Xu Hướng 3/2024 # Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lần Thứ Xix: Hòa Hợp Giữa “Ý Đảng” Với “Lòng Dân” # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lần Thứ Xix: Hòa Hợp Giữa “Ý Đảng” Với “Lòng Dân” được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngay sau Đại hội, tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX và mỗi đại biểu Đại hội với cương vị, trọng trách của mình phải bắt tay ngay vào việc tuyên truyền, triển khai quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Theo ghi nhận, người dân đánh giá, Nghị quyết Đại hội lần này đã thực sự đặt đời sống Nhân dân trong tỉnh vào trung tâm mục tiêu và xuyên suốt tầm nhìn không chỉ của nhiệm kỳ này, mà còn xa hơn, tới 10 năm, định hướng đến 25 năm sau.

Để Nghị quyết Đại hội sớm đi vào cuộc sống, ngay sau Đại hội, tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX và mỗi đại biểu Đại hội với cương vị, trọng trách của mình sẽ bắt tay ngay vào việc tuyên truyền, triển khai quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết.

Tại diễn văn bế mạc Đại hội Đảng biểu tỉnh, ông Nguyễn Trọng Hưng nhấn mạnh, “nhiệm vụ đặt ra đối với Thanh Hóa là rất to lớn và nặng nề, nhưng rất vẻ vang, Ðại hội kêu gọi các cấp, các ngành, toàn thể cán bộ, đảng viên, chiến sĩ lực lượng vũ trang và Nhân dân các dân tộc trong tỉnh, người Thanh Hóa ở ngoài tỉnh tiếp bước truyền thống lịch sử, văn hóa, cách mạng hào hùng của quê hương, nêu cao khí thế cách mạng tiến công, đoàn kết, năng động sáng tạo, dám nghĩ, dám nói, dám làm, dám chịu trách nhiệm, không ngừng nỗ lực, phấn đấu vươn lên, đem hết tâm sức, trí tuệ cùng toàn Đảng bộ phát huy cao nhất mọi tiềm năng, lợi thế để thực hiện thắng lợi những mục tiêu mà Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra”.

Trên tinh thần đó, để Nghị quyết Đại hội sớm đi vào cuộc sống, ông Nguyễn Trọng Hưng đề nghị, ngay sau Đại hội, tập thể Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX và mỗi đồng chí đại biểu Đại hội với cương vị, trọng trách của mình phải bắt tay ngay vào việc tuyên truyền, triển khai quán triệt, cụ thể hóa và tổ chức thực hiện Nghị quyết. Các cấp, các ngành, Mặt trận Tổ quốc và các tổ chức chính trị – xã hội từ tỉnh đến cơ sở, cần có kế hoạch quán triệt sâu rộng trong cán bộ, đảng viên, các tầng lớp Nhân dân về Nghị quyết và Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội, gắn với việc triển khai Nghị quyết Đại hội XIII của Đảng và tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 58-NQ/TW của Bộ Chính trị; khẩn trương xây dựng chương trình, kế hoạch để cụ thể hóa và tập trung chỉ đạo triển khai thực hiện; đồng thời phân công trách nhiệm rõ ràng, tăng cường kiểm tra, giám sát việc thực hiện bằng những công việc, sản phẩm cụ thể, nhằm sớm đưa Nghị quyết của Đảng vào cuộc sống, tạo chuyển biến mạnh mẽ và có hiệu quả cao trong mọi lĩnh vực ngay trong những tháng còn lại của năm 2024 và từ ngày đầu, tháng đầu, năm đầu của kế hoạch 5 năm 2024 – 2026.

Ông Nguyễn Trọng Hưng khẳng định: Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX là Đại hội của “Quyết tâm cao, nỗ lực lớn và hành động quyết liệt”. Trong những ngày qua, từ trong nghị trường của Đại hội – nơi hội tụ trí tuệ của toàn Đảng bộ, đã lan tỏa sự đoàn kết, đổi mới và phát triển đến tất cả các địa phương trong tỉnh, từ nông thôn đến thành thị, từ đồng bằng ven biển đến những địa bàn miền núi biên giới xa xôi của tỉnh, đội ngũ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, người Thanh Hóa ở ngoài tỉnh đã hướng hàng triệu con tim về Đại hội, với niềm tin tuyệt đối vào sự lãnh đạo của Đảng và sự thành công của Đại hội.

“Thành công của Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã tạo khí thế phấn khởi cho toàn Ðảng bộ và Nhân dân các dân tộc tỉnh ta; là động lực tinh thần to lớn cổ vũ mạnh mẽ cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân trong tỉnh, người Thanh Hóa ở tỉnh ngoài phát huy cao độ truyền thống yêu nước, đoàn kết, cách mạng, tranh thủ thời cơ, vượt qua thách thức, linh hoạt, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu nhiều hơn nữa, hành động quyết liệt mạnh mẽ hơn nữa để tổ chức triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội”, ông Hưng phát biểu.

Tiến Anh

Thanh Hóa Triển Khai Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Lần Thứ Xix

(TTV) - Hôm nay 25/12, Ban Thường vụ Tỉnh ủy Thanh Hóa tổ chức hội nghị triển khai Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025. Đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa dự và trực tiếp truyền đạt các nội dung cơ bản trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

Dự hội nghị tại điểm cầu trụ sở cơ quan Tỉnh ủy có các đồng chí: Lại Thế Nguyên, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy; Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh; Trịnh Tuấn Sinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy; các đồng chí trong Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Thường trực HĐND, lãnh đạo UBND tỉnh; các đồng chí nguyên lãnh đạo tỉnh, lãnh đạo đoàn ĐBQH Thanh Hóa, các Ban, Sở, Ngành cấp tỉnh, Ban chủ nhiệm Câu lạc bộ Hàm Rồng. Hội nghị được kết nối trực tuyến tới các địa phương trong toàn tỉnh và truyền hình trực tiếp trên sóng Đài PT – TH Thanh Hóa.

Phát biểu khai mạc hội nghị, đồng chí Lại Thế Nguyên, Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy nhấn mạnh: Hội nghị có ý nghĩa rất quan trọng, nhằm triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025, để Nghị quyết nhanh chóng đi vào cuộc sống.

Đồng chí Phó Bí thư thường trực Tỉnh ủy đề nghị các đại biểu và toàn thể cán bộ, Đảng viên trong Đảng bộ cần tập trung cao, nghiêm túc tiếp thu, nghiên cứu, quán triệt sâu sắc Nghị quyết và chương trình hành động thực hiện Nghị quyết, trọng tâm là các mục tiêu, chỉ tiêu, các giải pháp, chương trình trọng tâm của tỉnh giai đoạn 2024 – 2025, từ đó vận dụng vào quá trình thực hiện nhiệm vụ chính trị tại địa phương, cơ quan, đơn vị, với tinh thần quyết tâm thực hiện thắng lợi Nghị quyết, xây dựng Thanh Hóa trở thành tỉnh khá của cả nước, đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại.

Thay mặt Thường trực, Ban Thường vụ Tỉnh ủy, đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh; Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa trân trọng gửi tới cán bộ, Đảng viên, Nhân dân và các lực lượng vũ trang trong toàn tỉnh lời chúc mừng tốt đẹp nhân dịp chuẩn bị đón chào năm mới 2024. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nhấn mạnh: Đại hội Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 đã thành công rất tốt đẹp, hoàn thành toàn bộ nội dung, chương trình đề ra với chất lượng rất cao. Đặc biệt, sau Đại hội, tinh thần đoàn kết, quyết tâm và khát vọng vươn lên của Đảng bộ, Nhân dân các dân tộc trong tỉnh tiếp tục được khơi dậy mạnh mẽ và có sức lan tỏa sâu rộng, tạo khí thế để cả tỉnh bước vào thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, Nghị quyết 58 của Bộ Chính trị và Nghị quyết Đại Đảng các cấp nhiệm kỳ 2024 – 2025 với niềm tin tưởng và nhiều kỳ vọng.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy Đỗ Trọng Hưng trực tiếp triển khai Nghị quyết Đại hội XIX đến các đại biểu tại các điểm cầu trong toàn tỉnh.

Đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa đi sâu phân tích 2 nội dung chủ yếu của Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, gồm đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII, nhiệm kỳ 2024 – 2024 và  phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu nhiệm kỳ 2024 – 2025.

Đối với những kết quả đạt được về kinh tế xã hội, quốc phòng an ninh, Nghị quyết chỉ rõ: trong nhiệm kỳ 2024 – 2024, Tỉnh ủy đã tập trung lãnh đạo, chỉ đạo xây dựng và triển khai thực hiện nhiều chủ trương, giải pháp về quy hoạch, thể chế, cơ chế chính sách, nhằm khai thác và phát huy hiệu quả các tiềm năng lợi thế của tỉnh, phát triển mạnh các ngành, lĩnh vực, đẩy mạnh thu hút đầu tư, huy động tối đa các nguồn lực cho phát triển, chủ động khắc phục khó khăn, thách thức do thiên tai, dịch bệnh gây ra. Một số kết quả nổi bật là: tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn bình quân giai đoạn 2024 – 2024 dự kiến đạt 12,1%, gấp 1,5 lần so với giai đoạn trước; quy mô GRDP của tỉnh năm 2024 dự kiến đạt 131.199 tỷ đồng, gấp 1,77 lần năm 2024, đứng thứ 8 cả nước; sản xuất nông, lâm, thủy sản phát triển toàn diện; công nghiệp, xây dựng tăng trưởng mạnh; dịch vụ phát triển khá, du lịch và xuất khẩu khởi sắc; thu ngân sách luôn vượt dự toán và tăng cao so với đầu nhiệm kỳ; các thành phần kinh tế có bước phát triển; môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện; văn hóa – xã hội có nhiều chuyển biến tiến bộ, an sinh xã hội được chăm lo; quốc phòng an ninh được giữ vững ổn định.

Nghị quyết Đại hội cũng đã phân tích, chỉ rõ những kết quả đạt được về công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị, trong đó khẳng định có một số lĩnh vực được triển khai thực hiện sáng tạo, đạt kết quả nổi bật.

Cùng với đánh giá những kết quả thực hiện 5 chương trình trọng tâm và 4 khâu đột phá giai đoạn 2024 – 2024, Nghị quyết Đại hội cũng chỉ ra những tồn tại, hạn chế, phân tích các nguyên nhân và rút ra các bài học kinh nghiệm. Trong số 5 bài học kinh nghiệm của cả nhiệm kỳ vừa qua, bài học về đoàn kết được đưa lên hàng đầu.

Trên cơ sở dự báo tình hình quốc tế và trong nước, trong tỉnh, Nghị quyết Đại hội XIX đã đề ra phương hướng, nhiệm vụ và các giải pháp trọng tâm cho nhiệm kỳ tới; đề ra 27 chỉ tiêu chủ yếu trên các lĩnh vực. Trong đó, mục tiêu tốc độ tăng trưởng GRDP bình quân giai đoạn 2024 – 2025 đạt 11% trở lên; GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.200 USD trở lên; tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 750.000 tỷ đồng trở lên; tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hàng năm 1,5% trở lên; tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hàng năm đạt 80% trở lên.

Nghị quyết đề ra 6 chương trình trọng tâm gồm: chương trình phát triển Nông nghiệp và xây dựng Nông thôn mới; chương trình phát triển KKT Nghi Sơn và các khu công nghiệp; chương trình phát triển du lịch; chương trình nâng cao chất lượng văn hóa hóa, giáo dục, y tế; chương trình phát triển kinh tế xã hội khu vực miền núi của tỉnh; chương trình nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo chuyển biến rõ nét trong sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ.

Nghị quyết đề ra 3 khâu đột phá trong nhiệm kỳ, gồm: đột phá về phát triển hạ tầng; đột phá về đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn; đột phá về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ.

Để thực hiện các mục tiêu trong nhiệm kỳ 2024 – 2025, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã thống nhất 9 nhóm nhiệm vụ, giải pháp; trong đó có 3 nhóm nhiệm vụ, giải pháp về phát triển kinh tế.

Đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã trình bày Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, 

nhiệm kỳ 2024 – 2025.

Tại hội nghị, đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Phó Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh đã trình bày Chương trình hành động của Ban chấp hành Đảng bộ tỉnh về thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025. Chương trình hành động đã cụ thể hóa các mục tiêu, nhiệm vụ của Nghị quyết, tạo sự thống nhất cao về nhận thức, hành động của cán bộ, Đảng viên và Nhân dân, đảm bảo triển khai thực hiện thắng lợi Nghị quyết. Đồng chí Chủ tịch UBND tỉnh đề nghị các cấp ủy, tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị được giao xây dựng các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách… phải tập trung triển khai thực hiện, bảo đảm đạt chất lượng tốt nhất, trong đó phải làm rõ mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp, nhất là giải pháp huy động các nguồn lực để thực hiện các chương trình, đề án, cơ chế, chính sách…; phân công trách nhiệm cụ thể cho các cơ quan, đơn vị tổ chức thực hiện; trình Ban Thường vụ Tỉnh ủy, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh bảo đảm đúng thời gian quy định.

Đồng chí Trịnh Tuấn Sinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, trình bày kế hoạch nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.

Tiếp đó, hội nghị đã nghe đồng chí Trịnh Tuấn Sinh, Phó Bí thư Tỉnh ủy, trình bày kế hoạch nghiên cứu, học tập, quán triệt và triển khai thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Trong đó, yêu cầu các cấp ủy đảng trong Đảng bộ tỉnh phải tổ chức cho cán bộ, đảng viên tham gia học tập đầy đủ, có đánh giá, rút kinh nghiệm và viết thu hoạch. Việc tổ chức học tập, quán triệt Nghị quyết phải hoàn thành trước ngày 31/1/2024.

Phát biểu kết luận hội nghị, đồng chí Đỗ Trọng Hưng, Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch HĐND tỉnh, Trưởng đoàn ĐBQH Thanh Hóa biểu dương tinh thần học tập, quán triệt Nghị quyết rất nghiêm túc của các đồng chí lãnh đạo, nguyên lãnh đạo tỉnh, các đại biểu tại các điểm cầu trực tuyến và đông đảo nhân dân theo dõi trực tiếp qua sóng phát thanh – truyền hình.

Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy nêu lên một số nhiệm vụ trọng tâm cần thực hiện, trong đó đặc biệt lưu ý các cấp ủy, tổ chức đảng cần tập trung nghiên cứu, nắm vững những quan điểm cơ bản, tư tưởng chỉ đạo, những nội dung cốt lõi và vấn đề mới trong Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX.  Từ đó, xây dựng chương trình hành động sát với tình hình của địa phương, đơn vị; xác định rõ các vấn đề trọng tâm, trọng điểm, những công việc phải làm trong giai đoạn trước mắt cũng như lâu dài. Đồng chí Bí thư Tỉnh ủy cũng nêu yêu cầu cần tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả học tập, quán triệt, triển khai thực hiện các Nghị quyết, Chỉ thị của Đảng tại Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa trong thời gian tới./.

Theo bản tin thời sự tối ngày 25/12/2024

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lần Thứ Xix, Nhiệm Kỳ 2024

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Thanh Hóa lần thứ XIX, tiến hành từ ngày 26 đến ngày 28 tháng 10 năm 2024, tại thành phố Thanh Hóa; 448 đại biểu chính thức thay mặt cho gần 230 nghìn đảng viên của Đảng bộ đã về dự Đại hội.

QUYẾT NGHỊ

I. Tán thành đánh giá tình hình thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XVIII; phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp nhiệm kỳ 2024 – 2025 đã được nêu trong Báo cáo Chính trị trình Đại hội. Đại hội nhấn mạnh các vấn đề lớn sau đây:

1. Năm năm qua, trong bối cảnh có nhiều thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức; được sự quan tâm lãnh đạo, chỉ đạo, giúp đỡ kịp thời của Trung ương, Đảng bộ, chính quyền, quân và dân các dân tộc Thanh Hóa đã phát huy truyền thống cách mạng, đoàn kết, chủ động, sáng tạo, nỗ lực phấn đấu đạt được nhiều thành tích, kết quả quan trọng và toàn diện trên tất cả các lĩnh vực; có 26/28 chỉ tiêu đạt và vượt kế hoạch. Kinh tế tăng trưởng cao, vượt mục tiêu Đại hội lần thứ XVIII, trong nhóm các tỉnh, thành phố có tốc độ tăng trưởng cao nhất cả nước. Môi trường đầu tư kinh doanh được cải thiện, huy động vốn cho đầu tư phát triển đạt mục tiêu Đại hội. Đã khởi công xây dựng, hoàn thành và đưa vào hoạt động nhiều dự án lớn, tạo động lực thúc đẩy tăng trưởng kinh tế. Thu ngân sách nhà nước luôn vượt dự toán và tăng cao so với đầu nhiệm kỳ, trong nhóm các tỉnh có tốc độ tăng thu ngân sách cao nhất cả nước. Xây dựng nông thôn mới và phát triển đô thị đạt kết quả tích cực, bộ mặt đô thị, nông thôn có nhiều đổi mới. Văn hóa – xã hội chuyển biến tiến bộ; giáo dục mũi nhọn và thể thao thành tích cao luôn đứng trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước; chất lượng khám, chữa bệnh được nâng lên; tỷ lệ hộ nghèo giảm mạnh. Quốc phòng – an ninh, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm. Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị đạt kết quả rõ nét; là một trong các tỉnh đi đầu trong thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy và sáp nhập các đơn vị hành chính cấp xã, thôn, tổ dân phố; năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành của các cấp ủy đảng, chính quyền được nâng lên; đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trong Nhân dân được tăng cường.

Tuy nhiên, tình hình thực hiện nhiệm vụ của tỉnh vẫn còn những hạn chế, khuyết điểm, đó là: Còn 02 chỉ tiêu Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra không đạt kế hoạch (GRDP bình quân đầu người; số lượng đảng viên kết nạp mới). Chất lượng tăng trưởng kinh tế còn thấp. Tái cơ cấu ngành nông nghiệp còn chậm; thu hút đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn chưa tương xứng với tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Một số dự án công nghiệp hiệu quả chưa cao, gây ô nhiễm môi trường; tỷ lệ lấp đầy một số khu công nghiệp còn thấp. Dịch vụ có giá trị gia tăng cao phát triển chưa mạnh. Số lượng dự án quy mô lớn, công nghệ cao trên địa bàn tỉnh còn ít. Thu ngân sách chưa thật sự bền vững. Kết cấu hạ tầng vẫn chưa đáp ứng được yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội. Chỉ số cải cách hành chính xếp thứ hạng thấp so với cả nước. Chất lượng giáo dục đại trà chưa cao. Chất lượng y tế cơ sở còn thấp. Ô nhiễm môi trường, mất vệ sinh an toàn thực phẩm vẫn còn xảy ra ở một số nơi. An ninh trên tuyến biên giới, tuyến biển và một số địa bàn còn tiềm ẩn yếu tố có thể gây mất ổn định. Vẫn còn tổ chức cơ sở đảng yếu kém; một số cán bộ, đảng viên còn vi phạm các quy định của Đảng, pháp luật của Nhà nước, gây dư luận xã hội không tốt. Hoạt động của một số đoàn thể ở cơ sở còn khó khăn.

Những hạn chế, khuyết điểm trên có nhiều nguyên nhân, song chủ yếu là do: Một số cấp ủy đảng, chính quyền, lãnh đạo cơ quan, đơn vị chưa chủ động, thiếu sáng tạo trong lãnh đạo, chỉ đạo triển khai thực hiện nhiệm vụ; năng lực dự báo và khả năng khắc phục, giải quyết những khó khăn, vướng mắc ở ngành, địa phương, đơn vị còn hạn chế. Việc phân cấp, phân quyền gắn với quy định trách nhiệm của các ngành, các cấp chưa mạnh và chưa đồng bộ. Một số chủ trương, cơ chế, chính sách của tỉnh đã ban hành triển khai thực hiện chậm, có những bất cập nhưng chưa được sửa đổi, bổ sung kịp thời. Một số tổ chức đảng, cơ quan, đơn vị chưa làm tốt công tác quản lý cán bộ, đảng viên, công chức, viên chức; kỷ cương trong tổ chức thực hiện nhiệm vụ có nơi, có việc chưa nghiêm.

2. Bước vào nhiệm kỳ 2024 – 2025, có nhiều thời cơ, thuận lợi, nhưng cũng gặp không ít khó khăn, thách thức đan xen. Song, với tinh thần chủ động, sáng tạo, quyết tâm cao, nỗ lực lớn, hành động quyết liệt, Đảng bộ, Chính quyền, quân và dân các dân tộc Thanh Hóa phấn đấu thực hiện thắng lợi phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu sau đây:

2.1. Về phương hướng: Tiếp tục nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của Đảng bộ; phát huy truyền thống văn hóa, lịch sử, khát vọng thịnh vượng và sức mạnh đại đoàn kết toàn dân. Phát triển kinh tế nhanh và bền vững trên cơ sở phát triển công nghiệp nặng, nông nghiệp là nền tảng; công nghiệp năng lượng, công nghiệp chế biến, chế tạo và dịch vụ logistics là đột phá; du lịch là mũi nhọn; tập trung phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực, 5 trụ cột tăng trưởng và 6 hành lang kinh tế. Đẩy mạnh đổi mới sáng tạo, ứng dụng khoa học và công nghệ; nâng cao chất lượng nguồn nhân lực, chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội. Chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu và bảo vệ môi trường. Bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu đến năm 2025 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước – một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước.

2.2. Các chỉ tiêu chủ yếu:

* Về kinh tế:

– Tốc độ tăng trưởng tổng sản phẩm trên địa bàn (GRDP) bình quân đạt 11% trở lên.

– Cơ cấu các ngành kinh tế trong GRDP năm 2025: Nông, lâm nghiệp, thủy sản chiếm 5,9%; công nghiệp – xây dựng chiếm 53,8%, dịch vụ chiếm 30,5%, thuế sản phẩm chiếm 9,8%.

– GRDP bình quân đầu người năm 2025 đạt 5.200 USD trở lên.

– Tổng huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 750 nghìn tỷ đồng trở lên.

– Tốc độ tăng thu ngân sách bình quân hằng năm đạt 10% trở lên.

– Kim ngạch xuất khẩu năm 2025 đạt 8 tỷ USD.

– Sản lượng lương thực hằng năm ổn định ở mức 1,5 triệu tấn.

– Số doanh nghiệp thành lập mới 5 năm đạt 15.000 doanh nghiệp.

– Tỷ lệ đô thị hóa năm 2025 đạt 40% trở lên.

– Diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung để sản xuất nông nghiệp quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao đến năm 2025 tăng thêm 32.000ha.

– Đến hết năm 2025 có 17 huyện, thị xã, thành phố, 88% số xã đạt chuẩn nông thôn mới; 25% số xã đạt chuẩn nông thôn mới nâng cao; 8% số xã đạt chuẩn nông thôn mới kiểu mẫu; bình quân toàn tỉnh đạt 18,6 tiêu chí/xã.

– Tốc độ tăng năng suất lao động xã hội bình quân hằng năm đạt 9,6%.

* Về văn hóa – xã hội:

– Tốc độ tăng dân số bình quân hằng năm dưới 1%.

– Tỷ lệ hộ nghèo giảm bình quân hằng năm theo tiêu chí mới của giai đoạn 2024 – 2025 từ 1,5% trở lên.

– Tỷ lệ lao động qua đào tạo năm 2025 đạt 75%, trong đó có bằng cấp, chứng chỉ đạt 30%.

– Tỷ lệ lao động nông nghiệp trong tổng lao động xã hội đến năm 2025 dưới 30%.

– Tỷ lệ dân số tham gia bảo hiểm y tế năm 2025 đạt trên 95%.

– Số bác sỹ trên/1 vạn dân năm 2025 đạt 13 bác sỹ.

– Tỷ lệ trường đạt chuẩn quốc gia đến năm 2025 đạt 81%.

– Đến năm 2025 có 100% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm; 20% trở lên xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm nâng cao.

– Tỷ lệ xã, phường, thị trấn, cơ quan đạt tiêu chí kiểu mẫu năm 2025 đạt 20% trở lên.

*Về môi trường:

– Tỷ lệ che phủ rừng năm 2025 đạt 54%.

– Tỷ lệ dân số nông thôn được dùng nước hợp vệ sinh năm 2025 đạt 98,5%, trong đó có 65% dân số nông thôn sử dụng nước sạch theo tiêu chuẩn của Bộ Y tế.

– Tỷ lệ chất thải rắn sinh hoạt được thu gom, xử lý đến năm 2025 đạt 90%.

* Về an ninh trật tự:

– Hằng năm có 80% xã, phường, thị trấn đạt tiêu chuẩn an toàn về ANTT.

* Về xây dựng Đảng và hệ thống chính trị:

– Hằng năm kết nạp 3.000 đảng viên mới trở lên.

– Tỷ lệ tổ chức cơ sở đảng hoàn thành tốt nhiệm vụ hằng năm đạt 80% trở lên.

2.3. Phương châm hành động của nhiệm kỳ là:

Đoàn kết – Kỷ cương – Sáng tạo – Phát triển

2.4. Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo thực hiện 06 chương trình trọng tâm và 03 khâu đột phá, tạo động lực cho tỉnh phát triển nhanh và bền vững

– 06 chương trình trọng tâm là: Chương trình phát triển nông nghiệp và xây dựng nông thôn mới giai đoạn 2024 – 2025; Chương trình phát triển Khu kinh tế Nghi Sơn và các khu công nghiệp giai đoạn 2024 – 2025; Chương trình phát triển du lịch giai đoạn 2024 – 2025; Chương trình nâng cao chất lượng văn hóa, giáo dục, y tế giai đoạn 2024 – 2025; Chương trình phát triển kinh tế – xã hội khu vực miền núi của tỉnh giai đoạn 2024 – 2025; Chương trình nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của các tổ chức cơ sở đảng; tạo chuyển biến rõ nét trong sắp xếp tổ chức bộ máy và xây dựng đội ngũ cán bộ.

– 03 khâu đột phá là: Khâu đột phá về phát triển hạ tầng; Khâu đột phá về đẩy mạnh cải cách hành chính, tạo môi trường đầu tư thông thoáng, hấp dẫn; Khâu đột phá về nghiên cứu, ứng dụng và chuyển giao khoa học công nghệ; chủ động, tích cực tham gia Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư phục vụ phát triển kinh tế – xã hội nhanh và bền vững.

2.5. Về nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu

Một là, phát triển kinh tế nhanh và bền vững trở thành một cực tăng trưởng mới ở phía Bắc của Tổ quốc.

– Tập trung lãnh đạo, chỉ đạo phát triển 4 trung tâm kinh tế động lực, 5 trụ cột tăng trưởng và 6 hành lang kinh tế để tạo không gian mới cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

+ 4 trung tâm kinh tế động lực (tứ Sơn), gồm: Trung tâm động lực TP. Thanh Hóa – TP. Sầm Sơn; Trung tâm động lực phía Nam (Khu kinh tế Nghi Sơn); Trung tâm động lực phía Bắc (Thạch Thành – Bỉm Sơn); Trung tâm động lực phía Tây (Lam Sơn – Sao Vàng).

+ 5 trụ cột tăng trưởng, gồm: Công nghiệp chế biến, chế tạo; Nông nghiệp; Du lịch; dịch vụ Y tế; Phát triển hạ tầng.

+ 6 hành lang kinh tế, gồm: Hành lang kinh tế ven biển; Hành lang kinh tế Bắc Nam; Hành lang kinh tế đường Hồ Chí Minh; Hành lang kinh tế Đông Bắc; Hành lang kinh tế trung tâm; Hành lang kinh tế quốc tế.

– Lãnh đạo, chỉ đạo phát triển nông, lâm, thủy sản theo hướng sản xuất hàng hóa quy mô lớn, giá trị gia tăng cao, gắn với xây dựng thương hiệu sản phẩm. Đẩy mạnh tích tụ, tập trung đất đai để tổ chức sản xuất hàng hóa quy mô lớn, ứng dụng công nghệ cao; đến hết năm 2025, diện tích đất nông nghiệp được tích tụ, tập trung tăng thêm 32.000ha. Khuyến khích doanh nghiệp đầu tư vào nông nghiệp, xây dựng thương hiệu đối với các sản phẩm chủ lực của tỉnh. Quy hoạch lại vùng nguyên liệu mía, cao su, bảo đảm phát triển bền vững. Phát triển chăn nuôi theo hướng trang trại tập trung, ứng dụng công nghệ cao, theo chuỗi giá trị. Phát triển lâm nghiệp bền vững gắn với bảo vệ môi trường sinh thái; tập trung phát triển rừng sản xuất gỗ lớn đạt 56.000ha. Phát huy hiệu quả tiềm năng, phát triển thủy sản trở thành ngành sản xuất hàng hóa lớn. Đẩy mạnh xây dựng xã, phường, thị trấn đạt tiêu chí an toàn thực phẩm.

– Tập trung phát triển công nghiệp với tốc độ cao, trọng tâm là công nghiệp nặng, công nghiệp năng lượng và công nghiệp chế biến, chế tạo; thu hút đầu tư các dự án công nghiệp mới quy mô lớn; xây dựng một số ngành công nghiệp có lợi thế như: Lọc hóa dầu, xi măng… đứng trong nhóm dẫn đầu cả nước; đưa Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn của vùng Bắc Trung bộ và cả nước về công nghiệp. Thu hút đầu tư phát triển đồng bộ hệ thống kết cấu hạ tầng các khu kinh tế, khu công nghiệp. Tiếp tục phát triển tiểu thủ công nghiệp, chú trọng sản xuất các sản phẩm phục vụ du lịch, xuất khẩu.

Phát triển ngành xây dựng đạt trình độ cao trong các lĩnh vực thiết kế, xây dựng công trình, vật liệu xây dựng, phát triển đô thị và nhà ở. Huy động các nguồn vốn xã hội hóa phát triển nhà ở xã hội, cao ốc hiện đại, đáp ứng yêu cầu phát triển kinh tế – xã hội và phát triển đô thị.

– Tiếp tục phát triển mạnh các ngành dịch vụ, đưa Thanh Hóa trở thành một trong những trọng điểm về du lịch, vận tải – cảng biển của cả nước. Khuyến khích phát triển mạnh hệ thống trung tâm thương mại, siêu thị tại các thành phố, thị xã và thị trấn các huyện. Xúc tiến thành lập Khu kinh tế cửa khẩu Na Mèo làm trung tâm giao thương hàng hóa với nước bạn Lào. Chú trọng thu hút đầu tư xây dựng kết cấu hạ tầng du lịch. Khai thác hiệu quả lợi thế của cụm cảng nước sâu Nghi Sơn để phát triển mạnh dịch vụ cảng biển, vận tải biển; xây dựng trung tâm logistics cấp vùng hạng I tại Khu kinh tế Nghi Sơn. Ban hành chính sách mở thêm các đường bay mới trong nước và quốc tế đi, đến Cảng hàng không Thọ Xuân. Phát triển thông tin truyền thông với công nghệ hiện đại, độ phủ rộng, tốc độ và chất lượng cao. Phát triển dịch vụ tài chính, ngân hàng theo hướng hiện đại, đa dạng các dịch vụ và tiện ích theo chuẩn quốc tế.

– Tiếp tục phát triển mạnh doanh nghiệp; đổi mới phương thức hoạt động của kinh tế tập thể, hợp tác xã, gắn với nâng cao hiệu quả sản xuất kinh doanh.

Hai là, cải thiện mạnh mẽ môi trường đầu tư kinh doanh, tạo sức hấp dẫn mới để đẩy mạnh thu hút đầu tư, huy động tối đa và sử dụng có hiệu quả các nguồn lực cho đầu tư phát triển. Rà soát, khắc phục những hạn chế, yếu kém, nâng cao thứ hạng Chỉ số năng lực cạnh tranh cấp tỉnh (PCI), Chỉ số hiệu quả quản trị và hành chính công cấp tỉnh (PAPI), Chỉ số cải cách hành chính (PAR INDEX). Rà soát, bổ sung, xây dựng mới các quy hoạch, nhất là quy hoạch phân khu chức năng trong Khu kinh tế Nghi Sơn mở rộng. Đầu tư phát triển hệ thống hạ tầng đồng bộ, hiện đại. Ban hành các cơ chế, chính sách, tạo sức hấp dẫn mới. Tổ chức hiệu quả các hoạt động xúc tiến đầu tư trong và ngoài nước.

Tiếp tục cơ cấu lại đầu tư công, ưu tiên bố trí vốn đẩy nhanh tiến độ thực hiện và hoàn thành các công trình, dự án trọng điểm, có ý nghĩa lớn đối với phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh; quan tâm đầu tư cho khu vực miền núi, vùng đồng bào dân tộc thiểu số.

Ba là, tăng cường liên kết, hợp tác với các tỉnh trong vùng Bắc Trung bộ, thành phố Hà Nội và các tỉnh, thành phố khác trong cả nước, nhất là trong xúc tiến đầu tư và thương mại, huy động và phân bổ nguồn lực, xây dựng kết cấu hạ tầng; đào tạo nguồn nhân lực chất lượng cao; nghiên cứu khoa học và chuyển giao công nghệ; xây dựng các chương trình, tuyến du lịch liên tỉnh, liên vùng.

Bốn là, đẩy mạnh phát triển đô thị và xây dựng nông thôn mới. Tập trung huy động các nguồn lực đầu tư đẩy nhanh tốc độ đô thị hóa ở các khu vực thành phố, thị xã và những nơi có điều kiện; đầu tư hoàn thiện hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hạ tầng xã hội, kiến trúc cảnh quan tại các đô thị động lực: Thành phố Thanh Hóa, thành phố Sầm Sơn, thị xã Bỉm Sơn, thị xã Nghi Sơn, đô thị Lam Sơn – Sao Vàng; xây dựng một số khu đô thị đẹp, hiện đại.

Chú trọng xây dựng nông thôn mới nâng cao, nông thôn mới kiểu mẫu. Chỉnh trang khu vực nông thôn theo hướng văn minh, xanh, sạch, đẹp, bảo tồn và giữ gìn văn hóa đặc trưng của các dân tộc, của khu vực nông thôn, của các địa phương.

Năm là, đẩy mạnh hoạt động khoa học công nghệ; nâng cao chất lượng các hoạt động văn hóa – xã hội, đời sống vật chất và tinh thần của Nhân dân.

– Đẩy mạnh hoạt động nghiên cứu, ứng dụng, chuyển giao tiến bộ khoa học công nghệ trong tất cả các lĩnh vực; khuyến khích ứng dụng các thành tựu của Cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ tư để tạo đột phá trong phát triển kinh tế – xã hội. Đầu tư khu nông nghiệp ứng dụng công nghệ cao, khu phần mềm tập trung, hạ tầng thiết yếu và phát triển nguồn nhân lực phục vụ quá trình chuyển đổi số, phát triển kinh tế số, chính quyền điện tử, đô thị thông minh.

– Phát triển mạnh văn hóa, thể thao, tạo nền tảng để Thanh Hóa trở thành một trong những trung tâm lớn về văn hóa, thể thao của khu vực và cả nước. Rà soát, điều chỉnh, bổ sung các quy hoạch, kế hoạch phát triển văn hóa. Tiếp tục huy động các nguồn lực để tu bổ, tôn tạo, phát huy giá trị các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng, bảo tồn và phát huy các di sản văn hóa phi vật thể. Đẩy mạnh phong trào xây dựng tập thể, cá nhân kiểu mẫu. Nâng cao chất lượng hoạt động thông tin, báo chí. Xây dựng và triển khai Đề án phát triển thể dục thể thao tỉnh Thanh Hóa, ưu tiên các môn thể thao thành tích cao có thế mạnh.

– Tiếp tục đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo, gắn với nâng cao chất lượng nguồn nhân lực. Nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện, giữ vững thành tích giáo dục mũi nhọn trong nhóm dẫn đầu cả nước. Đổi mới mạnh mẽ phương pháp dạy và học, việc thi, kiểm tra, đánh giá kết quả giáo dục, đào tạo, công tác quản lý giáo dục, coi trọng quản lý chất lượng. Tiếp tục sắp xếp mạng lưới trường học; rà soát, bồi dưỡng, nâng cao chất lượng đội ngũ giáo viên. Đẩy mạnh huy động các nguồn lực xã hội để đầu tư phát triển giáo dục.

Nâng cao chất lượng đào tạo nguồn nhân lực, lựa chọn chương trình đào tạo tiên tiến, gắn với chuẩn đầu ra, trang bị cho lao động những kỹ năng, kiến thức và công nghệ mới, đáp ứng yêu cầu của thị trường lao động, phục vụ nhân lực cho các ngành kinh tế của tỉnh. Rà soát, sắp xếp lại mạng lưới các trường đại học, cao đẳng, trung cấp và các trung tâm giáo dục nghề nghiệp, bảo đảm phù hợp với yêu cầu đào tạo và sử dụng nguồn nhân lực của tỉnh.

– Đẩy mạnh thực hiện cơ chế tự chủ trong các bệnh viện công lập; khuyến khích xã hội hóa, hợp tác công tư trong lĩnh vực y tế để tăng cường đầu tư cơ sở vật chất, trang thiết bị cho các cơ sở y tế; đưa dịch vụ y tế trở thành 1 trong 5 trụ cột tăng trưởng. Tiếp tục ban hành chính sách thu hút nguồn nhân lực y tế chất lượng cao làm việc tại tỉnh. Thực hiện tốt công tác y tế dự phòng, công tác dân số và phát triển.

– Thực hiện đồng bộ, có hiệu quả các chương trình, đề án, chính sách hỗ trợ giảm nghèo; ưu tiên hỗ trợ phát triển sản xuất, tạo việc làm, giúp người nghèo phát triển sinh kế, ổn định đời sống, tự vươn lên thoát nghèo bền vững. Đẩy mạnh đào tạo nghề gắn với giải quyết việc làm, xuất khẩu lao động. Thúc đẩy chuyển dịch việc làm khu vực nông thôn theo hướng phi nông nghiệp. Đẩy mạnh thực hiện chính sách BHXH, BHTN, bảo hiểm y tế toàn dân. Tiếp tục thực hiện hiệu quả các chủ trương, chính sách của Đảng và Nhà nước về dân tộc, tôn giáo.

Sáu là, tăng cường quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường, chủ động phòng chống thiên tai, ứng phó có hiệu quả với biến đổi khí hậu. Thực hiện tốt công tác quản lý đất đai. Kiểm soát chặt chẽ hoạt động khai thác, tập kết, vận chuyển, chế biến khoáng sản. Huy động các nguồn lực để đầu tư hệ thống hạ tầng kỹ thuật, hệ thống xử lý nước thải, chất thải tại Khu kinh tế Nghi Sơn, các khu công nghiệp, cụm công nghiệp, đô thị. Xây dựng kế hoạch di chuyển các cơ sở công nghiệp gây ô nhiễm môi trường ra khỏi các đô thị, khu dân cư; di dời các cơ sở sản xuất gây ô nhiễm trên thượng nguồn Sông Mã, Sông Chu vào các cụm công nghiệp, làng nghề. Ban hành chính sách khuyến khích các thành phần kinh tế tham gia đầu tư xây dựng các công trình, dự án xử lý chất thải. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo thiên tai và ứng phó với biến đổi khí hậu.

Bảy là, bảo đảm vững chắc quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị, trật tự an toàn xã hội. Tiếp tục xây dựng và củng cố nền quốc phòng toàn dân, gắn với thế trận an ninh nhân dân, biên phòng toàn dân, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc. Xây dựng lực lượng quân sự, công an, biên phòng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, đáp ứng yêu cầu, nhiệm vụ trong mọi tình huống. Chủ động nắm, dự báo tình hình, triển khai các phương án bảo vệ chủ quyền, an ninh biên giới. Xây dựng, củng cố đường biên giới với nước bạn Lào hòa bình, hữu nghị, hợp tác và phát triển. Tiếp tục thực hiện hiệu quả chủ trương tăng cường cán bộ biên phòng cho các xã biên giới.

Thực hiện tốt công tác bảo đảm an ninh trật tự, kịp thời giải quyết triệt để các vụ việc phức tạp ngay tại cơ sở, không để hình thành “điểm nóng”. Chủ động đấu tranh, trấn áp các loại tội phạm; từng bước đẩy lùi các tai, tệ nạn xã hội. Thực hiện tốt công tác tiếp dân và giải quyết khiếu nại tố cáo; giải quyết kịp thời, triệt để các vụ việc khiếu kiện đông người, phức tạp.

Tám là, triển khai đồng bộ, sáng tạo, hiệu quả công tác đối ngoại, trọng tâm là kinh tế đối ngoại. Tiếp tục làm sâu sắc hơn quan hệ hợp tác với một số tỉnh, thành phố ở một số nước, các tổ chức quốc tế, các nhà đầu tư nước ngoài, nhất là các đối tác chiến lược, quan trọng. Nâng cao năng lực hội nhập quốc tế, nhất là năng lực thực thi và khả năng thích ứng của địa phương, doanh nghiệp về các hiệp định thương mại tự do (FTA) thế hệ mới. Thực hiện tốt công tác quản lý người nước ngoài sinh sống, sản xuất, kinh doanh trên địa bàn tỉnh theo quy định của pháp luật.

Chín là, tăng cường xây dựng Đảng bộ đoàn kết, vững mạnh cả về chính trị, tư tưởng, đạo đức, tổ chức và cán bộ; trọng tâm là xây dựng, chỉnh đốn Đảng, ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên và Nhân dân. Kiên quyết, kiên trì đấu tranh, ngăn chặn các biểu hiện quan liêu, tham nhũng, lãng phí. Chú trọng xây dựng văn hóa trong Đảng, trong hệ thống chính trị, nhất là văn hóa trong thực thi công vụ, văn hóa phục vụ Nhân dân của đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức. Đổi mới mạnh mẽ phương thức lãnh đạo của các cấp ủy đảng.

– Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác tư tưởng; tập trung làm chuyển biến về nhận thức, đổi mới tư duy, tinh thần chủ động, sáng tạo, khát vọng vươn lên của cán bộ, đảng viên và các tầng lớp Nhân dân. Thực hiện tốt việc nắm tình hình và kịp thời định hướng dư luận xã hội. Tăng cường công tác bảo vệ nền tảng tư tưởng của Đảng. Làm tốt công tác báo cáo viên, tuyên truyền miệng, bồi dưỡng, cập nhật kiến thức mới cho cán bộ, đảng viên.

– Xây dựng hệ thống chính trị tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; xây dựng đội ngũ cán bộ các cấp có đủ phẩm chất, năng lực và uy tín, ngang tầm với yêu cầu, nhiệm vụ trong giai đoạn mới. Trọng tâm là tiếp tục thực hiện sắp xếp tổ chức bộ máy theo Nghị quyết số 18-NQ/TW, Nghị quyết số 19-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương và Nghị quyết số 37-NQ/TW của Bộ Chính trị (khóa XII). Rà soát, bổ sung, sửa đổi các quy chế, quy định về công tác tuyển dụng, bổ nhiệm cán bộ, công chức ở các cấp, các ngành; coi trọng tiêu chí về bản lĩnh chính trị, phẩm chất đạo đức, đặc biệt là hiệu quả thực thi nhiệm vụ để đánh giá, quy hoạch, đào tạo, bổ nhiệm cán bộ. Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, tạo chuyển biến rõ rệt về chất lượng hoạt động của các loại hình tổ chức cơ sở đảng.

– Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật đảng; kịp thời ngăn chặn hành vi vi phạm. Tăng cường quản lý, kiểm tra, giám sát cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp để kịp thời phát hiện, ngăn chặn từ xa, từ đầu, giải quyết từ sớm các vi phạm. Quan tâm kiện toàn, củng cố tổ chức bộ máy và cán bộ cơ quan ủy ban kiểm tra các cấp. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác phòng chống tham nhũng, lãng phí.

– Đổi mới mạnh mẽ, nâng cao hiệu quả công tác dân vận, hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể; tăng cường quan hệ mật thiết giữa Đảng, Chính quyền với Nhân dân; xây dựng, củng cố vững chắc khối đại đoàn kết toàn dân; phát huy sức mạnh đại đoàn kết toàn dân để thực hiện thắng lợi mục tiêu phát triển của tỉnh.

– Nâng cao hiệu quả hoạt động của Đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh, Hội đồng nhân dân các cấp. Xây dựng Ủy ban nhân dân các cấp tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; hoàn thiện hệ thống thể thế, cơ chế, chính sách, tạo môi trường thuận lợi cho doanh nghiệp và người dân sản xuất, kinh doanh; xây dựng chính quyền điện tử.

II. Thông qua Báo cáo Kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII. Từ kinh nghiệm được rút ra, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX, cần tiếp tục phát huy ưu điểm, khắc phục hạn chế, khuyết điểm, đổi mới phương thức lãnh đạo, nâng cao chất lượng và hiệu quả công tác trong nhiệm kỳ 2024 – 2025.

IV. Thông qua Chương trình hành động thực hiện Nghị quyết Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025. Giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX khẩn trương hoàn chỉnh, ban hành và triển khai thực hiện để nhanh chóng đưa Nghị quyết Đại hội vào cuộc sống.

V. Thông qua kết quả bầu cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XIX nhiệm kỳ 2024 – 2025, gồm 65 đồng chí. Tại kỳ họp thứ nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh đã bầu Ban Thường vụ Tỉnh ủy gồm 17 đồng chí, đồng chí Đỗ Trọng Hưng được bầu làm Bí thư Tỉnh ủy. Các đồng chí Đỗ Minh Tuấn, Lại Thế Nguyên, Trịnh Tuấn Sinh được bầu làm Phó Bí thư Tỉnh ủy; bầu Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy gồm 13 đồng chí, đồng chí Đồng chí Lê Quang Hùng được bầu làm Chủ nhiệm Ủy ban Kiểm tra Tỉnh ủy.

Thông qua kết quả bầu Đoàn đại biểu Đảng bộ tỉnh đi dự Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XIII của Đảng gồm 33 đồng chí đại biểu chính thức (có 01 đại biểu dương nhiên là đồng chí Ủy viên Trung ương Đảng) và 03 đồng chí đại biểu dự khuyết.

Phát huy truyền thống cách mạng của Đảng bộ tỉnh trong 90 năm qua, Đại hội Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên, quân và dân các dân tộc trong tỉnh đoàn kết, chủ động, sáng tạo, tranh thủ thời cơ, vận hội mới, khắc phục khó khăn, vượt qua thách thức, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu thực hiện thắng lợi các mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đã đề ra, xây dựng Thanh Hóa đến năm 2025 trong nhóm các tỉnh dẫn đầu cả nước – một cực tăng trưởng mới, cùng với Hà Nội, Hải Phòng và Quảng Ninh tạo thành tứ giác phát triển ở phía Bắc của Tổ quốc; đến năm 2030 trở thành tỉnh công nghiệp theo hướng hiện đại, người dân có mức sống cao hơn bình quân cả nước./.

ĐẠI HỘI ĐẠI BIỂU ĐẢNG BỘ TỈNH THANH HÓA LẦN THỨ XIX

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Yên Bái Lần Thứ Xix

CTTĐT – Sau 3 ngày làm việc (22 – 24/9), Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX đã thành công rực rỡ. Đại hội đã ban hành Nghị quyết về thực hiện các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp trọng tâm nhiệm kỳ 2024 – 2025. Cổng Thông tin điện tử tỉnh trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết.

(iii) Quan tâm đào tạo, phát triển nguồn nhân lực, cơ bản đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ; xây dựng nông thôn mới đạt kết quả vượt bậc, đi đầu các tỉnh trong khu vực Tây Bắc. Chất lượng, hiệu quả văn hóa – xã hội có nhiều tiến bộ, bảo đảm mọi người dân đều được chăm lo, thụ hưởng các chế độ, chính sách an sinh, phúc lợi xã hội; gìn giữ và phát huy giá trị bản sắc văn hóa tốt đẹp của đồng bào các dân tộc, xây dựng hình ảnh con người Yên Bái “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”. Giảm nghèo nhanh, bền vững với nhiều cách làm sáng tạo, hiệu quả, là điểm sáng của các tỉnh trong khu vực Tây Bắc; đời sống nhân dân tiếp tục được cải thiện. Quốc phòng, an ninh được giữ vững, chính trị ổn định, trật tự an toàn xã hội được bảo đảm; chủ động khắc phục nhanh chóng, kịp thời hậu quả thiên tai, sớm ổn định cuộc sống cho nhân dân.

2.1. Phương hướng phát triển:

Nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của các cấp ủy đảng; xây dựng hệ thống chính trị trong sạch, vững mạnh, tinh gọn, hoạt động hiệu lực, hiệu quả; phát huy sức mạnh đại đoàn kết các dân tộc, ý chí tự lực, tự cường và khát vọng vươn lên; khai thác tối đa tiềm năng, lợi thế của tỉnh; đẩy mạnh ứng dụng khoa học – công nghệ, đổi mới sáng tạo; huy động, sử dụng hiệu quả mọi nguồn lực cho phát triển nhanh, bền vững theo hướng phát triển xanh, hài hòa, bản sắc và hạnh phúc; phát huy giá trị văn hóa, xây dựng con người Yên Bái 2.2. Mục tiêu: “thân thiện, nhân ái, đoàn kết, sáng tạo, hội nhập”; bảo vệ môi trường sinh thái, sử dụng hiệu quả tài nguyên, chủ động ứng phó thiên tai và thích ứng với biến đổi khí hậu; tăng cường quốc phòng an ninh, giữ vững ổn định chính trị, bảo đảm trật tự an toàn xã hội, quyết tâm đưa Yên Bái trở thành tỉnh khá vào năm 2025 và nằm trong nhóm tỉnh phát triển hàng đầu của Vùng Trung du và miền núi phía Bắc vào năm 2030.

2.3. Các chỉ tiêu chủ yếu :

Đ ến năm 2025

– Về kinh tế : (1) Tốc độ tăng GRDP bình quân giai đoạn 2024-2025 đạt trên 7,5%; GRDP bình quân đầu người đến năm 2025 đạt trên 65 triệu đồng.

– Về văn hóa – xã hội :

– Về môi trường :

Các bài khác

Yên Bái tổ chức Lễ hội chào mừng thành công Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Tỉnh ủy Yên Bái: Họp báo tuyên truyền kết quả Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Thông cáo báo chí kết quả tổ chức Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Toàn văn bài phát biểu bế mạc Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 của đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy khóa XIX (24/09/2024)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Yên Bái lần thứ XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 thành công tốt đẹp (24/09/2024)

Tiểu sử đồng chí Đỗ Đức Duy – Bí thư Tỉnh ủy, Chủ tịch UBND tỉnh Yên Bái (24/09/2024)

Đồng chí Đỗ Đức Duy – Phó Bí thư Tỉnh ủy khóa XVIII, Chủ tịch UBND tỉnh đắc cử chức Bí thư Tỉnh ủy Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (24/09/2024)

Yên Bái: Những thành tựu phát triển kinh tế, xã hội sau một nhiệm kỳ (24/09/2024)

Hội nghị lần thứ Nhất, Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (23/09/2024)

Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX: 48 đồng chí trúng cử Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh Yên Bái khóa XIX, nhiệm kỳ 2024 – 2025 (23/09/2024)

15 o C

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Nam Định Lần Thứ Xix

Như tin đã đưa, ngày 25-9-2024, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã thông qua Nghị quyết của Đại hội. Báo Nam Định trân trọng giới thiệu toàn văn Nghị quyết. NGHỊ QUYẾT Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX

chấp hành Điều lệ Đảng Cộng sản Việt Nam và thực hiện Chỉ thị số 36-CT/TW ngày 30-5-2014 của Bộ Chính trị, Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Nam Định lần thứ XIX được tiến hành từ ngày 22 đến ngày 25-9-2024. Dự Đại hội có 350 đại biểu chính thức (trong tổng số 350 đại biểu được triệu tập).

Đại hội đã làm việc nghiêm túc, với tinh thần trách nhiệm cao trước Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh.

ĐẠI HỘI QUYẾT NGHỊ

I. Nhất trí thông qua những nội dung cơ bản về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2024 và phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ 5 năm 2024-2024 được nêu trong Báo cáo chính trị của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII trình Đại hội:

1. Về đánh giá tình hình 5 năm 2010-2024

Đại hội khẳng định: Năm năm qua, trong điều kiện có những thuận lợi cơ bản, đồng thời cũng còn nhiều khó khăn, thách thức gay gắt, Đảng bộ, quân và dân toàn tỉnh đã đoàn kết, quyết tâm, chủ động, tích cực phát huy truyền thống, kế thừa thành tựu, kinh nghiệm tích lũy của nhiều nhiệm kỳ, thực hiện nghiêm túc, có hiệu quả các nghị quyết và sự chỉ đạo của Trung ương, tập trung tổ chức thực hiện toàn diện các nhiệm vụ chính trị theo Nghị quyết Đại hội XVIII đề ra.

– Những kết quả chủ yếu:

+ Kinh tế của tỉnh có bước phát triển mới. Tốc độ tăng trưởng GRDP (giá so sánh 1994) bình quân đạt 12,5%/năm. Quy mô kinh tế được mở rộng, so với thời kỳ 2006-2010: tổng GRDP gấp hơn 2,5 lần; GRDP bình quân đầu người gấp 2,74 lần; thu ngân sách từ kinh tế địa phương năm 2024 ước đạt 3.000 tỷ đồng; vốn đầu tư toàn xã hội gấp 2,7 lần. Cơ cấu kinh tế chuyển dịch đúng hướng; năm 2024, công nghiệp – xây dựng chiếm 41%, dịch vụ chiếm 35%, nông nghiệp chiếm 24% trong tổng GRDP.

Sản xuất công nghiệp tăng trưởng khá, giá trị sản xuất tăng bình quân 22,3%/năm. Sản xuất nông nghiệp phát triển ổn định theo hướng sản xuất hàng hóa, giá trị sản xuất tăng bình quân 3,2%/năm. Chương trình xây dựng nông thôn mới được triển khai quyết liệt, đồng bộ; dự kiến đến hết năm 2024, toàn tỉnh có khoảng 100/209 xã, thị trấn (47,8%) đạt và cơ bản đạt chuẩn nông thôn mới. Huyện Hải Hậu đã được Thủ tướng Chính phủ công nhận đạt chuẩn huyện nông thôn mới. Các ngành dịch vụ tăng trưởng khá, giá trị tăng bình quân 12,5%/năm. Tích cực huy động các nguồn vốn cho đầu tư xây dựng hạ tầng kinh tế – xã hội; hoàn thành và đưa vào sử dụng nhiều công trình hạ tầng trọng điểm, góp phần cải thiện vị thế địa kinh tế, tạo diện mạo mới, tác động lâu dài tới sự phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh. Hoàn thành vượt kế hoạch về thời gian nâng cấp Thành phố Nam Định lên đô thị loại I trực thuộc tỉnh, từng bước hình thành một số chức năng trung tâm của vùng Nam đồng bằng sông Hồng.

+ Các lĩnh vực văn hoá – xã hội được quan tâm, đạt nhiều thành tích mới. Ngành Giáo dục và Đào tạo giữ vững thành tích 21 năm liên tục được Bộ Giáo dục và Đào tạo tặng Cờ thi đua “Đơn vị tiêu biểu xuất sắc”. Công tác nghiên cứu và ứng dụng tiến bộ khoa học – công nghệ đạt được những kết quả tích cực. Mở rộng và nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá”. Chất lượng khám, chữa bệnh cho nhân dân được nâng lên. Thực hiện tốt các chính sách an sinh xã hội; đẩy mạnh công tác giảm nghèo, tỷ lệ hộ nghèo năm 2024 giảm còn 2,5%. Đời sống nhân dân được cải thiện và nâng cao hơn.

+ Công tác xây dựng Đảng và hệ thống chính trị được coi trọng, có nhiều chuyển biến. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu, vai trò hạt nhân chính trị của các tổ chức Đảng và đảng viên, chất lượng, hiệu quả hoạt động của hệ thống chính trị đã được nâng lên. Bảo đảm sự lãnh đạo của Đảng trên tất cả các lĩnh vực, địa bàn. Thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” gắn với Chỉ thị số 03-CT/TW của Bộ Chính trị về tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh, bước đầu đã có chuyển biến trong chất lượng hoạt động của các tổ chức Đảng.

Các đại biểu biểu quyết thông qua Nghị quyết Đại hội. Ảnh: Thanh Tuấn

Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước, năng lực chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp có chuyển biến rõ nét hơn. Hoạt động của HĐND các cấp có nhiều đổi mới. Tăng cường sự phối hợp giữa các cấp, các ngành.

+ Thế trận quốc phòng toàn dân và thế trận an ninh nhân dân được củng cố vững chắc. Khu vực phòng thủ được tăng cường; bảo vệ vững chắc chủ quyền, an ninh tuyến biển. An ninh – chính trị, trật tự an toàn xã hội được giữ vững. Đẩy mạnh thực hiện chiến lược cải cách tư pháp; tăng cường phối hợp, nâng cao chất lượng hoạt động của các cơ quan tư pháp.

– Nguyên nhân chính của kết quả:

+ Có sự đoàn kết, thống nhất về tư tưởng, hành động trong các cấp ủy và toàn Đảng bộ. Trong lãnh đạo, chỉ đạo đã cố gắng vừa đảm bảo đồng bộ, toàn diện, đồng thời có trọng tâm, trọng điểm, sát với thực tiễn cơ sở. Chính quyền các cấp đã tích cực cụ thể hoá sự lãnh đạo của cấp uỷ. Môi trường đầu tư được cải thiện hơn. Phát huy sức mạnh tổng hợp của hệ thống chính trị, sự đồng thuận, nỗ lực, cố gắng của các tầng lớp nhân dân.

– Những hạn chế, yếu kém cần tập trung khắc phục:

+ Chưa tạo được sự đột phá trong phát triển kinh tế. Thu hút đầu tư chưa mạnh, chưa có nhiều dự án quy mô lớn, công nghệ cao. Chưa hình thành được các vùng sản xuất nông nghiệp hàng hoá lớn. Thu ngân sách từ kinh tế địa phương chưa có nguồn thu chủ lực, ổn định. Chất lượng, quy mô dịch vụ nhìn chung còn hạn chế.

+ Lĩnh vực văn hoá – xã hội còn nhiều bất cập. Phong trào “Toàn dân đoàn kết xây dựng đời sống văn hoá” chưa đi vào chiều sâu. Việc đổi mới phương pháp dạy học hiệu quả chưa cao. Chất lượng khám, chữa bệnh, nhất là ở tuyến cơ sở còn hạn chế. Việc thực hiện các chính sách xã hội ở một số địa phương chưa được kiểm tra, giám sát chặt chẽ. Ô nhiễm môi trường ở một số nơi chưa được xử lý dứt điểm.

+ Việc triển khai thực hiện Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay” chưa tạo được chuyển biến mạnh mẽ trong toàn Đảng bộ. Năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của một số tổ chức Đảng chưa cao. Thực hiện tự phê bình và phê bình chưa thường xuyên, thiếu tính chiến đấu. Nguyên tắc tập trung dân chủ có lúc, có nơi thực hiện chưa tốt. Phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội có lúc, có nơi còn hình thức, thiếu cụ thể. Thực hiện Chỉ thị 03-CT/TW của Bộ Chính trị về “Tiếp tục đẩy mạnh việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh” chưa tạo được sự chuyển biến mạnh mẽ trong việc “làm theo”.

+ Hiệu lực, hiệu quả quản lý Nhà nước ở một số địa phương, sở, ngành có mặt còn thấp, có lĩnh vực còn buông lỏng quản lý. Tình trạng tội phạm, tệ nạn xã hội, tai nạn giao thông vẫn là vấn đề quan tâm, lo lắng của toàn xã hội.

– Nguyên nhân chính của hạn chế, yếu kém:

+ Một số tổ chức cơ sở Đảng chưa thể hiện rõ vai trò hạt nhân lãnh đạo, có tư tưởng trông chờ, ỷ lại cấp trên, thiếu tính chủ động. Nội dung, phương thức lãnh đạo chậm được đổi mới; thực hiện quy chế làm việc chưa nghiêm, thiếu tính dân chủ và tính chiến đấu trong sinh hoạt Đảng. Một bộ phận cán bộ, đảng viên sa sút phẩm chất, trình độ hạn chế, chưa tâm huyết, gương mẫu, thậm chí vi phạm kỷ luật, có biểu hiện sách nhiễu, phiền hà trong thi hành công vụ, mất uy tín với nhân dân.

+ Năng lực lãnh đạo, hiệu quả điều hành của chính quyền có mặt còn hạn chế; công tác kiểm tra, đôn đốc thực hiện thiếu thường xuyên. Sự phối hợp giữa các ngành, các cấp trong một số công việc thiếu chặt chẽ, còn tình trạng né tránh, đùn đẩy trách nhiệm.

+ Công tác xúc tiến đầu tư, xúc tiến thương mại, quảng bá hình ảnh của tỉnh còn hạn chế. Môi trường đầu tư chưa thực sự thông thoáng, hấp dẫn.

+ Việc triển khai các chương trình công tác trọng tâm và các nghị quyết chuyên đề của Tỉnh uỷ còn thiếu nguồn lực, chưa đồng bộ.

+ Thời tiết, thiên tai, dịch bệnh, tình hình suy giảm kinh tế của những năm đầu nhiệm kỳ đã tác động bất lợi đến sản xuất, kinh doanh, thu hút đầu tư và đời sống nhân dân.

2. Về các mục tiêu, nhiệm vụ, giải pháp 5 năm 2024-2024

Trên cơ sở phân tích bối cảnh quốc tế, trong nước, những thuận lợi, khó khăn trong thời gian tới, Đại hội nhất trí mục tiêu, định hướng, nhiệm vụ và giải pháp thực hiện chủ yếu của nhiệm kỳ (2024-2024) như sau:

– Mục tiêu tổng quát:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của các cấp uỷ Đảng, xây dựng hệ thống chính trị vững mạnh. Phát huy sức mạnh tổng hợp của Đảng bộ và nhân dân, tạo đột phá trong phát triển kinh tế. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa; triển khai toàn diện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, phấn đấu đến năm 2024 đạt tiêu chí “Tỉnh nông thôn mới”. Tập trung xây dựng Thành phố Nam Định hình thành rõ nét một số chức năng trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Phát triển kinh tế gắn kết hài hòa với phát triển văn hóa, xã hội và bảo vệ môi trường. Chăm lo, nâng cao đời sống của nhân dân. Tăng cường khối đại đoàn kết và đồng thuận xã hội. Giữ vững an ninh chính trị, trật tự – an toàn xã hội.

– Các chỉ tiêu chủ yếu:

(1) Tổng sản phẩm trong tỉnh GRDP (giá so sánh 2010) tăng bình quân 7,5-8%/năm. GRDP bình quân đầu người (giá hiện hành) năm 2024 đạt 70-75 triệu đồng.

(2) Cơ cấu kinh tế đến năm 2024:

– Nông, lâm, thủy sản: 18%

– Công nghiệp, xây dựng: 47%

– Dịch vụ: 35%

(3) Giá trị sản xuất nông, lâm, thủy sản (giá so sánh 2010) tăng bình quân 2,5-3%/năm.

(4) Giá trị sản xuất công nghiệp (giá so sánh 2010) tăng bình quân 13-14%/năm.

(5) Giá trị các ngành dịch vụ (giá so sánh 2010) tăng bình quân 8-8,5%/năm.

(6) Tổng giá trị hàng xuất khẩu đến năm 2024 đạt 1,8-2 tỷ USD.

(7) Tổng vốn đầu tư xã hội trên địa bàn tăng 15-16%/năm.

(8) Thu ngân sách trên địa bàn năm 2024 đạt 5.500-6.000 tỷ đồng.

(9) Tỷ lệ bao phủ bảo hiểm y tế đến năm 2024 đạt trên 80% dân số.

(10) Tỷ lệ giảm sinh hằng năm 0,1-0,15%o.

(11) Tỷ lệ lao động qua đào tạo đến năm 2024 đạt 70-75%.

(12) Tỷ lệ hộ nghèo giảm hằng năm 1-1,5% (theo tiêu chí mới).

(13) Tỷ lệ dân số nông thôn được cung cấp nước sạch đạt trên 95%.

(14) Mục tiêu xây dựng nông thôn mới đến năm 2024: Tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

(15) Xây dựng hệ thống chính trị:

– Tỷ lệ tổ chức cơ sở Đảng đạt trong sạch vững mạnh và hoàn thành tốt nhiệm vụ 80% trở lên.

– Tỷ lệ đảng viên hoàn thành tốt nhiệm vụ trở lên đạt thấp nhất 80%.

– Tỷ lệ chính quyền cơ sở đạt vững mạnh 80% trở lên.

– Những định hướng, nhiệm vụ chủ yếu:

+ Về phát triển kinh tế – xã hội:

Triển khai toàn diện Đề án tái cơ cấu ngành Nông nghiệp theo hướng sản xuất hàng hóa, phát triển bền vững, hiệu quả, gắn với Chương trình xây dựng nông thôn mới, xác định đây là một định hướng phát triển cơ bản và lâu dài của tỉnh.

Đưa công nghiệp trở thành ngành kinh tế chủ lực, góp phần chuyển dịch mạnh cơ cấu kinh tế, tạo nguồn thu lớn, ổn định cho ngân sách. Tập trung phát triển, tăng tỷ trọng sản phẩm các ngành công nghiệp có công nghệ hiện đại và giá trị gia tăng cao.

Đẩy mạnh phát triển các ngành dịch vụ tương xứng với tiềm năng, vị trí của trung tâm vùng Nam đồng bằng sông Hồng. Triển khai thực hiện đồng bộ các giải pháp tăng cường xuất khẩu các sản phẩm lợi thế.

Huy động tối đa các nguồn thu ngân sách. Triệt để thực hành tiết kiệm, chống lãng phí trong chi tiêu ngân sách. Mở rộng và nâng cao chất lượng hoạt động của các tổ chức tín dụng.

Tập trung huy động các nguồn lực để đẩy mạnh đầu tư nâng cấp hệ thống kết cấu hạ tầng then chốt theo hướng hiện đại, nhất là các công trình hạ tầng trọng điểm để tạo động lực phát triển cho giai đoạn tiếp theo.

Phát huy thế mạnh về văn hóa, giáo dục. Triển khai đồng bộ, toàn diện chương trình xây dựng và phát triển văn hoá, con người Nam Định theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 9 (khóa XI). Thực hiện có hiệu quả việc đổi mới căn bản, toàn diện giáo dục và đào tạo. Đẩy mạnh công tác nghiên cứu, ứng dụng tiến bộ khoa học công nghệ vào sản xuất và đời sống. Nâng cao chất lượng chăm sóc sức khỏe nhân dân. Sử dụng hiệu quả tài nguyên; tích cực bảo vệ môi trường. Đẩy mạnh chương trình giảm nghèo, giải quyết việc làm; bảo đảm an sinh xã hội.

Tập trung đầu tư xây dựng vùng công nghiệp – dịch vụ Thành phố Nam Định, vùng kinh tế biển trở thành các vùng kinh tế động lực; vùng sản xuất nông nghiệp phát triển bền vững, tạo thế ổn định cho phát triển kinh tế – xã hội của tỉnh.

+ Về công tác xây dựng Đảng, xây dựng hệ thống chính trị:

Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với hoạt động của hệ thống chính trị. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc Nghị quyết Trung ương 4 (khóa XI) “Một số vấn đề cấp bách về xây dựng Đảng hiện nay”. Tập trung xây dựng, chỉnh đốn Đảng, đổi mới công tác tổ chức cán bộ, nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu của tổ chức cơ sở Đảng, nâng cao chất lượng đội ngũ đảng viên.

Đổi mới nội dung, phương thức hoạt động, nâng cao chất lượng, hiệu quả của công tác chính trị tư tưởng, góp phần nâng cao nhận thức, giữ vững sự thống nhất ý chí và hành động trong toàn Đảng bộ, tạo đồng thuận xã hội. Đưa việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh trở thành việc làm thường xuyên trong sinh hoạt Đảng, chính quyền, đoàn thể, của các cấp, các ngành.

Nâng cao chất lượng công tác kiểm tra, giám sát thi hành kỷ luật Đảng, góp phần giữ nghiêm kỷ cương của Đảng. Tăng cường kiểm tra tổ chức Đảng, đảng viên khi có dấu hiệu vi phạm.

Nâng cao chất lượng công tác dân vận, đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội; củng cố khối đại đoàn kết toàn dân và sự đồng thuận xã hội.

Tiếp tục đổi mới hoạt động của hội đồng nhân dân các cấp. Nâng cao hiệu lực, hiệu quả chỉ đạo, điều hành của chính quyền các cấp; đẩy mạnh công tác cải cách hành chính trên tất cả các lĩnh vực, trọng tâm là cải cách thủ tục hành chính. Xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức, viên chức đủ năng lực, đáp ứng yêu cầu nhiệm vụ.

Đẩy mạnh đấu tranh phòng, chống tham nhũng; xử lý nghiêm các trường hợp vi phạm theo quy định.

+ Về công tác quốc phòng, an ninh và hoạt động của các cơ quan tư pháp:

Tiếp tục thực hiện Nghị quyết số 28-NQ/TW của Ban Chấp hành Trung ương Đảng (khóa XI) về “Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới”. Xây dựng lực lượng vũ trang địa phương vững mạnh, có chất lượng tổng hợp, khả năng sẵn sàng chiến đấu cao.

Giữ vững an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội, không để bị động, bất ngờ. Nâng cao chất lượng, hiệu quả phong trào “Toàn dân bảo vệ an ninh Tổ quốc”. Thực hiện có hiệu quả các chương trình quốc gia phòng, chống tội phạm và các tệ nạn xã hội.

Tiếp tục cụ thể hoá và thực hiện có hiệu quả Chiến lược cải cách tư pháp; nâng cao chất lượng công tác điều tra, truy tố, xét xử, thi hành án. Thực hiện nghiêm túc, nền nếp công tác tiếp dân và giải quyết kịp thời đơn thư khiếu nại, tố cáo của công dân. Nâng cao chất lượng công tác thanh tra, kiểm tra; xử lý nghiêm các sai phạm.

– Một số giải pháp chủ yếu:

Nâng cao chất lượng công tác quy hoạch, kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Xây dựng môi trường đầu tư, sản xuất, kinh doanh thông thoáng, hấp dẫn. Đẩy mạnh công tác xúc tiến và thu hút đầu tư. Phát huy tối đa tiềm năng, thế mạnh của tỉnh.

Xây dựng và thực hiện nghiêm Quy chế làm việc; bảo đảm sự lãnh đạo toàn diện, thống nhất, có trọng tâm, trọng điểm của cấp uỷ. Tiếp tục thực hiện nghiêm túc kế hoạch khắc phục, sửa chữa khuyết điểm sau kiểm điểm theo tinh thần Nghị quyết Trung ương 4 (khoá XI) về xây dựng Đảng; triển khai có kết quả việc học tập và làm theo tấm gương đạo đức Hồ Chí Minh gắn với việc thực hiện nhiệm vụ chính trị. Thực hiện tốt quy chế dân chủ ở cơ sở.

Cụ thể hoá công tác quân sự quốc phòng địa phương trong chương trình công tác của cấp uỷ, trong các quy hoạch và kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội. Nhân rộng các mô hình điển hình trong phong trào quần chúng bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tiếp tục cụ thể hoá phương thức lãnh đạo của cấp ủy đối với hoạt động của các cơ quan tư pháp.

II. Đại hội thông qua Báo cáo kiểm điểm sự lãnh đạo, chỉ đạo của Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khóa XVIII. Từ kinh nghiệm của khóa trước, ý kiến đóng góp của các tổ chức Đảng, đảng viên và nhân dân, Ban Chấp hành Đảng bộ khóa XIX cần phát huy ưu điểm, tích cực khắc phục những hạn chế, tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng và hiệu quả lãnh đạo, chỉ đạo Đảng bộ hoàn thành tốt các mục tiêu nhiệm vụ Đại hội đề ra.

IV. Đại hội thông qua kết quả bầu Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX, gồm 55 đồng chí; bầu Đoàn đại biểu đi dự Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ XII gồm 22 đại biểu chính thức và 02 đại biểu dự khuyết.

V. Đại hội giao Ban Chấp hành Đảng bộ tỉnh khoá XIX căn cứ vào Nghị quyết Đại hội để xây dựng chương trình hành động, tập trung lãnh đạo, chỉ đạo, tổ chức thực hiện có hiệu quả Nghị quyết Đại hội đề ra.

Đại hội kêu gọi toàn thể cán bộ, đảng viên và các tầng lớp nhân dân trong tỉnh tiếp tục phát huy truyền thống văn hiến, anh hùng, đoàn kết, nhất trí, khắc phục khó khăn, chủ động, sáng tạo, đẩy mạnh phong trào thi đua yêu nước, quyết tâm phấn đấu hoàn thành thắng lợi mục tiêu, nhiệm vụ Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX đã đề ra, góp phần xứng đáng cùng cả nước thực hiện thắng lợi Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng./.

Nghị Quyết Đại Hội Đại Biểu Đảng Bộ Tỉnh Bình Định Lần Thứ Xix

Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh Bình Định lần thứ XIX

Chiều 16.10 , Đại hội đại biểu lần thứ XIX Đảng bộ tỉnh nhiệm kỳ 2024 – 2024 đã họp phiên bế mạc và thông qua Nghị quyết Đ ại hội . Báo Bình Định trích đăng phần “Phương hướng, mục tiêu, nhiệm vụ và giải pháp chủ yếu nhiệm kỳ 2024-2024” trong Nghị quyết Đại hội đại biểu Đảng bộ tỉnh lần thứ XIX. Phương hướng, mục tiêu phát triển

Tiếp tục xây dựng Đảng bộ và hệ thống chính trị trong tỉnh trong sạch, vững mạnh; phát huy dân chủ và sức mạnh đoàn kết toàn dân; phát huy nội lực đi đôi với tranh thủ tối đa các nguồn ngoại lực; khai thác có hiệu quả tiềm năng, lợi thế của tỉnh. Đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa, chú trọng công nghiệp hóa, hiện đại hóa nông nghiệp, nông thôn, phát triển nhanh, bền vững. Gắn phát triển kinh tế với giải quyết tốt các vấn đề xã hội; chủ động ứng phó với biến đổi khí hậu; phòng ngừa, giảm thiểu tác hại của thiên tai; quản lý tài nguyên và bảo vệ môi trường; nâng cao đời sống vật chất, tinh thần của nhân dân; phát triển KT-XH gắn với củng cố quốc phòng – an ninh, giữ vững ổn định chính trị và trật tự an toàn xã hội. Phấn đấu xây dựng Bình Định trở thành tỉnh phát triển khá của khu vực miền Trung.

Các đại biểu thông qua Nghị quyết tại Đại hội. Ảnh: V.LƯU

Nhiệm vụ, giải pháp

Đẩy mạnh công tác xúc tiến, thu hút đầu tư. Tạo mọi điều kiện thuận lợi để các nhà đầu tư thực hiện hoàn thành các dự án theo tiến độ và sớm triển khai các dự án đã cam kết để thúc đẩy nhanh tiến trình công nghiệp hóa, hiện đại hóa tỉnh nhà.

Tiếp tục hỗ trợ, tạo điều kiện cho nhà đầu tư, đầu tư phát triển hệ thống các nhà máy gia công may mặc trên địa bàn tỉnh. Khuyến khích đầu tư nhà máy sản xuất các sản phẩm cao cấp từ titan, công nghiệp hóa chất, năng lượng tái tạo, điện tử, công nghệ thông tin, công nghệ sinh học. Thu hút đầu tư dự án đóng tàu cá vỏ sắt và các dự án công nghiệp nền tảng khác.

Đẩy mạnh phát triển các ngành công nghiệp có thế mạnh của tỉnh, như: chế biến gỗ, thức ăn chăn nuôi, chế biến nông – lâm – thủy sản, chế biến đá granit, vật liệu xây dựng, dược phẩm… Tăng cường công tác khuyến công, có chính sách hỗ trợ, thúc đẩy các doanh nghiệp vừa và nhỏ, các cơ sở sản xuất tiểu thủ công nghiệp, làng nghề phát triển.

Tiếp tục phát triển thủy sản thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Đầu tư xây dựng Trung tâm khai thác, chế biến, dịch vụ hậu cần nghề cá tại Vĩnh Lợi (huyện Phù Mỹ). Phát triển các nhà máy chế biến thủy hải sản đông lạnh xuất khẩu gắn với các cảng cá tại các huyện Hoài Nhơn, Phù Cát. Đầu tư nâng cấp cảng cá và khu tránh trú bão tàu thuyền Tam Quan. Đẩy mạnh nuôi trồng, khai thác và xuất khẩu thủy hải sản nhất là cá ngừ đại dương, nuôi tôm công nghệ cao. Xây dựng thương hiệu cho một số sản phẩm nông nghiệp.

Huy động các nguồn vốn đầu tư phát triển kết cấu hạ tầng nông nghiệp, nông thôn. Khuyến khích tích tụ, tập trung ruộng đất; xây dựng các cánh đồng lớn, đầu tư thâm canh, áp dụng các tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất, nhất là các loại giống mới có năng suất, chất lượng và hiệu quả cao; tăng cường liên kết theo chuỗi giá trị; đẩy nhanh tiến trình cơ giới hóa, hiện đại hóa sản xuất nông nghiệp. Thực hiện tốt việc lồng ghép các chương trình, dự án đầu tư vào nông nghiệp, nông thôn gắn với xây dựng nông thôn mới. Phấn đấu đến cuối năm 2024, trên 50% tổng số xã trong tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới.

Đẩy mạnh đào tạo nghề với các hình thức đa dạng, phù hợp, thúc đẩy tăng trưởng kinh tế, tạo việc làm, tăng thu nhập và chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn. Thực hiện tốt các chính sách phát triển văn hóa, thực hiện tiến bộ, công bằng xã hội và nâng cao đời sống của người dân trên địa bàn nông thôn.

Tiếp tục phát triển mạnh thương mại, dịch vụ; chú trọng phát triển đồng bộ hệ thống phân phối bán buôn, bán lẻ trong tỉnh. Thu hút đầu tư xây dựng các trung tâm thương mại, các cụm thương mại, dịch vụ ở các thị trấn, thị tứ, các điểm dân cư tập trung ở nông thôn. Tiếp tục hỗ trợ, khuyến khích phát triển và nâng cao chất lượng các loại hình dịch vụ: tài chính, ngân hàng, vận tải, bưu chính viễn thông, tư vấn, khoa học – công nghệ, bảo hiểm… Tập trung đầu tư phát triển các nhóm hàng xuất khẩu có lợi thế của tỉnh như: thủy hải sản, lâm sản, nông sản thực phẩm, khoáng sản tinh chế, hàng thủ công mỹ nghệ, hàng tiêu dùng và các sản phẩm khác; đồng thời chú trọng phát triển các sản phẩm chế biến sâu, có hàm lượng khoa học, công nghệ và giá trị gia tăng cao để tăng nhanh giá trị xuất khẩu.

Phát triển du lịch trở thành ngành kinh tế quan trọng của tỉnh. Đầu tư, khai thác hiệu quả, bền vững các di tích lịch sử, văn hóa, cách mạng và kháng chiến, danh lam thắng cảnh… Phát triển, đa dạng hóa và nâng cao chất lượng các sản phẩm du lịch; đẩy mạnh xúc tiến, quảng bá, xây dựng thương hiệu du lịch Bình Định. Đào tạo, nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, nhân viên làm công tác du lịch.

Tiếp tục hoàn thiện hệ thống thủy lợi và cung cấp nước phục vụ sản xuất và sinh hoạt cho nhân dân. Xây dựng kè chống sạt lở và cải tạo, nâng cấp hệ thống tiêu thoát lũ, chống ngập úng hạ lưu sông Hà Thanh; xây dựng Hồ Đồng Mít, hệ thống kênh mương Thượng Sơn; hoàn chỉnh hệ thống kênh mương đập dâng Văn Phong, bê tông hóa kênh mương nội đồng và sửa chữa, nâng cấp một số hồ chứa, đập dâng, đê sông, đê biển bị xuống cấp. Hoàn thành hệ thống cấp nước ngọt tại các vùng nuôi tôm trọng điểm và triển khai các dự án cấp nước sinh hoạt nông thôn tại một số xã. Thực hiện các giải pháp nhằm giải quyết nguồn nước phục vụ sản xuất và đời sống ở một số nơi thường xuyên bị thiếu nước trong mùa khô.

Xây dựng, nâng cấp các Bệnh viện khu vực. Đầu tư xây dựng các dự án quan trọng khác trên các lĩnh vực văn hóa, giáo dục, khoa học và an sinh xã hội…

Tập trung đầu tư, nâng cao trình độ sản xuất nông nghiệp. Thực hiện chuyển đổi một phần diện tích đất trồng lúa chân cao, thiếu nước sang các loại cây trồng khác có hiệu quả kinh tế cao hơn. Xây dựng, phát triển các cánh đồng lớn, áp dụng tiến bộ khoa học, công nghệ vào sản xuất. Phát triển mạnh các trang trại chăn nuôi gia súc, gia cầm ở những địa phương có điều kiện. Ưu tiên phát triển công nghiệp phục vụ nông nghiệp, phát triển tiểu thủ công nghiệp, các làng nghề truyền thống phục vụ chuyển dịch cơ cấu kinh tế, cơ cấu lao động nông thôn. Tiếp tục đầu tư xây dựng các công trình hạ tầng nông thôn phục vụ phát triển nông nghiệp gắn với xây dựng nông thôn mới.

Tiếp tục thực hiện lồng ghép các chương trình mục tiêu quốc gia với triển khai Đề án giảm nghèo nhanh và bền vững 3 huyện miền núi và các xã đặc biệt khó khăn của tỉnh theo tinh thần Nghị quyết 30a của Chính phủ. Giảm tỉ lệ hộ nghèo 3 huyện miền núi gấp đôi mức giảm bình quân của cả tỉnh, hạn chế tái nghèo.

Tiếp tục đầu tư phát triển KT-XH vùng ven biển theo Chiến lược kinh tế biển quốc gia đến năm 2024. Xác định vùng ven biển là vùng động lực tạo đột phá cho tăng trưởng và chuyển dịch cơ cấu kinh tế của tỉnh. Đầu tư xây dựng và nâng cấp các cảng cá theo Quy hoạch hệ thống bến cá, cảng cá Việt Nam đến năm 2024, định hướng đến năm 2030. Triển khai các dự án đóng mới, nâng cấp tàu đánh bắt xa bờ và tàu dịch vụ hậu cần nghề cá. Tăng cường công tác cứu hộ, cứu nạn và bảo đảm an ninh, an toàn trên biển đảo.

Tăng cường liên kết giữa các địa phương trong vùng, giữa các vùng để phát huy tối đa tiềm năng, lợi thế của từng vùng, từng địa phương và ứng phó hiệu quả với thiên tai, biến đổi khí hậu; tạo không gian phát triển thống nhất trong vùng và cả tỉnh.

Nâng cao hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về khoa học, công nghệ. Đẩy mạnh nghiên cứu, ứng dụng khoa học, công nghệ vào sản xuất và đời sống, phục vụ cho việc xây dựng quy hoạch, định hướng phát triển KT-XH của tỉnh. Tăng cường công tác quy hoạch, thăm dò, khai thác, sử dụng hiệu quả và bền vững các nguồn tài nguyên của tỉnh. Triển khai thực hiện quyết liệt các biện pháp bảo vệ môi trường sinh thái; giải quyết tốt vấn đề xử lý chất thải trong sản xuất và sinh hoạt. Nâng cao năng lực dự báo, cảnh báo, chủ động phòng tránh tìm kiếm cứu nạn, cứu hộ và giảm nhẹ thiên tai, ứng phó với biến đổi khí hậu.

Phát triển sự nghiệp văn học, nghệ thuật, tạo điều kiện cho sự tìm tòi, sáng tạo của đội ngũ văn nghệ sĩ tỉnh nhà đi đôi với đề cao trách nhiệm công dân, trách nhiệm xã hội của văn nghệ sĩ. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị kỹ thuật các cơ quan thông tin đại chúng trong tỉnh. Tăng cường công tác quản lý nhà nước trên lĩnh vực báo chí, thông tin, truyền thông. Phát triển mạnh phong trào thể dục, thể thao quần chúng. Đầu tư phát triển một số bộ môn thể thao thành tích cao có thế mạnh của tỉnh. Phát triển võ thuật cổ truyền Bình Định thành bộ môn thể thao trọng điểm. Tiếp tục đẩy mạnh xã hội hóa các hoạt động văn hóa, thể dục – thể thao.

Thực hiện tốt công tác dự phòng, phòng chống dịch bệnh, các chương trình mục tiêu quốc gia về y tế. Nâng cao chất lượng khám, chữa bệnh và công tác chăm sóc sức khỏe ban đầu cho nhân dân. Tiếp tục đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất, trang thiết bị cho bệnh viện tỉnh, các bệnh viện tuyến huyện, khu vực và trạm y tế xã. Tăng cường đào tạo, phát triển nguồn nhân lực y tế cả về số lượng và chất lượng. Nâng cao trình độ chuyên môn, trách nhiệm và y đức của đội ngũ cán bộ y tế. Chú trọng phát triển nhân lực y tế trình độ cao; tăng cường nhân lực y tế cho các bệnh viện tuyến huyện, khu vực và trạm y tế xã. Quản lý tốt thuốc chữa bệnh, chú trọng công tác bảo đảm vệ sinh, an toàn thực phẩm. Nâng cao hiệu quả công tác truyền thông về dân số; làm tốt công tác chăm sóc sức khỏe sinh sản, sức khỏe bà mẹ và trẻ em, kế hoạch hóa gia đình. Giảm sự mất cân bằng tỉ lệ giới tính khi sinh.

Thực hiện đầy đủ, kịp thời các chính sách hỗ trợ người có công. Đẩy mạnh giảm nghèo bền vững, nhất là ở các vùng đặc biệt khó khăn, miền núi, vùng cao, vùng sâu, vùng xa. Chú trọng các giải pháp tạo điều kiện và khuyến khích hộ nghèo, cận nghèo phấn đấu vươn lên thoát nghèo bền vững. Thực hiện tốt các chính sách đối với đồng bào dân tộc thiểu số, chính sách “đền ơn, đáp nghĩa”. Tăng cường công tác đào tạo nghề, giải quyết việc làm. Phát triển các mô hình chăm sóc người cao tuổi, trẻ mồ côi, người khuyết tật. Xã hội hóa các nguồn đầu tư nâng cấp cơ sở vật chất và hỗ trợ hoạt động của các tổ chức bảo trợ xã hội. Đẩy mạnh việc thực hiện Chiến lược phát triển nhà ở quốc gia đến năm 2024 và tầm nhìn đến năm 2030.

Xây dựng bộ đội địa phương theo hướng cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại. Nâng cao chất lượng tổng hợp và sức chiến đấu của lực lượng vũ trang tỉnh. Tập trung chỉ đạo công tác quốc phòng – an ninh ở các địa bàn trọng điểm; giữ vững an ninh tuyến núi, tuyến biển, hải đảo.

Đẩy mạnh phong trào toàn dân tham gia bảo vệ an ninh Tổ quốc. Tập trung đấu tranh làm thất bại âm mưu “diễn biến hòa bình”, “bạo loạn, lật đổ” của các thế lực thù địch. Phát hiện và xử lý kịp thời các loại tội phạm. Thực hiện đồng bộ các biện pháp giảm thiểu tai nạn giao thông. Tăng cường công tác hòa giải, giải quyết các mâu thuẫn, tranh chấp trong nội bộ nhân dân.

Thực hiện đồng bộ các chủ trương, giải pháp nâng cao năng lực lãnh đạo, sức chiến đấu của tổ chức cơ sở đảng, tạo sự chuyển biến về chất đối với các loại hình tổ chức cơ sở đảng. Kịp thời củng cố tổ chức đảng yếu kém. Xây dựng đội ngũ đảng viên thật sự tiền phong, gương mẫu. Tăng cường công tác quản lý đảng viên. Đẩy mạnh công tác kết nạp đảng viên mới theo hướng đảm bảo chất lượng, chú trọng lực lượng đoàn viên, thanh niên. Tiếp tục thực hiện Chiến lược cán bộ thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa – hiện đại hóa. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ cả về phẩm chất đạo đức, năng lực lãnh đạo, chỉ đạo, điều hành, quản lý. Thực hiện tốt công tác quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng, bố trí, sắp xếp cán bộ. Chú trọng bồi dưỡng, đào tạo cán bộ trẻ, cán bộ nữ, cán bộ là người dân tộc thiểu số. Thực hiện nghiêm công tác bảo vệ chính trị nội bộ theo quy định của Đảng.

Tiếp tục nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của các cấp ủy, tổ chức đảng, ủy ban kiểm tra các cấp và chi bộ. Xây dựng chương trình, kế hoạch kiểm tra, giám sát và thực hiện nhiệm vụ kiểm tra, giám sát theo quy định của Điều lệ Đảng. Gắn công tác kiểm tra, giám sát với công tác tư tưởng và công tác tổ chức cán bộ. Kết hợp chặt chẽ, có hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát của Đảng với công tác thanh tra, kiểm tra, giám sát của các cơ quan nhà nước, Mặt trận Tổ quốc, các đoàn thể nhân dân và vai trò giám sát của nhân dân.

Tiếp tục đổi mới sự lãnh đạo của Tỉnh ủy đối với các cơ quan trong hệ thống chính trị trên địa bàn tỉnh. Thực hiện tốt các quy định về quyền hạn, trách nhiệm của người đứng đầu và mối liên hệ giữa tập thể cấp ủy, tổ chức đảng với người đứng đầu, bảo đảm thực hiện nghiêm nguyên tắc tập trung dân chủ, tập thể lãnh đạo, cá nhân phụ trách. Xây dựng phong cách làm việc khoa học, tập thể, dân chủ, gần dân, tăng cường đối thoại với dân, bám sát thực tiễn, trung thực, trách nhiệm, nói đi đôi với làm. Tiếp tục đổi mới, nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành nghị quyết, chỉ thị, kết luận, các chủ trương công tác của cấp ủy, đảm bảo tính sát hợp, khả thi, hiệu lực, hiệu quả. Đẩy mạnh thực hiện cải cách thủ tục hành chính trong các cơ quan của Đảng.

Tiếp tục đổi mới nội dung, phương thức hoạt động của Mặt trận Tổ quốc và các đoàn thể chính trị – xã hội cùng với các cấp ủy, chính quyền quan tâm chăm lo đời sống vật chất, tinh thần cho nhân dân, nhất là công nhân, người lao động và nhân dân ở nông thôn; xây dựng đội ngũ trí thức, chăm lo công tác thanh thiếu niên, phụ nữ; phát huy vai trò cựu chiến binh, người cao tuổi, người có uy tín trong cộng đồng; tạo điều kiện để đội ngũ doanh nhân trong tỉnh phát triển sản xuất, kinh doanh; khuyến khích đồng bào Bình Định ở các địa phương trong nước và ngoài nước hướng về quê hương, đóng góp công sức, trí tuệ xây dựng tỉnh nhà ngày một giàu đẹp.

Giá trị tổng sản phẩm địa phương bình quân hàng năm tăng 8%; trong đó công nghiệp – xây dựng tăng 12,5%, nông – lâm – ngư nghiệp tăng 3,5%, dịch vụ tăng 6,5%.

Đến năm 2024: cơ cấu kinh tế: công nghiệp – xây dựng 37%, dịch vụ 35,8%, nông – lâm – ngư nghiệp 21% và thuế trừ trợ cấp sản phẩm 6,2%; GRDP bình quân đầu người đạt 3.200 – 3.500 USD; thu ngân sách 11.000 tỉ đồng. Kim ngạch xuất khẩu giai đoạn 2024 – 2024 đạt 4,5 tỉ USD.

Huy động vốn đầu tư toàn xã hội 5 năm đạt 47% GRDP; trên 50% tổng số xã trong tỉnh đạt chuẩn nông thôn mới. Tỉ lệ lao động qua đào tạo, bồi dưỡng nghề 56%. Mỗi năm giải quyết việc làm mới cho 28.000 – 32.000 lao động.

Giảm tỉ suất sinh bình quân hàng năm 0,1 – 0,2%o. 100% số xã có bác sĩ; trên 80% số xã đạt tiêu chí quốc gia về y tế xã.

Giảm tỉ lệ hộ nghèo từ 1,5% – 2% mỗi năm, riêng các huyện miền núi giảm trên 4%/năm theo tiêu chí mới.

Tỉ lệ người tham gia bảo hiểm y tế đạt 80% so với dân số.

Tỉ lệ che phủ rừng đạt trên 52%. 99% dân số nông thôn sử dụng nước hợp vệ sinh; 80% dân số đô thị được cấp nước sạch; 100% chất thải công nghiệp, chất thải y tế được thu gom và xử lý đạt chuẩn môi trường.

Tỉ lệ tổ chức cơ sở đảng đạt trong sạch vững mạnh đạt 50% hàng năm; kết nạp đảng viên mới bình quân hàng năm đạt 5% so với tổng số đảng viên trong toàn Đảng bộ.

Cập nhật thông tin chi tiết về Nghị Quyết Đại Hội Đảng Bộ Tỉnh Thanh Hóa Lần Thứ Xix: Hòa Hợp Giữa “Ý Đảng” Với “Lòng Dân” trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!