Xu Hướng 12/2022 # Nghị Định 29/Cp Của Chính Phủ Về Chế Độ Nghỉ Hưu Do Sắp Xếp Tổ Chức Và Nhân Sự / 2023 # Top 15 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Nghị Định 29/Cp Của Chính Phủ Về Chế Độ Nghỉ Hưu Do Sắp Xếp Tổ Chức Và Nhân Sự / 2023 # Top 15 View

Bạn đang xem bài viết Nghị Định 29/Cp Của Chính Phủ Về Chế Độ Nghỉ Hưu Do Sắp Xếp Tổ Chức Và Nhân Sự / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

CỦA CHÍNH PHỦ SỐ 29/CP NGÀY 8 THÁNG 5 NĂM1996 VỀ CHẾ ĐỘ NGHỈ HƯU DO SẮP XẾP TỔ CHỨC VÀ NHÂN SỰ Căn cứ Luật Tổ chức Chính phủ ngày 30 tháng 9 năm 1992; Căn cứ Điều 145 của Bộ Luật Lao động ngày 23 tháng 6 năm 1994. Theo đề nghị của Bộ trưởng, Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ, Bộtrưởng Bộ Lao dộng – Thương binh và Xã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính, NGHỊ ĐỊNH:

Điều 1.- Những cán bộ dân cử, bầu cử của cơ quan Đảng, Mặttrận và các đoàn thể ở tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương, thành phố thuộctỉnh, quận, huyện, thị xã do sắp xếp tổ chức và nhân sự trong năm 1996 có đủđiều kiện sau đây được hưởng chế độ hưu trí hàng tháng theo quy định tại điểma, khoản 1, Điều 27, Điều lệ bảo hiểm xã hội ban hành kèm theo Nghị định số 12/CP ngày 26 tháng 1 năm 1995 của Chính phủ:

1. Nam đủ 55 tuổi, Nữ đủ 50 tuổivà có thời gian đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên.

2. Nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổivà có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội trở lên mà trong 20 năm đó có thời gianlàm việc thuộc một trong các trường hợp sau:

– Đủ 15 năm làm nghề hoặc côngviệc nặng nhọc, độc hại;

– Đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụcấp khu vực hệ số từ 0,7 trở lên;

– Đủ 10 năm công tác ở miền Nam,ở Lào trước ngày 30 tháng 4 năm 1975 hoặc ở Cămpuchia trước ngày 31 tháng 8 năm1989.

Điều 2.- Nghị định này có hiệu lực từ ngày ký. Bộ trưởng,Trưởng ban Tổ chức – Cán bộ Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Lao dộng – Thương binh vàXã hội, Bộ trưởng Bộ Tài chính chịu trách nhiệm hướng dẫn thực hiện Nghị địnhnày.

Điều 3.- Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ, Thủ trưởngcơ quan thuộc Chính phủ, Chủ tịch Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộcTrung ương, Tổng giám đốc Bảo hiểm xã hội Việt Nam chịu trách nhiệm thi hànhNghị định này.

Bạn thấy nội dung này thực sự hữu ích?

Bạn thấy nội dung này chưa ổn ở đâu?

Bộ luật lao động năm 2019 được Quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam khóa XIV, kỳ họp thứ 8 thông qua ngày 20 tháng 11 năm 2019. Hiện đang có hiệu lực và được áp dụng thống nhất trên toàn …

Nghị Định Mới Của Chính Phủ Quy Định Chức Năng, Nhiệm Vụ, Quyền Hạn Và Tổ Chức Bộ Máy Của Tổ Chức Pháp Chế / 2023

Nghị định này được ban hành sẽ là cơ sở pháp lý quan trọng trong việc nâng cao nhận thức, vị trí, vai trò và tăng cường hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về công tác pháp chế, nhất là trong điều kiện tiếp tục xây dựng và hoàn thiện Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa, cải cách tư pháp, trong giai đoạn thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng XI, tiếp tục triển khai những chủ trương quan trọng của Đảng về xây dựng và hoàn thiện hệ thống pháp luật và cải cách tư pháp trong giai đoạn chiến lược mới.

Nghị định số 55/2011/NĐ-CP gồm 4 chương với 18 điều, quy định cụ thể, rõ ràng về vị trí, chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế ở Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh và doanh nghiệp nhà nước. Trên cơ sở kế thừa các quy định trước đây, Nghị định này đã có nhiều điểm mới cơ bản sau đây:

2. Tiếp tục quy định các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế trên các mặt công tác pháp chế từ xây dựng pháp luật; phổ biến, giáo dục pháp luật; rà soát, hệ thống hóa; kiểm tra và xử lý văn bản quy phạm pháp luật… (Điều 3, 4, 5, 6 và Điều 7), Nghị định mới đã quy định cụ thể hơn và bổ sung những nhiệm vụ, quyền hạn mới cho tổ chức pháp chế, như các nhiệm vụ, quyền hạn mới trong công tác xây dựng pháp luật theo quy định Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008; trong công tác theo dõi tình hình thi hành pháp luật trên cơ sở Nghị định số 93/2008/NĐ-CP ngày 22/8/2008 của Chính phủ; công tác về trách nhiệm bồi thường của Nhà nước trên cơ sở Luật Trách nhiệm bồi thường của Nhà nước; công tác hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp trên cơ sở Nghị định số 66/2008/NĐ-CP ngày 28/5/2008 của Chính phủ về hỗ trợ pháp lý cho doanh nghiệp và bổ sung các nhiệm vụ, quyền hạn của tổ chức pháp chế trong việc tham gia giải quyết các vụ việc hành chính theo Luật tố tụng hành chính và thực hiện pháp điển hệ thống quy phạm pháp luật.

3. Nghị định kế thừa và tiếp tục quy định tên gọi “tổ chức pháp chế”, đồng thời quy định rõ hơn về tổ chức bộ máy của tổ chức pháp chế (Điều 8, 9 và Điều 10). Theo đó, quy định ở Bộ, cơ quan ngang Bộ có Vụ Pháp chế; cơ quan thuộc Chính phủ có Ban Pháp chế hoặc Phòng Pháp chế trực thuộc Văn phòng; cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân dân cấp tỉnh có Phòng Pháp chế. Điểm mới trong trong việc quy định về tổ chức pháp chế thể hiện ở những điểm sau:

– Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Thủ tướng Chính phủ quyết định thành lập tổ chức pháp chế ở các Tổng cục và tương đương; Bộ trưởng, Thủ trưởng cơ quan ngang Bộ quyết định thành lập tổ chức pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách ở các Cục trực thuộc (khoản Điều 8).

– Quy định cứng về việc thành lập phòng pháp chế ở 14 cơ quan chuyên môn thuộc UBND cấp tỉnh, trừ Sở Tư pháp, Thanh tra, Văn phòng. Các cơ quan chuyên môn được thành lập theo đặc thù riêng của từng địa phương và ở các cơ quan chuyên môn khác thì do Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp tỉnh quyết định thành lập Phòng Pháp chế hoặc bố trí công chức pháp chế chuyên trách (Điều 9).

– Quy định giao cho Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quyết định thành lập và cơ cấu tổ chức pháp chế hoặc bố trí cán bộ pháp chế chuyên trách trong lực lượng quân đội, công an nhân dân (khoản 4 Điều 8).

– Căn cứ vào nhu cầu công tác pháp chế, Chủ tịch Hội đồng thành viên, Hội đồng quản trị, Chủ tịch công ty, Tổng giám đốc, Giám đốc doanh nghiệp nhà nước quyết định tổ chức pháp chế hoặc bố trí nhân viên pháp chế chuyên trách (Điều 10).

Bên cạnh đó, Nghị định đã bổ sung các quy định mới về công tác quản lý, hướng dẫn, kiểm tra về chuyên môn, nghiệp vụ và cơ chế phối hợp trong công tác pháp chế giữa các tổ chức pháp chế với nhau và giữa các tổ chức pháp chế với Bộ Tư pháp, Sở Tư pháp. Riêng trong lực lượng quân đội và công an nhân dân, Nghị định giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an quy định cụ thể.

4. Về người làm công tác pháp chế và tiêu chuẩn, Nghị định bổ sung những quy định mới, theo hướng xác định rõ những người làm công tác pháp chế và tiêu chuẩn người làm công tác pháp chế (Điều 11 và khoản 1 Điều 12), cụ thể là:

– Quy định người làm công tác pháp chế gồm công chức pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và cơ quan chuyên môn thuộc Ủy ban nhân cấp tỉnh; cán bộ pháp chế ở các đơn vị quân đội, công an nhân dân; viên chức pháp chế ở đơn vị sự nghiệp công lập; và nhân viên pháp chế ở tổ chức pháp chế thuộc doanh nghiệp nhà nước.

– Quy định rõ các tiêu chuẩn của người làm công tác pháp chế. Theo đó, công chức pháp chế phải là công chức từ ngạch chuyên viên và tương đương, có trình độ cử nhân luật trở lên; viên chức pháp chế phải là viên chức có chức danh nghề nghiệp, có trình độ cử nhân luật trở lên. Riêng đối với người đứng đầu tổ chức pháp chế phải có trình độ cử nhân luật trở lên và có ít nhất 05 năm trực tiếp làm công tác pháp luật. Ngoài ra, Nghị định quy định giao Bộ trưởng Bộ Quốc phòng, Bộ trưởng Bộ Công an căn cứ vào tiêu chuẩn của công chức, viên chức pháp chế, hướng dẫn cụ thể về tiêu chuẩn đối với cán bộ pháp chế trong quân đội và công an nhân dân.

Đặc biệt, để giải quyết vấn đề thực tế đối với những người hiện đang làm công tác pháp chế mà chưa có trình độ cử nhân luật, Nghị định quy định những người này phải tham gia chương trình đào tạo về pháp luật và bồi dưỡng kỹ năng, chuyên môn, nghiệp vụ về công tác pháp chế do Bộ Tư pháp tổ chức. Sau 05 năm, kể từ ngày Nghị định này có hiệu lực, người làm công tác pháp chế phải có trình độ cử nhân luật (khoản 2 Điều 17).

5. Một trong những điểm mới cơ bản của Nghị định mới là đã quy định về chế độ, chính sách cho người làm công tác pháp chế (khoản 2 Điều 12), theo đó, xác định công chức, cán bộ và viên chức pháp chế được hưởng phụ cấp ưu đãi theo nghề. Đồng thời, quy định giao Bộ Tư pháp chủ trì, phối hợp với Bộ Nội vụ, Bộ Tài chính xây dựng, trình Thủ tướng Chính phủ quy định chế độ phụ cấp ưu đãi theo nghề đối với người làm công tác pháp chế.

Riêng đối với doanh nghiệp nhà nước có thể vận dụng tiêu chuẩn, chế độ của cán bộ, công chức, viên chức pháp chế để lựa chọn, bố trí sử dụng và quyết định chế độ đối với nhân viên pháp chế.

Ngoài những nội dung mới nêu trên, Nghị định đã quy định về trách nhiệm các cơ quan nhà nước và doanh nghiệp về công tác pháp (Điều 13, 14, 15 và Điều 16), nhất là quy định bổ sung trách nhiệm của Bộ Tư pháp trong việc xây dựng và thực hiện cơ chế phối hợp thực hiện công tác pháp chế giữa các cơ quan nhà nước với cơ quan Trung ương của các tổ chức chính trị – xã hội, tổ chức xã hội – nghề nghiệp.

Nghị định này có hiệu lực thi hành từ ngày 25/8/2011 và thay thế Nghị định số 122/2004/NĐ-CP ngày 18/5/2004 của Chính phủ quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ, cơ quan chuyên môn thuộc Uỷ ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương và doanh nghiệp nhà nước.

Công Bố 19 Nghị Quyết Của Ubtvqh Về Sắp Xếp Các Đơn Vị Hành Chính Và Nhân Sự / 2023

Một phiên họp của Ủy ban Thường vụ Quốc hội (Ảnh: chúng tôi

Cụ thể, các Nghị quyết được công bố gồm:

1) Nghị quyết số 827/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Hà Giang. Kể từ ngày Nghị quyết này có hiệu lực thi hành (ngày 01/01/2020), tỉnh Hà Giang có 11 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 10 huyện và 01 thành phố; 193 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 175 xã, 05 phường và 13 thị trấn.

2) Nghị quyết số 828/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Phú Thọ. Sau khi sắp xếp, tỉnh Phú Thọ có 13 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 11 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố; 225 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 197 xã, 17 phường và 11 thị trấn.

3) Nghị quyết số 829/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hà Nam. Theo đó, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định điều chỉnh địa giới đơn vị hành chính các xã, thị trấn thuộc huyện Duy Tiên; thành lập thị xã Duy Tiên và các phường, xã thuộc thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam; Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Hà Nam và Thành lập Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Duy Tiên, tỉnh Hà Nam.

4) Nghị quyết số 830/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Hòa Bình. Sau khi sắp xếp, tỉnh Hòa Bình có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 09 huyện và 01 thành phố; 151 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 131 xã, 10 phường và 10 thị trấn.

5) Nghị quyết số 831/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Nghệ An. Sau khi sắp xếp, tỉnh Nghệ An có 21 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 17 huyện, 01 thành phố và 03 thị xã; 460 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 411 xã, 32 phường và 17 thị trấn.

6) Nghị quyết số 832/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Quảng Trị. Sau khi sắp xếp, tỉnh Quảng Trị có 10 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 08 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố; 125 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 101 xã, 13 phường và 11 thị trấn.

7) Nghị quyết số 833/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Lâm Đồng. Sau khi sắp xếp, tỉnh Lâm Đồng có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 10 huyện và 02 thành phố; 142 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 111 xã, 18 phường và 13 thị trấn.

8) Nghị quyết số 834/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Thừa Thiên Huế. Sau khi sắp xếp, tỉnh Thừa Thiên Huế có 09 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 06 huyện, 02 thị xã và 01 thành phố; 145 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 98 xã, 39 phường và 08 thị trấn.

9) Nghị quyết số 835/NQ-UBTVQH14 về việc thành lập phường Quảng Thành thuộc thị xã Gia Nghĩa và thành phố Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đăk Nông. Theo Nghị quyết, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định Thành lập phường Quảng Thành thuộc thị xã Gia Nghĩa và thành phố Gia Nghĩa thuộc tỉnh Đắk Nông; Thành lập Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Gia Nghĩa, tỉnh Đắk Nông. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

10) Nghị quyết số 836/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Long An. Sau khi sắp xếp, tỉnh Long An có 15 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 13 huyện, 01 thị xã và 01 thành phố; 188 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 161 xã, 12 phường và 15 thị trấn.

11) Nghị quyết số 837/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp huyện, cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ninh. Theo Nghị quyết, nhập toàn bộ 843,54 km2 diện tích tự nhiên, 51.003 người của huyện Hoành Bồ vào thành phố Hạ Long. Sau khi nhập, thành phố Hạ Long có 1.119,12 km2 diện tích tự nhiên, quy mô dân số 300.267 người, đồng thời Sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã thuộc tỉnh Quảng Ninh; Giải thể Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hoành Bồ, tỉnh Quảng Ninh để nhập vào Tòa án nhân dân, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Hạ Long, tỉnh Quảng Ninh. Nghị quyết này có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 01 năm 2020.

12) Nghị quyết số 838/NQ-UBTVQH14 về việc sắp xếp các đơn vị hành chính cấp xã của tỉnh Đồng Tháp. Theo đó, sẽ mhập toàn bộ 14,40 km2 diện tích tự nhiên và 7.898 người của xã Thường Thới Hậu B vào xã Thường Lạc. Sau khi nhập, xã Thường Lạc có 22,88 km2 diện tích tự nhiên và quy mô dân số 11.131 người. Sau khi sắp xếp, tỉnh Đồng Tháp có 12 đơn vị hành chính cấp huyện, gồm 09 huyện, 01 thị xã và 02 thành phố; 143 đơn vị hành chính cấp xã, gồm 117 xã, 17 phường và 09 thị trấn.

13) Nghị quyết 843/NQ-UBTVQH14 ngày 25/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn việc miễn nhiệm chức vụ Phó Chủ nhiệm Ủy ban Kinh tế của Quốc hội khóa XIV đối với ông Nguyễn Đức Kiên, Tổ trưởng Tổ tư vấn kinh tế của Thủ tướng Chính phủ.

14) Nghị quyết 839/NQ-UBTVQH14 ngày 20/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Hưng Yên khóa XVI, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Đặng Minh Ngọc, kể từ ngày 5/12/2019.

15) Nghị quyết 840/NQ-UBTVQH14 ngày 20/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XIV, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với bà Bùi Mai Hoa, kể từ ngày 5/12/2019.

16) Nghị quyết 841/NQ-UBTVQH14 ngày 20/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Ninh Bình khóa XIV, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Đinh Ngọc Hà, kể từ ngày 5/12/2019.

17) Nghị quyết 844/NQ-UBTVQH14 ngày 25/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu khóa XIV, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Bùi Từ Thiện, kể từ ngày 9/12/2019.

18) Nghị quyết 846/NQ-UBTVQH14 ngày 25/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả bầu Phó Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Lai Châu khóa XIV, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với ông Chu Lê Chinh, kể từ ngày 9/12/2019.

19) Nghị quyết 845/NQ-UBTVQH14 ngày 25/12/2019, Ủy ban Thường vụ Quốc hội phê chuẩn kết quả miễn nhiệm Chủ tịch Hội đồng nhân dân tỉnh Bình Phước khóa IX, nhiệm kỳ 2016-2021 đối với bà Trần Tuệ Hiền, kể từ ngày 9/12/2019./.

Toàn Bộ Chế Độ Nghỉ Hưu, Nghỉ Hưu Trước Tuổi Của Giáo Viên / 2023

Ngày 20/11/2019, kỳ họp thứ 8 Quốc hội khóa XIV đã chính thức thông qua Bộ luật Lao động sửa đổi với điểm mới nổi bật là tăng tuổi nghỉ hưu.

Theo đó, hơn 90% đại biểu tán thành với phương án tăng tuổi nghỉ hưu theo lộ trình:

Tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường được điều chỉnh theo lộ trình cho đến khi đủ 62 tuổi với nam vào năm 2028 và đủ 60 tuổi đối với lao động nữ vào năm 2035.

Kể từ năm 2021, tuổi nghỉ hưu của người lao động trong điều kiện lao động bình thường là đủ 60 tuổi 03 tháng đối với nam; đủ 55 tuổi 04 tháng đối với nữ. Sau đó, cứ mỗi năm tăng thêm 03 tháng với lao động nam; 04 tháng với lao động nữ.

Như vậy thì tuổi nghỉ hưu đã chính thức được thông qua và áp dụng từ 01/01/2021, việc tăng thực hiện theo lộ trình, không có ngoại lệ nào cho giáo viên kể cả giáo viên mầm non, giáo viên dạy âm nhạc, giáo viên nữ dạy thể dục…

Trước lo lắng, băn khoăn của nhiều giáo viên nhất là giáo viên nữ dạy mầm non, thể dục…không thể giảng dạy đến 60 tuổi, thì sẽ có nhiều giáo viên sẽ nghỉ hưu, nghỉ hưu trước tuổi.

Nhưng để xin nghỉ trước tuổi thì người lao động trong đó có giáo viên phải suy nghĩ thật kỹ về thời gian, điều kiện, chế độ khi nghỉ hưu trước tuổi.

Nghỉ việc diện tinh giản biên chế

Chính sách nghỉ hưu trước tuổi với công chức thuộc diện tinh giản biên chế được quy định tại Điều 8 Nghị định 108/2014/NĐ-CP và sửa đổi, bổ sung bởi Nghị định 113/2018/NĐ-CP.

Để được xếp vào diện tinh giản biên chế phải đáp ứng các yêu cầu, nhiệm vụ không hề dễ dàng, tôi xin chia sẻ các trường hợp tinh giản biên chế.

Thứ nhất, áp dụng với công chức nam đủ 50 tuổi – đủ 53 tuổi, nữ đủ 45 tuổi – đủ 48 tuổi, đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên, trong đó có 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên sẽ được hưởng các chế độ:

Hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật bảo hiểm xã hội.

Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do nghỉ hưu trước tuổi.

Được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tuổi tối thiểu tại điểm b, khoản 1 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội (nam từ đủ 55 – 60 tuổi; nữ từ đủ 50 – 55 tuổi).

Được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác có đóng đủ bảo hiểm xã hội; từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

Thứ hai, á p dụng với công chức nam từ đủ 55 tuổi – đủ 58 tuổi; nữ từ đủ 50 – đủ 53 tuổi, đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên sẽ:

Được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Được trợ cấp 05 tháng tiền lương cho 20 năm đầu công tác có đóng đủ bảo hiểm xã hội; từ năm thứ 21 trở đi, mỗi năm công tác có đóng bảo hiểm xã hội được trợ cấp 1/2 tháng tiền lương.

Được trợ cấp 03 tháng tiền lương cho mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi so với quy định tuổi tối thiểu tại điểm a, khoản 1 Điều 54 Luật Bảo hiểm xã hội (nam từ đủ 60 tuổi; nữ từ đủ 55 tuổi).

Thứ ba, áp dụng với công chức nam trên 53 tuổi – dưới 55 tuổi; nữ trên 48 tuổi đến dưới 50 tuổi, đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên; trong đó có 15 năm làm công việc nặng nhọc, độc hại, nguy hiểm hoặc có đủ 15 năm làm việc ở nơi có phụ cấp khu vực hệ số 0,7 trở lên.

Hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Thứ tư, áp dụng đối với công chức nam trên 58 tuổi đến dưới 60 tuổi; nữ trên 53 tuổi đến dưới 55 tuổi; đóng bảo hiểm xã hội đủ 20 năm trở lên.

Được hưởng chế độ hưu trí theo quy định của pháp luật về bảo hiểm xã hội.

Không bị trừ tỷ lệ lương hưu do việc nghỉ hưu trước tuổi.

Một số trường hợp sẽ được tinh giản biên chế

Chưa đạt trình độ đào tạo theo tiêu chuẩn chuyên môn, nghiệp vụ quy định đối với vị trí việc làm đang đảm nhiệm, nhưng không có vị trí việc làm khác phù hợp để bố trí và không thể bố trí đào tạo lại để chuẩn hóa về chuyên môn, nghiệp vụ hoặc được cơ quan bố trí việc làm khác, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng;

Có chuyên ngành đào tạo không phù hợp với vị trí việc làm hiện đang đảm nhiệm nên bị hạn chế về năng lực hoàn thành công việc được giao, nhưng không thể bố trí việc làm khác hoặc được cơ quan bố trí việc làm khác, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cán bộ, công chức được phân loại, đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực hoặc có 01 năm hoàn thành nhiệm vụ nhưng còn hạn chế về năng lực và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp hoặc không hoàn thành nhiệm vụ trong năm trước liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, viên chức có 01 năm được phân loại đánh giá xếp vào mức hoàn thành nhiệm vụ và 01 năm không hoàn thành nhiệm vụ nhưng không thể bố trí việc làm khác phù hợp hoặc không hoàn thành nhiệm vụ trong năm trước liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý;

Có 02 năm liên tiếp liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế, mà trong từng năm đều có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội, có xác nhận của cơ sở khám chữa bệnh và của cơ quan Bảo hiểm xã hội chi trả trợ cấp ốm đau theo quy định hiện hành của pháp luật hoặc trong năm trước liền kề tại thời điểm xét tinh giản biên chế có tổng số ngày nghỉ làm việc bằng hoặc cao hơn số ngày nghỉ tối đa do ốm đau theo quy định tại khoản 1 Điều 26 Luật bảo hiểm xã hội, cá nhân tự nguyện thực hiện tinh giản biên chế và được cơ quan, đơn vị trực tiếp quản lý đồng ý.

Nghỉ hưu trước tuổi do suy giảm khả năng lao động

Người nghỉ hưu trước tuổi là người nghỉ trước thời gian theo tiêu chuẩn nêu trên. Tuy nhiên, theo Điều 16 Thông tư 59/2015/TT-BLĐTBXH, người nghỉ hưu trước tuổi vẫn phải đáp ứng điều kiện đã có đủ 20 năm đóng bảo hiểm xã hội và thuộc một trong các trường hợp:

Bị suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80% và đảm bảo điều kiện về tuổi đời:

Bị suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên và nam đủ 50 tuổi, nữ đủ 45 tuổi.

Như vậy, để được nghỉ hưu trước tuổi, người lao động phải làm giám định mức suy giảm khả năng lao động và mức suy giảm tối thiểu là 61%.

Nghỉ hưu trước tuổi không thuộc 2 trường hợp trên

Như đã nói ở trên để việc nghỉ việc hưởng lương hưu, nghỉ trước tuổi thì xem xét có đủ điều kiện nghỉ việc dạng tinh giản biên chế hoặc phải giám định tỷ lệ sức khỏe suy giảm phải đạt từ 61% trở lên.

Việc đạt 2 trường hợp trên chắc chắn sẽ gặp rất nhiều khó khăn, sẽ có nhiều trường hợp không đạt được các điều kiện trên.

Như vậy còn có thể có trường hợp cuối cùng là giáo viên xin nghỉ việc bình thường, không phải 2 trường hợp trên.

Nếu công chức, viên chức không thuộc diện tinh giản biên chế nhưng đủ điều kiện nghỉ hưu trước tuổi theo quy định tại Điều 55 Luật Bảo hiểm xã hội 2014 thì mức lương hưu được tính như sau:

Được hưởng 45% mức bình quân tiền lương tháng đóng bảo hiểm xã hội và tương ứng với số năm đóng bảo hiểm xã hội (nghỉ hưu từ năm 2019 là 17 năm, 2020 là 18 năm, 2021 là 19 năm và từ 2022 trở đi là 20 năm); sau đó cứ mỗi năm được tính thêm 2%.

Mỗi năm nghỉ hưu trước tuổi giảm đi 2%.

Như vậy, nếu giáo viên xin nghỉ việc thuộc trường hợp trên nếu đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội ghi ở trên thì sẽ nghỉ hưu ở dạng “hưu chờ”, tức là nghỉ hưu chờ đến khi nam đủ 62 tuổi (thời điểm năm 2028), nữ đủ 60 tuổi (thời điểm năm 2035)

Tôi ví dụ vào thời điểm 2035 thời điểm áp dụng tuổi nghỉ hưu của nữ là 60 tuổi, giáo viên nữ trên dạy đến 56 tuổi không thuộc diện tinh giản biên chế, giám định sức khỏe, thương tật… và đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội để hưởng lương hưu nếu làm đơn xin nghỉ trước tuổi (trước 4 năm) thì sẽ chờ khi đến đủ 60 tuổi sẽ hưởng lương hưu 67% giảm 8% do nghỉ hưu trước tuổi 4 năm, trong thời gian nghỉ 4 năm trên gọi là thời gian “chờ” đủ tuổi để hưởng lương hưu (có thể nhận bảo hiểm thất nghiệp trong thời gian quy định).

Nếu không đủ thời gian đóng bảo hiểm xã hội sẽ được lĩnh chế độ bảo hiểm xã hội một lần.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Định 29/Cp Của Chính Phủ Về Chế Độ Nghỉ Hưu Do Sắp Xếp Tổ Chức Và Nhân Sự / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!