Xu Hướng 3/2024 # Một Số Vấn Đề Về Ngữ Pháp Văn Bản Tiếng Việt (Tóm Tắt) # Top 11 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Một Số Vấn Đề Về Ngữ Pháp Văn Bản Tiếng Việt (Tóm Tắt) được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Lê Đình Tư

1. Tổng quan

1.1 Ngữ pháp văn bản, ngôn ngữ học văn bản và văn bản học

Ngữ pháp văn bản ra đời nhằm giải quyết những hạn chế của ngữ pháp trong phạm vi câu. Tuy nhiên, cách gọi tên bộ môn ngôn ngữ học này trong tiếng Việt có phần không chính xác, không phản ánh đúng quan niệm được chấp nhận trong ngôn ngữ học Âu châu, bởi vì thuật ngữ văn bản (text) của các ngôn ngữ Âu châu có thể gây ra sự hiểu nhầm trong tiếng Việt, nơi mà thuật ngữ này vẫn được hiểu theo nghĩa hẹp hơn: ‘sản phẩm ngôn ngữ viết’ hay ‘ngôn phẩm viết’. Do vậy, cần phải hiểu từ ‘văn bản’ theo nghĩa rộng hơn. Ở đây thuật ngữ ‘ngữ pháp văn bản’ bao hàm việc nghiên cứu văn bản không chỉ với tư cách là loại ngôn phẩm viết, mà còn cả với tư cách là những ngôn phẩm nói có cấu trúc của những chỉnh thể trên câu. Như vậy, với tư cách là một thuật ngữ ngôn ngữ học, ‘văn bản’ trong tiếng Việt từ nay cũng bao gồm cả những ngôn phẩm nói.

Ngữ pháp văn bản thường được dùng như là một thuật ngữ đồng nghĩa với ngôn ngữ học văn bản, tuy rằng ngôn ngữ học văn bản có phạm vi nghiên cứu rộng hơn, ví dụ như nó nghiên cứu cả những vấn đề siêu văn bản (hipertekst). Bên cạnh hai thuật ngữ tương đương này còn có một thuật ngữ khác dùng để chỉ một bộ môn khoa học khác nhưng đôi khi lại được dùng theo nghĩa giống như ngữ pháp văn bản, đó là văn bản học (tekstologia) (ví dụ: J. Bartmiński ). Tuy nhiên, theo cách hiểu của phần lớn các nhà ngôn ngữ học thì ‘ngữ pháp văn bản’ và ‘văn bản học’ là hai lĩnh vực khoa học khác nhau, vì quan tâm đến những vấn đề khác nhau: ‘văn bản học’ thường được dùng với nghĩa là ngành khoa học nghiên cứu các văn bản (chủ yếu là văn học) dưới góc độ so sánh nhằm tìm ra những thay đổi trong những văn bản đó. Mục đích chủ yếu của ‘văn bản học’ là phát hiện những chỗ sai sót hay khác biệt của các văn bản để xác định văn bản gốc và các dị bản, những chỗ sáng tạo trong văn bản, lai lịch của văn bản hoặc để phục vụ cho công việc biên tập.

1.2. Nghiên cứu ngữ pháp văn bản trên thế giới và ở Việt Nam Ngữ pháp văn bản phát triển thành một bộ môn nghiên cứu độc lập trải qua 4 giai đoạn:

(ii) Giai đoạn sơ khai: những năm 30 – 40 của thế kỷ XX. Đó là giai đoạn xuất hiện những công trình nghiên cứu văn bản ít nhiều có dịnh hướng ngôn ngữ học (ví dụ như của nhà ngôn ngữ học Tiệp Khắc Mathesius).

(iii) Giai đoạn tự khẳng định: những năm 50 – 60 của thế kỷ XX. Đây là giai đoạn hình thành và bổ sung các khái niệm cơ bản của ngữ pháp văn bản, xác định đối tượng và mục đích nghiên cứu của nó. Trong giai đoạn này bắt đầu xuất hiện các tung tâm nghiên cứu ở Tiệp Khắc hay ở Liên Xô (cũ). Ngoài ra, các ý kiến chuyên môn của những tên tuổi lớn trong ngôn ngữ học như L. Hjemslev hay H. Weinrich cũng đã góp phần làm cho ngữ pháp văn bản trở thành một lĩnh vực nghiên cứu độc lập.

(iv) Giai đoạn phát triển mạnh mẽ: từ những năm 70 đến nay. Ở giai đoạn này, ngữ pháp văn bản đã trở thành một lĩnh vực nghiên cứu độc lập. Người ta đã xây dựng và hoàn thiện được hệ thống khái niệm cơ bản, khẳng định văn bản là đơn vị lớn nhất của ngôn ngữ. Bên cạnh đó, ngữ pháp văn bản trong giai đoạn hiện tại không còn bị giới hạn trong việc nghiên cứu cấu trúc nội tại của văn bản mà còn mở rộng phạm vi nghiên cứu tới những đặc trưng hướng ngoại của nó. Xuất hiện ngày càng nhiều các công trình nghiên cứu về mối quan hệ giữa các kiểu ứng xử và những đặc trưng xã hội hoặc văn hóa của con người, ví dụ: Trường phái Anh-Mỹ (Halliday, Hymes), các công trình nghiên cứu về ngữ dụng (Grice), hay phân tích hội thoại (Goffman, Jefferson).

Ở Việt Nam, nghiên cứu về ngữ pháp văn bản còn chưa có nhiều, tuy rằng cũng đã thu được những kết quả nhất định, nhất là trong lĩnh vực nghiên cứu về tính liên kết (Kohezja) của văn bản (ví dụ: Trần Ngọc Thêm) và tính mạch lạc (Koherencja) văn bản (ví dụ: Diệp Quang Ban). Cũng đã có một số nhà nghiên cứu (ví dụ: Đỗ Hữu Châu) bắt đầu quan tâm đến việc nghiên cứu cấu trúc hướng ngoại của văn bản. Ngoài ra, có một số nhà nghiên cứu (ví dụ: Đinh Trọng Lạc, Cù Đình Tú) vẫn tiếp tục đường hướng nghiên cứu về phong cách của văn bản.

2. Khái niệm về văn bản và văn bản tiếng Việt

2.1 Một vài quan niệm về văn bản Thuật ngữ ‘văn bản’ trong các ngôn ngữ Ấn-Âu đều bắt nguồn từ chữ La-tinh ‘textus’ có nghĩa là ‘dây bện, vải’. Trong ngôn ngữ học, ‘văn bản’ đã được định nghĩa theo những cách khác nhau. Trên địa bàn tiếng Việt chẳng hạn, Đinh Trọng Lạc quan niệm: “Văn bản … là một thể thống nhất toàn vẹn được xây dựng theo những quy tắc nhất định”. Hữu Đạt thì cho rằng: “Văn bản là một tập hợp các câu (hay phát ngôn) được kết hợp với nhau theo một phương thức nhất định đảm bảo cho việc truyền đạt thông tin có hiệu quả và chính xác.” Định nghĩa của Trần Ngọc Thêm có phần đơn giản hơn: Văn bản là chỉnh thể thống nhất và trọn vẹn về nội dung và hình thức. Nhưng ông cũng khẳng định thêm: “Văn bản là một hệ thống mà trong đó các câu mới chỉ là các phần tử. Ngoài các câu–phần từ, trong hệ thống văn bản còn có cấu trúc. Cấu trúc của văn bản chỉ ra vị trí của mỗi câu và những mối quan hệ, liên hệ của nó với những câu xung quanh nói riêng và với toàn văn bản nói chung. Sự liên kết là mạng lưới của những quan hệ và liên hệ ấy.”. Hiện nay, trong tiếng Việt, ‘văn bản’ được quan niệm là đơn vị cao nhất của ngôn ngữ. Đó là một chỉnh thể gồm một hay nhiều đoạn văn được liên kết chặt chẽ với nhau để thể hiện một nội dung hoàn chỉnh chung.

2.2 Các bình diện của văn bản Văn bản là một chỉnh thể, trong đó có thể phân biệt ba bình diện:

(i) Bình diện ngữ kết (hay cấu tạo hình thức)

(ii) Bình diện ngữ nghĩa (hay cấu tạo nội dung)

(iii) Bình diện ngữ dụng

(còn nữa) ___________________________________________________

Share this:

Twitter

Facebook

Like this:

Số lượt thích

Đang tải…

Một Số Vấn Đề Cơ Bản Về Xây Dựng Luật Ban Hành Văn Bản Pháp Luật Của Việt Nam

Việc xây dựng một hệ thống pháp luật hiệu quả là yếu tố rất quan trọng, cần thiết cho sự thịnh vượng,

giàu mạnh của các quốc gia. Nhằm đáp ứng yêu cầu hội nhập quốc tế và tình hình mới, phát huy tính dân chủ trong hoạt động xây dựng, ban hành văn bản pháp luật, đồng thời khắc phục tình trạng hệ thống pháp luật cồng kềnh, phức tạp, thiếu tính ổn định, tính khả thi. Việt Nam đang tiến hành xây dựng Dự án Luật ban hành văn bản pháp luật (Dự thảo Luật), thay thế Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 và Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật của Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân năm 2004, dự kiến, sẽ được Quốc hội thông qua vào Kỳ họp thứ chín (tháng 5-2024). Tuy nhiên, hiện nay, Dự thảo Luật đang nổi lên một số vấn đề lớn như sau:

1. Về khái niệm văn bản pháp luật

Đa số luật về trình tự, thủ tục ban hành văn bản pháp luật của các nước trên thế giới không quy định thế nào là văn bản pháp luật (khái niệm văn bản pháp luật). Những nước (trong đó có Việt Nam) quy định về khái niệm văn bản pháp luật (hoặc khái niệm “văn bản quy phạm pháp luật”), nhìn chung thường phân loại văn bản pháp luật thành ba nhóm cơ bản: Văn bản quy phạm pháp luật; văn bản pháp luật chủ đạo; văn bản pháp luật cá biệt (văn bản áp dụng pháp luật). Theo cách phân loại này, văn bản quy phạm pháp luật được hiểu là loại văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành hoặc thông qua, có chứa đựng các quy tắc chung; có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần trong đời sống xã hội (Ví dụ, Hiến pháp, luật, pháp lệnh ở Việt Nam…); văn bản pháp luật mang tính chủ đạo được hiểu là loại văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định, có thể được áp dụng nhiều lần, để đề ra những chủ trương, chính sách, nhiệm vụ lớn có tính chiến lược, hay để quyết định những vấn đề quan trọng của đất nước…, nội dung rất cô đọng, khái quát, mang tính định hướng… (ví dụ, Nghị quyết của Quốc hội, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ và Hội đồng nhân dân ở Việt Nam); văn bản pháp luật cá biệt được hiểu là loại văn bản do các cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành theo trình tự, thủ tục và hình thức nhất định, trên cơ sở căn cứ vào văn bản quy phạm pháp luật hoặc văn bản pháp luật chủ đạo để giải quyết những vụ việc cụ thể, được áp dụng một lần (ví dụ, các quyết định hành chính về khen thưởng, kỷ luật cán bộ; bản án của Tòa án…). Như vậy, theo nhận thức chung của các nước trên thế giới, nội hàm của khái niệm văn bản pháp luật là rất rộng, đa dạng và phong phú so với nội hàm của văn bản quy phạm pháp luật, hay nói cách khác, văn bản quy phạm pháp luật là một loại văn bản pháp luật.

Dự thảo Luật của ta quy định văn bản pháp luật “là văn bản có chứa quy tắc xử sự chung, có hiệu lực bắt buộc chung, được áp dụng nhiều lần đối với mọi cá nhân, tổ chức trong phạm vi cả nước hoặc địa giới hành chính nhất định, do cơ quan nhà nước ban hành theo đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này và được Nhà nước bảo đảm thực hiện”; đồng thời, khẳng định: “Văn bản được ban hành không đúng thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục quy định trong Luật này thì không phải là văn bản pháp luật”. Quy định này hiện nay còn nhiều ý kiến khác nhau. Có quan điểm cho rằng văn bản pháp luật không chỉ có chứa các quy tắc xử sự chung mà còn chứa các nguyên tắc, khái niệm pháp lý (ví dụ như quy định về khái niệm văn bản pháp luật trong Dự Luật này, nó xác định một nội hàm của khái niệm văn bản pháp luật, phạm vi các văn bản là văn bản pháp luật, quy định một cách hiểu thống nhất). Có quan điểm cho rằng, văn bản pháp luật không chỉ do cơ quan nhà nước có thẩm quyền ban hành mà có thể do người có thẩm quyền ban hành. Có quan điểm cho rằng văn bản pháp luật không chỉ do cơ quan nhà nước (hoặc người) có thẩm quyền ban hành mà có thể do các cơ quan nhà nước (hoặc người) có thẩm quyền phối hợp ban hành…

Như vậy, hiện nay, trên thế giới, cũng như ở Việt Nam khái niệm văn bản pháp luật còn chưa có cách hiểu thống nhất, chưa có một cách hiểu nào có thể cho là đầy đủ, rõ ràng, chặt chẽ. Trong khi đó, Dự thảo Luật lại quy định văn bản pháp luật theo hướng có nội hàm như văn bản quy phạm pháp luật, hay nói cách khác là dùng khái niệm văn bản quy phạm pháp luật để làm khái niệm văn bản pháp luật, điều này thể hiện sự gượng ép và làm cho khái niệm văn bản pháp luật chưa thật đầy đủ, chặt chẽ, chính xác. Mục đích của Dự thảo Luật là muốn thu gọn hình thức các văn bản pháp luật, giảm sự cồng kềnh, phức tạp của hệ thống pháp luật của nước ta như hiện nay nhưng lại đưa khái niệm rất trừu tượng, có nội hàm rất rộng là không phù hợp. Do đó, để bảo đảm chính xác, chặt chẽ, tương thích với tên gọi của Dự thảo Luật, có thể không cần quy định khái niệm văn bản pháp luật, đồng thời quy định phạm vi điều chỉnh theo hướng liệt kê (chỉ quy định nguyên tắc, thẩm quyền, hình thức, trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành và tổ chức thi hành Luật, nghị quyết của Quốc

hội, Pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, Nghị định của Chính phủ, Quyết định của Thủ tướng Chính phủ, Nghị quyết của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao, Thông tư của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Nghị quyết của Hội đồng nhân dân, Quyết định của Ủy ban nhân dân các cấp).

2. Về phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật

Để bảo đảm thực sự đầy đủ, chặt chẽ, tương thích với tên gọi của Dự Luật, có thể mở rộng phạm vi điều chỉnh, ngoài quy định về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành các văn bản quy phạm pháp luật, còn quy định cả về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật mang tính chủ đạo và văn bản pháp luật cá biệt. Tuy nhiên, trình tự, thủ tục ban hành mỗi loại văn bản rất khác nhau, nếu quy định chung trong cùng một luật sẽ gặp nhiều khó khăn, phức tạp, đòi hỏi phải có nhiều thời gian nghiên cứu và sự đầu tư về trí tuệ, công sức, nhân lực thỏa đáng, nếu với quỹ thời gian dành cho xây dựng Dự thảo Luật như dự kiến hiện nay sẽ hầu như không thể hoàn thành theo đúng kế hoạch.

Đồng thời, nếu mở rộng phạm vi điều chỉnh của Dự thảo Luật sẽ không làm rõ được tính đặc thù, vai trò của quyền lập pháp và ủy quyền lập pháp của Quốc hội. Do đó, Dự Luật chỉ nên quy định về trình tự, thủ tục, trách nhiệm của các cơ quan nhà nước trong việc xây dựng, ban hành các văn bản pháp luật chung (giống như văn bản quy phạm pháp luật mà Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008 của Việt Nam đã quy định) thì việc thực hiện sẽ thuận lợi hơn, trên cơ sở hai luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành, chỉ cần điều chỉnh về kỹ thuật, sửa đổi, bổ sung một số vấn đề cần thiết.

3. Về hình thức và thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật

Để phù hợp với Hiến pháp năm 2013 và nhằm thu gọn, giảm sự cồng kềnh, phức tạp của hệ thống pháp luật của nước ta, trong Dự Luật lần này quy định theo hướng không xác định hình thức một số văn bản (nghị quyết liên tịch giữa Ủy ban Thường vụ Quốc hội hoặc giữa Chính phủ với cơ quan Trung ương của tổ chức chính trị – xã hội…) là văn bản pháp luật và không quy định thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của Chánh án Tòa án nhân dân tối cao, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tối cao, Tổng Kiểm toán Nhà nước… Cách làm này là hợp lý, vì sẽ làm cho hệ thống pháp luật gọn nhẹ, dễ tiếp cận, dễ áp dụng, dễ tuân thủ và đương nhiên sẽ tiết kiệm được tiền của của Nhà nước và nhân dân.

Tuy nhiên, cũng cần cân nhắc việc không quy định thẩm quyền ban hành văn bản pháp luật của chính quyền cấp huyện, cấp xã, vì thực tế các chủ thể này vẫn cần ban hành văn bản pháp luật để thực hiện chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn của mình, bảo đảm việc thi hành Hiến pháp và pháp luật tại địa phương, quyết định các vấn đề ở địa phương do luật định, trên cơ sở phân định thẩm quyền giữa mỗi cấp chính quyền địa phương, theo như Hiến pháp năm 2013.

Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh là kế hoạch mang tính định hướng cho phát triển lập pháp. Trên thế giới, một số nước có xây dựng chương trình xây dựng luật (Trung Quốc, Azebaizan, Kyrgystan…), một số nước không xây dựng chương trình xây dựng luật (Cộng hòa Pháp, Canada…). Như vậy, trên thế giới không có một nguyên tắc bắt buộc nào về việc phải xây dựng chương trình xây dựng luật hoặc không phải xây dựng chương trình xây dựng luật, mà tùy thuộc vào điều kiện, hoàn cảnh, mỗi một quốc gia sẽ tự quyết định về cách thức xây dựng luật của mình cho phù hợp.

Ở Việt Nam hiện nay, cách thức xây dựng pháp luật theo quy định hiện hành phải có Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm của Quốc hội, được xây dựng trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ. Đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng đương nhiên đã là những định hướng, kế hoạch lớn, lâu dài về xây dựng Đảng và đất nước, trong đó có định hướng xây dựng hệ thống pháp luật (ví dụ như Nghị quyết 48-NQ/TW ngày 24-5-

2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật Việt Nam đến năm 2010, định hướng đến năm 2024). Cách xây dựng pháp luật này vẫn đang được đánh giá là tốt, hệ thống pháp luật nước ta đang ngày một đầy đủ, hoàn thiện hơn, phát huy hiệu lực, hiệu quả cao. Do vậy, việc xây dựng pháp luật ở nước ta vẫn cần phải có Chương trình xây dựng luật, pháp lệnh nhiệm kỳ và chương trình xây dựng luật, pháp lệnh hằng năm của Quốc hội.

5. Về quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo văn bản

Dự thảo Luật quy định tách bạch giữa quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo luật, pháp lệnh, nghị định, nghị quyết của Hội đồng nhân dân cấp tỉnh, quy trình xây dựng chính sách được thực hiện, thông qua hoặc phê duyệt trước khi soạn thảo văn bản pháp luật. Thực tế hiện nay, quy trình lập pháp của nhiều nước phát triển trên thế giới rất khoa học, chặt chẽ, kỹ lưỡng, chuyên nghiệp, chú trọng đến hình thành, phân tích chính sách trước khi soạn thảo văn bản luật và rất tốn kém. Quy trình xây dựng chính sách các nước này thường do Chính phủ (thể hiện chính sách của Đảng cầm quyền) thực hiện trước khi soạn thảo văn bản luật, việc soạn thảo văn bản luật là do những cơ quan soạn thảo rất chuyên nghiệp, độc lập, có tính chuyên môn cao.

Do đặc thù của hệ thống chính trị nước ta chỉ có duy nhất một Đảng cầm quyền, quy trình lập pháp hiện hành không tách bạch giữa quy trình xây dựng chính sách với quy trình soạn thảo văn bản pháp luật. Trên cơ sở đường lối, chủ trương, chính sách của Đảng, chiến lược phát triển kinh tế – xã hội, quốc phòng, an ninh và yêu cầu quản lý nhà nước trong từng thời kỳ việc hình thành, đề xuất chính sách cụ thể được tiến hành đồng thời với việc soạn thảo văn bản pháp luật. Sau khi Dự thảo Luật được Quốc hội xem xét, cho ý kiến, Ủy ban Thường vụ Quốc hội là cơ quan chịu trách nhiệm chỉ đạo, tổ chức việc nghiên cứu, tiếp thu, chỉnh lý Dự thảo Luật. Do đó, cơ quan soạn thảo, trình Dự án Luật không có trách nhiệm bảo vệ Dự thảo Luật do mình trình đến khi được Quốc hội thông qua, cũng có nghĩa là chính sách đề xuất ban đầu có thể được điều chỉnh, bổ sung, thay đổi bởi các cơ quan khác. Cách làm này phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta, không tốn kém, vẫn được đánh giá là tốt, chưa có vướng mắc. Mặt khác, về lý luận cũng như trên thực tế rất khó phân biệt giữa quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo văn bản, vì chính sách là nội dung, là hồn, cốt, là ý chí của Nhà nước (pháp luật), còn văn bản pháp luật chỉ là hình thức thể hiện của chính sách.

Bên cạnh đó, nếu xây dựng, thông qua hoặc phê duyệt chính sách xong mới soạn thảo văn bản pháp luật thì nhiều khi chính sách đã trở lên lạc hậu, không đáp ứng tính kịp thời đòi hỏi của đời sống xã hội.

6. Về trách nhiệm của cơ quan trình

Dó đó, thiết nghĩ để phù hợp với điều kiện, hoàn cảnh nước ta, Dự thảo Luật nên giữ quy trình xây dựng chính sách và quy trình soạn thảo văn bản pháp luật như quy định về quy trình soạn thảo văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Dự án Luật, pháp lệnh trong quá trình chỉnh lý Dự thảo Luật, pháp lệnh Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành quy định giao cho cơ quan thẩm tra của Quốc hội chủ trì phối hợp với cơ quan trình dự án, các cơ quan hữu quan chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết sau khi lấy ý kiến Quốc hội. Quy định này là phù hợp với vai trò của Quốc hội là làm luật và sửa đổi luật; bảo đảm chất lượng, số lượng các dự án luật; đồng thời, cũng tăng cường vai trò, trách nhiệm của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Hội đồng dân tộc và các ủy ban của Quốc hội trong công tác lập pháp, góp phần thể hiện đầy đủ nhất ý kiến các vị đại biểu Quốc hội, khắc phục tình trạng cục bộ, lợi ích nhóm trong hoạch định, ban hành chính sách, pháp luật. Mặt khác, thực tiễn lập pháp thời gian qua cho thấy, cách làm này cũng không hạn chế vai trò của cơ quan trình dự án luật, pháp lệnh, nghị quyết, đồng thời, cách làm này vẫn được đánh giá là tốt, số lượng và chất lượng luật, pháp lệnh, nghị quyết được ban hành đã được nâng lên rất nhiều.

Dự thảo Luật nên tiếp tục quy định giao cho cơ quan thẩm tra của Quốc hội chủ trì phối hợp với cơ quan trình dự án, các cơ quan hữu quan chỉnh lý các dự án luật, pháp lệnh sau khi lấy ý kiến Quốc hội, như Luật ban hành văn bản quy phạm pháp luật hiện hành.

Dự thảo Luật quy định Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền không áp dụng quy định cụ thể trong văn bản pháp luật của Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có nội dung trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ. Về cơ chế xử lý các văn bản pháp luật trái với các văn bản pháp luật của cơ quan cấp trên, trong đó có Hiến pháp, Hiến pháp năm 2013 đã quy định: Quốc hội có thẩm quyền bãi bỏ văn bản của Chủ tịch nước, Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội (khoản 10 Điều 70); Ủy ban Thường vụ Quốc hội có thẩm quyền đình chỉ thi hành văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội và trình Quốc hội bãi bỏ; bãi bỏ văn bản của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Tòa án nhân dân tối cao,

Viện kiểm sát nhân dân tối cao trái pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (khoản 4 Điều 74); Chủ tịch nước có thẩm quyền đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội xem xét lại pháp lệnh (khoản 1 Điều 88); Thủ tướng Chính phủ có thẩm quyền đình chỉ việc thi hành hoặc bãi bỏ văn bản của Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang bộ, Ủy ban nhân dân, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trái Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên; đình chỉ việc thi hành nghị quyết của Hội đồng nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương ương trái Hiến pháp, luật và văn bản của cơ quan nhà nước cấp trên, đồng thời đề nghị Ủy ban Thường vụ Quốc hội bãi bỏ (khoản 4 Điều 98).

Do đó, để bảo đảm tính thống nhất, tránh sự tùy tiện trong việc giải thích, áp dụng pháp luật và phù hợp với Hiến pháp, không nên quy định Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao có quyền không áp dụng quy định cụ thể trong văn bản pháp luật của Bộ, cơ quan ngang bộ, Hội đồng nhân dân, Ủy ban nhân dân có nội dung trái Hiến pháp, luật, nghị quyết của Quốc hội, pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, lệnh, quyết định của Chủ tịch nước, nghị định của Chính phủ, quyết định của Thủ tướng Chính phủ.

Ths. Nguyễn Uyên Minh(Ban Nội chính Trung ương)

Trao Đổi Một Số Vấn Đề Về Văn Bản Ủy Quyền

Theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2024 và Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2024 thì cá nhân, pháp nhân có thể ủy quyền cho cá nhân, pháp nhân khác xác lập, thực hiện giao dịch dân sự, trừ những trường hợp pháp luật quy định họ phải tự mình xác lập, thực hiện giao dịch đó. Khi cá nhân, pháp nhân có yêu cầu Tòa án giải quyết vụ việc dân sư, nếu cá nhân, pháp nhân không tự mình tham gia tố tụng tại Tòa án thì họ có thể ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng, giữa đương sự với người đại diện theo ủy quyền phải xác lập văn bản ủy quyền. Vậy, văn bản ủy quyền này có được lập tại Tòa án nơi đương sự yêu cầu giải quyết vụ án hay không? Trong phạm vi bài này, người viết xin đề cập một số vấn đề về văn bản ủy quyền và địa điểm xác lập văn bản ủy quyền.

Để giải quyết một vụ án dân sự cần có sự tham gia của các đương sự với tư cách tham gia tố tụng khác nhau. Đương sự hoặc người đại diện của đương sự tham gia tố tụng dân sự tại Tòa án có ý nghĩa rất quan trọng trong việc bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của chính người đó, cũng như việc làm rõ sự thật của vụ án. Trong thực tiễn có những vụ án dân sự do chính đương sự tham gia hoặc ủy quyền cho người khác tham gia tố tụng tại Tòa án. Tuy nhiên, không phải bất kỳ vụ án dân sự nào, người tham gia tố tụng cũng có quyền ủy quyền cho người khác. Chẳng hạn như đối với việc ly hôn, đương sự không được ủy quyền cho người khác thay mặt mình tham gia tố tụng. Trường hợp cha, mẹ, người thân thích khác yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn khi một bên vợ, chồng do bị bệnh tâm thần hoặc mắc bệnh khác mà không thể nhận thức, làm chủ được hành vi của mình, đồng thời là nạn nhân của bạo lực gia đình do chồng, vợ của họ gây ra làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến tính mạng, sức khỏe, tinh thần của họ thì cha, mẹ, người thân thích là người đại diện.

Văn bản ủy quyền có thể là Giấy ủy quyền hoặc Hợp đồng ủy quyền. Bộ luật Dân sự năm 2005, Bộ luật Dân sự năm 2024 cũng như Luật Công chứng năm 2006, Luật Công chứng năm 2014 không quy định về hình thức Giấy ủy quyền. Tuy nhiên, trên thực tế Giấy ủy quyền vẫn được sử dụng và cũng được công chức, chứng thực như Hợp đồng ủy quyền. Sự khác biệt giữa hai loại văn bản này như thế nào và cả hai loại văn bản này được xác lập tại đâu? Tại tổ chức hành nghề công chứng, Ủy ban nhân dân hay xác lập tại Tòa án? Đây là những vấn đề cần bàn luận.

Khi giao kết Hợp đồng ủy quyền theo quy định của pháp luật phải có sự tham gia ký kết của bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền; ngược lại, Giấy ủy quyền thì không bắt buộc phải có hai bên xác lập Giấy ủy quyền, việc lập Giấy ủy quyền không đòi hỏi người có tên được ủy quyền phải đồng ý và không buộc người đó phải thực hiện các công việc ghi trong giấy ủy quyền. Tuy nhiên, cũng có một số trường hợp nội dung và hình thức của Giấy ủy quyền có sự tham gia ký kết của cả bên ủy quyền và bên nhận ủy quyền. Như vậy, bản chất của giấy ủy quyền này chính là Hợp đồng ủy quyền. Chính vì lẽ đó, nếu sau khi Giấy ủy quyền được lập xong, người có tên được ủy quyền không thực hiện công việc theo Giấy ủy quyền thì bên ủy quyền cũng không có quyền yêu cầu người có tên được ủy quyền phải thực hiện công việc theo giấy ủy quyền, kể cả việc bồi thường thiệt hại.

Về thẩm quyền công chứng, chứng thực Giấy ủy quyền và Hợp đồng ủy quyền, trong các văn bản quy phạm pháp luật hiện nay, chưa có văn bản nào quy định tập trung về các văn bản ủy quyền phải công chứng, chứng thực, mà các văn bản ủy quyền phải được công chứng, chứng thực hay không sẽ được quy định ở nhiều văn bản quy phạm pháp luật khác nhau. Theo Luật công chứng quy định thì Hợp đồng ủy quyền do tổ chức hành nghề công chứng thực hiện, còn Giấy ủy quyền có thể do Ủy ban nhân dân chứng thực chữ ký trên Giấy ủy quyền đó. Tuy nhiên, khoản 6 Điều 272 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2024 có quy định: “Việc ủy quyền quy định tại các khoản 3, 4 và 5 Điều này phải được làm thành văn bản có công chứng, chứng thực hợp pháp, trừ trường hợp văn bản ủy quyền đó được lập tại Tòa án có sự chứng kiến của Thẩm phán hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Trong văn bản ủy quyền phải có nội dung đương sự ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền kháng cáo bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm”. Với quy định này, Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2024 chỉ quy định đối với trường hợp kháng cáo bản án sơ thẩm, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm thì văn bản ủy quyền cho người đại diện theo ủy quyền được lập tại Tòa án. Trong quá trình giải quyết vụ án nếu các đương sự có mặt tại Tòa án và có yêu cầu Tòa án xác nhận văn bản ủy quyền thì luật không có quy định; như vậy, người ủy quyền phải đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân để lập văn bản ủy quyền, quy định này gây khó khăn và phiền hà về thủ tục hành chính.

Trong thực tiễn, nếu đương sự ủy quyền cho người đại diện ủy quyền kháng cáo quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm và văn bản này được lập tại Tòa án thì sau khi Tòa án cấp phúc thẩm xét thấy việc tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm không đúng, cấp phúc thẩm hủy quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm, chuyển hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại theo thủ tục chung; sau khi hồ sơ vụ án chuyển về cấp sơ thẩm giải quyết lại thì văn bản ủy quyền lập tại Tòa án không còn giá trị pháp lý, vậy đương sự phải tiếp tục đến tổ chức hành nghề công chứng hoặc Ủy ban nhân dân để lập văn bản ủy quyền cho người đại diện ủy quyền tham gia tố tụng. Như vậy, thủ tục sẽ rườm rà, mất thời gian, chi phí cho đương sự.

Để đơn giản hóa thủ tục hành chính, theo quan điểm của người viết cần có quy định theo hướng: văn bản ủy quyền tham gia tố tụng các vụ án dân sự được lập tại Tòa án hoặc ngoài Tòa án. Nếu văn bản ủy quyền tham gia tố tụng lập tại Tòa án phải có xác nhận của Thẩm phán thụ lý vụ án đó hoặc người được Chánh án Tòa án phân công. Để thực hiện được vấn đề này, cần có sự hướng dẫn của cơ quan có thẩm quyền, để các cơ quan tiến hành tố tụng áp dụng thống nhất trong thực tiễn.

Tóm Tắt Văn Bản Tiếng Việt Tự Động Với Mô Hình Sequence

ABSTRACT

Deep learning is a machine learning method that has been studied and used extensively in recent years, opening up new directions for problems such as image processing, speech processing, and natural language processing, etc. This article focuses on the use of deep learning for automatic text summarization for Vietnamese. Previous approaches such as statistics, machine learning, language analysis, etc. have been successful at different levels and purposes. In this paper, the Word2vec model was used to extract the specific characteristics of Vietnamese text for the Sequence to Sequence with Attention model to produce a sequence of words. Finally, the results were re-selected using the Beam Search algorithm, and a summary sentence was generated. The accuracy of the model was estimated using the ROUGE method on a dataset of over twenty-seven million words collected from newspapers in the country. The result was the summary statement reflecting the text content. Although the results were not high yet, the model has successfully solved the problem, and the dataset needs improving to enhance the efficiency of the model.

TÓM TẮT

Học sâu là phương pháp học máy được nghiên cứu và sử dụng rộng rãi trong những năm gần đây, mở ra hướng đi mới cho các bài toán như xử lý ảnh, xử lý tiếng nói và xử lý ngôn ngữ tự nhiên… Bài báo tập trung nghiên cứu sử dụng học sâu cho bài toán tóm tắt văn bản tự động đối với tiếng Việt. Các hướng tiếp cận trước đây như: thống kê, máy học, phân tích ngôn ngữ… đã thành công trên những cấp độ và mục đích tóm tắt khác nhau. Trong bài báo này, chúng tôi sử dụng mô hình Word2vec để rút trích những đặc trưng riêng của văn bản tiếng Việt, phục vụ cho mô hình Sequence to sequence with Attention nhằm tạo kết quả đầu ra là chuỗi các từ. Cuối cùng kết quả được chọn lọc lại bằng giải thuật Beam Search và sinh ra câu tóm tắt. Độ chính xác của mô hình được đánh giá bằng phương pháp ROUGE trên tập dữ liệu hơn hai mươi bảy triệu từ thu thập từ các trang báo trong nước. Kết quả thu được là các câu tóm tắt phản ánh đúng nội dung văn bản. Tuy kết quả còn chưa cao nhưng mô hình đã giải quyết thành công mục tiêu của bài toán, chúng tôi sẽ cố gắng cải thiện tập dữ liệu để nâng cao hiệu quả của mô hình.

Một Số Vấn Đề Về Xây Dựng Con Người Việt Nam

Hai, Việt Nam đang tiếp tục ổn định về nhiều mặt. Đây là một trong những điều kiện tiên quyết, tạo ra môi trường bên trong và bên ngoài để đất nước phát triển nhanh hơn, vững chắc hơn, bởi vì không ít nước trong khu vực và trên thế giới không dễ gì có được điều kiện này.

Ba, hơn bao giờ hết, con người Việt Nam đang khát khao cống hiến nhằm đưa đất nước tiến nhanh và bền vững. Việt Nam đã thấu chịu thử thách qua nỗi nhục bị nước ngoài đô hộ hàng nghìn, hàng chục năm, nay nỗi nhục nghèo nàn và lạc hậu đang chích vào tâm trí của con người Việt Nam nói chung, cứa vào lòng tự trọng của người Việt Nam. Chưa bao giờ ý chí vươn lên thoát khỏi tình trạng kém phát triển lại mạnh như bây giờ trong con người Việt Nam.

Bốn, trong tình hình quốc tế nói chung và tình hình Việt Nam nói riêng đang ở vào trạng thái vừa hợp tác vừa đấu tranh bởi xu thế ngày càng mạnh của toàn cầu hóa, bên cạnh những khó khăn, thì cũng có những thuận lợi cho sự nghiệp đẩy mạnh CNH, HĐH đất nước. Đó là xu thế hòa bình, hợp tác và phát triển; là sự phát triển nhanh hơn rất nhiều của khoa học và công nghệ so với tất cả các thời kỳ cách mạng kỹ thuật trước đây (thường được gọi là thời kỳ cách mạng công nghiệp 4.0), mà Việt Nam là nước đi sau có thể có lợi thế rút ngắn các bước phát triển.

Bên cạnh những mặt thuận lợi, riêng toàn cầu hóa đặt ra cho các nước trên thế giới, đặc biệt là các nước đang phát triển những thách thức và nguy cơ hết sức to lớn: vấn đề sinh thái, ô nhiễm môi trường và cạn kiệt tài nguyên, vấn đề dân số và sức khỏe cộng đồng, sự phân hóa giàu nghèo, tệ nạn xã hội và tội phạm mang tính quốc tế, đặc biệt nguy hiểm là tội phạm có tổ chức. Về mặt chính trị, đó là những thách thức nghiêm trọng đối với chủ quyền quốc gia. Điều này ảnh hưởng tới cả phẩm chất và năng lực của con người. Điều đó được lý giải bằng sự tác động của kinh tế đối với chính trị. Sự hội nhập về kinh tế tăng lên sẽ kéo theo sự hội nhập về chính trị. Từ đó đặt ra thách thức khắc nghiệt là hội nhập nhưng không hòa tan. Với lôgíc đó, người ta nói đến sự suy yếu của mô hình quốc gia dân tộc. Trong bối cảnh toàn cầu hóa hiện nay, người ta thường nói về sự phụ thuộc lẫn nhau của các quốc gia dân tộc hơn là đề cập đến sự độc lập hoàn toàn của các quốc gia đó. Có thể nói, không thể có một quốc gia đứng độc lập hoàn toàn tách biệt khỏi với thế giới bên ngoài trong bối cảnh toàn cầu hóa. Vấn đề là ở chỗ, đứng như thế nào, thế đứng ra sao để hội nhập toàn cầu hóa, trong đó quốc gia-dân tộc tham gia rất tích cực, rất sâu, rất rộng nhưng “anh vẫn là anh”, đó quả thực là vấn đề của cốt cách/bản sắc văn hóa quốc gia – dân tộc.

Thế giới đang và sẽ trở nên bất an hơn bao giờ hết: thế giới tiếp tục có những sự xung đột dân tộc, khu vực, tôn giáo; ranh giới giữa chiến tranh chính nghĩa và chiến tranh phi nghĩa nhiều lúc bị mờ đi và bị chuyển cực; giữa chủ quyền và nhân quyền; giữa sự can thiệp cần thiết của các tổ chức quốc tế, kể cả tổ chức lớn nhất là Liên Hợp quốc, với việc vi phạm bốn yếu tố quyền dân tộc cơ bản của mỗi quốc gia là độc lập – chủ quyền – thống nhất – toàn vẹn lãnh thổ, trở nên mong manh khó phân biệt hơn bao giờ hết. Thế giới càng trở nên bất an hơn bởi chủ nghĩa khủng bố và nguy cơ tiềm tàng vũ khí hạt nhân. Thế giới bị tàn phá bởi chính con người trong nỗ lực/lòng tham tìm mọi cách tăng trưởng kinh tế mà chưa chú ý đúng mức cũng như không giải quyết được các vấn đề khác, trong đó có vấn đề môi trường sinh thái để phát triển bền vững.

2. Một số yêu cầu đặt ra cho việc xây dựng con người

Một là, thế giới tiếp tục bất an và sự cạnh tranh giữa các quốc gia-dân tộc sẽ diễn ra khốc liệt hơn. Bản chất của nhân loại là cạnh tranh để sinh tồn và phát triển. Có hai biểu hiện của cạnh tranh: Một, tiêu diệt đối phương để bản thân mình tồn tại và phát triển. Hai, cạnh tranh lành mạnh hơn, hai bên hoặc nhiều bên gọi nhau bằng “đối tác”, cùng hợp tác và phát triển. Hợp tác nhưng thực ra là sự cạnh tranh để cùng tồn tại và cùng phát triển theo kiểu các bên cùng thắng. Hiện nay, thế giới đang diễn ra đồng thời cả hai kiểu; không thật rõ kiểu nào thắng thế, kiểu nào phổ biến hơn kiểu nào. Trong kiểu 1 có kiểu 2. Cho nên mới có kiểu hỗn hợp là “vừa hợp tác vừa đấu tranh”. Dù kiểu gì đi chăng nữa thì vẫn diễn ra việc cạnh tranh khốc liệt để tồn tại và phát triển.

Hai là, con người nói chung đang có xu hướng trượt dài về đạo đức. Đạo đức có mặt biểu hiện rất cơ bản là thông qua sự hành xử của chính con người. Xã hội loài người đang bước sang một giai đoạn phát triển mới, khi những tiến bộ của khoa học và công nghệ đã đưa con người tiến lên một bước mới trong việc tạo ra các của cải vật chất. Thế kỷ XXI, mới chỉ chưa đầy hai thập niên, nhưng của cải vật chất do con người làm ra đã bằng hàng mấy chục năm của thế kỷ trước cộng lại. Nhưng, lẽ ra đi kèm theo sự tăng lên của của cải vật chất là sự tiến bộ của văn hóa, của đạo đức, thì chúng ta chưa thấy điều đó. Kinh tế Việt Nam phát triển trong những năm đổi mới, song văn hóa-đạo đức phát triển chưa tương xứng.

b. Một số vấn đề đặt ra

– Con người là trung tâm. Khi hội nhập quốc tế diễn ra mạnh mẽ và Việt Nam nằm trong dòng xoáy của toàn cầu hóa, bị chế định trong “luật chơi” quốc tế đã định sẵn mà chúng ta không có quyền sửa. Sự nghiệp xây dựng đất nước ta trong môi trường quốc tế sẽ diễn ra trong hoàn cảnh cạnh tranh gay gắt hơn bao giờ hết, nó đầy nghiệt ngã, quyết liệt gấp bội so với trước đây, rất có thể mức độ và hệ số rủi ro sẽ rất lớn và dày hơn. Để chấp nhận vượt qua thách thức, nguy cơ, đòi hỏi tất cả các thành viên hệ thống chính trị, trong đó nổi rõ con người Việt Nam có những phẩm chất và năng lực vượt trội so với thời kỳ trước.

Sự nghiệp đổi mới toàn diện đất cho đến nay đã trải qua hơn 30 năm với 7 nhiệm kỳ Đại hội Đảng. Trong giai đoạn hiện nay, chúng ta càng thấy rõ hơn, sự nghiệp đổi mới do Đảng lãnh đạo đứng trước thời cơ, thách thức và nguy cơ lớn, nếu Đảng ta biết nắm lấy thời cơ, vượt qua thách thức, đề phòng và khắc phục được những nguy cơ, thì đất nước ta sẽ phát triển nhanh và bền vững trên con đường CNXH. Điều này không có gì hơn là phụ thuộc vào chính yếu tố con người.

Muốn cạnh tranh thì phải có sức mạnh, có thế mạnh, biết nắm lấy mọi cơ hội thuận lợi của Thiên – Địa – Nhân để có được thế chân vạc Thời – Thế – Lực. Con người Việt Nam trong cuộc sinh tồn và phát triển phải bằng sức mạnh cạnh tranh đúc từ sức mạnh nội tại kết hợp với yếu tố bên trong và bên ngoài, biến ngoại lực thành nội lực. Để làm được những công việc vĩ đại đó thì cần những con người có đủ phẩm chất và năng lực, phải là những người bằng bàn tay khối óc của chính mình làm nên sự nghiệp lớn, đưa dân tộc tiến vào xã hội đã được xác định: xã hội xã hội cộng sản, nơi mà ở đó con người được phát triển tự do, toàn diện như C. Mác và Ph.Ăngghen đã nêu trong bản Tuyên ngôn của Đảng Cộng sản cách đây 170 năm (tháng 2 -1848): Sự phát triển tự do của mỗi người là điều kiện cho sự phát triển tự do của tất cả mọi người.

– Chú trọng hơn về giáo dục. Giáo dục không chỉ là quốc sách mà còn là sinh mệnh chính trị của dân tộc. Xét cho đến cùng, những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của con người Việt Nam nói chung đều là do những sai lầm, khuyết điểm, hạn chế của công tác đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực này mà ra. Có một triết lý được nhiều người thừa nhận: “Muốn dự đoán tương lai đất nước, hãy nhìn vào giáo dục, muốn đánh giá nền giáo dục, hãy nhìn vào đãi ngộ đối với nhà giáo”. Trên thế giới ngày nay, những người giàu nhất thế giới chẳng có ai không tốt nghiệp phổ thông, không ai mù chữ lại có thể trở thành chính khách. Chúng tôi đồng cảm với ý kiến của bà Olga Yurievna, Bộ trưởng Bộ Giáo dục Liên bang Nga khi cho rằng: “Bộ trưởng quan trọng nhất trong chính phủ là Bộ trưởng Bộ Giáo dục. Bộ trưởng Bộ Y tế tồi cùng lắm chỉ gây khó khăn cho người dân khám chữa bệnh và ảnh hưởng tới sức khỏe. Bộ trưởng Bộ Kinh tế tồi cùng lắm là làm chậm sự phát triển kinh tế. Nhưng Bộ trưởng Bộ Giáo dục tồi thì phá hoại cả tương lai của đất nước và của quốc gia”(3). Những năm 60 của thế kỷ XX, trước thành tựu khoa học và kỹ thuật vượt trội của Liên Xô, Tổng thống Mỹ John Kennedy cho rằng: “Chúng ta thua người Nga bắt đầu từ ghế nhà trường”(4).

Sự cố gắng của Đảng và Nhà nước ta đã được thể hiện cơ bản trong Chiến lược Phát triển giáo dục, ban hành kèm theo Quyết định số 711/QĐ-TTg ngày 13-6-2012 của Thủ tướng Chính phủ cũng như trong Nghị quyết số 33-NQ/TW ngày 9-6-2014 của Hội nghị Trung ương 9 khóa XI về xây dựng và phát triển văn hóa, con người Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển bền vững đất nước, mà Chính phủ đã ra Nghị quyết số 102/NQ-CP ngày 31-12-2014 về Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Trung ương 9 khóa XI. Song, trên thực tế, việc thực hiện các nghị quyết cũng như Chiến lược này còn rất lúng túng, trong đó có nguyên nhân từ những cán bộ chủ chốt của ngành. Hàng chục năm qua, Nhà nước đã có cố gắng thực hiện quan điểm “Giáo dục là quốc sách hàng đầu”, do đó, mỗi năm đã chi khoảng 20% ngân sách cho giáo dục. Đó là chưa kể kinh phí xã hội chi trả cho các dịch vụ giáo dục. Đó là con số không nhỏ nếu đem so sánh với các ngành khác. Tuy nhiên, bên cạnh những thành tích đáng ghi nhận về giáo dục, vẫn còn nhiều bất cập và rào cản từ cơ chế, chính sách, trong đó phải kể đến cả sự bất cập về nhân sự cán bộ chủ chốt.

– Tập trung các nguồn lực xây dựng bộ tiêu chí con người Việt Nam. Đã có không ít đề tài nghiên cứu khoa học và nhiều tác giả đã đưa ra các tiêu chí về con người Việt Nam(5). Đại hội XII của Đảng cũng đã nêu lên một số nội dung về xây dựng con người Việt Nam trong giai đoạn mới. Chẳng hạn:

– Xây dựng “con người Việt Nam phát triển toàn diện, hướng đến chân – thiện – mỹ, thấm nhuần tinh thần dân tộc, nhân văn, dân chủ và khoa học”(6), coi đó là “một mục tiêu của chiến lược phát triển”(7).

– “Phát triển về nhân cách, đạo đức, trí tuệ, năng lực sáng tạo, thể chất, tâm hồn, trách nhiệm xã hội, nghĩa vụ công dân, ý thức tuân thủ pháp luật”(8) “mọi người Việt Nam đều hiểu biết sâu sắc, tự hào, tôn vinh lịch sử, văn hóa dân tộc. Khẳng định, tôn vinh cái đúng, cái tốt đẹp, tích cực, cao thượng; nhân rộng các giá trị cao đẹp, nhân văn. Đấu tranh phê phán, đẩy lùi cái xấu, cái ác, thấp hèn, lạc hậu; chống các quan điểm, hành vi sai trái, tiêu cực ảnh hưởng xấu đến xây dựng nền văn hóa, làm tha hóa con người”(9).

– Đối với đội ngũ đảng viên: “tăng cường rèn luyện phẩm chất đạo đức cách mạng, chống chủ nghĩa cá nhân, cơ hội, thực dụng”(10), “chống suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống và những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”, tệ quan liêu, tham nhũng, lãng phí, bè phái, “lợi ích nhóm”, nói không đi đôi với làm”(11).

Tổng hợp lại, có hai tiếp cận về xây dựng con người Việt Nam giai đoạn hiện nay.

Tiếp cận thứ hai: Tiếp cận theo hướng như Đại hội XII của Đảng, trên 5 mặt: 1) Đạo đức; 2) Nhân cách; 3) Lối sống; 4) Trí tuệ; 5) Năng lực làm việc. Từ tiếp cận thứ hai này, có thể gộp vào hai nhóm, mỗi nhóm tập hợp các nội dung gần nhau: Nhóm 1 – Đạo đức, nhân cách, lối sống; Nhóm 2 – Trí tuệ, năng lực làm việc, trong “năng lực làm việc” có cả yếu tố bảo đảm sức khỏe.

Trong nhóm 1, cần bảo đảm các yếu tố sau đây:

– Có lòng nhân ái (hoặc tính nhân văn), tức là thái độ và hành động yêu thương quý trọng con người, trước hết là từ những người thân thuộc, sau nữa mở rộng ra con người quốc gia, con người quốc tế và đặc biệt là con người lao động, con người dễ bị tổn thương trong xã hội. Nói chung là thái độ đối với nhân dân (hiếu với dân).

– Có lòng yêu nước (cũng có thể đây là yếu tố “trung với nước” theo quan niệm của Hồ Chí Minh). Yêu nước ở đây bắt đầu từ quê hương đến yêu những giá trị truyền thống tốt đẹp của dân tộc.

– Có ý thức và hành động cần, kiệm, liêm, chính, chí công vô tư.

– Con người phát triển toàn diện về chân – thể – mỹ, có lối sống giản dị, lành mạnh, vì cộng đồng, có ý thức thượng tôn pháp luật.

Trong nhóm 2, cần bảo đảm các yếu tố sau đây:

– Xây dựng con người có đủ sức khỏe cơ bản để làm điều kiện tiên quyết có năng lực trí tuệ và nâng cao năng lực, trí tuệ (Sức khỏe được hiểu ở đây không chỉ là thể xác mà còn là sức khỏe tinh thần). Trách nhiệm này không chỉ thuộc về ngành y tế nước nhà mà còn của cả hệ thống chính trị, của từng gia đình và cá nhân. Ở đây đòi hỏi cả hệ thống chăm lo về dân số và phát triển, trong đó có cả những nội dung về chăm lo cải thiện chất lượng nòi giống trong thế so sánh với các nước trên thế giới.

– Con người được đào tạo một cách đầy đủ, theo bài bản tích cực trong hệ thống giáo dục quốc dân, tiếp cận sự tiến bộ giáo dục quốc tế, đồng thời con người Việt Nam trong thời kỳ này phải tự giáo dục, tự đào tạo (tự học suốt đời). Tất cả những cái đó là vừa để có được những tri thức và kỹ năng cơ bản, cần thiết, phù hợp với từng đối tượng, vừa coi trọng nền tảng cơ bản, vừa coi trọng chuyên sâu.

– Làm trong sạch môi trường văn hóa đạo đức. Môi trường văn hóa đạo đức hiện nay ở Việt Nam rất đáng lo ngại:

– Nạn ma túy trong xã hội. Ma túy hủy hoại sức khỏe, giống nòi, gia đình, cộng đồng, xã hội. Mức độ nạn ma túy (sử dụng, buôn bán…) hiện nay rất cao, mà chưa có biện pháp hữu hiệu để ngăn chặn. Ma túy đã len lỏi vào cả cộng đồng nông thôn, nơi xưa nay thường được coi là ít biến động và ít giao lưu nhất, nơi đang lưu giữ và vận hành nhiều truyền thống tốt đẹp. Sự lan tỏa của tệ nạn này đang gia tăng cường độ, đặc biệt nghiêm trọng là đối với những địa phương giáp ranh với nước ngoài.

– Bạo lực đang có xu hướng phát triển rất mạnh. Bạo lực diễn ra trên diện rộng, ở cả ba không gian: gia đình, học đường, xã hội; cả ba mặt đó đều nghiêm trọng như nhau. Có bạo lực ở học đường là do có bạo lực ở gia đình và xã hội, và ngược lại.

– Mức độ tội phạm, nhất là tội phạm có tổ chức, cũng đang có xu hướng tăng mạnh. Tội phạm ở Việt Nam có xu hướng ngày càng gia tăng, biểu hiện trên nhiều lĩnh vực. Đáng chú ý nhất và thật sự nguy hiểm khôn lường là sự gia tăng của tội phạm có tổ chức.

– Văn hóa chính trị ở Việt Nam đang có nhiều tiêu cực. Tình trạng một bộ phận không nhỏ cán bộ, đảng viên suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, kể cả trong cán bộ cấp cao, diễn ra từ lâu mà Đại hội Đảng kỳ nào cũng nêu nhưng vẫn chưa ngăn chặn, đẩy lùi được. Trong văn hóa chính trị hiện nay, chúng tôi thấy rằng, đỉnh điểm của tiêu cực trong hệ thống chính trị là tham nhũng; là 4 biểu hiện của căn bệnh lệch lạc giữa nói và làm: (1) Nói nhiều làm ít; (2) Nói thì hay làm thì dở; (3) Nói mà không làm; (4) Nói một đằng làm một nẻo.

Đã đến lúc không thể hô hào chung chung mà cần bắt tay vào hành động với ý chí lớn lao, bởi đây là vấn đề rất hệ trọng, xây dựng con người và đi cùng với đó là vấn đề tổ chức, bộ máy. Hơn lúc nào hết, chúng ta càng thấy rõ vấn đề xây dựng con người quan trọng như thế nào, nó vừa là mục tiêu và vừa là động lực của sự phát triển của xã hội Việt Nam. Sự nghiệp này là vĩ đại, không thể một sớm một chiều mà xong. Đất nước đang đứng trước những thách thức lớn. Con người Việt Nam đang đứng trước sứ mạng quang vinh nhưng đầy thách thức, đó là đưa đất nước tiến nhanh và bền vững, góp phần xây dựng một thế giới văn minh mà ở đó những giá trị về con người được coi trọng, được phát triển toàn diện.

Bài đăng trên Tạp chí Lý luận chính trị số 8-2024

(1), (6), (7), (8), (9), (10), (11) ĐCSVN: Văn kiện Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII, Văn phòng Trung ương Đảng, Hà Nội, 2024, tr.219, 126, 126, 127, 127, 47, 47.

(2) ĐCSVN: Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khóa VII của Đảng, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 1994, tr.25.

(3), (4) Dẫn theo https://www.planet-kob.ru

2. Ban Tuyên giáo Trung ương, Tổng cục Dạy nghề, Viện Nghiên cứu phát triển phương Đông: Đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo Việt Nam, NXB Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2012.

3. Nguyễn Duy Bắc: “Phát triển văn hóa, con người Việt Nam toàn diện theo tinh thần Đại hội XII của Đảng”, Tạp chí Lý luận chính trị, số 6-2024.

4. Bộ Giáo dục và Đào tạo (2013): Báo cáo triển khai chiến lược phát triển giáo dục 2011-2010 và thực hiện Kết luận số 51-KL/TW ngày 29-10-2012 của Hội nghị lần thứ 6 Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa XI.

5. Phạm Minh Hạc (Chủ biên): Về phát triển toàn diện con người thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa, Nxb Chính trị quốc gia, Hà Nội, 2001.

GS, TS Mạch Quang Thắng

Viện Lịch sử Đảng,

Học viện Chính trị quốc gia Hồ Chí Minh

Nguồn: Tạp chí Lý luận Chính trị

Một Số Vấn Đề Về Pháp Nhân Trong Tư Pháp Quốc Tế

1. Pháp nhân trong tư pháp quốc tế là gì

Trong thực tiễn tư pháp quốc tế được thành lập teo pháp luật của một nước nhất định, nói cách khác thì việc công nhận một tổ chức có tư cách pháp nhân phải dựa trên, thông thường một tổ chức được công nhận có tư cách pháp nhân ở nước nó được thành lập thì nó được công nhận ở những nước khác.

Đối với Việt Nam, pháp nhân nước ngoài là tổ chức hưởng tư cách pháp nhân theo quy định của pháp luật nước ngoài và được công nhận là có quốc tịch nước ngoài

Theo quy định khoản 5 Điều 3 Nghị định 138/2006/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành các quy định cụ Bộ luật Dân sự về quan hệ dân sự có yếu tố nước ngoài, pháp nhân nước noài là pháp nhân được thành lập theo quy định theo pháp luật nước ngoài.

Quốc tịch của pháp nhân thể hiện môi quan hệ giữa pháp nhân và nhà nước là mối quan hệ pháp lý đặc biệt vững chắc giữa pháp nhân và nhà nước, đặc biệt ở chỗ hưởng tư cách pháp nhân ở một nước thì khi hoạt động ở nước ngoài thì pháp nhân sẽ được nhà nước mình bảo hộ về mặt ngoại giao. Việc hợp nhất, sáp nhập, chia tách, giải thể, chấm dứt pháp nhân và thanh lý tài sản, giải quyết cấc vấn đề về tài sản. Trong các vấn đê này phải tuân theo pháp luật của nước mà pháp nhân mang quốc tịch.

Pháp luật của các nước đều có những nguyên tắc xác định tư cách pháp nhân, trong thực tiễn dựa vào một trong những dấu hiệu sau:

– Dựa theo trung tâm quản lý hành chính của pháp nhân. Ví dụ: Pháp, Đức, …

– Dựa theo nơi pháp nhân thành lập và đăng ký điều lệ của pháp nhân. Vi dụ: Anh, Mỹ, …

– Dựa vào nơi phân tiến hành các hoạt động sản xuất, kinh doanh,. Ví dụ: Ai Cập, Siria, …

Ở Việt Nam, theo quy định tại khoản 1, Điều 765 Bộ luật Dân sự năm 2005, quốc tịch của pháp nhân được xác định là nơi thành lập.

2. Quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nước ngoài

Đặc điểm quy chế pháp lý dân sự của pháp nhân nươc ngoài.

Khi hoạt động ở nước ngòa chịu sự điều chỉnh của pháp luật hai nước – mang tính song trùng pháp luật: pháp luật của nước pháp nhân mang quốc tịch và pháp luật của nươc sở tại nơi pháp nhân tiến hành các hoạt dộng sản xuất và kiinh doanh.

Việc cho pháp nhân nước ngoài vào hoạt động hay không, cho phép vào để tiến hành hoạt động gì, trong lĩnh vực nào, cho pháp nhân đó đucợ hưởng thêm những quyền gì, có nghĩa vụ gì là quyền của nước sở tại. Những vấn đề này được quyết định trong văn bản pháp luật quốc gia và những điều ước quốc tế mà quốc gia tham gia ký kết.

Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài được xây dựng trên cở sở đãi ngộ quốc dân, chế độ tối huệ quốc và chê độ đãi ngộ đặc biệt, việc áp dụng chê độ nào trong từng lĩnh vực cụ thể tùy theo pháp luật của nước sở tại và tùy theo điều ước quốc tế mà nước đó tham gia.

Quy chế pháp lý của pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam: xác định trên cơ sở pháp luật Việt Nam và các điều ước quốc tế và Việt Nam tham gia. Theo khoản 1 Điều 765 Bộ luật Dân sự năm 2005, năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo nước nơi pháp nhân đó thành lập trừ trương hợp pháp luật Việt Nam có quy định khác.

Theo kết luận thì trường hợp pháp nhân xác lập thực hiện các giao dịch dân sự tại việt Nam thì năng lực dân sự của pháp nhân nước ngoài được xác định theo pháp luật của Việt Nam.

Hình thức hoạt động của pháp nhân nước ngoài ở Việt Nam:

– Đầu tư nước ngoài ở Việt Nam theo Luật Đầu tư năm 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành.

Các biện pháp bảo đảm đầu tư, các biện pháp khuyến khích đầu tư, ngoài ra, các quyết định về thuế, tài chính, …

– Quy định về đặt chi nhánh và văn phòng đại diện tại Việt Nam được quy định bởi luật thương mại và các văn bản hướng dẫn thi hành.

– Pháp nhân nước ngoài hoạt động tại Việ Nam dưới hình thức thương mại và dịch vụ. Ví dụ: bảo hiểm, ngân hàng, …

3. Quốc gia – chủ thể đặc biệt của tư pháp quốc tế.

Xuất phát từ đối tượng điều chỉnh của tư pháp quốc tế là các quan hệ dân sự có nghĩa rộng có yếu tố nước ngoài, quốc gia là chủ thể không tham gia thường xuyên vào những quan hệ đó trong đó còn có một số quan hệ mà quốc gia không thể tham gia.

xuất phát từ yếu tố chủ quyền quốc gia và bình đẳng chủ quyền giữa các quốc gia, khi tham gia vào các mối quan hệ của tư pháp quốc tế quốc gia không thể đứng ngang hàng giữa cá nhân và pháp nhân mà quóc gia phải được hưởng quyền miên trừ tư pháp:

– Quyền miễn trừ xét xử: Theo quyền này, nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền xét xử quốc gia ở nước ngoài.

– Quyền miễn trừ về tài sản của quốc gia ở nước ngoài: Theo quyền này, nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền bắt giữ tài sản của quốc gia để đảm bảo sơ bộ cho vụ kiện hoặc để đảm bảo cho việc thi hành án sau nay.

– Quyền miễn trừ thi hành án: T heo quyền này , nếu như không có sự đồng ý của quốc gia thì không có cơ quan tổ chức nào có quyền ép buộc quốc gia phải thi hành bản án bất lợi cho mình.

Việc quốc gia từ bỏ quyền miễn trừ cả mình phả được ghi nhận một cách rõ ràng trong hợp đồng mà quốc gia quốc gia đại diện tham gia ký kết, trong pháp luật quốc gia, pháp luật quốc tế, trong điều ước quốc tế.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với Luật sư tư vấn pháp luật hình sự trực tuyến qua tổng đài 24/7, chi tiết xin lên hệ số: hoặc gửi qua email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Rất mong nhận được sự hợp tác!

Trân trọng./.

Bộ phận Tư vấn Pháp luật – Công ty luật MInh Khuê

Cập nhật thông tin chi tiết về Một Số Vấn Đề Về Ngữ Pháp Văn Bản Tiếng Việt (Tóm Tắt) trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!