, tức là gần 4 năm thực thi Luật Doanh nghiệp 2014, Chính phủ Việt Nam cũng chưa ban hành Nghị định để quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo sự giao phó của Quốc hội. Sự chậm trễ trên cũng gây khó khăn, lúng túng không ít cho doanh nghiệp lẫn cơ quan quản lý nhà nước trong quá trình giải quyết giải thể cho doanh nghiệp tại Việt Nam. Chẳng hạn, khoản 1 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 quy định: Một quyết định giải thể doanh nghiệp phải có những nội dung chính nhưng không đề cập đến hình thức thể hiện của quyết định giải thể đó là gì? Bằng văn bản hay bằng tệp điện tử hay bằng lời nói?… Hoặc theo quy định của khoản 3 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp. Song, phương thức gửi các quyết định giải thể trên là gì cũng chưa được làm rõ, gây trở ngại cho quá trình áp dụng pháp luật. Nếu những vấn đề trên được cụ thể hóa tại Nghị định thi hành Luật Doanh nghiệp năm 2014 thì mới đảm bảo được sự thông suốt của trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp.

Thứ ba, hồ sơ giải thể chưa được cập nhật theo quy định mới tại Luật Doanh nghiệp 2014 về thủ tục khắc dấu doanh nghiệp, gây phiền hà cho doanh nghiệp.

Tuy nhiên, theo quy định của khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014, trong hồ sơ giải thể doanh nghiệp nộp cho cơ quan đăng ký kinh doanh, ngoài thông báo giải thể doanh nghiệp, giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp, Báo cáo thanh lý tài sản của doanh nghiệp thì nhà làm luật còn yêu cầu doanh nghiệp nộp lại con dấu/giấy chứng nhận đăng ký mẫu dấu (nếu có). Theo chúng tôi, quy định trên là không cần thiết vì những lý do sau đây:

Thứ nhất, theo nguyên lý chung, con dấu của doanh nghiệp là do doanh nghiệp tự quyết định việc có hay không và có với số lượng bao nhiêu con dấu cũng do ý chí của doanh nghiệp tự quyết, Nhà nước không còn kiểm soát việc hình thành con dấu của doanh nghiệp khắt khe như quy định trước đây tại Luật Doanh nghiệp năm 2005. Do đó, yêu cầu doanh nghiệp nộp trả lại con dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh là không còn phù hợp với quy định về cải cách thủ tục hành chính trong thành lập doanh nghiệp, hoàn toàn lệch pha so với quy định về quyền tự chủ trong khắc con dấu của doanh nghiệp theo quy định tại Điều 44 Luật Doanh nghiệp năm 2014.

Thứ hai, việc quy định doanh nghiệp phải nộp trả con dấu cho cơ quan đăng ký kinh doanh nhưng không nêu cụ thể doanh nghiệp phải nộp trả với số lượng bao nhiêu con dấu: chỉ nộp một con dấu mang tính tượng trưng hay tất cả các con dấu mà doanh nghiệp đang sở hữu? dẫn đến nhiều cách hiểu và áp dụng pháp luật khác nhau trên thực tế thời gian qua tại Việt Nam.

Thứ tư, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa quy định về thủ tục giải thể doanh nghiệp bằng phương thức trực tuyến (online).

Trong bối cảnh công nghệ thông tin bùng nổ như hiện nay thì phần lớn các quốc gia trên thế giới đều ứng dụng công nghệ cao vào phát triển kinh tế, đặc biệt là trong hoạt động quản lý nhà nước đối với doanh nghiệp nhằm nâng cao hiệu quả quản lý nhà nước, tiết giảm chi phí tài chính, thời gian, công sức cho doanh nghiệp. Tại Việt Nam, thủ tục đăng ký doanh nghiệp đã có những thay đổi mang tính đột phá thông qua các quy định tại Nghị định 78/2024/NĐ-CP và Nghị định 108/2024/NĐ-CP. Nhà nước khuyến khích nhà đầu tư ứng dụng công nghệ thông tin trong thủ tục gia nhập thị trường, với nhiều lợi thế đáng kể về thời gian, chi phí tài chính. Chẳng hạn, theo quy định tại Thông tư 130/2024/TT-BTC của Bộ Tài chính thì doanh nghiệp đăng ký online sẽ được miễn lệ phí đăng ký doanh nghiệp, còn nếu đăng ký trực tiếp sẽ phải tốn lệ phí là 100.000 đồng.

Tuy nhiên, đối với thủ tục giải thể doanh nghiệp, việc ứng dụng công nghệ cao vẫn là một bước lùi so với thủ tục đăng ký doanh nghiệp. Bằng chứng là Luật Doanh nghiệp năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành không có quy định nào điều chỉnh quy trình, thủ tục giải thể doanh nghiệp online nhằm tạo thuận lợi cho nhà đầu tư trong quá trình rút lui khỏi thị trường. Từ ngày 01/07/2024 cho đến nay, doanh nghiệp vẫn phải trực tiếp nộp hồ sơ giải thể tại cơ quan đăng ký kinh doanh, mối quan hệ giữa nhà đầu tư với cơ quan công quyền phát sinh trong quá trình giải thể doanh nghiệp đều được giải quyết bằng phương thức liên hệ trực tiếp, làm phát sinh chi phí tài chính, thời gian, công sức cho nhà đầu tư một cách không đáng có, đi ngược lại với xu thế chung của thế giới, không phù hợp với nỗ lực xây dựng một chính phủ điện tử mà nhà nước Việt Nam đang thực hiện trong giai đoạn hội nhập hiện nay.

Thứ năm, Luật Doanh nghiệp năm 2014 chưa quy định việc gửi quyết định giải thể doanh nghiệp cho cơ quan bảo hiểm xã hội để đảm bảo nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động trước khi doanh nghiệp chấm dứt hoạt động.

Hiện tại, khoản 3 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 chỉ quy định trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, người lao động trong doanh nghiệp, đăng quyết định giải thể trên Cổng thông tin quốc gia về đăng ký doanh nghiệp và niêm yết công khai tại trụ sở chính, chi nhánh, văn phòng đại diện của doanh nghiệp. Trong khi đó, theo quy định của khoản 5 Điều 202 và khoản 1 Điều 204 Luật Doanh nghiệp năm 2014, thứ tự thanh lý tài sản của doanh nghiệp khi giải thể và trong hồ sơ giải thể doanh nghiệp gửi về cho cơ quan đăng ký kinh doanh luôn đề cập đến việc thanh toán nợ bảo hiểm xã hội đối với người lao động. Vai trò của cơ quan bảo hiểm xã hội tại địa phương nơi doanh nghiệp đặt trụ sở chính là chủ thể quản lý tiền bảo hiểm xã hội mà doanh nghiệp đóng cho người lao động, nhưng khi doanh nghiệp giải thể thì quyết định giải thể lại không được gửi đến cho cơ quan bảo hiểm xã hội là không phù hợp. Bởi lẽ, thực tế việc cơ quan bảo hiểm xã hội xác nhận doanh nghiệp hoàn thành nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội, giám sát doanh nghiệp trong việc thực hiện nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội được xem như một trong những điều kiện tiên quyết để doanh nghiệp giải thể. Việc bỏ sót chủ thể được thông báo/gửi quyết định giải thể là cơ quan bảo hiểm xã hội như trên vô hình trung gây khó khăn không ít cho doanh nghiệp trong quá trình giải thể, vì nếu cơ quan bảo hiểm xã hội không nắm được thông tin doanh nghiệp giải thể ngay từ đầu thì khó cho cơ quan này xác nhận cho doanh nghiệp giải thể việc hoàn thành nghĩa vụ đóng bảo hiểm xã hội cho người lao động, do đó dễ dẫn đến việc ách tắc trong tiến trình giải thể doanh nghiệp trên thực tế.

3. Một số kiến nghị nhằm hoàn thiện pháp luật về giải thể doanh nghiệp

Để tạo thuận lợi cho quá trình giải thể doanh nghiệp trong thời gian tới và khắc phục các vướng mắc, bất cập của quy định pháp luật doanh nghiệp thời gian qua, chúng tôi kiến nghị một số nội dung hoàn thiện pháp luật như sau:

Thứ nhất, luật hóa tiêu chí xác định chủ doanh nghiệp bỏ trốn để làm cơ sở giải quyết cho giải thể các doanh nghiệp “mất tích” trong nền kinh tế và bổ sung một số trường hợp giải thể doanh nghiệp vào Luật Doanh nghiệp năm 2014 cho phù hợp với diễn biến thực tế của doanh nghiệp Việt Nam. Đối với tiêu chí xác định một doanh nghiệp mất tích/chủ doanh nghiệp bỏ trốn, Luật Doanh nghiệp cần quy định trong vòng bao nhiêu ngày người đại diện của doanh nghiệp vắng mặt mà không có thông báo cho chính quyền sở tại và không có ủy quyền hợp pháp cho người khác hoặc các cơ quan chức năng đã có thông báo công khai mà chủ doanh nghiệp không có phản hồi thì được xem là “chủ doanh nghiệp bỏ trốn”. Khi đó, cơ quan chức năng được quyền thanh lý tài sản của doanh nghiệp theo luật định để trả lương, bảo hiểm xã hội, bảo hiểm y tế cho người lao động. Đồng thời, qua đó làm cơ sở cho người lao động hoặc tổ chức Công đoàn khởi kiện, yêu cầu phá sản doanh nghiệp để đảm bảo quyền lợi cho người lao động.

Thứ hai, sửa đổi khoản 3 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 theo hướng bổ sung quy định yêu cầu doanh nghiệp giải thể phải gửi quyết định giải thể doanh nghiệp đến cơ quan bảo hiểm xã hội bên cạnh các cơ quan hữu quan khác. Theo đó, trong thời hạn 07 ngày làm việc kể từ ngày thông qua, quyết định giải thể và biên bản họp phải được gửi đến Cơ quan đăng ký kinh doanh, cơ quan thuế, cơ quan bảo hiểm xã hội và người lao động trong doanh nghiệp. Việc bổ sung chủ thể cơ quan bảo hiểm xã hội được gửi/thông báo quyết định giải thể nêu trên sẽ khắc phục các rào cản trong thủ tục giải thể doanh nghiệp thời gian qua tại Việt Nam, không những góp phần bảo vệ quyền lợi người lao động, mà còn đảm bảo cho việc quản lý nhà nước của cơ quan bảo hiểm xã hội đối với doanh nghiệp giải thể được chặt chẽ hơn, hạn chế các trở ngại phát sinh trong quá trình thanh lý tài sản của doanh nghiệp giải thể.

Thứ ba, Chính phủ cần ban hành Nghị định quy định chi tiết về trình tự, thủ tục giải thể doanh nghiệp theo quy định của Khoản 9 Điều 202 Luật Doanh nghiệp năm 2014 nhằm tạo thuận lợi cho việc giải quyết giải thể doanh nghiệp từ phía cơ quan công quyền lẫn doanh nghiệp.

[1] Luật Doanh nghiệp Việt Nam năm 2014

[2] Luật Công ty Canada năm 2024

[3] Luật Công ty Trung Quốc năm 2013

[4] Luật Doanh nghiệp thương mại Cambodia năm 2009

[5] Nghị định 78/2024/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 14/09/2024 về đăng ký doanh nghiệp

[6] Nghị định 108/2024/NĐ-CP do Chính phủ ban hành ngày 23/08/2024 về sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định 78/2024/NĐ-CP về đăng ký doanh nghiệp

[7] Trương Thanh Đức : Luận giải về Luật Doanh nghiệp năm 2014, NXB Chính trị quốc gia, 2024

[8] Nguyễn Văn Hậu, Nguyễn Thị Như Hà, “Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN trong điều kiện Việt Nam là thành viên WTO”, NXB Chính trị quốc gia, năm 2009

Nghị Quyết Số 33 Về Xóa Án Tích

To Trinh De Nghi Ra Quyet Dinh Chu Tich Pho Chu Tich Hoi Chu Thap Do Cap Xa, Nghị Quyết Đề Nghị Kiện Toàn Chức Danh Chủ Tịch Mttq, Nghị Quyết Số 33 Về Xóa án Tích, Nghị Quyết Liên Tịch 05, Nghị Quyết Liên Tịch Số 03, Nghị Quyết Liên Tịch 525, Nghị Quyết Liên Tịch 03, Nghị Quyết Liên Tịch 02 03, Nghị Quyết Liên Tịch Là Gì, Nghị Quyết Liên Tịch Số 12, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01, Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Số 02, Nghị Quyết Liên Tịch 01, Văn Bản Nghị Quyết Liên Tịch, Thế Nào Là Nghị Quyết Liên Tịch, Mẫu Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Số 525, Nghị Quyết Liên Tịch 403, Nghị Quyết Liên Tịch Số 88, Nghị Quyết Liên Tịch 88, Nghị Quyết Liên Tịch 09, Nghị Quyết Liên Tịch 01 2001, Nghị Quyết Liên Tịch Số 03/2010, Nghị Quyết Liên Tịch Số 05/2006, Nghị Quyết Liên Tịch 09 Năm 2008, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Năm 2001, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Năm 2008, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2005, Nghị Quyết Liên Tịch Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch Số 05 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch 09/2008, Nghị Quyết Liên Tịch Công An Phụ Nữ, Nghị Quyết Liên Tịch 2308, Nghị Quyết Liên Tịch Của Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch 03 2010, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2014, Nghị Quyết Liên Tịch Của Ubtvqh, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2008, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Của Bộ Công An, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2005, Nghị Quyết Liên Tịch Số 88/2024, Nghị Quyết Liên Tịch 01/1999, Nghị Quyết Liên Tịch Về Hòa Giải, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch Ubnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Liên Tịch Về Tiếp Xúc Cử Tri, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09/2008, Nghị Quyết Liên Tịch Số 08 TlĐ-ubatgtqg, Nghị Quyết Liên Tịch Số 08 Nqlt/hnd-bnn, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2014, Nghị Quyết Liên Tịch Số 2308, Nghị Quyết Xác Nhận Kết Quả Bầu Chủ Tịch Ubnd, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999, Nghi Quyet Lien Tich So 01/1999 Bca- Hoi Ccb, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2001, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch Ubnd Tỉnh, Nghị Quyết Liên Tịch 03/2010/nqlt, Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch 01, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2001/nqlt, Nghị Quyết Liên Tịch Bộ Công Anvoi Hội Ccb, Nghị Quyết Liên Tịch ủy Ban Thường Vụ Quốc Hội, Nghị Quyết Liên Tịch 03 Về Phòng Chống Ma Túy, Nghị Quyết Liên Tịch Số 03/2010/nqlt, Nghị Quyết Bổ Nhiệm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch Ubnd, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch HĐnd Xã, Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch Số 09, Nghị Quyết Liên Tịch Số 02 Ngày 13/5/2011, Báo Cáo Tham Luận Nghị Quyết Liên Tịch 01, Nghi Quyết Liên Tịch Số 01 Giữa Hội Ccb Với Bộ Công An, Nghị Quyết Liên Tịch 01 2001 Nqlt, Kết Quả Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch Số 03, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2002/nqlt, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999/bca-hccbvn, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Phó Chủ Tịch HĐnd, Nghị Quyết Liên Tịch Giữa Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch 02/nqlt-tlĐ-nn&ptnt, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09/nqlt-cp-ubtwmttqvn, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999/bca Hccb, Nghị Quyết Liên Tịch Số 2308/nqlt-1999, Nghị Quyết Liên Tịch Số 15/nqlt/cp-tandtc-vksndtc, Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Về Giám Sát Và Phản Biện Xã Hội, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09/2008/nqlt-cp-ubtwmttq, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09/2008/nqlt-cp-ubtwmttqvn, Nghị Quyết Liên Tịch 01/1999/nqlt/bca-hccb, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999/bca – Hccb Giữa Bộ …, Nghị Quyết Liên Tịch Số 05/2006/nqlt-cp-ubtwmttqvn, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch Số 01, Báo Cáo Tổng Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Liên Tịch 01, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/1999/ Bca- Hccb Việt Nam, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2005/nqlt-hon-btnmt, Thẩm Quyền Ban Hành Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2008/nqlt-blĐtbxh-bca, Nghị Quyết Miễn Nhiệm Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Nghị Quyết Liên Tịch Số 02 Nqlt Mttw-ubatgtqg,

To Trinh De Nghi Ra Quyet Dinh Chu Tich Pho Chu Tich Hoi Chu Thap Do Cap Xa, Nghị Quyết Đề Nghị Kiện Toàn Chức Danh Chủ Tịch Mttq, Nghị Quyết Số 33 Về Xóa án Tích, Nghị Quyết Liên Tịch 05, Nghị Quyết Liên Tịch Số 03, Nghị Quyết Liên Tịch 525, Nghị Quyết Liên Tịch 03, Nghị Quyết Liên Tịch 02 03, Nghị Quyết Liên Tịch Là Gì, Nghị Quyết Liên Tịch Số 12, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01, Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Số 02, Nghị Quyết Liên Tịch 01, Văn Bản Nghị Quyết Liên Tịch, Thế Nào Là Nghị Quyết Liên Tịch, Mẫu Nghị Quyết Liên Tịch, Nghị Quyết Liên Tịch Số 525, Nghị Quyết Liên Tịch 403, Nghị Quyết Liên Tịch Số 88, Nghị Quyết Liên Tịch 88, Nghị Quyết Liên Tịch 09, Nghị Quyết Liên Tịch 01 2001, Nghị Quyết Liên Tịch Số 03/2010, Nghị Quyết Liên Tịch Số 05/2006, Nghị Quyết Liên Tịch 09 Năm 2008, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Năm 2001, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Năm 2008, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch ủy Ban Nhân Dân Tỉnh, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2005, Nghị Quyết Liên Tịch Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch Số 05 Của Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch 09/2008, Nghị Quyết Liên Tịch Công An Phụ Nữ, Nghị Quyết Liên Tịch 2308, Nghị Quyết Liên Tịch Của Chính Phủ, Nghị Quyết Liên Tịch 03 2010, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2014, Nghị Quyết Liên Tịch Của Ubtvqh, Nghị Quyết Liên Tịch 01/2008, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01 Của Bộ Công An, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch Hội Đồng Quản Trị, Nghị Quyết Liên Tịch Số 01/2005, Nghị Quyết Liên Tịch Số 88/2024, Nghị Quyết Liên Tịch 01/1999, Nghị Quyết Liên Tịch Về Hòa Giải, Nghị Quyết Bầu Chủ Tịch Ubnd Thành Phố Hà Nội, Nghị Quyết Liên Tịch Về Tiếp Xúc Cử Tri, Nghị Quyết Liên Tịch Số 09/2008,

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!