Xu Hướng 12/2022 # Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích / 2023 # Top 12 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích / 2023 # Top 12 View

Bạn đang xem bài viết Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Xóa án tích là một quy định thể hiện tính nhân văn của Nhà nước đối với những người đã bị kết án hình sự, tạo điều kiện cho họ làm lại cuộc đời, giúp họ hòa nhập với cộng đồng, thay đổi bản thân để cống hiến cho xã hội. BLHS năm 2015 đã có nhiều quy định mới, tiến bộ về chế định xóa án tích như: Bổ sung quy định mới về các trường hợp không coi là có án tích như người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng, người được miễn hình phạt…; quy định cụ thể điều kiện đương nhiên được xoá án tích và trách nhiệm của Nhà nước trong việc xoá án tích cho người bị kết án như rút ngắn thời hạn để đương nhiên được xoá án tích, sửa đổi thời điểm để bắt đầu tính thời hạn đương nhiên xoá án tích…

1.1. Hoàn thiện quy định xóa án tích trong BLHS

– Thứ nhất, quy định của pháp luật hiện hành chưa quy định khái niệm pháp lý của án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích để nhận thức và áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần bổ sung thêm quy định về nội dung này theo hướng:

Án tích là hậu quả pháp lý bất lợi đối với người hoặc pháp nhân thương mại phạm tội khi họ bị kết án và bị áp dụng hình phạt theo bản án có hiệu lực pháp luật của Tòa án, trừ một số trường hợp không bị coi là có án tích theo quy định của pháp luật hình sự, tồn tại trong một khoảng thời gian từ khi bản án kết tội có hiệu lực pháp luật cho đến khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được coi như chưa bị kết án theo quy định của pháp luật hình sự. Án tích được tính từ ngày bản án kết tội của Tòa án có hiệu lực pháp luật và chấm dứt khi người hoặc pháp nhân thương mại đó được xóa án tích theo quy định tại Bộ luật này.

“Điều….: Án tích, thời điểm bắt đầu và chấm dứt của án tích

– Thứ hai, Điều 69 quy định về xóa án tích nhưng khoản 2 của Điều luật quy định ” 2. Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích” là chưa phù hợp, bởi xóa án tích và không bị coi là có án tích là hai khái niệm có bản chất khác nhau.

“Điều….Không bị coi là có án tích Người bị kết án do lỗi vô ý về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng và người được miễn hình phạt không bị coi là có án tích.”

Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần tách 02 khoản quy định tại Điều 69 thành 02 Điều luật khác nhau. Cụ thể:

Đối với hình phạt chính: a) Nếu các hình phạt đã tuyên cùng là cải tạo không giam giữ hoặc cùng là tù có thời hạn, thì các hình phạt đó được cộng lại thành hình phạt chung; hình phạt chung không được vượt quá 03 năm đối với hình phạt cải tạo không giam giữ, 30 năm đối với hình phạt tù có thời hạn; b) Nếu các hình phạt đã tuyên là cải tạo không giam giữ, tù có thời hạn, thì hình phạt cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành hình phạt tù theo tỷ lệ cứ 03 ngày cải tạo không giam giữ được chuyển đổi thành 01 ngày tù để tổng hợp thành hình phạt chung theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều này; c) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tù chung thân thì hình phạt chung là tù chung thân; d) Nếu hình phạt nặng nhất trong số các hình phạt đã tuyên là tử hình thì hình phạt chung là tử hình; đ) Phạt tiền không tổng hợp với các loại hình phạt khác; các khoản tiền phạt được cộng lại thành hình phạt chung;

– Thứ ba, khoản 1 Điều 73 BLHS năm 2015 quy định về cách tính thời hạn để xóa án tích: “1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên”. Tuy nhiên, quy định này chưa thể hiện trường hợp phạm nhiều tội hoặc của nhiều bản án. Trong khi đó, Điều 55 BLHS năm 2015 quy định: Khi xét xử cùng 01 lần một người phạm nhiều tội, Tòa án quyết định hình phạt đối với từng tội và tổng hợp hình phạt theo quy định sau đây:

e) Trục xuất không tổng hợp với các loại hình phạt khác.”.

Trong trường hợp một người đang phải chấp hành một bản án mà lại bị xét xử về tội đã phạm trước khi có bản án này, thì Tòa án quyết định hình phạt đối với tội đang bị xét xử, sau đó quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này. Thời gian đã chấp hành hình phạt của bản án trước được trừ vào thời hạn chấp hành hình phạt chung. Khi xét xử một người đang phải chấp hành một bản án mà lại thực hiện hành vi phạm tội mới, Tòa án quyết định hình phạt đối với tội mới, sau đó tổng hợp với phân hình phạt chưa chấp hành của bản án trước rồi quyết định hình phạt chung theo quy định tại Điều 55 của Bộ luật này.

Và Điều 56 BLHS 2015 quy định về tổng hợp hình phạt của nhiều bản án:

Trong trường hợp một người phải chấp hành nhiều bản án đã có hiệu lực pháp luật mà các hình phạt của các bản án chưa được tổng hợp, thì Chánh án Tòa án có thẩm quyền ra quyết định tổng hợp hình phạt của các bản án theo quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này”.

Trong đó quy định về xóa án tích đối với trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bán án vẫn còn nhiều vướng mắc, gây khó khăn cho cả người phạm tội và các cơ quan nhà nước có thẩm quyền. Do vậy, chúng tôi kiến nghị bổ sung vào Điều 73 quy định sau:

1.2. Ban hành văn bản hướng dẫn quy định về xóa án tích

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (cũ)

1. Thời hạn để xóa án tích quy định tại Điều 70 và Điều 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Điều 73. Cách tính thời hạn để xoá án tích (mới)

1. Thời hạn để xoá án tích quy định tại Điều 70 và 71 của Bộ luật này căn cứ vào hình phạt chính đã tuyên.

Trường hợp phạm nhiều tội hoặc nhiều bản án thì thời hạn xoá án tích căn cứ vào hình phạt chính đã được tổng hợp trong bản án. Trường hợp hình phạt chính không tổng hợp được với hình phạt chính của tội hoặc bản án khác thì thời hạn xóa án tích căn cứ vào hình phạt chính nặng nhất đã tuyên.

Để việc áp dụng quy định về xóa án tích được thống nhất, cơ quan có thẩm quyền cần nghiên cứu ban hành văn bản hướng dẫn các nội dung sau:

– Thứ nhất, về trường hợp người chấp hành án đã chấp hành xong hình phạt tù, đã đủ thời gian được xem là đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 BLHS năm 2015 nhưng chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án do không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự. Trường hợp này có được đương nhiên xóa án tích không?

Về nội dung này TANDTC đã hướng dẫn tại công văn số 64/TANDTC: Điều 70 của Bộ luật hình sự quy định về các điều kiện đương nhiên được xóa án tích, trong đó có điều kiện: người bị kết án nếu từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc hết thời gian thử thách của án treo, người đó đã chấp hành xong hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án. Như vậy, Bộ luật hình sự không quy định trường hợp loại trừ việc người bị kết án chưa chấp xong hành hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án với bất kỳ lý do gì. Hơn nữa, pháp luật thi hành án dân sự quy định nhiều phương thức thi hành để người phải thi hành án có quyền lựa chọn như: tự nguyện thi hành, thỏa thuận thi hành án hoặc nhờ thân nhân nộp thay. Do vậy, trường hợp người bị kết án (sau này là bị can, bị cáo trong một vụ án mới) không nhận được thông báo và quyết định thi hành án của Cơ quan thi hành án dân sự nên chưa thi hành hình phạt bổ sung, chưa nộp tiền án phí hình sự sơ thẩm và các quyết định khác của bản án là chưa chấp hành xong hình phạt bổ sung và các quyết định khác của bản án. Trong trường hợp này, người bị kết án không đương nhiên được xóa án tích theo quy định tại Điều 70 của BLHS.

– Thứ hai, về xác định án tích để tính tái phạm, tái phạm nguy hiểm cần có hướng dẫn cụ thể, rõ ràng.

Chỉ các tình tiết sau đây mới là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: h) Tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm;

” Điều 52. Các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự

Các tình tiết đã được Bộ luật này quy định là dấu hiệu định tội hoặc định khung hình phạt thì không được coi là tình tiết tăng nặng”.

Đồng thời, theo tinh thần của mục 7.3 Nghị quyết số 01/2006/NQ-HĐTP ngày 12 tháng 5 năm 2006 của Hội đồng thẩm phán TANDTC quy định: ” Khi áp dụng tình tiết “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm”, cần phân biệt: a. Trường hợp các tiền án của bị cáo đã được xem là dấu hiệu cấu thành tội phạm “đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm” thì các tiền án đó không được tính để xác định tái phạm, tái phạm nguy hiểm đối với bị cáo”.

Hướng dẫn trên có thể tạo ra sự không công bằng trong áp dụng pháp luật và do BLHS năm 1999 đã hết hiệu lực nên cần có văn bản hướng dẫn mới phù hợp .

Ví dụ 1: A có 05 tiền án về tội chiếm đoạt tài sản theo quy định của BLHS năm 2015, chưa được xóa án tích lại phạm lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng. Như vậy, trong trường hợp này 05 tiền án trên chỉ là yếu tố định tội của tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015.

Tuy nhiên, giả sử A có 02 tiền án (trong đó, có 01 tiền án về tội hiếp dâm; 01 tiền án về lừa đảo chiếm đoạt tài sản), đều chưa được xóa án tích, lại phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản dưới 2 triệu đồng thì trong trường hợp này, tiền án lừa đảo chiếm đoạt tài sản được xem xét là yếu tố định tội theo khoản 1 Điều 174 BLHS năm 2015, còn tiền án về tội hiếp dâm được coi là tình tiết tăng nặng TNHS để áp dụng đối với bị can, bị cáo theo quy định tại điểm h khoản 1 điều 52 BLHS và như vậy TNHS có thể sẽ nặng hơn so với trường hợp A có 05 tiến án về tội chiếm đoạt. Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể trường hợp này, bảo đảm tính công bằng trong thực tiễn áp dụng pháp luật.

Ví dụ 2: B có 03 tiền án, trong đó: có 02 tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy vào các năm 2012 và năm 2013; 01 tiền án về tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản năm 2015 đã xác định “tái phạm nguy hiểm”, đều chưa được xóa án tích; năm 2019, A phạm tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản có trị giá dưới 2 triệu đồng.

Căn cứ khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015 thì tiền án về tội lừa đảo chiếm đoạt tài sản sẽ là yếu tố định tội theo quy định tại khoản 1 điều 74 BLHS năm 2015.

Còn tiền án về tội mua bán trái phép chất ma túy được coi là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự theo điểm h, khoản 1 Điều 52 BLHS hay tình tiết định khung theo điểm d khoản 2 Điều 174 BLHS năm 2015?

Do vậy, cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung này để áp dụng trong thực tiễn.

Ngoài ra, theo chúng tôi cần thống nhất hướng dẫn cụ thể trường hợp nếu bản án có vi phạm trong việc không xác định một người là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm” thì lần phạm tội sau của người đó vẫn bị áp dụng tình tiết “tái phạm nguy hiểm” mà không bắt buộc bản án trước đó phải xác định người đó là “tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm”, theo đúng quy định tại khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015. Bởi thực tiễn xảy ra nhiều trường hợp ở lần phạm tội trước, bị cáo thuộc trường hợp tái phạm hoặc tái phạm nguy hiểm nhưng bản án lại có sự thiếu sót khi không áp dụng, sau đó người này tiếp tục phạm tội khi chưa được xóa án tích, trường hợp này đang dẫn đến nhiều cách giải quyết khác nhau tại các Tòa án trên cả nước. Do ó cần có hướng dẫn để thống nhất việc áp dụng pháp luật trong xét xử.

– Thứ ba, trong thực tiễn vẫn xảy ra trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội vào thời điểm họ chưa đủ 18 tuổi nhưng khi giai đoạn xét xử sơ thẩm vụ án thì họ đã trên 18 tuổi. Như vậy, với trường hợp này sẽ áp dụng những quy định chung về chế định xóa án tích quy định từ Điều 70 đến 73 BLHS năm 2015 hay áp dụng quy định tại Điều 107 BLHS năm 2015.

“1. Người dưới 18 tuổi bị kết án được coi là không có án tích, nếu thuộc một trong các trường hợp sau đây: a) Người từ đủ 14 đến dưới 16 tuổi; b) Người từ đủ 16 tuổi đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm ít nghiêm trọng, tội phạm nghiêm trọng hoặc tội phạm rất nghiêm trọng do vô ý; c) Người bị áp dụng biện pháp tư pháp quy định tại Mục 3 Chương này. Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án về tội phạm rất nghiêm trọng do cố ý hoặc tội phạm đặc biệt nghiêm trọng thì đương nhiên xóa án tích nếu trong thời hạn 03 năm tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà người đó không thực hiện hành vi phạm tội mới.”

Theo quy định Điều 107 BLHS năm 2015 về xóa án tích:

Có quan điểm cho rằng: theo nội dung quy định của Điều 107 là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên quy định tại Điều 107 được áp dụng cho người phạm tội đến thời điểm xét xử vẫn chưa đủ 18 tuổi, nếu họ từ đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2015.

Quan điểm khác cho rằng: Điều 107 được quy định trong chương XII với tên gọi “những quy định đối với người chưa thành niên phạm tội”, theo đó quy định tại Điều 107 sẽ được áp dụng đối với người chưa thành niên từ thời điểm họ thực hiện hành vi phạm tội. Điều này sẽ thể hiện được nguyên tắc có lợi cho bị can, bị cáo khi bị kết án và chính sách nhân đạo của nhà nước ta.

Do vậy, trong thời gian tới cần có hướng dẫn cụ thể vấn đề trên theo hướng: quy định tại Điều 107 với nội dung là “Người dưới 18 tuổi bị kết án…” và “Người từ đủ 16 đến dưới 18 tuổi bị kết án…” nên đến thời điểm xét xử họ đã đủ 18 tuổi trở lên thì áp dụng quy định chung quy định từ Điều 69 đến 73 BLHS năm 2015 mà không áp dụng Điều 107 BLHS năm 2015. Ngoài ra, trong giai đoạn điều tra, truy tố người chưa đủ 18 tuổi đã được hưởng những chính sách khoan hồng, nguyên tắc xử lý người chưa thành niên của pháp luật, đặc biệt là trong việc truy cứu TNHS và quyết định hình phạt ở mức thấp hơn so với người đã thành niên phạm tội; thực tế, có những trường hợp người thực hiện hành vi phạm tội tại thời điểm dưới 18 tuổi nhưng một thời gian dài sau mới bị phát hiện (có trường hợp hơn 10 năm, như trường hợp Lý Nguyễn Chung trong vụ án oan Nguyễn Thanh Chấn). Việc áp dụng này là phù hợp và không trái với các quy định khác của pháp luật.

– Thứ tư, về xóa án tích đối với pháp nhân thương mại phạm tội

Điều 89 BLHS năm 2015 quy định: “Pháp nhân thương mại bị kết án đương nhiên được xóa án tích nếu trong thời hạn 02 năm kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung, các quyết định khác của bản án hoặc từ khi hết thời hiệu thi hành bản án mà pháp nhân thương mại không thực hiện hành vi phạm tội mới”.

Như vậy, nhà làm luật chưa quy định trong trường hợp pháp nhân thương mại bị kết án chưa được xóa án tích mà thực hiện hành vi phạm tội mới và bị Tòa án kết án bằng bản án có hiệu lực pháp luật thì hậu quả pháp lý như thế nào? Có tính lại thời hạn để xóa án tích hay không?

Trường hợp nếu tính lại thì do khác với người bị kết án phạm tội (thời hạn tính xóa án tích sẽ được tính lại kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính của bản án mới theo quy định tại khoản 2 Điều 73 BLHS năm 2015) thì với pháp nhân thương mại bị kết án thì thời hạn tính xóa án tích của được tính lại kể từ khi chấp hành xong bản án mới (bao gồm hình phạt chính, hình phạt bổ sung và các quyết khác của tòa án). Do vậy, chúng tôi kiến nghị cần hoàn thiện các quy định về xóa án tích của pháp nhân thương mại bị kết án theo hướng thời điểm tính thời hạn xóa án tích của pháp nhân thương mại nên giống với cá nhân là đều được tính từ khi chấp hành xong hình phạt chính hoặc khi hết thời hiệu thi hành bản án.

Mặt khác, Điều 89 BLHS chỉ quy định thời hạn xóa án tích cho pháp nhân thương mại phạm tội bị kết án là 2 năm “kể từ khi chấp hành xong hình phạt chính, hình phạt bổ sung…”, do vậy không có sự phân biệt hình phạt chính là gì, trong khi đó theo Điều 33 BLHS năm 2015 thì hình phạt chính áp dụng đối với pháp nhân thương mại phạm tội gồm 3 loại: phạt tiền, đình chỉ hoạt động có thời hạn và đình chỉ hoạt động vĩnh viễn. Có thể thấy, nếu pháp nhân thương mại bị áp dụng hình phạt chính là đình chỉ hoạt động vĩnh viễn, đồng nghĩa là chấm dứt sự tồn tại và hoạt động của pháp nhân, việc tính thời hạn xóa án tích với phạm nhân thương mại bị kết án không có ý nghĩa về mặt pháp lý và thực tiễn. Do vậy, chúng tôi kiến nghị trong thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể điều kiện xóa án tích và cách tính thời hạn xóa án tích một cách cụ thể, đối với từng loại hình phạt để thống nhất trong áp dụng.

– Thứ năm, về thời hạn đương nhiên xóa án tích

+ Điều 369 BLTTHS năm 2015 quy định: “1. Trong thời hạn 05 ngày kể từ ngày nhận được yêu cầu của người được đương nhiên xóa án tích và xét thấy có đủ điều kiện quy định tại Điều 70 của Bộ luật hình sự thì cơ quan quản lý cơ sở dữ liệu lý lịch tư pháp cấp phiếu lý lịch tư pháp là họ không có án tích”.

+ Trong khi đó, Điều 48 Luật lý lịch tư pháp năm 2009 quy định: 1. Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 10 ngày, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi hoặc có thời gian cư trú ở nước ngoài, người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này, trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày”.

Dự thảo luật sửa đổi, bổ sung của Luật Lý lịch tư pháp ghi: “Thời hạn cấp Phiếu lý lịch tư pháp không quá 07 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là công dân Việt Nam đã cư trú ở nhiều nơi, có thời gian cư trú ở nước ngoài hoặc không xác định được nơi cư trú; người nước ngoài quy định tại khoản 2 và khoản 3 Điều 47 của Luật này; trường hợp phải xác minh về điều kiện đương nhiên được xóa án tích quy định tại khoản 3 Điều 44 của Luật này thì thời hạn không quá 15 ngày. Trường hợp người được cấp Phiếu lý lịch tư pháp là người bị kết án bởi nhiều bản án thì thời hạn không quá 20 ngày.

+ Công văn số 34/TTLLTPQG-TTrC ngày 24/01/2017 của Trung tâm lý lịch tư pháp về việc hướng dẫn thực hiện đương nhiên được xóa án tích, có hướng dẫn “ Về thời hạn cấp Phiếu LLTP đối với người được đương nhiên xóa án tích có yêu cầu cấp Phiếu LLTP: Thực hiện theo khoản 1 Điều 48 Luật LLTP là tối đa 15 ngày làm việc kể từ ngày nhận được yêu cầu hợp lệ”.

Như vậy, theo chúng tôi có sự chưa tương thích giữa quy định của các văn bản pháp luật về thời hạn cấp phiếu lý lịch tư pháp xác nhận không có án tích đối với cá nhân. Do vậy, thời gian tới nhà làm luật cần có hướng dẫn cụ thể về nội dung trên, để thống nhất áp dụng trong thực tiễn.

HĐXX cuả TAND tỉnh Bắc Ninh xét xử một vụ án hình sự – Ảnh: Vũ Minh Phương

Một Số Bất Cập Và Kiến Nghị Hoàn Thiện Các Quy Định Của Luật Phá Sản 2014 / 2023

Abstract: The 2014 Law on Bankruptcy has created a solid legal framework for bankruptcy of businesses and cooperatives. However, the legal provisions of bankruptcy still exist some shortcomings, thereby causing difficulties for the bankruptcy of enterprises and cooperatives in practice. This article provides analysis of the shortcomings in the bankruptcy legal provisions as well as recommendations for further improvements.

1. Một số bất cập, hạn chế của Luật Phá sản năm 2014

Thứ nhất, quy định về tiêu chí để xác định “Doanh nghiệp, hợp tác xã (HTX) mất khả năng thanh toán”

Theo quy định của Luật Phá sản năm 2014, “phá sản là tình trạng của doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và bị Tòa án nhân dân (TAND) ra quyết định tuyên bố phá sản”[1]. Quy định này cho thấy, một doanh nghiệp, HTX tuyên bố phá sản phải đáp ứng 02 điều kiện sau đây: (i) doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán và (ii) doanh nghiệp, HTX bị TAND ra quyết định tuyên bố phá sản.

Về tiêu chí “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”[2]. So sánh với Luật Phá sản năm 2004, có thể thấy Luật Phá sản năm 2014 đã tiến bộ hơn khi thay thế quy định “doanh nghiệp, HTX lâm vào tình trạng phá sản” thành “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” để thể hiện đúng bản chất của đối tượng là doanh nghiệp, HTX có nguy cơ bị tuyên bố phá sản; đồng thời đưa ra tiêu chí định lượng để xác định tình trạng doanh nghiệp, HTX thay vì sử dụng tiêu chí định tính như trước đây (doanh nghiệp, HTX không có khả năng thanh toán được các khoản nợ đến hạn khi chủ nợ có yêu cầu)[3].

Tuy nhiên, trên thực tế, có không ít doanh nghiệp, HTX lại là chủ nợ với số tiền lớn hơn số nợ phải thanh toán cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Các doanh nghiệp, HTX này hoàn toàn có thiện chí trả nợ cho các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản. Vì lý do chưa thu hồi được tiền từ việc xoay vòng vốn trong kinh doanh, các doanh nghiệp, HTX này không thể thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 03 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán và các chủ nợ yêu cầu tuyên bố phá sản không đồng ý thương lượng gia hạn, theo đó đề nghị Tòa án tuyên bố phá sản đối với doanh nghiệp, HTX. Đặc biệt, có trường hợp chủ nợ lạm dụng quyền nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX đang gặp khó khăn tạm thời nhằm mục tiêu đẩy doanh nghiệp, HTX vào tình trạng “bị ép phải phá sản”. Tình trạng này đã làm ảnh hưởng rất lớn đến uy tín và hoạt động kinh doanh của các doanh nghiệp, HTX, thậm chí lại là nguyên nhân chính khiến cho doanh nghiệp, HTX làm ăn thua lỗ sau đó và phải phá sản “thật”.

Thứ hai, quy định về thời hạn ra quyết định thi hành án và định giá lại tài sản trong Luật Phá sản năm 2014 chưa thống nhất với Luật Thi hành án dân sự (THADS) năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014)

Khoản 1 Điều 5 Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) năm 2015 quy định việc xây dựng và ban hành VBQPPL phải “bảo đảm tính hợp hiến, tính hợp pháp và tính thống nhất của VBQPPL trong hệ thống pháp luật”.Tính thống nhất của hệ thống pháp luật phải được xem xét trên cả hai phương diện hình thức và nội dung. Về mặt hình thức, tính thống nhất thể hiện qua cách sắp xếp, phân loại thứ bậc, hiệu lực của các quy phạm pháp luật. Về mặt nội dung, tính thống nhất đòi hỏi pháp luật phải có tính nhất quán. Điều này có nghĩa các VBQPPL trong cùng một lĩnh vực hoặc trong những lĩnh vực khác nhau phải tạo ra sự nhất quán trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội nhất định, hạn chế tình trạng các văn bản quy định khác nhau về cùng một vấn đề[4].

Bên cạnh đó, quy định của Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) về trường hợp định giá lại tài sản cũng chưa thống nhất. Theo Luật Phá sản năm 2014, định giá lại tài sản chỉ được thực hiện trong một trường hợp duy nhất là “khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản”[9]. Trong khi đó, Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) quy định 02 trường hợp có thể định giá lại tài sản kê biên gồm: (i) Chấp hành viên có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 98 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; (ii) Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản[10]. Như vậy, so với Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014), Luật Phá sản năm 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại. Việc người được thi hành án (trong đó có các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị phá sản) không có quyền yêu cầu việc định giá lại tài sản của doanh nghiệp, HTX bị phá sản có thể sẽ làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của họ trong việc được thanh toán các khoản nợ.

Thứ ba, quy định về kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong trường hợp doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định 02 trường hợp phát sinh nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán: (i) Người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán; (ii) Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty trách nhiệm hữu hạn (TNHH) hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh có nghĩa vụ nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp mất khả năng thanh toán[11]. Để bảo đảm thực hiện quy định này, Luật Phá sản năm 2014 quy định: “Những người theo quy định tại khoản 3 và khoản 4 Điều 5 của Luật này không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán thì phải chịu trách nhiệm trước pháp luật. Trường hợp có thiệt hại phát sinh sau thời điểm doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán do việc không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản gây ra thìphải bồi thường”[12]. Bên cạnh đó, Nghị định số 110/2013/NĐ-CP ngày 24/9/2013 của Chính phủ quy định xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực bổ trợ tư pháp, hành chính tư pháp, hôn nhân và gia đình, THADS, phá sản doanh nghiệp, HTX (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP ngày 14/8/2015) có quy định: ” Phạt tiền từ 1.000.000 đồng đến 3.000.000 đồng đối với hành vi của Chủ doanh nghiệp tư nhân, Chủ tịch Hội đồng quản trị của công ty cổ phần, Chủ tịch Hội đồng thành viên của công ty TNHH hai thành viên trở lên, chủ sở hữu công ty TNHH một thành viên, thành viên hợp danh của công ty hợp danh hoặc người đại diện theo pháp luật của doanh nghiệp, HTX không nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản khi doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán”[13].

Trong số các tài liệu kèm theo đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX rơi vào 02 trường hợp trên, Luật Phá sản năm 2014 quy định phải có ” Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động”[14]. Đây là tài liệu bắt buộc, có vai trò quan trọng trong quá trình tổng hợp tình hình tài sản, vốn chủ sở hữu và nợ phải trả cũng như tình hình tài chính, kết quả kinh doanh trong kỳ của doanh nghiệp, HTX nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản. Nói cách khác, qua báo cáo tài chính thì Thẩm phán có thể nắm bắt được thực trạng tài chính của doanh nghiệp, HTX. Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 lại không nêu cụ thể báo cáo tài chính có phải kiểm toán hay không?

Thực tiễn giải quyết thủ tục phá sản của Tòa án cho thấy, nếu không quy định cụ thể việc kiểm toán báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX sẽ ảnh hưởng đến việc xác định tính trung thực hồ sơ yêu cầu mở thủ tục phá sản đối với doanh nghiệp, HTX của Tòa án. Bởi lẽ, Tòa án không phải là cơ quan chuyên môn để có thể xác thực các báo cáo tài chính mà doanh nghiệp, HTX đã nộp. Điều này gián tiếp tạo “cơ hội” cho các doanh nghiệp, HTX cố tình thực hiện việc phá sản một cách giả tạo nhằm trốn tránh thực hiện các nghĩa vụ tài chính đối với chủ nợ, người lao động của doanh nghiệp, HTX.

Thứ tư, quy định về tạm ứng chi phí phá sản và mở tài khoản để nộp tiền tạm ứng chi phí phá sản

Luật Phá sản năm 2014 quy định, trong thời hạn 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản hợp lệ, TAND dự tính số tiền tạm ứng chi phí phá sản và thông báo cho người yêu cầu mở thủ tục phá sản để nộp tạm ứng chi phí phá sản. Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được thông báo về việc nộp tạm ứng chi phí phá sản, người nộp đơn yêu cầu mở thủ tục phá sản phải thực hiện việc tạm ứng chi phí phá sản vào tài khoản do TAND mở tại ngân hàng[17]. “Tạm ứng chi phí phá sản” là khoản tiền do TAND quyết định để đăng báo, tạm ứng chi phí quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản[18].

Tuy nhiên, Luật Phá sản năm 2014 không quy định cụ thể về cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ hướng dẫn quy định về quản tài viên và hành nghề quản lý, thanh lý tài sản chỉ bao hàm quy định hướng dẫn về cách tính mức thù lao đối với quản tài viên mà không có bất cứ quy định nào hướng dẫn cách tính tạm ứng chi phí phá sản. Bên cạnh đó, Luật Phá sản năm 2014 và Nghị định số 22/2015/NĐ-CP cũng quy định chưa cụ thể về thủ tục mở, quản lý tài khoản do Tòa án mở tại Ngân hàng để thu tiền tạm ứng chi phí phá sản. Điều này gây lúng túng cho Tòa án trong việc tổ chức thực hiện trên thực tế, dẫn đến nhiều cách hiểu khác nhau như tài khoản mở tại ngân hàng được sử dụng cho một vụ hay nhiều vụ phá sản?

Một là, cần xem xét quy định lại tiêu chí để đánh giá ” doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán” theo hướng tăng lên thời gian để doanh nghiệp, HTX có đủ thời gian cần thiết thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã đến hạn theo yêu cầu của chủ nợ cũng như thực hiện việc xoay vòng vốn nhằm phục vụ cho kế hoạch kinh doanh. Theo đó, chúng tôi kiến nghị sửa đổi: “doanh nghiệp, HTX mất khả năng thanh toán là doanh nghiệp, HTX không thực hiện nghĩa vụ thanh toán khoản nợ trong thời hạn 12 tháng kể từ ngày đến hạn thanh toán”.

Hai là, để bảo đảm sự thống nhất của các văn bản pháp luật, cần sửa đổi Luật Phá sản năm 2014 và Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) theo hướng thống nhất về thời hạn ra quyết định thi hành án đối với các quyết định tuyên bố phá sản của doanh nghiệp, HTX. Theo đó, cần xác định thời hạn ban hành quyết định tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định của Tòa án giải quyết phá sản theo tinh thần của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014). Bên cạnh đó, để bảo đảm quyền và lợi ích của người được thi hành án là các chủ nợ của doanh nghiệp, HTX bị tuyên bố phá sản, Luật Phá sản năm 2014 cần kế thừa quy định của Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014) bằng việc bổ sung thêm một trường hợp vào Điều 123 về định giá lại tài sản khi “Đương sự có yêu cầu định giá lại trước khi có thông báo công khai về việc bán đấu giá tài sản”.

Ba là, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 cần được sửa đổi theo hướng bổ sung yêu cầu thực hiện kiểm toán đối với báo cáo tài chính của các doanh nghiệp, HTX trong trường hợp mất khả năng thanh toán. Theo đó, điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014 được viết lại như sau: “a) Báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong 03 năm gần nhất. Trường hợp doanh nghiệp, HTX được thành lập và hoạt động chưa đủ 03 năm thì kèm theo báo cáo tài chính của doanh nghiệp, HTX trong toàn bộ thời gian hoạt động. Báo cáo tài chính phải được tổ chức kiểm toán độc lập xác nhận“.

Bốn là, Chính phủ cần sớm sửa đổi Nghị định số 22/2015/NĐ-CP theo hướng bổ sung quy định về cách tính tạm ứng chi phí phá sản cũng như thủ tục mở và quản lý tài khoản ngân hàng của Tòa án để thực hiện việc thu, chi khoản tiền tạm ứng chi phí phá sản cho phù hợp với quy định pháp luật về phá sản cũng như tài chính, kế toán./.

Tác giả: ThS. Trương Thị Quỳnh Trâm, Toà án nhân dân Quận 1, TP. Hồ Chí Minh Nguồn tin: Bài viết đăng tải trên Ấn phẩm Tạp chí Nghiên cứu Lập pháp số 13(389), tháng 7/2019

[1] Khoản 2 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.

[2] Khoản 12 Điều 1 Luật Phá sản năm 2014.

[3] Điều 3 Luật Phá sản năm 2004.

[4] Nguyễn Nhật Khanh, Tính thống nhất của Luật Giáo dục năm 2005 (sửa đổi, bổ sung năm 2009) với các văn bản pháp luật khác trong hệ thống pháp luật Việt Nam, Tạp chí Khoa học Pháp lý số 02/2018, tr. 66.

[5] Khoản 1 Điều 17 Luật Phá sản năm 2014, điểm g khoản 1 Điều 2 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[6] Khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản năm 2014.

[7] Khoản 2 Điều 36 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[8] Điều 128 Luật Phá sản năm 2014, Mục 1 Chương VI Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[9] Khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản năm 2014.

[10] Khoản 1 Điều 99 Luật THADS năm 2008 (sửa đổi, bổ sung năm 2014).

[11] Khoản 3, 4 Điều 5 Luật Phá sản năm 2014.

[12] Khoản 5 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.

[13] Điều 54 Nghị định số 110/2013/NĐ-CP (sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định số 67/2015/NĐ-CP).

[14] Điểm a khoản 3 Điều 28 Luật Phá sản năm 2014.

[15] Điểm a khoản 4 Điều 15 Luật Phá sản năm 2004.

[16] Phan Thị Mỹ Hạnh, Phá sản doanh nghiệp và thi hành Luật Phá sản ở Việt Nam, Tạp chí Dầu khí số 4/2018, tr. 60.

[17] Điều 38 Luật Phá sản năm 2014.

[18] Khoản 14 Điều 4 Luật Phá sản năm 2014.

Một Số Kiến Nghị Nhằm Hoàn Thiện Quy Định Của Pháp Luật Về Trách Nhiệm Dân Sự Do Vi Phạm Hợp Đồng / 2023

Từ những hạn chế về trách nhiệm dân sự do vi phạm hợp đồng cần phải có một số biện pháp khắc phục

1.1 Thống nhất, hoàn thiện các văn bản pháp luật Việt Nam về hợp đồng

Như đã phân tích ở trên, BLDS Việt Nam năm 2005 được coi như một “bộ luật gốc” điều chỉnh nhưng quan hệ cơ bản và thiết lập những quy tắc chung nhất mà theo đó các Luật chuyên nghành khác được xây dựng trên nền tảng đó nhưng giữa “Bộ luật dân sự 2015” và Luật thương mại 2005 vẫn còn nhiều điểm chưa tương đồng, thống nhất và đồng bộ trong quy định của “Bộ luật dân sự 2015” với các luật chuyên ngành về chế định hợp đồng cần có sự sửa đổi, bổ sung các văn bản pháp luật chuyên ngành có quy định về hợp đồng dân sự theo từng hướng mà đã xây dựng.

Hoàn thiện các quy định của “Bộ luật dân sự năm 2015” về phạt vi phạm và quan hệ giữa phạt vi phạm hợp đồng và trách nhiệm bồi thường thiệt hại.

So với BLDS năm 1995 thì “Bộ luật dân sự năm 2015” có nhiều điểm tiến bộ, tuy nhiên vấn đề phạt vi phạm hợp đồng lại không được xếp vào là một trong các loại TNDS, dù đây là một loại TNDS được áp dụng rất phổ biến trong đời sống xã hội hàng ngày. Bên cạnh đó, không có điều luật độc lập quy định về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và bồi thường thiệt hại, trong khi Luật thương mại năm 2005 có quy định riêng về mối quan hệ này tại Điều 307 và thậm chí BLDS năm 1995 cũng có quy định về vấn đề này tại Điều 379. Chính vì vậy, cần nhìn nhận và xếp phạt vi phạm vào phần TNDS do vi phạm nghĩa vụ và phải bổ sung một quy định về mối quan hệ giữa phạt vi phạm và BTTH như BLDS năm 1995 đã có.

2.3 Hoàn thiện các quy định của pháp luật về các trường hợp miễn trừ TNDS

Các căn cứ miễn trừ TNDS trong hợp đồng được quy định ở “Bộ luật dân sự 2015” và Luật thương mại 2005 vẫn còn có sự khác nhau, vì vậy cần có sự thống nhất giữa các văn bản pháp luật về các trường hợp được coi là căn cứ miễn trách nhiệm để hạn chế sự mâu thuẫn này. Luật thương mại đưa ra những căn cứ hợp lí và cụ thể nên xây dựng về căn cứ miễn trừ TNDS trong một văn bản hướng dẫn thống nhất với quy định của Luật thương mại năm 2005. Bổ sung thêm những điều kiện trong giao kết hợp đồng để đảm bảo quyền lợi giữa các bên, đặc biệt là sự kiện bất khả kháng cần được quy định cụ thể và rõ ràng hơn.

2.3 Phân định rõ các quy định về TNDS do vi phạm hợp đồng và ngoài hợp đồng

Có thể thấy, TNDS do vi phạm hợp đồng được quy định từ Điều 302 đến Điều 308 của bao gồm cả nghĩa vụ dân sự trong hợp đồng. Với cách tổ chức, sắp xếp điều luật như vậy làm cho sự phân định giữa TNDS trong hợp đồng và ngoài hợp đồng không được rõ ràng. Chính vì vậy, cần xếp riêng TNDS do vi phạm hợp đồng tại mục 7 chương XVII phần thứ III “hợp đồng dân sự” của “Bộ luật dân sự 2015” và những quy định về TNDS ngoài hợp đồng tại phần TNBTTH ngoài hợp đồng tại chương XXI của “Bộ luật dân sự 2015”.

Sửa đổi khoản 5 Điều 474 “Bộ luật dân sự 2015”, thêm vào cụm từ “trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác” như vậy mới đảm bảo sự thỏa thuận của các bên và nguyên tắc tự do trong giao kết hợp đồng

Việc hướng dẫn và giải thích những quy định của các cơ quan có thẩm quyền chưa kịp thời làm cho các cán bộ tiến hành tố tụng lung túng, không thống nhất trong việc hiểu và áp dụng pháp luật, vì vậy giải thích pháp luật là một yêu cầu cấp bách đê thực hiện tốt công tác của Tòa án, Viện kiểm sát nói chung và công tác xét xử nói riêng, giúp Hội đồng Giám đốc thẩm hoặc Tái thẩm khi xem xét lại các bản án hoặc quyết định có hiệu lực pháp luật có căn cứ pháp lý thống nhất để đánh giá vụ việc, thực hiện một cách nghiêm minh, thống nhất pháp luật về TNDS.

Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ Tòa án, Viện kiểm sát, đặc biệt là Thẩm phán, Kiểm sát viên trực tiếp làm công tác xét xử các vụ việc dân sự.

Với vai trò là người cầm cân nảy mực trong việc giải quyết các vụ án dân sự, năng lực, trình độ chuyên môn, kinh nghiệm có ý nghĩa quyết định đến kết quả giải quyết vụ việc. Vì vậy, việc không ngừng nâng cao trình độ chuyên môn, năng lưc của độ ngũ thẩm phán là việc cần thiết và lâu dài.

Một Số Ý Kiến Nhằm Hoàn Thiện Các Quy Định Về Thừa Kế Quyền Sử Dụng Đất Nông Nghiệp Ở Nước Ta Hiện Nay / 2023

Một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay

PHẠM THỊ BÍCH HẢO (Luật sư, Giám đốc Công ty Luật TNHH Đức An) TÓM TẮT: Như các loại tài sản khác, đất đai được để lại thừa kế từ bao đời nay ở Việt Nam. Đến nay, mặc dù đất đai thuộc sở hữu toàn dân, Nhà nước đại diện chủ sở hữu nhưng Nhà nước trao quyền sử dụng đất cho từng chủ thể sử dụng cụ thể và được để lại thừa kế. Mặc dù pháp luật về vấn đề này đã khá đầy đủ và thực thi khá hiệu quả song vẫn tồn tại nhiều bất cập, vướng mắc trên thực tế, nhất là đối với thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp. Bài viết cố gắng luận giải vấn đề đó, cả trên góc độ luật thực định lẫn góc độ thi hành và trên cơ sở đó đề xuất một số ý kiến nhằm hoàn thiện các quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở nước ta hiện nay. Từ khóa: Đất nông nghiệp, quyền thừa kế, thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

1. Một số vấn đề về pháp luật thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp

Đất đai là tài nguyên thiên nhiên vô cùng quý giá. Đất đai không phải là một hàng hóa thông thường vì đặc tính gắn liền với chủ quyền quốc gia, mọi hoạt động sản xuất, phát triển kinh tế, cá nhân, hộ gia đình, tổ chức đều trên cơ sở nền tảng tài nguyên đất đai. Trên thế giới, tồn tại nhiều hình thức sở hữu về đất đai như ở Pháp hiện còn tồn tại song hành hai hình thức sở hữu cơ bản: sở hữu tư nhân về đất đai và sở hữu nhà nước đối với đất đai và công trình xây dựng công cộng. Đất đai ở Trung Quốc thuộc sở hữu nhà nước, gồm sở hữu nhà nước và sở hữu tập thể, trong đó toàn bộ đất đai thành thị thuộc về sở hữu nhà nước. Ở Việt Nam, Nhà nước là người duy nhất có đầy đủ quyền năng của một chủ sở hữu đất đai và được hiến định. Nhà nước chiếm hữu, định đoạt đất đai thông qua các hoạt động điều tra khảo sát, đánh giá, phân loại đất, lập bản đồ địa chính, giao đất, cho thuê đất, thu hồi đất, công nhận và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, gia hạn quyền sử dụng đất, quy định hạn mức sử dụng đất, xác định khung giá các loại đất. Người sử dụng đất bao gồm hộ gia đình, cá nhân, tổ chức, người Việt Nam định cư ở nước ngoài trực tiếp khai thác các nguồn lợi từ đất. Người sử dụng đất được định đoạt hạn chế về quyền sử dụng đất, có các quyền chuyển nhượng, tặng cho, để lại thừa kế, cho thuê, cho thuê lại đất đai( [1]).

Quyền sử dụng đất đã có quá trình hình thành phát triển từ Luật Đất đai 1987, 1993, 2003 (được sửa đổi, bổ sung năm 2009) đến Luật Đất đai 2013 và ngày càng bổ sung, hoàn thiện hơn. Luật Đất đai năm 2013 và các văn bản pháp luật hướng dẫn thi hành đã tạo được hành lang pháp lý khá hoàn thiện điều chỉnh các quan hệ pháp luật về đất đai nói chung, quyền sử dụng đất và thừa kế quyền sử dụng đất nói riêng. Quyền sử dụng đất là quyền phái sinh từ quyền sở hữu. Những quyền này thực sự đã gần với quyền của chủ sở hữu đất đai, Nhà nước đã mở rộng quyền năng đối với người sử dụng đất nên đã phát huy hiệu quả khi sử dụng đất đai trong nền kinh tế thị trường. Nhà nước trao cho người sử dụng đất các quyền năng cụ thể: quyền chuyển đổi, chuyển nhượng, cho thuê, cho thuê lại, thừa kế, tặng cho, thế chấp, góp vốn quyền sử dụng đất. Với các quy định này, quyền sử dụng đất đã phát huy vai trò là quyền tài sản được định giá khi cho thuê, góp vốn và được chuyển nhượng trị giá bằng tiền, được để lại thừa kế là quyền tài sản có giá trị cho người nhận thừa kế.

Đối với đất nông nghiệp, trong các quyền năng của người sử dụng đất thì quyền thừa kế có vị trí hết sức đặc biệt. Quyền thừa kế được xác định là quyền tài sản (Điều 105 Bộ luật Dân sự 2015). Bộ luật Dân sự 2015 quy định quyền tài sản chỉ còn mang một đặc điểm duy nhất “có thể trị giá được bằng tiền” – tức là bất kỳ quyền nào đem lại giá trị kinh tế cho con người sẽ được coi là quyền tài sản( [2]). Bộ luật Dân sự 2015 không quy định về thừa kế quyền sử dụng đất, khi giải quyết việc chia thừa kế quyền sử dụng đất, Tòa án phải căn cứ vào quy định thừa kế tài sản và quy định của Luật Đất đai năm 2013 để giải quyết( [3]). Luật Đất đai 2013 quy định “cá nhân sử dụng đất có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật”. Đất đai do người chết để lại (không phân biệt có tài sản hay không có tài sản gắn liền với đất đai đó) mà đất đai này đã có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo thì quyền sử dụng đất là di sản thừa kế.

Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở Việt Nam dựa trên chế độ công hữu về tư liệu sản xuất. Theo đó, Hiến pháp 2013 quy định đất đai là tư liệu là tài sản công thuộc sở hữu toàn dân do Nhà nước đại diện chủ sở hữu và thống nhất quản lý, các chủ thể có quyền sử dụng và khai thác lợi ích từ đất. Theo quy định của pháp luật dân sự và đất đai quyền sử dụng đất là một loại quyền tài sản mà đối tượng của quyền thừa kế chính là quyền tài sản nên khi người có quyền sử dụng chết đi thì người thừa kế của họ có quyền nhận thừa kế theo quy định của pháp luật về thừa kế( [4]).

Quy định thừa kế quyền sử dụng đất có sự kế tục và bổ sung thêm quyền của người sử dụng đất nông nghiệp từ Bộ luật Dân sự 1995 với quy định người thừa kế cần phải có nhu cầu và trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích, chưa có đất. Trong trường hợp không có người thừa kế có đủ điều kiện quy định có nhu cầu sử dụng đất, có điều kiện trực tiếp sử dụng đất đúng mục đích; chưa có đất hoặc đang sử dụng đất dưới hạn mức theo quy định của pháp luật về đất đai hoặc có nhưng không được hưởng di sản, từ chối nhận di sản, thì Nhà nước sẽ thu hồi. Đến Bộ luật Dân sự 2005 thì: “cá nh ân được Nhà nước giao đất, cho thuê đất, nhận chuyển quyền sử dụng đất có quyền thừa kế quyền sử dụng đất theo quy định tại phần thứ tư của Bộ luật này và pháp luật về đất đai” (Điều 734)( [5]).

Bộ luật Dân sự 2015 không quy định về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp mà quy định tại Luật Đất đai 2013 hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp được Nhà nước giao trong hạn mức, đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất; đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc hoặc theo pháp luật. Hộ gia đình được Nhà nước giao đất, nếu trong hộ có thành viên chết thì quyền sử dụng đất của thành viên đó được để thừa kế theo di chúc hoặc theo pháp luật.

Từ các quy định trên, có thể đưa ra khái niệm: “Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp là để lại quyền sử dụng đất nông nghiệp theo di chúc hoặc theo pháp luật của cá nhân và hộ gia đình cho người được thừa kế theo quy định Luật Đất đai”.

Các quy định pháp luật ngày càng có sự đồng bộ, thống nhất và phù hợp với sự phát triển của đất nước qua từng thời kỳ. Giữa luật chung (Bộ luật Dân sự) và Luật chuyên ngành đã có sự đồng bộ không chồng chéo khi Bộ luật Dân sự quy định quy tắc chung, hình thức thực hiện và Luật Đất đai quy định điều kiện cụ thể và trình tự thực hiện.

Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp có một số điểm đặc thù về chủ thể sử dụng đất và chủ thể nhận thừa kế.

Chỉ những chủ thể pháp luật đất đai quy định được để lại thừa kế quyền sử dụng đất mới được để lại quyền thừa kế.

Người được để lại thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp theo quy định của Luật Đất đai bao gồm 2 chủ thể là hộ gia đình, cá nhân sử dụng đất nông nghiệp. Hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao trong hạn mức, đất được Nhà nước giao có thu tiền sử dụng đất, cho thuê đất trả tiền thuê đất một lần cho cả thời gian thuê, được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đất, đất nhận chuyển đổi, nhận chuyển nhượng, nhận tặng cho, nhận thừa kế thì có quyền để thừa kế quyền sử dụng đất của mình theo di chúc và theo pháp luật. So với các tài sản khác như động sản, vật, tiền thì người để lại thừa kế đã thu hẹp. Cụ thể: Tổ chức không có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất trong đó có đất nông nghiệp, người Việt Nam định cư ở nước ngoài không có quyền để lại thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp.

Về hình thức việc để lại thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp phải được công chứng, chứng thực và đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu tách thửa.

Tại Khoản 3 Điều 167 Luật Đất đai 2013 quy định: Văn bản về thừa kế quyền sử dụng đất, quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng hoặc chứng thực theo quy định của pháp luật về dân sự. Theo Luật Công chứng, di chúc phải được công chứng để đảm bảo tính hợp pháp đối với diện tích đất để lại thừa kế. Đối với di chúc thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp thì nếu thửa đất để lại cho nhiều người thừa kế mà người thừa kế có nhu cầu tách thửa thì cần đáp ứng diện tích tách thửa theo quy định tại Điều 143 Luật Đất đai 2013. Theo đó, căn cứ vào quy hoạch phát triển nông thôn đã được cơ quan nhà nước có thẩm quyền phê duyệt, ủy ban nhân dân cấp tỉnh quy định diện tích tối thiểu được tách thửa đối với đất ở phù hợp với điều kiện và tập quán tại địa phương. Trong thực tế, khi để lại thừa kế quyền sử dụng đất hộ gia đình, cá nhân viết di chúc chưa chú ý về diện tích tách thửa khi để lại thừa kế, nên khi mở thừa kế di chúc không có hiệu lực do chưa đủ điều kiện tách thửa theo quy định của pháp luật đất đai. Nhiều di chúc viết tay, không có công chứng nên đa số di chúc để lại thừa kế đất nông nghiệp không có hiệu lực.

Đối với đất trồng lúa thì Luật Đất đai quy định hộ gia đình, cá nhân không trực tiếp sản xuất nông nghiệp không được nhận chuyển nhượng, tặng cho đất trồng lúa.

Hiện nay, trường hợp người được nhận di sản thừa kế quyền sử dụng đất trồng lúa là cá nhân, thành viên trong hộ trực tiếp sản xuất nông nghiệp chưa được quy định rõ nếu trong hộ có thành viên không trực tiếp sản xuất đất nông nghiệp thì có được nhận thừa kế quyền sử dụng đất trồng lúa hay chỉ được nhận giá trị thừa kế quyền sử dụng đất trồng lúa. Nếu căn cứ theo Điều 131 Luật Đất đai 2013 thì hộ gia đình, cá nhân được Nhà nước giao đất cho mục đích sản xuất nông nghiệp tiếp tục được sử dụng đất nông nghiệp trong thời hạn sử dụng đất và không được tự ý chuyển mục đích sử dụng đất khi không được Nhà nước cho phép. Theo quy định Luật Đất đai hộ gia đình có thành viên không trực tiếp sản xuất nông nghiệp sẽ không được nhận thừa kế quyền sử dụng đất trồng lúa.

Với các quy định pháp luật đất đai mặc dù đã có nhiều điểm bổ sung quyền và nghĩa vụ của người để lại thừa kế nhưng các quy định vẫn chưa rõ ràng và còn bỏ ngỏ một số quy định cụ thể về quyền và nghĩa vụ của thành viên hộ gia đình, quyền thừa kế đất nông nghiệp đối với người Việt Nam định cư ở nước ngoài.

2. Thực trạng nghiên cứu về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong thời gian qua

Về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp đã được một số tác giả quan tâm nghiên cứu. Có thể kể đến:

Bài viết ” Một số vấn đề về thừa kế quyền sử dụng đất ” [Tưởng Duy Lượng, 2007] đã nghiên cứu lịch sử hình thành phát triển của thừa kế quyền sử dụng đất từ Bộ luật Dân sự 1995, Luật Đất đai 1993 đến Luật Đất đai 2003 thực sự coi quyền sử dụng đất như một loại tài sản. Mặt khác đã thể hiện rõ quyền được hưởng thừa kế quyền sử dụng đất của người Việt Nam định cư ở nước ngoài. Bài viết khẳng định Bộ luật Dân sự 2005 không còn có sự phân biệt việc thừa kế quyền sử dụng đất của cá nhân và hộ gia đình.

Bài viết ” Một số vấn đề khúc mắc về pháp luật thừa kế ” [Nguyễn Quang Lộc, 2019] tập trung nghiên cứu về Bộ luật Dân sự 2015 đã dành phần thứ tư để quy định về thừa kế. Tác giả đi sâu vào một số điểm còn vướng mắc về thừa kế trong Bộ luật này.

Bài viết ” Những khó khăn, vướng mắc trong giải quyết tranh chấp quyền sử dụng đất, tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và một vài kiến nghị ” [Tưởng Duy Lượng, 2020]. Kết quả nghiên cứu nhấn mạnh về thời hiệu khởi kiện chia thừa kế khó khăn vướng mắc đối với những trường hợp tính từ thời điểm mở thừa kế đến khi khởi kiện ra tòa án đã 50 hoặc 60 năm. Việc thu thập tài liệu, chứng cứ để giải quyết là vô cùng khó khăn với tất cả các bên tham gia tố tụng; việc áp dụng pháp luật, lựa chọn đường lối giải quyết thế nào cho hợp lý là vô cùng nan giải.

Tóm lại, các bài báo đã đi sâu nghiên cứu thừa kế quyền sử dụng đất từ Luật Đất đai 1993 đến Luật Đất đai 2003. Như nghiên cứu của tác giả Tưởng Duy Lượng đã phân tích quá trình phát triển của chế định thừa kế qua từng thời kỳ nhưng chỉ đến Luật Đất đai 2003. Còn từ Luật Đất đai 2013 đến nay, quy định về thừa kế đất nông nghiệp chưa được đề cập cụ thể.

Qua khảo sát về tình hình nghiên cứu tuy chưa được đầy đủ nhưng có thể thấy việc nghiên cứu quy định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp còn có những điểm chưa được quan tâm, nghiên cứu đầy đủ. Các tác giả đã đề cập đến tranh chấp quyền thừa kế và áp dụng pháp luật về thừa kế. Các bài viết vẫn bỏ ngỏ phần thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp và vướng mắc khi thực hiện. Vì vậy, với bài viết này, tác giả hy vọng sẽ góp thêm ý kiến về chế định thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp.

3. Một số vướng mắc về thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp ở một số trường hợp cụ thể

Thừa kế theo di chúc đối với một số trường hợp hộ gia đình khi để lại di chúc thì tự tách thửa cho những thành viên trong gia đình chưa tuân thủ diện tích tách thửa đối với đất nông nghiệp. Nếu di chúc hợp pháp nhưng diện tích tách thửa nhỏ thì có được tách thửa không? Nên có quy định cụ thể trong văn bản hướng dẫn về diện tích tách thửa khi để lại thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp.

Thừa kế quyền sử dụng đất nông nghiệp trong trường hợp không có giấy tờ thì gặp khó khăn khi khai nhận thừa kế, chia thừa kế vì không đủ điều kiện để lại di sản thừa kế. Theo số liệu thống kê năm 2018, toàn thành phố Hà Nội mới cấp được giấy xác nhận đăng ký đất đai lần đầu cho 86.793/94.841 thửa đất tăng thêm. Sở dĩ cơ quan chức năng chưa cấp giấy cho gần 5.000 trường hợp trên là do một số nguyên nhân như: Người đứng tên trên giấy chứng nhận không có mặt tại địa phương; chủ đất đã chết; trong gia đình chưa thỏa thuận được di sản thừa kế, tranh chấp, khiếu kiện; chuyển nhượng không có giấy tờ; hoặc chủ đất không hợp tác kê khai(5). Thực tế, nhiều thửa đất nông nghiệp chưa sang tên được cho người được thừa kế vì chưa có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

4. Kết luận và một số kiến nghị

Để việc nhận thừa kế và sang tên quyền sử dụng đất tránh vướng mắc tác giả đề xuất như sau:

Thứ nhất: Đẩy mạnh tuyên truyền pháp luật về di chúc, chia thừa kế theo pháp luật để người dân thực hiện đúng việc di chúc công chứng đối với quyền sử dụng đất. Để tránh tranh chấp quyền sử dụng đất, nên lập di chúc phân chia quyền sử dụng đất cho thành viên trong gia đình rõ ràng, phân định rõ quyền và nghĩa vụ.

Thứ hai: Người để lại di chúc quyền sử dụng đất cần chú ý về diện tích tối thiểu để người nhận thừa kế có thể tách thửa. Diện tích đất để lại di chúc phải đáp ứng điều kiện về diện tích tối thiểu tách thửa để người nhận thừa kế sang tên khi nhận thừa kế. Đất nông nghiệp khi tách thửa cũng cần phù hợp với quy hoạch chung của địa phương nơi có đất. Nên hạn chế tách thửa đất nông nghiệp, pháp luật đất đai cần bổ sung quy định người nhận thừa kế có trách nhiệm sử dụng, phát triển tăng hiệu quả của đất nông nghiệp.

Thứ ba: Đối với đất nông nghiệp chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất không đủ điều kiện để lại thừa kế. Chính phủ cần bổ sung quy định hướng dẫn về cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với các thửa đất nông nghiệp không có giấy tờ để người sử dụng đất có cơ sở để lại thừa kế quyền sử dụng đất.

Thứ tư: Luật Đất đai nên sửa đổi thời hạn sử dụng đất nông nghiệp là ổn định, lâu dài đối với đất nông nghiệp hoặc quy định thời hạn đến 70 năm để tạo tâm lý ổn định, gắn bó với đất nông nghiệp để người dân làm nông nghiệp đầu tư vào đất và phát huy hiệu quả sử dụng đất.

Thừa kế quyền sử dụng đất là một trong những quyền của hộ gia đình đang trực tiếp sử dụng đất nông nghiệp. Để quyền thừa kế được đảm bảo tốt nhất, Nhà nước cũng cần có quy định cụ thể hơn trong văn bản hướng dẫn Luật Đất đai về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với trường hợp đất không có giấy tờ, đất khai hoang. Từ đó, đảm bảo diện tích đất nông nghiệp được sử dụng đúng mục đích, đúng đối tượng và phát huy tốt nhất hiệu quả sử dụng đất nông nghiệp.

TÀI LIỆU THAM KHẢO:

Nguyễn Quang Tuyến (Chủ biên 2018). Pháp luật Đất đai Việt Nam từ năm 1945 đến nay. Nhà Xuất bản Chính trị Quốc gia Sự thật.

Nguyễn Hoàng Long. Quyền tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2015. https://www.tapchitoaan.vn/bai-viet/phap-luat/quyen-tai-san-theo-quy-dinh-cua-bo-luat-dan-su-nam-2015.

Tưởng Duy Lượng (2007). Một số vấn đề về thừa kế quyền sử dụng đất, Tạp chí Nghề luật. https://danluat.thuvienphapluat.vn/mot-so-van-de-ve-thua-ke-quyen-su-dung-dat-76377.aspx.

Nguyễn Lan Hương (2018). Một số bất cập của pháp luật Việt Nam về thời hạn sử dụng đất nông nghiệp và hướng hoàn thiện. http://tapchitaichinh.vn/nghien-cuu-trao-doi/nghien-cuu-dieu-tra/mot-so-bat-cap-cua-phap-luat-viet-nam-ve-thoi-han-su-dung-dat-nong-nghiep-va-huong-hoan-thien-142809.html.

Lâm Nguyễn (2019). Hà Nội còn gần 5.000 trường hợp chưa cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sau dồn điền đổi thửa. http://kinhtedothi.vn/ha-noi-con-gan-5000-truong-hop-chua-cap-giay-chung-nhan-quyen-su-dung-dat-sau-don-dien-doi-thua

Nguyễn Trọng Tuấn (2017). Kinh nghiệm quản lý đất đai của một số nước trên thế giới, Tạp chí Tài nguyên và Môi trường. http://vnmonre.vn/kinh-nghiem-quan-ly-dat-dai-cua-mot-so-nuoc-tren-the-gioi

Some recomemdations to perfect the regulations on the inheritance

of the agricultural land use right in Vietnam

Lawyer Pham Thi Bich Hao

Director, Duc An Law Firm

Like other types of property, land is inherited from many generations in Vietnam. Although the land is owned by the entire people and the State represents the owner, the State grants the land use rights to each specific user and allows the inheritance of the land use rights. Despite Vietnam has a quite effective and completed legal framework for governing land issues, there are still many shortcomings and problems, especially the inheritance of the agricultural land use right. This paper is to explain issues related to the inheritance of the agricultural land use right from the views of law enforcement and law practices, thereby proposing some recommendations to perfect the regulations on the inheritance of the agricultural land use right in Vietnam.

Keywords: Agricultural land, inheritance, inheriting the agricultural land use right.

[Tạp chí Công Thương – Các kết quả nghiên cứu khoa học và ứng dụng công nghệ, Số 22, tháng 9 năm 2020]

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Kiến Nghị Hoàn Thiện Quy Định Về Xóa Án Tích / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!