Xu Hướng 12/2022 # Ngành Gtvt Hà Nội: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B Và Chỉ Thị 03 Của Tổng Lđlđ Việt Nam, Biểu Dương Gia Đình Tiêu Biểu Ngành Gtvt Hà Nội Năm 2022 / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Ngành Gtvt Hà Nội: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B Và Chỉ Thị 03 Của Tổng Lđlđ Việt Nam, Biểu Dương Gia Đình Tiêu Biểu Ngành Gtvt Hà Nội Năm 2022 / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Ngành Gtvt Hà Nội: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B Và Chỉ Thị 03 Của Tổng Lđlđ Việt Nam, Biểu Dương Gia Đình Tiêu Biểu Ngành Gtvt Hà Nội Năm 2022 / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Tới dự và chỉ đạo Hội nghị các đồng chí: Nguyễn Thị Tuyến – Ủy viên dự khuyết Trung ương Đảng, Ủy viên Ban Thường vụ Thành ủy, Chủ tịch LĐLĐ Thành phố Hà Nội, Vũ Văn Viện – Bí thư Đảng ủy, Giám đốc Sở Giao thông vận tải Hà Nội, Trần Ngọc Quyến – Chủ tịch Công đoàn ngành GTVT Hà Nội. Đông đảo CNVCLĐ và gia đình CNVCLĐ tiêu biểu ngành đã tới dự đông đủ.

Năm 2014, có 45 chị em được khen thưởng danh hiệu “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” cấp ngành. Công đoàn ngành đã xét chọn khen thưởng 32 cá nhân tiêu biểu nhất. Trong 5 năm 2010- 2015: 100% CĐCS có lao động nữ tổ chức cho các tập thể, cá nhân nữ CNVCLĐ đăng ký các danh hiệu thi đua “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà”, hàng năm có trên 80% chị em đạt danh hiệu cấp cơ sở; 250 nữ CNVC đạt danh hiệu “GVN – ĐVN” cấp ngành; 05 đồng chí nữ CNVCLĐ đạt danh hiệu “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” cấp Thành phố. Công đoàn ngành GTVT Hà Nội liên tục hàng năm được nhận bằng khen của LĐLĐ Thành phốvà Tổng LĐLĐ VN trong phong trào thi đua “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” năm 2012, 2013, 2014; 01 cá nhân được Tổng LĐLĐ VN tặng Bằng khen trong phong trào “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà”.

Có thể nói rằng trong những năm qua phong trào “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ của ngành đã được phát triển sâu rộng, đây là sự khẳng định đúng đắn trong đổi mới nội dung và phương thức vận động nữ CNVCLĐ của Ban nữ công các CĐCS. Phong trào đã thực sự là động lực mạnh mẽ thu hút đông đảo nữ CNVCLĐ tham gia, mặc dù trong điều kiện kinh tế – xã hội có nhiều thay đổi, phức tạp, việc làm đời sống là những thách thức lớn đối với nữ CNVCLĐ, nhưng với tinh thần trách nhiệm, sự quyết tâm cao của chị em và sự quan tâm lãnh đạo của cấp uỷ Đảng, sự phối hợp tạo điều kiện của chính quyền và sự chỉ đạo sát sao của tổ chức công đoàn, hơn lúc nào hết đội ngũ nữ CNVCLĐ đã ý thức sâu sắc rằng bằng tài năng, trí tuệ vươn lên tự khẳng định vai trò của mình trong xã hội và gia đình. Mỗi nữ CNVCLĐ đã luôn tự trao dồi kiến thức, năng động, sáng tạo đạt năng suất, chất lượng trong lao động sản xuất, hiệu quả cao trong công tác.

Tại hội nghị , Ban Thường vụ Công đoàn ngành đã quyết định khen thưởng 07 tập thể, 10 cá nhân đã có thành tích xuất sắc trong chỉ đạo công tác vận động nữ và triển khai hiệu quả phong trào “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” tại ngành và cơ sở đồng thời đạt danh hiệu “Giỏi việc nước – Đảm việc nhà” liên tục 5 năm cấp ngành.

Nhân dịp kỷ niệm ngày Gia đình Việt Nam 28/6 tại Hội nghị Công đoàn ngành đã biểu dương gia đình CNVC-LĐ tiêu biểu ngành GTVT Hà Nội năm 2015. Ngoài việc ôn lại truyền thống ngày Gia đình Việt Nam, CNVC-LĐ còn được chia sẻ kinh nghiệm, kiến thức và kỹ năng tổ chức gia đình; nuôi dưỡng, giáo dục con cái; ứng xử giữa các thành viên trong gia đình,… Dịp này, Công đoàn ngành GTVT Hà Nội đã biểu dương 25 gia đình CNVC-LĐ nỗ lực vượt khó, xây dựng gia đình no ấm, bình đẳng, tiến bộ; nuôi dạy con ngoan, học giỏi, thành đạt và hoàn thành xuất sắc nhiệm vụ. Nhằm tôn vinh phát huy vai trò tích cực của mỗi CNVCLĐ trong cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị, trong gia đình và xã hội, góp phần giữ vững truyền thống nhân ái, đạo đức, nề nếp gia phong gia đình của người Việt Nam. Do làm tốt công tác tuyên truyền giáo dục nên CNVCLĐ đã có nhận thức đúng đắn và phát huy truyền thống văn hiến lâu đời của người Hà Nội, nơi hội tụ tinh hoa của cả nước trong bất cứ hoàn cảnh nào CNVCLĐ ngành GTVT Hà Nội cũng luôn vượt khó để hoàn thành tốt nhiệm vụ của mình. Hầu hết lực lượng lao động làm việc trong các ngành nghề của ngành GTVT Hà Nội phải làm việc lưu động trên đường phố, đường Quốc lộ có nhiều phương tiện giao thông tham gia và làm việc trong môi trường nắng, nóng, bụi bẩn và các chất thải độc hại, điều kiện trang bị máy móc còn lạc hậu, người lao động làm việc cơ bắp là chủ yếu. Phần lớn đội ngũ CNLĐ đa phần được đào tạo, được rèn luyện, có đạo đức, ý thức kỷ luật cao trong LĐSX và cần cù chịu khó vượt qua mặc cảm nghề nghiệp để phấn đấu hoàn thành xuất sắc công việc được giao với “năng suất, chất lượng, hiệu quả”. Bên cạnh nhiệm vụ LĐSX, CNVCLĐ ngành GTVT Hà Nội còn làm tốt nghĩa vụ với vợ(chồng), với con cái, đảm bảo gia đình thuận hòa, hạnh phúc, nuôi con khỏe, dạy con ngoan và đạt danh danh hiệu gia đình văn hóa tại địa phương, góp phần xây dựng khối phố, xã, phường, thị trấn văn minh hiện đại. Các gia đình đều nỗ lực phấn đấu kiên trì bền bỉ với mục tiêu lý tưởng vì sự nghiệp xây dựng ngành GTVT và có nhiều đóng góp thầm lặng mà xã hội chưa có nhiều người biết tới. Nhiều CBCNVCLĐ trong đó có rất nhiều chị em phụ nữ thường xuyên phải tham gia thi công vào ban đêm do đặc thù ngành nghề để đảm bảo cho người và phương tiện qua lại an toàn êm thuận. Nhưng sau những ngày làm việc vất vả họ lại quay trở về chăm chút gia đình nhỏ của mình với mong muốn tạo dựng môi trường tốt để con cái họ ngoan ngoãn, học giỏi, có ích cho xã hội mai sau… Tiêu biểu là gia đình đồng chí Nguyễn Hữu Phượng – Phó Giám đốc Công ty CP quản lý & Xây dựng đường bộ I Hà Tây, Gia đình đồng chí Phạm Trọng Nhi – Phó Giám đốc Công ty CP công trình GT 2 Hà Nội, Gia đình Đồng chí Nguyễn Văn Hưng – Chủ tịch Công đoàn bộ phận, Đội phó Đội Thanh Tra GTVT Huyện Mỹ Đức thuộc Thanh Tra Sở GTVT Hà Nội, Gia đình Đồng chí Vũ Đức Linh – Phó trưởng phòng TCHC Công ty TNHH MTV Công trình giao thông Hà Nội. Gia đình chị Trần Thị Linh Chi – Phó trưởng phòng TCHC Ban QL dự án GT 3…

Đồng chí Trần Ngọc Quyến, Chủ tịch Công đoàn ngành GTVT Hà Nội khẳng định: Xây dựng gia đình tiêu biểu trong CNVCLĐ nhằm phát huy vai trò tích cực của mỗi CBCNVCLĐ trong cơ quan, doanh nghiệp, đơn vị trong xã hội. Làm tốt công tác biểu dương có tác dụng tích cực để động viên khích lệ các gia đình CNVCLĐ phấn đấu để ngày càng có nhiều gia đình CNVCLĐ đạt danh hiệu Gia đình tiêu biểu xuất sắc.

Thông qua Hội nghị là dịp để các CBCCVCLĐ nhận thức sâu sắc giá trị của gia đình trong thời kỳ mới. Công đoàn ngành GTVT Hà Nội đã tổ chức nhiều hoạt động có ý nghĩa nhằm động viên CBCCVCLĐ xây dựng gia đình ấm no, hạnh phúc. Qua phong trào, đã động viên, khích lệ CBCCVCLĐ không ngừng rèn luyện, vượt qua mọi khó khăn, thử thách hoàn thành tốt nhiệm vụ được giao. Là dịp tuyên truyền đẻ mỗi CBCNVCLĐ trong toàn ngành, hiểu rõ gia đình là tế bào của xã hội, thực hiện tốt các quy định về KHHGĐ; Pháp lệnh về dân số, Luật Hôn nhân gia đình, thực hiện tốt cuộc vận động toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hóa, xây dựng người Hà Nội thanh lịch./.

Tiền Giang: Tổng Kết 10 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B Và Chỉ Thị 03 / 2023

Ngày 20.5, LĐLĐ tỉnh Tiền Giang đã tổ chức Hội nghị tổng kết 10 năm thực hiện Nghị quyết 6b/NQ-TLĐ về công tác vận động nữ CNVCLĐ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa đất nước và Chỉ thị 03/CT-TLĐ về tiếp tục đẩy mạnh phong trào thi đua “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” trong nữ CNVCLĐ (2010 – 2020).

Đến dự có bà Trịnh Thị Thanh Hằng – Ủy viên Đoàn Chủ tịch, Trưởng ban Nữ công Tổng LĐLĐVN; ông Trần Văn Dũng – Phó Chủ tịch UBND tỉnh Tiền Giang; đại diện lãnh đạo các ban ngành tỉnh Tiền Giang cùng gần 100 nữ cán bộ công đoàn, CNVCLĐ trong tỉnh.

Ông Trương Văn Hiền – Chủ tịch LĐLĐ tỉnh Tiền Giang đánh giá, Nghị quyết 6b và Chỉ thị 03 của Tổng LĐLĐVN đã đi vào đời sống nữ CNVCLĐ, góp phần tạo bước chuyển biến quan trọng để nữ CNVCLĐ phát huy phẩm chất, năng lực và ngày càng khẳng định vai trò nữ CNVCLĐ trong công cuộc đổi mới đất nước. Phong trào còn giúp nữ CNVCLĐ thi đua tổ chức, sắp xếp gia đình một cách khoa học theo tiêu chí “No ấm, bình đẳng, tiến bộ, hạnh phúc”.

Phong trào “Giỏi việc nước, đảm việc nhà” đã thật sự là động lực thúc đẩy nữ CNVCLĐ trong tỉnh phát huy truyền thống của phụ nữ Việt Nam, phấn đấu khắc phục khó khăn, vươn lên hoàn thành nhiệm vụ, góp phần xây dựng giai cấp công nhân và tổ chức Công đoàn ngày càng vững mạnh. Nữ CNVCLĐ vừa là người lao động xã hội, vừa giữ vai trò quan trọng trong xây dựng gia đình, góp phần quan trọng vào sự phát triển kinh tế, xã hội tỉnh nhà.

Tại hội nghị, để ghi nhận thành tích thực hiện Nghị quyết 6b và Chỉ thị 03 trong hệ thống Công đoàn tỉnh Tiền Giang, bà Trịnh Thị Thanh Hằng đã thay mặt Đoàn Chủ tịch Tổng LĐLĐVN tặng cờ cho 1 tập thể (LĐLĐ tỉnh Tiền Giang) và Bằng khen cho 1 tập thể (CĐCS Trường THPT Nguyễn Đình Chiểu) và 1 cá nhân (Chủ tịch CĐCS Cty Tipharco – bà Đặng Thị Xuân Quyên).

LĐLĐ tỉnh Tiền Giang cũng tuyên dương khen thưởng 50 cá nhân và 32 tập thể có nhiều thành tích thực hiện Nghị quyết 6b và Chỉ thị 03 của Tổng LĐLĐVN.

Bộ Gtvt Tổng Kết 15 Năm Thực Hiện Nghị Quyết Số 37 / 2023

Chủ trì Hội nghị có các đồng chí: Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị; Nguyễn Văn Thể, Ủy viên BCH Trung ương Đảng, Bí thư Ban Cán sự đảng Bộ, Bộ trưởng Bộ GTVT; Nguyễn Văn Công, Ủy viên Ban Cán sự đảng Bộ, Thứ trưởng Bộ GTVT.

Trưởng Ban Kinh tế Trung ương Nguyễn Văn Bình và Bộ trưởng Nguyễn Văn Thể, Thứ trưởng Nguyễn Văn Công chủ trì Hội nghị

Phát biểu tại Hội nghị, đồng chí Nguyễn Văn Bình, Ủy viên Bộ Chính trị, Bí thư Trung ương Đảng, Trưởng Ban Kinh tế Trung ương, Trưởng Ban Chỉ đạo nhấn mạnh kết nối giao thông có ý nghĩ hết sức quan trọng, với bất kỳ vùng miền nào giao thông có vai trò quan trọng với điều kiện đặc thù.

Thời gian vừa qua, với sự tham mưu tích cực, Bộ GTVT làm được nhiều việc, kết nối được giao thông tốt, kể cả đường sắt, đường bộ, đường quốc lộ, trước đây nhu cầu lớn nhưng nguồn lực có hạn, đất nước ta chuyển sang giai đoạn mới, cải thiện được sự gắn kết được cải thiện tốt hơn

Việc Bộ GTVT tổ chức Hội nghị Tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị khóa IX về phương hướng phát triển kinh tế – xã hội và bảo đảm quốc phòng, an ninh vùng Trung du và miền núi Bắc Bộ đến năm 2020 nhằm tổng kết nghị quyết và đề xuất phương hướng phát triển GTVT vùng này giai đoạn đến 2030, tầm nhìn đến năm 2045.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Công trình bày báo cáo tổng kết 15 năm thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW tại Hội nghị

Tại Hội nghị, Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cho biết, nhận thức sâu sắc việc triển khai thực hiện Nghị quyết số 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị có tác động lớn đến đời sống kinh tế – xã hội, an ninh quốc phòng vùng trung du miền núi phía Bắc và để đưa Nghị quyết vào thực tiễn, Bộ GTVT đã triển khai Nghị quyết đến các đơn vị trực thuộc; đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành để triển khai thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết.

Các mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng giao thông của Nghị quyết 37-NQ/TW, Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị được Bộ GTVT nghiên cứu trình Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ trong các chiến lược, quy hoạch chuyên ngành, kế hoạch của ngành; cụ thể hoá thành các dự án để thực hiện đầu tư.

Thứ trưởng Nguyễn Văn Công cho biết, kết quả thực hiện 15 năm Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị, Bộ GTVT đã đạt được những kết quả tích cực trong công tác quy hoạch; phát triển kết cấu hạ tầng GTVT; vận tải và ATGT.

Về công tác quy hoạch, Bộ GTVT trình và được Thủ tướng Chính phủ phê duyệt điều chỉnh Chiến lược phát triển GTVT đến năm 2020, tầm nhìn đến năm 2030 để tạo điều kiện phát huy lợi thế của vùng trung du miền núi phía Bắc, giao lưu thuận lợi với các địa phương trong nước và quốc tế. Đồng thời, Bộ GTVT đã lập, điều chỉnh quy hoạch GTVT 5 chuyên ngành (đường sắt, đường bộ, đường biển, đường thuỷ nội địa, hàng không) đảm bảo phù họp với các chiến lược điều chỉnh.

Đến nay, các chiến lược, quy hoạch chuyên ngành GTVT để thực hiện mục tiêu phát triển kết cấu hạ tầng theo Nghị quyết 37-NQ/TW, Kết luận 26- KL/TW đã được Bộ GTVT triển khai thực hiện hoàn thành, làm cơ sở từng bước thực hiện đầu tư hệ thống kết cấu hạ tầng giao thông vùng nói riêng, cả nước nói chung.

Hệ thống quy hoạch GTVT trong vùng đã bảo đảm gắn kết không gian kinh tế liên hoàn, bổ trợ cho nhau nhằm phát huy tiềm năng, lợi thế so sánh của từng tỉnh, thành phố trong vùng; coi trọng sự phát triển hài hòa giữa các địa phương, phù hợp với điều kiện hội nhập kinh tế quốc tế; bảo đảm phát triển nhanh và bền vững. Các quy hoạch đã dự kiến các dự án ưu tiên đầu tư theo từng thời kỳ, có các giải pháp triển khai thực hiện, phương thức huy động vốn.

Về kết cấu hạ tầng GTVT, được sự quan tâm và chỉ đạo sát sao của Chính phủ, sự phối hợp chặt chẽ của các Bộ, ngành và các địa phương trong điều kiện cân đối, bố trí vốn trong giai đoạn 2011-2020 khoảng 31.884 tỷ đồng (tương đương 7% tổng mức vốn đầu tư từ nguồn ngân sách nhà nước của ngành giao thông), các mục tiêu về đầu tư KCHTGT đặt ra trong Nghị quyết đến nay đã hoàn thành.

Về vận tải và ATGT, cùng với sự phát triển của cơ sở hạ tầng, dịch vụ vận tải có những tiến bộ đáng kể, cơ bản đáp ứng được nhu cầu vận chuyển hàng hóa và hành khách nội vùng, liên vùng và quốc tế. Đã hình thành các phương thức vận tải (đường bộ, đường sắt, đường thuỷ, hàng không) và bước đầu triển khai vận tải đa phương thức, quy hoạch xây dựng các cảng cạn.

Bộ GTVT đã phối hơp với các địa phương để tiếp tục thực thi pháp luật về ATGT như Luật Giao thông đường bộ và các văn bản hướng dẫn; Nghị định số 11/2009/NĐ- CP về quản lý và bảo vệ kết cấu hạ tầng giao thông, Nghị quyết số 32/2007/NQ-CP ngày 29/6/2007 về giải pháp cấp bách nhằm kiềm chế tai nạn giao thông và ùn tắc giao thông, các đề án tăng cường đảm bảo trật tự ATGT quốc gia cho các chuyên ngành giao thông là đường bộ, đường sắt, đường thuỷ nội địa và đường hàng không.

Bộ GTVT đã phối hợp các địa phương để thực hiện công tác cưỡng chế đảm bảo hành lang ATGT, công tác đăng kiểm phương tiện đã được kiểm soát tương đối tốt. Đã thực hiện chính sách hạn chế phương tiện cá nhân thông qua chính sách thuế. Các công trình đảm bảo ATGT đã được quan tâm đầu tư hoàn thành như Dự án tăng cường ATGT trên các quốc lộ phía Bắc Việt Nam (vốn vay JICA), Dự án ATGT đường bộ Việt Nam – giai đoạn 1 vốn vay WB.

Vùng trung du và miền núi phía Bắc bao gồm 14 tỉnh: Hoà Bình, Điện Biên, Lai Châu, Sơn La, Yên Bái, Lào Cai, Phú Thọ, Hà Giang, Tuyên Quang, Bắc Kạn, Thái Nguyên, Bắc Giang, Lạng Sơn, Cao Bằng. Tổng diện tích khoảng 95.266,8km2, chiếm 28,8% điện tích cả nước; dân số 11.667.200 người (chiểm 12,86% cả nước); mật độ dân số 122 người/km2 (mật độ dân số cả nước 273 người/km2). Vùng có ý nghĩa chiến lược đặc biệt quan trọng về kinh tế – xã hội và quốc phòng an ninh của cả nước, có tiềm năng, thế mạnh về phát triển công nghiệp khai khoáng, chế biến khọáng sản và ngành nông nghiệp; có tiềm năng lớn về du lịch,… Là vùng có đặc điểm tự nhiên chủ yếu là đồi núi cao, địa hình bị chia cắt mạnh nên việc phát triển giao thông vận tải trong khu vực gặp nhiều khó khăn. Thực hiện Nghị quyết 37-NQ/TW ngày 01/7/2004 của Bộ Chính trị, Kết luận số 26-KL/TW ngày 02/8/2012 của Bộ Chính trị, Bộ GTVT đã triển khai Nghị quyết đến các đơn vị trực thuộc, đã chủ động phối hợp với các Bộ, ngành để triển khai thực hiện các mục tiêu đã đề ra trong Nghị quyết.

Hà Tĩnh Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 26 / 2023

5 năm thực hiện Nghị quyết số 26- NQ/TW, nông nghiệp, nông thôn, nông dân Hà Tĩnh đạt kết quả vượt bậc. Sản xuất nông nghiệp trên các lĩnh vực có bước phát triển khá, sản phẩm nông nghiệp hàng hóa chủ lực được tập trung đầu tư, một số sản phẩm từng bước tiếp cận mô hình sản xuất hiện đại. Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy, sản năm 2012 đạt 3.085 tỷ đồng, tăng 12,5% so với năm 2008. Cơ cấu mùa vụ, giống có sự chuyển dịch mạnh mẽ, bỏ hẳn trà xuân sớm, diện tích lúa hàng hóa chất lượng chiếm 34% diện tích canh tác. Tổng sản lượng lương thực năm 2012 đạt 50,5 vạn tấn, tăng 1,6 vạn tấn so với năm 2008. Giá trị sản xuất đạt 60 triệu đồng/ha/năm, tăng 61,8% so với năm 2008. Chăn nuôi có bước chuyển biến mạnh mẽ từ chăn nuôi nhỏ lẻ sang chăn nuôi trang trại; phát triển liên doanh, liên kết trong chăn nuôi. Hiện có 103 cơ sở chăn nuôi lợn liên kết với doanh nghiệp, trong đó có 4 cơ sở sản xuất lợn giống, quy mô từ 300-1.200 con/cơ sở, 99 cơ sở nuôi thương phẩm, quy mô từ 250 – 2.500 con/cơ sở… Lâm nghiệp chuyển hướng sang phát triển lâm nghiệp xã hội; thủy sản chuyển sang thâm canh, phát triển nuôi tôm công nghệ cao (đạt tăng trưởng cao nhất với 23,7% so với 2008), kinh tế tập thể, trang trại phát triển.

Về nông dân, đời sống vật chất, tinh thần được cải thiện, trình độ dân trí được nâng lên, vai trò làm chủ được thể hiện rõ. Thu nhập bình quân đầu người khu vực nông thôn năm 2012 là 13,69 triệu đồng (toàn tỉnh là 19,6 triệu đồng), tăng 7,46 triệu đồng so với năm 2008; tỷ lệ hộ nghèo giảm từ 26,63% (năm 2008, theo chuẩn cũ) xuống 14,2% (năm 2012). Người nông dân được tiếp cận tốt hơn với các dịch vụ chăm sóc sức khỏe; nông thôn từng bước được chỉnh trang, nâng cấp, phát triển theo đúng quy hoạch, kinh tế nông thôn chuyển hướng tích cực, Chương trình MTQG xây dựng NTM đạt kết quả khá toàn diện …

Bên cạnh những kết quả đạt được, còn có những mặt hạn chế. Đối với nông nghiệp: Sản phẩm hàng hóa chưa nhiều, chủ yếu sản xuất quy mô nhỏ; chất lượng và sức cạnh tranh thấp, chưa có nhiều sản phẩm chế biến sâu, gắn với thị trường tiêu thụ; dịch bệnh trên cây trồng, vật nuôi chưa được khống chế…; ứng dụng, chuyển giao các thành tựu khoa học công nghệ còn chậm; việc thu hút các doanh nghiệp đầu tư vào lĩnh vực nông nghiệp phát triển sản xuất liên kết theo chuỗi giá trị mới chỉ diện hẹp trên một số sản phẩm và rất hạn chế; nông dân không “mặn mà” đầu tư thâm canh vào sản xuất nông nghiệp; kết cấu hạ tầng theo yêu cầu phát triển một nền nông nghiệp toàn diện, hiện đại còn yếu, nhất là hạ tầng đáp ứng sản xuất công nghệ cao, nước sạch, vệ sinh môi trường, phòng chống thiên tai, biến đổi khí hậu. Đối với lĩnh vực nông dân: Đời sống của người nông dân nhìn chung vẫn còn ở mức thấp, chênh lệch về thu nhập, mức sống giữa nông dân và các thành phần khác và ngay trong khu vực nông thôn giữa các miền vùng, các xã ngày càng tăng; nông dân đang chịu nhiều thiệt thòi về mức hưởng thụ các dịch vụ công, đặc biệt về hạ tầng, văn hoá, giáo dục, y tế … so với thành thị; tỷ lệ nông dân thiếu việc làm còn cao; chương trình đào tạo nghề, giải quyết việc làm còn nhiều bất cập, đào tạo chưa gắn chặt với giải quyết việc làm và nhu cầu thị trường, chất lượng lao động qua đào tạo chưa đáp ứng yêu cầu… Đối với lĩnh vực nông thôn: Cơ cấu kinh tế nông thôn chuyển dịch chậm, công nghiệp, thương mại, dịch vụ nông thôn chiếm tỷ trọng thấp; các hình thức tổ chức sản xuất, dịch vụ ở nông thôn chậm đổi mới, hiệu quả chưa cao; cơ sở hạ tầng chưa đáp ứng yêu cầu phát triển toàn diện và hiện đại; thu hút cán bộ giỏi về nông thôn khó khăn; con em nông dân có năng lực trình độ không mặn mà về làm việc ở nông thôn; các thiết chế văn hóa ở nông thôn còn thiếu, chưa đáp ứng nhu cầu sinh hoạt của cộng đồng; bộ mặt nông thôn còn nhiều bất cập, tình trạng bê tông hóa đã làm thay đổi cảnh quan môi trường nông thôn…

Nhiệm vụ trong thời gian tới, Hà Tĩnh chú trọng vào các giải pháp chính như: quán triệt sâu rộng NQ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân; tiếp tục điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch; đẩy mạnh phát triển sản xuất nông nghiệp theo hướng hiện đại; tập trung chỉ đạo, cải thiện đời sống của nông dân, tạo điều kiện và giúp đỡ nông dân nâng cao hơn nữa vị thế của mình, thực sự là chủ thể xây dựng và hưởng lợi các thành tựu phát triển; đẩy mạnh Chương trình MTQG xây dựng NTM; hoàn thiện cơ chế chính sách theo hướng tạo động lực mạnh mẽ, hướng tới một nền sản xuất theo hướng hiện đại, bảo đảm nguyên tắc thị trường, phát triển bền vững; huy động tổng lực nguồn lực, ưu tiên ngân sách để thực hiện Chương trình mục tiêu quốc gia xây dựng nông thôn mới; tiếp tục tăng cường sự lãnh đạo của các cấp ủy Đảng, phát huy vai trò quản lý của các cấp chính quyền về nông nghiệp, nông dân, nông thôn, phát huy sức mạnh của các đoàn thể chính trị xã hội ở nông thôn.

Phát biểu tại hội nghị, đồng chí Nguyễn Đăng Khoa – Nguyên thứ trưởng Bộ NN&PTNT nhấn mạnh: Sau 5 năm thực hiện, Nghị quyết 26- NQ/TW đã tạo được niềm tin tuyệt đối của nhân dân vào chủ trương, đường lối của Đảng. Đội ngũ cán bộ cơ sở trưởng thành một bước quan trọng, từ đó thêm gắn bó, tâm huyết với nông nghiệp, nông thôn, nông dân. Đồng chí đề nghị trong thời gian tới tỉnh cần tập trung chỉ đạo khắc phục những hạn chế, những khó khăn, vướng mắc mà tỉnh đã thẳng thắn chỉ ra.

Cập nhật thông tin chi tiết về Ngành Gtvt Hà Nội: Sơ Kết 5 Năm Thực Hiện Nghị Quyết 6B Và Chỉ Thị 03 Của Tổng Lđlđ Việt Nam, Biểu Dương Gia Đình Tiêu Biểu Ngành Gtvt Hà Nội Năm 2022 / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!