Xu Hướng 12/2022 # Nghị Định 43 Về Đăng Ký Kinh Doanh / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Nghị Định 43 Về Đăng Ký Kinh Doanh / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Nghị Định 43 Về Đăng Ký Kinh Doanh / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nghị định này quy định chi tiết về hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký doanh nghiệp, đăng ký hộ kinh doanh; quy định về cơ quan đăng ký kinh doanh và quản lý nhà nước về đăng ký doanh nghiệp.

1. Đăng ký doanh nghiệp quy định tại Nghị định này bao gồm nội dung về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế đối với các loại hình doanh nghiệp thành lập theo quy định của Luật Doanh nghiệp. Đăng ký doanh nghiệp bao gồm đăng ký thành lập mới doanh nghiệp và đăng ký thay đổi nội dung đăng ký doanh nghiệp.

2. Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp là văn bản hoặc bản điện tử mà cơ quan đăng ký kinh doanh cấp cho doanh nghiệp ghi lại những thông tin về đăng ký kinh doanh và đăng ký thuế do doanh nghiệp đăng ký.

Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp đồng thời là Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh và Giấy chứng nhận đăng ký thuế của doanh nghiệp.

4. Cổng thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia là trang thông tin điện tử để các tổ chức, cá nhân thực hiện đăng ký doanh nghiệp qua mạng, truy cập thông tin về đăng ký doanh nghiệp và phục vụ cho công tác cấp Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp của cơ quan đăng ký kinh doanh.

5. Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp là tập hợp dữ liệu về đăng ký doanh nghiệp trên phạm vi toàn quốc. Thông tin trong hồ sơ đăng ký doanh nghiệp lưu giữ tại Cơ sở dữ liệu quốc gia về đăng ký doanh nghiệp có giá trị pháp lý là thông tin gốc về doanh nghiệp.

1. Ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi và mã hóa theo ngành cấp bốn trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, trừ những ngành, nghề cấm kinh doanh.

Nội dung cụ thể của các phân ngành trong ngành kinh tế cấp bốn được thực hiện theo Quy định về nội dung hệ thống ngành kinh tế Việt Nam do Bộ Kế hoạch và Đầu tư ban hành.

Việc mã hóa ngành, nghề đăng ký kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp chỉ có ý nghĩa trong công tác thống kê.

Căn cứ vào Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam, người thành lập doanh nghiệp tự lựa chọn ngành, nghề kinh doanh và ghi mã ngành, nghề kinh doanh vào Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp. Cơ quan đăng ký kinh doanh đối chiếu và ghi ngành, nghề kinh doanh, mã số ngành, nghề kinh doanh vào Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp.

2. Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.

3. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam nhưng được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì ngành, nghề kinh doanh trong Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp được ghi theo ngành, nghề quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật đó.

4. Đối với những ngành, nghề kinh doanh không có trong Hệ thống ngành kinh tế Việt Nam và chưa được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật khác thì cơ quan đăng ký kinh doanh thông báo cho Bộ Kế hoạch và Đầu tư (Tổng cục Thống kê) để xem xét bổ sung mã mới.

5. Ngành, nghề kinh doanh có điều kiện được quy định tại các Luật của Quốc hội, Pháp lệnh của Ủy ban Thường vụ Quốc hội và Nghị định của Chính phủ. Nghiêm cấm việc ban hành và quy định không đúng thẩm quyền về các ngành, nghề kinh doanh có điều kiện. Doanh nghiệp được quyền kinh doanh ngành, nghề kinh doanh có điều kiện kể từ khi có đủ điều kiện theo quy định của pháp luật. Việc quản lý nhà nước đối với ngành, nghề kinh doanh có điều kiện và kiểm tra việc chấp hành điều kiện kinh doanh của doanh nghiệp thuộc thẩm quyền của cơ quan chuyên ngành theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

6. Ngành, nghề kinh doanh phải có chứng chỉ hành nghề, điều kiện cấp chứng chỉ hành nghề tương ứng và việc sử dụng chứng chỉ hành nghề trong hoạt động sản xuất, kinh doanh của doanh nghiệp thực hiện theo quy định của pháp luật chuyên ngành.

1. Tên doanh nghiệp phải viết được bằng các chữ cái trong Bảng chữ cái tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được và bao gồm hai thành tố sau đây:

a) Loại hình doanh nghiệp, bao gồm: công ty trách nhiệm hữu hạn, cụm từ trách nhiệm hữu hạn có thể viết tắt là TNHH; công ty cổ phần, cụm từ cổ phần có thể viết tắt là CP; công ty hợp danh, cụm từ hợp danh có thể viết tắt là HD; doanh nghiệp tư nhân, cụm từ tư nhân có thể viết tắt là TN;

b) Tên riêng của doanh nghiệp.

2. Doanh nghiệp chỉ được sử dụng ngành, nghề kinh doanh, hình thức đầu tư để cấu thành tên riêng của doanh nghiệp nếu doanh nghiệp có đăng ký ngành, nghề đó hoặc thực hiện đầu tư theo hình thức đó.

3. Tên tập đoàn kinh tế nhà nước do Thủ tướng Chính phủ quyết định.

1. Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải được viết bằng các chữ cái trong bảng chữ cái Tiếng Việt, có thể kèm theo các chữ cái F, J, Z, W, chữ số và ký hiệu, phát âm được.

2. Tên chi nhánh, văn phòng đại diện, địa điểm kinh doanh phải mang tên doanh nghiệp đồng thời kèm theo cụm từ “Chi nhánh” đối với đăng ký thành lập chi nhánh, cụm từ “Văn phòng đại diện” đối với đăng ký thành lập văn phòng đại diện, hình thức tổ chức của địa điểm kinh doanh.

3. Đối với những doanh nghiệp nhà nước khi chuyển thành đơn vị hạch toán phụ thuộc do yêu cầu tổ chức lại thì được phép giữ nguyên tên doanh nghiệp nhà nước trước khi tổ chức lại.

1. Hộ kinh doanh do một cá nhân là công dân Việt Nam hoặc một nhóm người hoặc một hộ gia đình làm chủ, chỉ được đăng ký kinh doanh tại một địa điểm, sử dụng không quá mười lao động, không có con dấu và chịu trách nhiệm bằng toàn bộ tài sản của mình đối với hoạt động kinh doanh.

2. Hộ gia đình sản xuất nông, lâm, ngư nghiệp, làm muối và những người bán hàng rong, quà vặt, buôn chuyến, kinh doanh lưu động, làm dịch vụ có thu nhập thấp không phải đăng ký, trừ trường hợp kinh doanh các ngành, nghề có điều kiện. Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định mức thu nhập thấp áp dụng trên phạm vi địa phương.

3. Hộ kinh doanh có sử dụng thường xuyên hơn mười lao động phải chuyển đổi sang hoạt động theo hình thức doanh nghiệp.

1. Công dân Việt Nam đủ 18 tuổi, có năng lực pháp luật và năng lực hành vi dân sự đầy đủ; các hộ gia đình có quyền thành lập hộ kinh doanh và có nghĩa vụ đăng ký hộ kinh doanh theo quy định tại Chương này.

2. Cá nhân, hộ gia đình quy định tại khoản 1 Điều này chỉ được đăng ký một hộ kinh doanh trong phạm vi toàn quốc.

Thành lập công ty, luật sư tư vấn

Nghị Định Về Đăng Ký Doanh Nghiệp / 2023

Luật Doanh nghiệp 2014 và Luật Đầu tư 2014 được Quốc hội thông qua Nghị định về đăng ký doanh nghiệp ngày 26/11/2014 sẽ bắt đầu có hiệu lực thi hành từ 01/7/2015. Hai dự án Luật này được cộng đồng đánh giá cao là có tính cải cách mạnh mẽ, đánh dấu một mốc mới trong lộ trình tự do hóa kinh doanh ở nước ta.

Hội thảo Giới thiệu Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014 và xin ý kiến Nghị định về đăng ký doanh nghiệp tại Hà Nội

Nhằm giới thiệu một số nội dung quan trọng của Luật Doanh nghiệp 2014, Luật Đầu tư 2014, đồng thời xin ý kiến về định hướng sửa đổi Nghị định về đăng ký doanh nghiệp, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã phối hợp với Vụ Pháp chế, Viện Nghiên cứu Quản lý kinh tế Trung ương tổ chức Hội thảo về các nội dung trên tại Hà Nội. Tham dự Hội thảo có sự góp mặt của Sở Kế hoạch và Đầu tư các tỉnh phía bắc và đại diện một số công ty luật, văn phòng luật sư trên địa bàn thành phố Hà Nội.

Phát biểu khai mạc Hội thảo, Bà Trần Thị Hồng Minh – Cục trưởng Cục Quản lý đăng ký kinh doanh, Chủ trì Hội thảo – đã nhấn mạnh những kết quả tích cực mà Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014 mang lại cho môi trường kinh doanh Việt Nam. Với vai trò là cơ quan phối hợp triển khai xây dựng các Luật trên, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã đóng góp không nhỏ vào sự thành công của Luật Đầu tư 2014 và Luật Doanh nghiệp 2014, được Quốc hội đánh giá cao.

Đồng thời, Bà Minh cũng nêu rõ ý nghĩa của việc xây dựng Nghị định hướng dẫn về đăng ký doanh nghiệp (thay thế Nghị định số 43/2010/NĐ-CP)

Tiếp tục nội dung của Hội thảo, Ông Phan Đức Hiếu, Trưởng ban môi trường kinh doanh, Viện Nghiên cứu quản lý kinh tế Trung ương đã có những tóm tắt cơ bản về những điểm đổi mới của Luật Doanh nghiệp 2014. Ông Hiếu nêu rõ Luật Doanh nghiệp có vai trò pháp định đối với doanh nghiệp trong việc gia nhập (thành lập) và rút khỏi thị trường (giải thể) của doanh nghiệp. Ngoài ra, để hoạt động trên thị trường, doanh nghiệp còn chịu sự tác động của rất nhiều quy định khác về sở hữu, giao dịch, trật tự thị trường,…

Trong quy trình gia nhập thị trường, đăng ký doanh nghiệp chỉ chiếm 2 trong tổng số 10 bước tham gia thị trường hiện nay mà doanh nghiệp phải thực hiện. Như vậy, nhìn ở một phạm vi lớn hơn, cải cách môi trường kinh doanh không chỉ là cải cách về thủ tục gia nhập thị trường mà phải là cải cách tổng thể trên nhiều phương diện.

Tương tự, đối với cải cách gia nhập thị trường lại đòi hỏi nhiều cơ quan cùng phối hợp thực hiện chứ không chỉ là nhiệm vụ của cơ quan đăng ký kinh doanh (ĐKKD).

Trong phạm vi quy định của Luật Doanh nghiệp về việc gia nhập thị trường, hai thay đổi cơ bản sẽ cắt giảm nhiều thời gian, chi phí của doanh nghiệp đó là quy định về đăng ký ngành, nghề kinh doanh và con dấu doanh nghiệp.

Với việc không yêu cầu ghi ngành, nghề kinh doanh trên Giấy chứng nhận đăng ký doanh nghiệp (GCN ĐKDN), doanh nghiệp có quyền kinh doanh những ngành, nghề mà pháp luật không cấm. Đối với những ngành, nghề kinh doanh có điều kiện, doanh nghiệp chỉ được phép kinh doanh khi đáp ứng đủ điều kiện kinh doanh.

Theo quy định, khi doanh nghiệp có nhu cầu thay đổi ngành, nghề kinh doanh, doanh nghiệp thông báo cho cơ quan ĐKKD để ghi nhận vào Hệ thống Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (HT TTĐKDNQG). Quy định này đã thay đổi về bản chất quản lý nhà nước. Theo đó, nhà nước tôn trọng quyền tự do kinh doanh của người dân và người dân có trách nhiệm thông báo những lĩnh vực kinh doanh của mình để đảm bảo thống kê và hoạch định chính sách.

Luật Doanh nghiệp 2014 thể hiện bước chuyển biến đáng kể về quan điểm quản lý nhà nước đối với con dấu của doanh nghiệp. Theo đó, doanh nghiệp có toàn quyền quyết định về hình thức, nội dung, việc bảo quản và sử dụng con dấu. Cơ quan ĐKKD chỉ có trách nhiệm công khai thông tin con dấu do doanh nghiệp cung cấp trên Cổng Thông tin đăng ký doanh nghiệp quốc gia (Cổng TT ĐKDNQG) nhằm đảm bảo giám sát của xã hội và nâng tính minh bạch của môi trường kinh doanh.

Bên cạnh những thay đổi cơ bản trên, Luật Doanh nghiệp 2014 cũng hướng tới hài hòa hóa các thủ tục đăng ký kinh doanh, đăng ký lao động, đăng ký thuế nhằm tiếp tục rút ngắn thời gian gia nhập thị trường của doanh nghiệp. Với những chuyển biến đáng kể này, việc gia nhập thị trường của doanh nghiêp dự kiến sẽ được cắt giảm 50% số thủ tục và giảm 2/3 thời gian. Những thay đổi này nếu được triển khai đồng bộ và hiệu quả thì thứ hạng của Việt Nam trong báo cáo môi trường kinh doanh của Ngân hàng thế giới năm tới sẽ được tăng bậc đáng kể.

Cũng trong Hội thảo, một số vấn đề cần định hướng tại Nghị định về đăng ký doanh nghiệp đã được đưa ra trao đổi.

Bà Nguyễn Hồng Vân, Phó Trưởng phòng Nghiệp vụ đăng ký kinh doanh, Cục Quản lý đăng ký kinh doanh đã trình bày 7 (bảy) nhóm nội dung cần xin ý kiến (i) về những quy định chung; (ii) về việc đăng ký thành lập doanh nghiệp; (iii) đăng ký thay đổi nội dung ĐKDN; (iv) tổ chức lại, giải thể, thu hồi GCN ĐKDN; (v) Quy trình trao đổi thông tin ĐKDN; (vi) Quy định về hộ kinh doanh; (vii) Quy định pháp lý trong chuyển đổi dữ liệu, tách/đổi Giấy phép ĐT/Giấy CNĐT thành GCN ĐKDN.

Tại các nội dung này, một số Luật sư, đại diện các Phòng Đăng ký kinh doanh đã có ý kiến tham gia góp ý.

Tuy nhiên, những quan điểm này cần có định hướng và giới hạn cụ thể nhằm phục vụ đối tượng lớn là các doanh nghiệp làm ăn chân chính

Chứ không tạo điều kiện cho các doanh nghiệp có hành vi sai trái, ví dụ như việc quy định đăng ký ngành, nghề, liệu có nên cho phép doanh nghiệp tự do đăng ký quá nhiều, hoặc không giới hạn số lượng ngành, nghề được phép đăng ký.

Những doanh nghiệp đăng ký quá nhiều ngành, nghề; về thực chất có thực hiện các ngành, nghề đó hay không. Tuy quan điểm của nhà nước là “cởi mở”, nhưng cũng cần có cơ sở khoa học và giới hạn hợp lý để định hướng cộng đồng trong việc cung cấp đúng-đủ thông tin cho cơ quan quản lý.

Nên xem xét quy định một số ngành, nghề yêu cầu lý lịch tư pháp để cơ quan ĐKKD; có cơ sở yêu cầu lý lịch tư pháp theo quy định tại Luật Doanh nghiệp 2014. Ông Nguyễn Văn Hải – Trưởng phòng ĐKKD Nghệ An nhất trí; với quan điểm việc ghép mã ngành, nghề kinh doanh là nhiệm vụ của cơ quan ĐKKD. Tuy nhiên, Ông Hải cũng đề nghị cần có hướng xử lý về mặt kỹ thuật; và pháp lý khi doanh nghiệp đăng ký “tất cả các ngành, nghề; mà pháp luật không cấm” để đảm bảo không hạn chế quyền tự do kinh doanh; của doanh nghiệp nhưng cũng đảm bảo doanh nghiệp cung cấp thông tin đúng cho cơ quan ĐKKD.

Với ý kiến cho rằng nên có một hay nhiều mẫu dấu tại một thời điểm, ông Lê Xuân Hiền; cho rằng không nên hạn chế số lượng mẫu dấu của doanh nghiệp; nhưng cần quy định rõ về mẫu dấu pháp nhân để tránh nhầm lẫn. Cùng quan điểm trên, Luật sư Trương Thanh Đức nhấn mạnh; Luật Doanh nghiệp 2015 đã có nhiều đổi mới thì cơ quan đăng ký kinh doanh; nên là cơ quan đi đầu trong việc triển khai những đổi mới; như cho phép doanh nghiệp không cần đóng dấu tại hồ sơ ĐKDN.

Ông Nguyễn Văn Hải – Trưởng Phòng ĐKKD Nghệ An cho rằng số lượng NĐDPL; có thể nhiều nhưng nên quy định một người; có thẩm quyền ký vào hồ sơ ĐKDN, đề xuất đánh số thứ 1. Nhiều đại biểu cho rằng số lượng NĐDPL càng nhiều thì càng tăng rủi ro tranh chấp; cho doanh nghiệp, nên doanh nghiệp phải cân đối giữa nhu cầu và các rủi ro có thể phát sinh.

Việc tăng số lượng NĐDPL dẫn đến yêu cầu phải làm rõ; về thời điểm có hiệu lực của các quyết định trong doanh nghiệp. Có ý kiến cho rằng đối với doanh nghiệp sẽ là thời điểm Quyết định; được chính thức thông qua, còn đối với bên ngoài – bên thứ ba thì đó; là thời điểm được cơ quan ĐKKD ghi nhận nội dung thông báo của doanh nghiệp. Theo Luật sư Phạm Liêm Chính, thực tiễn quốc tế cho thấy NĐDPL; là những người được doanh nghiệp ủy quyền; do đó phải làm rõ việc ủy quyền của lãnh đạo doanh nghiệp. Việc quản lý NĐDPL cần phải đảm bảo sự khoa học, phù hợp; không gây thêm khó khăn, vướng mắc cho doanh nghiệp.

Nhiều ý kiến các luật sư, đại diện Phòng ĐKKD cho rằng đây; là quy định tương đối khó để triển khai đúng. Do đó, các ý kiến cho rằng Nghị định phải làm rõ nội dung này; để không gây phiền hà cho doanh nghiệp, đồng thời thuận lợi cho cơ quan ĐKKD khi thực hiện. Một số ý kiến cho rằng bước kiểm tra lý lịch tư pháp; nên đưa vào quy trình “hậu kiểm” để không làm ảnh hưởng; đến việc tham gia thị trường của doanh nghiệp.

Điểm đổi mới cơ bản có thể kể tới; là việc tách thủ tục đầu tư và thủ tục thành lập doanh nghiệp. Theo đó, nhà đầu tư nước ngoài thực hiện thủ tục đăng ký đầu tư trước; sau khi được cấp Giấy CNĐT; thì thực hiện đăng ký thành lập doanh nghiệp như nhà đầu tư trong nước.

Luật Đầu tư 2014 đã quy định thêm tổ chức kinh tế; có vốn đầu tư nước ngoài do nhà đầu tư nước ngoài; là cổ đông hoặc thành viên và những tổ chức này sẽ được coi; là nhà đầu tư nước ngoài khi yếu tố nước ngoài; sở hữu trên 51% vốn điều lệ.

Bên cạnh đó, Luật Đầu tư 2014 đã phân định rõ phạm vi; điều chỉnh giữa Luật Đầu tư và Luật Chứng khoán; trong thủ tục góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; quy định rõ điều kiện để thực hiện góp vốn, mua cổ phần, phần vốn góp; của nhà đầu tư nước ngoài và thủ tục đăng ký góp vốn, mua cổ phần; trong trường hợp nhà đầu tư nước ngoài chiếm trên 51% vốn góp.

Các đại biểu đều nhất trí việc hoàn thiện Cơ sở dữ liệu quốc gia về ĐKDN; sẽ là một bước đi quan trọng trong lộ trình công khai hóa; minh bạch hóa thông tin doanh nghiệp trên thị trường.

Thủ Tục Đăng Ký Kinh Doanh Hộ Gia Đình ? Kinh Doanh Nhỏ Lẻ Phải Đăng Ký Kinh Doanh Không ? / 2023

Theo thông tin bạn cung cấp, việc kinh doanh của vợ chồng bạn thuộc vào đối tượng hộ kinh doanh được quy định tại Điều 49, Nghị định 78/2015/NĐ-CP

“Điều 71. Hồ sơ, trình tự, thủ tục đăng ký hộ kinh doanh

1. Cá nhân, nhóm cá nhân hoặc người đại diện hộ gia đình gửi Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh đến cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện nơi đặt địa điểm kinh doanh. Nội dung Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh gồm:

a) Tên hộ kinh doanh, địa chỉ địa điểm kinh doanh; số điện thoại, số fax, thư điện tử (nếu có);

b) Ngành, nghề kinh doanh;

đ) Họ, tên, chữ ký, địa chỉ nơi cư trú, số và ngày cấp Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân thành lập hộ kinh doanh đối với hộ kinh doanh do nhóm cá nhân thành lập, của cá nhân đối với hộ kinh doanh do cá nhân thành lập hoặc đại diện hộ gia đình đối với trường hợp hộ kinh doanh do hộ gia đình thành lập.

Kèm theo Giấy đề nghị đăng ký hộ kinh doanh phải có bản sao hợp lệ Thẻ căn cước công dân hoặc Chứng minh nhân dân hoặc Hộ chiếu còn hiệu lực của các cá nhân tham gia hộ kinh doanh hoặc người đại diện hộ gia đình và bản sao hợp lệ biên bản họp nhóm cá nhân về việc thành lập hộ kinh doanh đối với trường hợp hộ kinh doanh do một nhóm cá nhân thành lập.”

c) Nộp đủ lệ phí đăng ký theo quy định.

Trường hợp hồ sơ không hợp lệ, trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận hồ sơ, cơ quan đăng ký kinh doanh cấp huyện phải thông báo rõ nội dung cần sửa đổi, bổ sung bằng văn bản cho người thành lập hộ kinh doanh.

3. Nếu sau 03 ngày làm việc, kể từ ngày nộp hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh mà không nhận được Giấy chứng nhận đăng ký hộ kinh doanh hoặc không nhận được thông báo yêu cầu sửa đổi, bổ sung hồ sơ đăng ký hộ kinh doanh thi người đăng ký hộ kinh doanh có quyền khiếu nại theo quy định của pháp luật về khiếu nại, tố cáo.

“1. Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh có doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống. Doanh thu dưới 100 triệu đồng/năm thì thuộc đối tượng được miễn lệ phí môn bài.

2. Mức thu lệ phí môn bài đối với cá nhân, hộ gia đình hoạt động sản xuất, kinh doanh hàng hóa, dịch vụ như sau:

a) Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 500 triệu đồng/năm: 1.000.000 đồng/năm;

b) Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 300 đến 500 triệu đồng/năm: 500.000 đồng/năm;

c) Cá nhân, nhóm cá nhân, hộ gia đình có doanh thu trên 100 đến 300 triệu đồng/năm: 300.000 đồng/năm”.

Căn cứ Luật thuế GTGT sửa đổi 2013 quy định thuế GTGT. Theo phương pháp thuế khoán, dựa trên doanh thu trong từng lĩnh vực, ngành, nghề để nộp thuế theo tỷ lệ:

* Trường hợp hộ, cá nhân kinh doanh có mức doanh thu hàng năm từ 100 triệu đồng trở xuống thì thuộc đối tượng không chịu thuế GTGT (Theo khoản 25- điều 4, Thông tư số 219/2013/TT-BTC)

Thông tư 92/2015//TT-BTC hướng dẫn thực hiện thuế giá trị gia tăng và thuế thu nhập cá nhân đối với cá nhân cư trú có hoạt động kinh doanh; hướng dẫn thực hiện một số nội dung sửa đổi, bổ sung về thuế thu nhập cá nhân quy định tại Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế 71/2014/QH13 và Nghị định 12/2015/NĐ-CP quy định chi tiết thi hành Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của các Luật về thuế và sửa đổi, bổ sung một số điều của các Nghị định về thuế do Bộ trưởng Bộ Tài chính ban hành :

Đăng Ký Kinh Doanh Ăn Uống / 2023

Ngành ăn uống ở Việt Nam đang phát triển rất nhanh. Các cá nhân/tổ chức khi đăng ký kinh doanh ăn uống cần phải thực hiện đúng thủ tục, quy định hiện hành để tránh những rắc rối ảnh hường đến việc kinh doanh.Bài viết sau đây của công ty Nam Việt Luật sẽ phần nào hỗ trợ các cá nhân/tổ chức về thủ tục và những lưu ý khi đăng ký kinh doanh ăn uống năm 2018.

Khi muốn kinh doanh ngành ăn uống thì người kinh doanh có thể đăng kí thành lập hộ kinh doanh cá thể hoặc thành lập Công ty.

Hồ sơ đăng ký kinh doanh ăn uống hình thức hộ kinh doanh cá thể

– Giấy đề đăng kí Hộ Kinh doanh

– Tờ khai đăng kí thuế theo Mẫu số: 03-ĐK-TCT

– Hợp đồng thuê nhà nếu nơi đặt địa điểm kinh doanh là nhà thuê; Giấy Chứng chứng nhận quyền sử dụng đất nếu nơi kinh doanh là chính là nhà ở của chủ sở hữu.

– Chứng minh nhân dân có sao y chứng thực của các cá nhân tham gia kinh doanh ăn uống

– Giấy ủy quyền có công chứng nếu chủ sở hữu không phải là người đi nộp hồ sơ đăng kí Hộ kinh doanh.

Hồ sơ trên sẽ được nộp tại bộ phận 1 cửa của UBND nơi muốn đặt trụ sở Hộ Kinh doanh cá thể. Ngoài những thông tin cá nhân cơ bản thì những nội dung như tên hộ kinh doanh, số vốn điều lệ, ngành nghề kinh doanh, địa điểm kinh doanh cần đáp ứng đúng yêu cầu của luật kinh doanh hiện hành.

Giấy phép kinh doanh sẽ có kết quả trong vòng từ 3-7 ngày làm việc. Trong thời gian chờ kết quả đăng ký kinh doanh ăn uống, bạn có thể cân nhắc đối với những người tìm đến để thông báo mua sách thuế, phần mềm khai thuế, …

Sau khi có giấy phép, trong vòng 10 ngày, bộ phận thuế sẽ làm việc với bạn và hướng dẫn các cách thức triển khai, hoạt động…

Đăng ký kinh doanh ăn uống dưới hình thức Hộ kinh doanh cá thể thì được hoạt động tại trụ sở đã đăng ký và vì chỉ được đăng kí tại 1 địa chỉ duy nhất trên toàn quốc và mỗi người chỉ được đứng tên duy nhất một Hộ kinh doanh cá thể.

Hồ sơ đăng ký kinh doanh ăn uống hình thức thành lập công ty

Bên cạnh hình thức đăng ký kinh doanh ăn uống hộ kinh doanh cá thể, bạn có thể lựa chọn hình thức thành lập công ty. Có thể là:

Mỗi loại hình công ty khác nhau thì hồ sơ đăng ký thành lập công ty dịch vụ ăn uống có sự khác nhau. Nhưng nhìn chung phải có các thành phần hồ sơ sau:

– Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp (tùy vào loại hình công ty thành lập mà sẽ áp dụng Giấy đề nghị đăng ký doanh nghiệp theo từng phụ lục khác nhau;

– Điều lệ công ty;

– Chứng minh nhân dân sao y chứng thực của các thành viên thành lập công ty ăn uôsng;

– Giấy ủy quyền nếu người đại diện pháp luật không phải là người đi nộp hồ sơ đăng kí thành lập công ty.

Mã ngành đăng ký kinh doanh ăn uống

+ Mã ngành nghề 5610: Nhà hàng và các dịch vụ ăn uống phục vụ lưu động. Mã ngành này có thể kinh doanh dưới hình thức chế biến, phục vụ cố định/ lưu động, có thể kinh doanh ăn uống dưới hình thức phục vụ cho khách hoặc khách tự phục vụ, khách có thể ăn tại chỗ hoặc mang về. Mã ngành 5610 này cũng bao gồm phục vụ ăn uống trên tàu, thuyền, … Mã ngành này được hoạt động tại trụ sở đăng kí kinh doanh.

+ Mã ngành nghề 5630: Dịch vụ phục vụ đồ uống (ngoại trừ việc kinh doanh quán bar, quán giải khát có khiêu vũ, không hoạt động tại trụ sở). Mã ngành nghề ăn uống này bao gồm hoạt động chế biến và phục vụ đồ uống cho khách tại các quán nước, cửa hàng, các loại hàng quán khác, …. Trừ kinh doanh những loại đồ uống đã được đóng sẵn vì nó thuộc nhóm ngành bán lẻ.

+ Mã ngành nghề 4633: đây là mã ngành bán buôn đồ uống. Mã ngành nghề này được hoạt động tại trụ sở, có thể bán buôn các loại đồ uống đa dạng: từ đồ uống theo dạng pha chế cho đến đồ uống được đóng sẵn.

+ Mã ngành nghề 5621: đây là ngành nghề ăn uống theo hợp đồng không thường xuyên với khách hàng (hội họp, phục vụ tiệc, đám cưới…). Ngành nghề này được hoạt động tại trụ sở, hoạt động dưới dạng kí hợp đồng với các sự kiện như hội nghị, cưới, hỏi, liên hoan, tiệc ăn uống, sinh nhật,…

+ Mã ngành nghề 5629: Dịch vụ kinh doanh ăn uống khác. Mã ngành nghề này chủ yếu hoạt động dưới hình thức cantin của công ty, trường học, bệnh viện,… cung cấp suất ăn theo hợp đồng.

Khi thành lập công ty về ăn uống thì bạn lưu ý điều kiện kinh doanh dịch vụ ăn uống đó là cần phải xin giấy chứng nhận an toàn vệ sinh thực phẩm do Sở y tế cấp theo đúng quy định. Việc sở hữu giấy chứng nhận này giúp quá trình hoạt động của mình mới đi vào hoạt động hoàn thiện nhất.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Định 43 Về Đăng Ký Kinh Doanh / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!