Xu Hướng 2/2023 # Những Hạn Chế, Bất Cập Và Giải Pháp Để Xây Dựng Văn Bản Quy Phạp Pháp Luật Thời Gian Đến Đạt Hiệu Quả Cao # Top 10 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Những Hạn Chế, Bất Cập Và Giải Pháp Để Xây Dựng Văn Bản Quy Phạp Pháp Luật Thời Gian Đến Đạt Hiệu Quả Cao # Top 10 View

Bạn đang xem bài viết Những Hạn Chế, Bất Cập Và Giải Pháp Để Xây Dựng Văn Bản Quy Phạp Pháp Luật Thời Gian Đến Đạt Hiệu Quả Cao được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trong những năm qua, hoạt động ban hành văn bản quy phạm pháp luật (VBQPPL) của HĐND, UBND các cấp trên địa bàn tỉnh Quảng Nam đã từng bước đi vào kế hoạch hoá khi thực hiện Chương trình xây dựng nghị quyết của HĐND tỉnh và Chương trình xây dựng quyết định, chỉ thị của UBND tỉnh đã góp phần quan trọng vào việc hoạch định các chính sách phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn; đồng thời tạo sự phối hợp giữa các sở, ngành, địa phương trong việc soạn thảo, thẩm định, ban hành VBQPPL của HĐND, UBND các cấp. Đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác pháp chế, cán bộ làm công tác văn bản các cấp thường xuyên được bồi dưỡng nghiệp vụ và tập huấn nghiệp vụ soạn thảo, kiểm tra VBQPPL. Một số ngành, địa phương cũng rất quan tâm công tác soạn thảo, ban hành, kiểm tra văn bản đã có sự đầu tư thích đáng cho hoạt động này. Tuy nhiên, bên cạnh những kết quả đạt được nêu trên, việc ban hành VBQPPL ở ngành, địa phương vẫn còn những hạn chế sau:

– Một số sở, ngành chưa chủ mà mình quản lý, mà chỉ thực hiện đề nghị ban hành VBQPPL khi phát sinh yêu cầu hoặc văn bản của trưng ương; đồng thời các sở, ngành khi đăng ký dự kiến xây dựng VBQPPL thì lại không đảm bảo đầy đủ các nội dung theo quy định, chưa sát với yêu cầu quản lý nhà nước. Điều này đã dẫn đến tình trạng nhiều văn bản ban hành không đảm bảo về tiến độ, phải chuyển sang năm sau hoặc không được ban hành.

– Trong quá trình dự thảo VBQPPL một số sở, ngành chưa tuân thủ đầy đủ về trình tự, thủ tục xây dựng VBQPPL (theo Quyết định số 02/2012/QĐ-UBND ngày 18/01/2012 về ban hành Quy trình xây dựng, kiểm tra, xử lý văn bản QPPL của HĐND và UBND các cấp trên địa bàn tỉnh), như: chưa tổ chức khảo sát, đánh giá thực trạng quan hệ xã hội trước khi xây dựng dự thảo văn bản (kể cả đánh giá tác động các quy định về thủ tục hành chính); chưa lấy ý kiến góp ý đối với dự thảo văn bản hoặc có lấy ý kiến góp ý nhưng chưa đảm bảo thời gian theo quy định, đối tượng lấy ý kiến hẹp, chất lượng ý kiến góp ý không cao. Kết quả là chất lượng của một số dự thảo VBQPPL không cao, chưa đảm bảo về thể thức, kỹ thuật trình bày, nội dung đơn giản, sơ sài, thậm chí có văn bản chỉ sao chép các VBQPPL ở Trung ương… cho nên nhìn chung tính khả thi của VBQPPL ở các cấp sau khi ban hành không cao.

– Dự thảo văn bản gửi thẩm định không đúng quy định làm ảnh hưởng đến thời gian thẩm định và bị động cho cơ quan thực hiện chức năng thẩm định. Đội ngũ cán bộ làm công tác thẩm định còn nhiều hạn chế về trình độ, năng lực. Nội dung thẩm định phần lớn về thể thức, kỹ thuật trình bày văn bản, chưa đi sâu phân tích nội dung và các quy định cụ thể của văn bản.

– Mặc dù nội dung thẩm định chủ yếu phát hiện các lỗi về hình thức, kỹ thuật trình bày nhưng hầu hết các văn bản ban hành vẫn chưa đảm bảo về mặt trình tự, thủ tục và thể thức, kỹ thuật trình bày theo quy định của pháp luật.

– Vai trò của Mặt trận và các đoàn thể xã hội khi tham gia phản biện xã hội đối với các VBQPPL còn nhiều hạn chế; hoặc chưa được cơ quan chủ trì soạn thảo thực hiện theo đúng quy định.

– Ở một số địa phương việc niêm yết VBQPPL sau khi ban hành chưa được thực hiện; VBQPPL sau khi ban hành chưa gửi Sở Tư pháp, Phòng Tư pháp để kiểm tra theo thẩm quyền và gửi cho các cơ quan

Có nhiều nguyên nhân dẫn đến những hạn chế trong công tác xây dựng, ban hành VBQPPL như đã nêu trên, nhưng theo tôi có lẽ do các nguyên nhân sau:

-  Các cơ quan chuyên môn chưa thống nhất cách hiểu về khái niệm VBQPPL, từ đó chưa phân biệt được VBQPPL với văn bản áp dụng pháp luật nên đã xây dựng và trình cơ quan có thẩm quyền ban hành mà không đảm bảo yêu cầu về trình tự, thủ tục, hình thức và nội dung của một văn bản quy phạm pháp luật.

– Một số đơn vị, địa phương chưa nhận thức đầy đủ tầm quan trọng của công tác xây dựng, ban hành VBQPPL, những tác động mà VBQPPL mang lại cho đời sống, nên chưa chủ động đăng ký việc xây dựng, ban hành VBQPPL thuộc lĩnh vực quản lý; chưa đầu tư nhiều về thời gian, con người cho công tác xây dựng, ban hành văn bản; chưa thể hiện trách nhiệm cao đối với các dự thảo VBQPPL được phân công phụ trách soạn thảo .

– Công tác phối hợp giữa các cơ quan, đơn vị có liên quan trong soạn thảo, ban hành chưa chặt chẽ, hiệu quả, có nhiều cơ quan, đơn vị chỉ phối hợp mang tính hình thức.

– Cán bộ tham mưu thực hiện công tác soạn thảo, xây dựng VBQPPL còn yếu về chuyên môn nghiệp vụ, thụ động, chưa chịu khó nghiên cứu. Đội ngũ cán bộ pháp chế tại các sở, ngành chưa phát huy được vai trò của mình trong công tác tham mưu thực hiện nghiệp vụ pháp chế. Hầu hết cán bộ pháp chế đều bố trí kiêm nhiệm các nhiệm vụ khác hoặc còn trẻ, chưa có kinh nghiệm công tác trong lĩnh vực pháp chế.

Để khắc phục những hạn chế và nâng cao chất lượng xây dựng, ban hành VBQPPL trên địa bàn tỉnhtrong thời gian đến cần tập trung thực hiện các giải pháp sau:   

– Nâng cao trách nhiệm của HĐND, UBND các cấp trong việc xây dựng và ban hành văn bản quy phạm pháp luật. HĐND, UBND các cấp cần nhận thấy trách nhiệm của mình trong việc chỉ đạo thực hiện tốt công tác xây dựng và ban hành VBQPPL, phải xem công tác này là một trong những nhiệm vụ hàng đầu. Trong đó, cần tập trung và tổ chức thực hiện đúng các quy trình xây dựng và ban hành VBQPPL, nhất là các khâu thẩm định tính pháp lý, trình tự xem xét thông qua VBQPPL. Đồng thời, quan tâm xây dựng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản, bố trí kinh phí đảm bảo cho hoạt động này.

– Các cơ quan soạn thảo, ban hành VBQPPL cần tuân thủ đúng trình tự, thủ tục xây dựng và ban hành VBQPPL bao gồm:  Lập Chương trình ban hành VBQPPL của HĐND, UBND hàng năm; thành lập Tổ soạn thảo; khảo sát các quan hệ xã hội mà văn bản điều chỉnh, kể cả vấn đề đánh giá tác động các quy định về thủ tục hành chính; tổ chức lấy ý kiến tham gia góp ý; xem xét, thông qua; hoàn chỉnh, ký phát hành; công bố văn bản; tổ chức sơ kết, tổng kết rút kinh nghiệm; đồng thời xem việc ban hành VBQPPL là nguồn lực góp phần quan trọng vào việc phát triển kinh tế – văn hóa – xã hội, giữ vững an ninh, chính trị và trật tự an toàn xã hội trên địa bàn tỉnh.

– Sớm xây dựng, kiện toàn về tổ chức bộ máy và đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản. UBND các cấp cần quan tâm bố trí đủ biên chế làm công tác văn bản tại cơ quan Tư pháp, đặc biệt là cấp huyện và cấp xã; có kế hoạch quy hoạch, đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ cán bộ, công chức làm công tác văn bản kịp thời nắm bắt các chủ trương, chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước; xây dựng Đề án thành lập Phòng pháp chế tại các cơ quan chuyên môn thuộc UBND tỉnh theo quy định tại Nghị định số 55/2011/NĐ-CP ngày 04/7/2011 của Chính phủ Quy định chức năng, nhiệm vụ, quyền hạn và tổ chức pháp chế, giúp Thủ trưởng các sở, ban ngành trong công tác xây dựng và ban hành văn bản.

– Tăng cường và nâng dựng, kiểm tra và xử lý VBQPPL; đồng thời đảm bảo các điều kiện vật chất và kinh phí cho công tác xây dựng, kiểm tra VBQPPL theo quy định./.

Đặng Văn

 

Những Hạn Chế, Bất Cập Của Luật Phá Sản 2014

22252

Các quy định mới của Luật Phá sản 2014 đã khắc phục những bất cập cập hạn chế về thủ tục giải quyết các vụ việc phá sản của Luật Phá sản 2004 đồng thời tạo hành lang pháp lý để Tòa án giải quyết nhanh việc phá sản của các doanh nghiệp và hợp tác xã lâm vào tình trạng mất khả năng thanh toán. Mặt khác, việc bổ sung quy định về Quản tài viên và Doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản cũng đã khắc phục được những khó khăn, vướng mắc trong cơ chế phối hợp, tính chất kiêm nhiệm của các thành viên trong Tổ quản lý, thanh lý tài sản, đáp ứng được yêu cầu về tính nhanh chóng, hiệu quả và chuyên nghiệp trong thực hiện chức năng, nhiệm vụ quản lý tài sản doanh nghiệp, hợp tác xã bị phá sản.

Luật Phá sản 2014 và Luật Thi hành án dân sự đều quy định thẩm quyền tổ chức thi hành quyết định tuyên bố phá sản của Tòa án là của cơ quan thi hành án dân sự. Về thời hạn ra quyết định thi hành án tại khoản 2 Điều 36 Luật Thi hành án dân sự quy định thời hạn ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản là 03 ngày làm việc kể từ ngày nhận được quyết định. Tuy nhiên, tại khoản 1 Điều 120 Luật Phá sản 2014 quy định:

Trong thời hạn 05 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, cơ quan thi hành án dân sự có trách nhiệm chủ động ra quyết định thi hành.

Như vậy, thời hạn để cơ quan thi hành án dân sự ra quyết định thi hành án đối với quyết định tuyên bố phá sản của Luật Thi hành án dân sự và Luật Phá sản 2014 là không thống nhất với nhau.

Thứ ba, thẩm quyền của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản trong việc định giá. Theo quy định tại khoản 1 Điều 122 Luật Phá sản 2014 quy định:

Trong thời hạn 10 ngày làm việc kể từ ngày ra quyết định tuyên bố phá sản, Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải tổ chức định giá tài sản theo quy định của pháp luật.

Thứ tư, về các trường hợp định giá lại.

Theo quy định này thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản hoàn toàn chủ động trong việc định giá tài sản mà không phụ thuộc vào việc cơ quan thi hành án dân sự đã ra quyết định thi hành án cũng như việc Chấp hành viên có văn bản yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản.

Theo quy định tại khoản 1 Điều 123 Luật Phá sản 2014 quy định: việc định giá lại tài sản được thực hiện khi có vi phạm nghiêm trọng quy định tại Điều 122 của Luật này dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản; khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định nếu phát hiện Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản có hành vi vi phạm quy định của pháp luật về phá sản, pháp luật về định giá tài sản dẫn đến sai lệch kết quả định giá tài sản, Chấp hành viên yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc định giá lại tài sản, trừ trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản đó bị thay đổi theo quy định tại khoản 1 và Khoản 2 Điều 18 của Nghị định này.

Thứ năm, về bán đấu giá tài sản.

Như vậy, Luật Phá sản 2014 đã thu hẹp các trường hợp định giá lại so với Luật Thi hành án dân sự, đồng nghĩa với nó là những chủ nợ (người được thi hành án) không có quyền yêu cầu việc định giá lại như quy định tại Điều 99 Luật Thi hành án dân sự, điều này có khả năng làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích hợp pháp của người được thi hành án.

Tại khoản 2 Điều 17 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định Trong thời hạn 03 ngày làm việc, kể từ ngày nhận được báo cáo của Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản theo quy định tại Điểm d khoản 1 Điều này (Điểm d khoản 1 Điều này quy định Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản báo cáo Chấp hành viên trong các trường hợp bán đấu giá tài sản không thành), Chấp hành viên quyết định việc thanh lý tài sản”.

Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 và các văn bản hướng dẫn thi hành đều không chỉ ra là khi thực hiện quyết định việc thanh lý tài sản thì Chấp hành viên làm thủ tục gì (ra quyết định giảm giá hay quyết định việc tiếp tục bán tài sản…) dẫn đến khó khăn trong việc có tiếp tục bán đấu giá tài sản.

Thứ sáu, về trình tự thủ tục khi Chấp hành viên thực hiện việc thanh lý tài sản. Tại khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản 2014 quy định:

Tài sản mà Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản không thực hiện được việc thanh lý sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản yêu cầu của Chấp hành viên theo quy định tại khoản 2 Điều này thì Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản phải chấm dứt việc thanh lý tài sản và bàn giao toàn bộ giấy tờ, tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản cho cơ quan thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật.

Theo quy định trên, sau 02 năm kể từ ngày nhận được văn bản của Chấp hành viên yêu cầu Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện việc thanh lý tài sản mà tài sản chưa được thanh lý thì việc thanh lý tài sản được giao trở lại cho Chấp hành viên.

Tuy nhiên, Luật Phá sản 2014 chỉ quy định là cơ quan thi hành án dân sự xử lý, thanh lý tài sản theo quy định của pháp luật. Việc quy định chung chung như vậy dẫn đến cơ quan thi hành án dân sự gặp khó khăn trong việc tổ chức thi hành cụ thể là trong trường hợp này Chấp hành viên áp dụng các quy định của Pháp luật về phá sản hay Pháp luật về thi hành án để tiếp tục tổ chức việc thanh lý tài sản. cụ thể: trong trường hợp Chấp hành viên khi thực hiện việc thanh lý tài sản của Doanh nghiệp, hợp tác xã phá sản thì có phải thực hiện việc ra quyết định kê biên theo quy định của Luật Thi hành án dân sự hay chỉ tiến hành định giá lại tài sản theo quy định tại khoản 2 Điều 123 Luật Phá sản.

Thứ bảy, về chi phí thực hiện phá sản. Tại Điều 21 Nghị định số 22/2015/NĐ-CP ngày 16/02/2015 của Chính phủ quy định chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán. Chi phí Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản bao gồm thù lao Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản và chi phí khác.

Như vậy, Nghị định trên mới chỉ quy định chi phí thực hiện phá sản trong trường hợp Quản tài viên, doanh nghiệp quản lý, thanh lý tài sản thực hiện còn trong trường hợp Chấp hành viên thực hiện cưỡng chế để thu hồi tài sản, giao tài sản cho người mua được tài sản (theo quy định tại điểm c khoản 2 Điều 120 Luật Phá sản) và thực hiện việc thanh lý tài sản (theo quy định khoản 4 Điều 121 Luật Phá sản) thì chưa quy định rõ ai là người phải chi trả những chi phí trên. Mặt khác, theo quy định tại Điều 73 Luật thi hành án dân sự quy định về chi phí cưỡng chế đã quy định rõ trường hợp nào người phải thi hành án chịu, trường hợp nào người được thi hành án chịu và trường hợp nào thì ngân sách chịu.

Tuy nhiên, đối với trường hợp thi hành quyết định tuyên bố phá sản thì không có người phải thi hành án, do đó, các chi phí khi Chấp hành viên thực hiện các công việc trên có được được thanh toán từ giá trị tài sản của doanh nghiệp, hợp tác xã mất khả năng thanh toán hay không?

Giải Pháp Thu Gom Rác Thải Xây Dựng Hiệu Quả Và Ít Tốn Chi Phí Nhất.

Giải pháp thu gom rác thải xây dựng, chất thải xây dựng hiệu quả và ít tốn chi phí nhất.

Tại TPHCM cũng như cả nước, nền công nghiệp càng phát triển dẫn đến sự phát triển kinh tế với tốc độ nhanh và mạnh hơn. Các hạng mục xây dựng cơ bản được đầu tư nhiều hơn, các công trình xây dựng mới mọc lên ngày càng dày đặc, đây là nguyên nhân chính khiến cho số lượng, chủng loại và khối lượng rác thải xây dựng không ngừng tăng lên mỗi ngày. Tuy nhiên thực tế cho thấy, hiện nay công tác thu gom phế liệu, phân loại và xử lý rác thải từ xây dựng vẫn chưa mang lại hiệu quả cao, các loại hình thu gom rác thải xây dựng chưa đảm bảo đúng quy trình, tình trạng đổ xả trộm rác thải ra môi trường vẫn diễn ra, gây nên tình trạng ô nhiễm môi trường nghiêm trọng.

Đâu mới là giải pháp tối ưu cho vấn đề xử lý và thu gom rác thải xây dựng. Đây không chỉ là vấn đề của các ban ngành, cơ quan chức năng mà còn là của tất cả người dân sống và sinh hoạt trên địa bàn mỗi ngày.

Chất thải rắn công nghiệp là gì? Rác thải xây dựng, chất thải xây dựng

Chất thải rắn công nghiệp là chất thải rắn phát sinh từ hoạt động sản xuất, kinh doanh và dịch vụ. chất thải xây dựng phát sinh trong quá trình khảo sát, sát hạch, thi công xây dựng công trình mới, phá dỡ, cải tạo, tu bổ công trình cũ, hoặc là di dời 1 công trình đến 1 địa điểm khác ở khá nhiều hạng mục khác nhau ( nhà ở, đường giao thông, công trình điện đường trường trạm, cầu cống, đê điều …).

Tất cả những thành phần của rác thải xây dựng bao gồm: gạch, ngói vỡ, vôi vữa, bê tông, thạch cao, cốt thép, mái tôn, bao bì đựng các loại vật liệu xây dựng, , ống dẫn nước..

Theo nghị định số Số: 38/2015/NĐ-CP – 24/4/2015 của chính phủ về quản lý chất thải và phế liệu thì

Theo quy định, để bảo vệ môi trường, các chủ nguồn thải không được tự ý xử lý chất thải xây dựng bừa bãi mà bắt buộc phải ký hợp đồng với đơn vị thu gom phế liệu rác thải, vận chuyển và xử lý chất thải này. Và tất nhiên, cung sẽ có cầu, để đáp ứng nhu cầu của cá nhân và nhiều doanh nghiệp lớn, nhỏ trên địa bàn TPHCM và một số tỉnh thành lân cận khác, công ty phế liệu Bảo Minh đã phát triển dịch vụ thu gom và xử lý rác thải xây dựng. Theo đó, các công tác vận chuyển, thu gom và xử lý luôn bảo đảm theo quy trình tối ưu, tiêu chí an toàn, đạt tiêu chuẩn môi trường.

Xử lý chất thải rắn xây dựng, vận chuyển phế thải xây dựng

Theo Thông tư 08/2017/TT-BXD quy định về quản lý chất thải rắn, các cơ sở xử lý chất thải rắn xây dựng phải được đầu tư xây dựng đúng theo quy hoạch xây dựng và được cấp có thẩm quyền phê duyệt; Khuyến khích việc xử lý CTRXD tại nơi phát sinh với quy trình, công nghệ phù hợp, đảm bảo các yêu cầu về an toàn, môi trường.

Công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng gồm: 1- Nghiền, sàng; 2- Sản xuất vật liệu xây dựng; 3- Chôn lấp; 4- Các công nghệ khác.

Nên kí hợp đồng thu gom rác thải để đảm bảo tính pháp lý

Theo quy định tại Điều 7 Thông tư 08/2017/TT-BXD quy định về quản lý chất thải rắn xây dựng do Bộ trưởng Bộ Xây dựng ban hành như sau:

1. Chất thải rắn xây dựng (CTRXD) phải được thu gom, vận chuyển đến điểm tập kết, trạm trung chuyển và cơ sở xử lý được đầu tư xây dựng theo quy hoạch xây dựng được cấp có thẩm quyền phê duyệt hoặc cơ sở tái chế, công trình khác để tái chế, tái sử dụng. 2. Các phương tiện vận chuyển CTRXD phải là phương tiện bảo đảm các yêu cầu về tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, đã được kiểm định và được các cơ quan chức năng cấp phép lưu hành theo quy định. 3. Việc vận chuyển phải theo thời gian và lộ trình về tuyến đường, an toàn giao thông và tuân thủ các quy định của cơ quan có thẩm quyền về phân luồng giao thông tại địa phương. 4. Trong quá trình vận chuyển, phương tiện vận chuyển phải đảm bảo không làm rò rỉ, rơi vãi chất thải, gây phát tán bụi, mùi. 5. Trong trường hợp chủ nguồn thải tự vận chuyển CTRXD thì phải tuân thủ các quy định tại Điều này

Quy trình xử lý rác thải xây dựng ( quy trình xử lý chất thải rắn), công ty xử lý rác thải, các phương pháp xử lý chất thải rắn

Trước đây, Quy trình xử lý rác thải xây dựng của chúng tôi thường thu gom và giao lại cho các nhà máy xử lý chất thải xây dựng lớn làm việc này. Nhưng nhiều năm qua, bằng kinh nghiệm và vốn liếng tích lũy được, chúng tôi đã xây dựng được khu xử lý rác thải của riêng mình và hoạt động thu gom, xử lý rác thải xây dựng tại TPHCM và cả nước. Cùng xem các phương pháp xử lý chất thải rắn

Khi tiếp nhận thông tin khách hàng, đội ngũ kĩ sư của chúng tôi luôn đưa ra quy trình xử lý rác thải xây dựng tối ưu nhất bằng các cách sau:

Bước 1: Bảo Minh sẽ cử nhân viên đến trực tiếp tại địa điểm có phát sinh rác thải để khảo sát, báo giá xử lý chất thải

Bước 2: Sau khi đạt được thỏa thuận, chúng tôi tiếp nhận chất thải, sau đó tiến hành phân loại rác, xử lý hiện trường, thu gom và vận chuyển về địa điểm tập kết.

Bước 3: Xuất hóa đơn nếu đối tác có yêu cầu.

Với mục đích lớn nhất là bảo vệ môi trường, hạn chế lượng rác thải phát sinh, trong quá trình xử lý rác thải xây dựng chúng tôi luôn ưu tiên nhận xử lý tái chế, tái sử dụng.

Các phương pháp xử lý chất thải xây dựng:

Chúng tôi sẽ giới thiệu tới khách hàng các mặt hàng mà chúng tôi tiếp nhận xử lý, tái chế như:

Vật tư nhà cửa, công trình xây dựng, kiến trúc hạ tầng, cơ sở đã bị xuống cấp.

Các loại rác từ quá trình xây dựng như bao bì xi măng, gạch, vữa, bê tông, coppha..

Phương pháp nghiền, sàng: ứng dụng nhiều công nghệ, máy móc hiện đại, cho phép nghiền nhỏ các loại rác thải xây dựng như gạch, vôi vữa, bê tông,… thành nhiều kích thước khác nhau. Sản phẩm thu được có thể ứng dụng để làm vật liệu phục vụ nhu cầu xây dựng.

Phương pháp chôn lấp: phương pháp này áp dụng có loại rác thải xây dựng không có khả năng tái chế, tái sử dụng.

Phương pháp tái chế vật liệu xây dựng: rác thải xây dựng sau khi nghiền nhỏ ngoài phục vụ nhu cầu xây dựng tại chỗ còn có thể dùng để sản xuất các loại vật liệu khác như gạch lát nền, lát vỉa hè, đê chắn cát, chắn sóng…

Và một số phương pháp xử lý khác như đốt. ủ vi sinh..

Công nghệ xử lý chất thải rắn xây dựng của Bảo Minh

Các dây chuyền công nghệ khép kín luôn đảm bảo đúng yêu cầu của bộ tài nguyên môi trường về xử lý rác thải, Chúng tôi cam kết làm việc theo đúng quy chuẩn tái chế rác thải xây dựng theo quy định của pháp luật. Để làm tốt công tác này trong nhiều năm, với đội ngũ nhân lực chuyên nghiệp, nhiều kinh nghiệm, chúng tôi còn sở hữu hệ thống trang bị máy móc, các phương tiện chuyên chở bảo đảm các yêu cầu về thời gian, tiêu chuẩn kỹ thuật và an toàn, đã qua kiểm định nghiêm ngặt của các ban ngành.

Cam kết của công ty thu mua phế liệu Bảo Minh khi xử lý chất thải xây dựng:

Bằng kinh nghiệm và chỗ đứng trên thương trường, công ty chúng tôi cam kết rằng

Xử lý rác thải xây dựng một cách nhanh chóng, triệt để, an toàn, hiệu quả, đáp ứng nhanh, đủ các yêu cầu về bảo vệ môi trường.

Trong quá trình tháo dỡ, thu gom, vận chuyển và xử lý rác thải xây dựng nếu xảy ra bất cứ sự cố gì chúng tôi sẽ chịu hoàn toàn mọi trách nhiệm.

Chịu trách nhiệm trước khách hàng và pháp luật về thu gom và xử lý rác thải xây dựng

Thu gom chất thải rắn xây dựng, chất thải lỏng, khí…

Giá thành đưa ra luôn hợp lý.

Đa dạng dịch vụ thu mua: từ mau kinh loại đến phi kim loại, và ngoài ra còn thu mua xác nhà cũ thanh lý giá cao, mua nhà xưởng, nhà tiền chế, tàu bè

Với nhiều năm kinh nghiệm trong nghề, Có chỗ đứng lớn trên thị trường cả nước, không chỉ thu mua phế liệu tổng hợp mà chúng tôi còn tự tin mang đến cho khách hàng những giải pháp xử lý rác thải xây dựng hiệu quả và giảm tối đa giá thành nhất. Vậy nên đừng ngần ngại khi liên lạc thông tin sau để được tư vấn miễn phí:

CÔNG TY THU MUA PHẾ LIỆU GIÁ CAO BẢO MINH

Trụ sở chính: 589 Đường số 18 – Phường Bình Hưng Hòa – Quận Bình Tân – Tphcm

Điện thoại : 0979.637.678 – 0949.193.567 (A.DƯƠNG) Hỗ trợ 24/24h

Email : phelieubaominh@gmail.com

Website : thumuaphelieugiacao.com.vn.

Chính Sách Xây Dựng Pháp Luật: Vấn Đề Và Giải Pháp

Ngày đăng: 10/01/2016 02:56

Tuy nhiên, CSXDPL còn bộc lộ một số hạn chế làm giảm hiệu quả chính sách pháp luật. Những thiếu hụt này đòi hỏi phải được bổ sung làm rõ để việc xây dựng, ban hành chính sách pháp luật ngày càng hiệu quả hơn.

1. Những hạn chế trong xây dựng và ban hành chính sách pháp luật

Từ thực tế hoạt động trong thời gian qua, có thể nêu ra một số hạn chế cơ bản trong xây dựng, ban hành chính sách pháp luật như: thời điểm ban hành còn chậm so với yêu cầu thực tiễn; các chính sách chưa đồng bộ; chất lượng chính sách còn chưa cao; quy trình ban hành chính sách chưa được tuân thủ triệt để.

Thời gian cho quá trình từ nghiên cứu, chuẩn bị đến khi chính sách pháp luật được ghi nhận trong văn kiện hoặc thể chế hóa thành pháp luật còn chậm, cụ thể: gần 7 năm cho việc ban hành hành chủ trương “đổi mới” của Đảng (1986) nếu như tính từ Hội nghị Trung ương 6 khoá IV (8/1979); 7 năm cho việc ban hành chủ trương xây dựng nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân (2001) nếu tính từ Văn kiện Hội nghị đại biểu toàn quốc giữa nhiệm kỳ khoá VII của Đảng (tháng 01/1994) với việc nhấn mạnh: tăng cường pháp chế XHCN, xây dựng Nhà nước pháp quyền Việt Nam, quản lý xã hội bằng pháp luật… ; 9 năm cho việc ban hành Nghị quyết số 48, Nghị quyết số 49 (2005) nếu tính từ Văn kiện Đại hội VIII của Đảng (năm 1996); 02 năm cho việc thể chế Nghị quyết số 48 thành Nghị quyết số 900/UBTVQH11 ngày 21/3/2007; 04 năm cho việc thể chế Nghị quyết số 17 của Ban Chấp hành Trung ương Đảng khóa X thành Nghị quyết số 30c/NQ-CP ngày 08/11/2011 của Chính phủ về ban hành Chương trình tổng thể cải cách hành chính nhà nước giai đoạn 2011 – 2020… Từ đó dẫn tới việc chậm xây dựng, ban hành chính sách pháp luật phục vụ thực tiễn quản lý nhà nước giải quyết các vấn đề kinh tế – xã hội, do đó không hoàn thành tốt mục tiêu của CSXDPL.

Hơn nữa, nếu cả 03 nhóm chính sách trên được tiến hành đồng thời thì hiệu quả có thể sẽ cao hơn. Trong thực tế, chính sách về cải cách tư pháp được ban hành đầu tiên (Nghị quyết 08-NQ/TƯ ngày 02/01/2002 của Bộ Chính trị “Về một số nhiệm vụ trọng tâm công tác tư pháp trong thời gian tới”); sau đó 03 năm thì Nghị quyết số 48 và Nghị quyết số 49 ra đời (năm 2005); đến năm 2007 (Nghị quyết số 17 được ban hành), rồi đến năm 2011 Nghị quyết số 30c của Chính phủ về cải cách hành chính mới được ban hành. Điều này phần nào ảnh hưởng tới tiến độ cũng như tính toàn diện của hệ thống CSXDPL trong thời gian qua.

Mặc dù CSXDPL cho phép chính sách pháp luật được chuẩn bị kỹ lưỡng trước khi ban hành, nhưng khi xây dựng chưa có nhiều phương án đưa ra để lựa chọn. Đánh giá tác động của chính sách pháp luật trong tương lai chưa được quan tâm đúng mức, công tác giám sát đánh giá và tổng kết chính sách pháp luật chưa được thực hiện tốt và chậm so với yêu cầu thực tế.

Bên cạnh đó, CSXDPL còn thiếu hụt khi một số chính sách pháp luật mới dừng ở mức nêu định hướng mà thiếu những giải pháp, lộ trình, mục tiêu và nhiệm vụ cụ thể cho từng giai đoạn. Điều này phần nào ảnh hưởng tới quá trình tổ chức thi hành cũng như kết quả thực hiện.

2. Nguyên nhân hạn chế, bất cập của CSXDPL

Thứ nhất, chất lượng xây dựng và tổ chức thực hiện Chương trình xây dựng pháp luật còn hạn chế về đánh giá tác động chính sách nên chưa xác định được thứ tự ưu tiên ban hành văn bản. Vẫn còn tình trạng “xin rút” hoặc “bổ sung” vào chương trình và chưa đáp ứng tính kịp thời trong việc ban hành văn bản pháp luật để điều chỉnh những vấn đề ưu tiên, bức xúc mà xã hội quan tâm, như dự án đất đai, đầu tư, kinh doanh vốn nhà nước.

Thứ hai, quá trình đổi mới quy trình lập pháp còn chậm, việc tuân thủ các bước chưa nghiêm. Công đoạn phân tích chính sách, đánh giá tác động trước khi xây dựng dự thảo luật có trường hợp chưa được thực hiện kỹ lưỡng dẫn đến nội dung của một số dự án luật, pháp lệnh do Chính phủ trình Quốc hội so với văn bản luật, pháp lệnh khi được thông qua có sự thay đổi nhiều. Việc gửi dự án đến cơ quan thẩm tra còn nhiều trường hợp chưa bảo đảm thời gian trình theo luật định; việc tổ chức thực hiện lấy ý kiến và sử dụng các chuyên gia, nhà khoa học còn gặp khó khăn.

Thứ ba, chất lượng của chính sách pháp luật hiện hành còn những hạn chế nhất định, như:

– Thiếu tính hệ thống, chưa bảo đảm tính đồng bộ, cân đối.

– Còn đa dạng về hình thức, phạm vi điều chỉnh rộng.

Tính đến trước thời điểm ban hành Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2008, hệ thống pháp luật có khoảng 26 loại văn bản quy phạm pháp luật và đến nay còn 19 loại. Bên cạnh đó, trong một số trường hợp rất khó xác định rõ tính chất, nội dung của từng loại văn bản (ví dụ giữa luật và pháp lệnh, giữa nghị quyết của Quốc hội với luật, với pháp lệnh, nghị quyết của Ủy ban thường vụ Quốc hội). Từ đó ảnh hưởng đến giá trị pháp lý cũng như bảo đảm tính thống nhất, đồng bộ của hệ thống chính sách pháp luật.

Thực tế cho thấy, các văn bản quy phạm pháp luật ở nước ta thường được xây dựng theo hướng có phạm vi, đối tượng điều chỉnh rộng. Điều này có ảnh hưởng không tốt tới tính cụ thể, tính khả thi của pháp luật do phải ban hành nhiều văn bản dưới luật và khó sửa đổi, bổ sung để theo kịp sự thay đổi của đời sống xã hội. Hạn chế này đặt ra yêu cầu cần phải có sự thay đổi về xây dựng chính sách pháp luật trong thời gian tới.

– Tính ổn định chưa cao.

Chính sách pháp luật không ổn định chủ yếu do năng lực của đội ngũ công chức xây dựng chính sách. Nguyên nhân từ sự e ngại, né tránh với những vấn đề mới, chỉ chấp nhận những vấn đề đã chín muồi, có sự đồng thuận cao, thiếu vắng tầm nhìn và quan điểm chiến lược cho sự phát triển các lĩnh vực kinh tế – xã hội cụ thể và của cả hệ thống pháp luật. Nhiều văn bản pháp luật thời gian áp dụng rất ngắn, thậm chí mới ban hành đã phải tạm hoãn thực hiện hoặc phải sửa đổi, bổ sung. Pháp luật thường xuyên thay đổi sẽ tác động xấu đến sự ổn định của các quan hệ xã hội, nhất là đối với các quan hệ kinh tế.

– Chính sách pháp luật có tính quy phạm thấp.

Bản chất của quy phạm pháp luật là để xác định mô hình hành vi, xác định những quy tắc xử sự cụ thể mà chủ thể chính sách phải thực hiện. Nhưng trên thực tế, có những văn bản chứa đựng những quy định mang tính tuyên ngôn hơn là quy phạm chính sách pháp luật.

Thứ tư, việc thực hiện CSXDPL phục vụ quá trình cải cách tư pháp còn chậm và chưa mang lại sự thay đổi rõ nét so với mục tiêu chính sách đề ra. Công tác xây dựng, ban hành văn bản pháp luật về tư pháp còn chậm, việc phối hợp giữa các cơ quan tư pháp chưa chặt chẽ, hiệu quả nên nhiều văn bản quy định cụ thể và hướng dẫn thi hành các đạo luật về tư pháp chưa được ban hành. Việc triển khai thực hiện một số chủ trương như “thành lập viện kiểm sát theo khu vực”, “tăng cường trách nhiệm công tố trong hoạt động điều tra, gắn công tố và điều tra”, “nâng cao chất lượng tranh tụng tại tòa” nhìn chung còn chậm, chưa thật sự quyết liệt.

Thứ năm, việc thực hiện chính sách pháp luật phục vụ quá trình cải cách hành chính nhà nước có nhiều thay đổi nhưng chưa đáp ứng yêu cầu thực tiễn và mong mỏi của người dân, doanh nghiệp. Hệ thống chính sách pháp luật còn thiếu đồng bộ, thống nhất, vẫn chồng chéo, nhiều về số lượng, hạn chế về chất lượng. Các đầu mối trực thuộc Chính phủ giảm nhưng bộ máy bên trong các bộ chưa giảm; cơ chế quy định trách nhiệm người đứng đầu chưa rõ ràng. Vẫn còn nhiều thủ tục hành chính bất hợp lý, gây phiền hà cho nhân dân và doanh nghiệp; quá trình cải cách chủ yếu dừng lại ở những biện pháp tình thế, vướng đâu gỡ đó, thiếu một giải pháp toàn diện, cơ bản để có thể giải quyết tận gốc những nguyên nhân làm phát sinh những bất hợp lý cả về nội dung và hình thức của các quy trình, thủ tục, nên hiệu quả không cao, kết quả không vững chắc. Việc rà soát, sửa đổi, bổ sung thủ tục hành chính trong những năm qua chưa bảo đảm tính đồng bộ, đặc biệt là giữa cải cách thủ tục hành chính với cải cách thể chế chính sách, đổi mới tổ chức bộ máy, điều chỉnh sự phân công phân cấp, đổi mới lề lối làm việc, nâng cao năng lực, trình độ đội ngũ cán bộ, công chức.

Thứ sáu, quy trình ban hành chính sách pháp luật chưa được đề cao và tuân thủ nghiêm túc, đặc biệt trong việc đánh giá thực tiễn cũng như tạo cơ chế để nhân dân và doanh nghiệp tham gia xây dựng chính sách cũng như kiểm tra, giám sát việc thực hiện chính sách. Điều này vừa ảnh hưởng tới chất lượng của chính sách, vừa làm cho việc điều chỉnh chính sách phù hợp với thực tiễn còn chậm.

Thứ bảy, công tác phối hợp giữa các chủ thể trong việc xây dựng, thực hiện chính sách còn thiếu chặt chẽ, thường xuyên. Điều này không chỉ ảnh hưởng tới tính kịp thời, đầy đủ của chính sách pháp luật mà còn ảnh hưởng tới tính khả thi, đồng bộ của chính sách.

3. Đổi mới hoàn thiện chính sách xây dựng pháp luật

Một là, cần thực hiện đồng thời ba nhóm CSXDPL bằng một văn bản chính trị thể hiện tập trung, thống nhất và toàn diện về chính sách pháp luật. Ví dụ, để xây dựng, thực hiện chính sách pháp luật phục vụ quá trình cải cách tư pháp phải gắn liền với quá trình xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật nói chung.

Hai là, trong quá trình xây dựng, ban hành chính sách pháp luật cần phải được nghiên cứu, chuẩn bị kỹ lưỡng với những luận cứ, chứng cứ đầy đủ, khách quan cho từng phương án chính sách, tuân thủ quy trình, bảo đảm sự tham gia của các nhà khoa học, các cơ quan nhà nước, các tổ chức chính trị – xã hội và tầng lớp nhân dân, bảo đảm tính công khai, khách quan, đồng thời phát huy được trí tuệ của toàn dân. Có như vậy mới nâng cao được chất lượng chính sách pháp luật.

Ba là, bên cạnh việc nâng cao chất lượng xây dựng chính sách pháp luật, phải có sự gắn kết với việc xây dựng hệ thống các công cụ quản lý khác để tạo sự đồng bộ. Ví dụ, việc triển khai thực hiện cải cách tư pháp chậm, nhất là về tổ chức các cơ quan tư pháp theo khu vực, một phần là do chưa có sự nghiên cứu đồng bộ với đổi mới tổ chức chính quyền địa phương các cấp.

Bốn là, về mục tiêu, định hướng của chính sách xây dựng, hoàn thiện hệ thống pháp luật, cần có sự thay đổi theo hướng đồng bộ, toàn diện hơn để phù hợp với chủ trương phát triển “bền vững”, “tăng trưởng xanh” dựa trên ba trụ cột là kinh tế – xã hội – môi trường. Để xây dựng Nhà nước pháp quyền XHCN của dân, do dân, vì dân thì chính sách hệ thống pháp luật nước ta không chỉ “ưu tiên” đẩy mạnh việc ban hành văn bản pháp luật về lĩnh vực tổ chức bộ máy nhà nước và kinh tế, mà cần tăng cường số lượng, chất lượng chính sách pháp luật về các lĩnh vực khác của đời sống xã hội như an sinh xã hội, an ninh trật tự và môi trường, ứng phó giảm thiểu biến đổi khí hậu.

Sáu là, về cách thức xây dựng văn bản chính sách pháp luật, cần có sự thay đổi về tư duy trong việc xây dựng, ban hành văn bản quy phạm pháp luật theo hướng thu hẹp phạm vi, đối tượng điều chỉnh. Điều này không chỉ bảo đảm tính cụ thể, chuyên sâu mà còn tạo điều kiện thuận lợi cho việc sửa đổi, bổ sung nhằm đáp ứng sự thay đổi của các quan hệ xã hội.

Bảy là, về quy trình lập pháp, cần tiếp tục đổi mới theo hướng duy trì quy trình rút gọn và quy trình một luật sửa nhiều luật; nâng cao chất lượng và phát huy vai trò các ủy ban của Quốc hội trong hoạt động thẩm tra. Tạo cơ chế thuận lợi để các đối tượng chịu sự tác động, các nhà khoa học và nhân dân tham gia vào quy trình lập pháp; có quy định rõ việc phải đánh giá, chủ thể đánh giá chính sách pháp luật.

Tám là, đối với chính sách pháp luật trong các lĩnh vực về tổ chức và hoạt động của các thiết chế trong hệ thống chính trị; về bảo đảm quyền con người, quyền tự do dân chủ của công dân; về kinh tế, trọng tâm là hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng XHCN; về giáo dục – đào tạo, khoa học – công nghệ, lao động, an sinh xã hội, y tế, văn hóa – thông tin, thể thao, dân tộc, tôn giáo, dân số, gia đình, trẻ em; về quốc phòng và an ninh quốc gia; về trật tự, an toàn xã hội và hội nhập quốc tế cần phải bám sát các quy định của Hiến pháp năm 2013 để có sự điều chỉnh phù hợp.

Chín là, đối với chính sách pháp luật phục vụ quá trình cải cách tư pháp, cần bám sát những điểm mới của Hiến pháp năm 2013 để có sự điều chỉnh phù hợp, đặc biệt là về tổ chức, hoạt động của cơ quan tư pháp, vấn đề bảo vệ Hiến pháp và tổ chức, hoạt động của chính quyền địa phương. Cần làm rõ và cụ thể hóa một số chính sách trong quá trình thực hiện để đẩy mạnh công tác ban hành văn bản trong lĩnh vực tư pháp như “thành lập tòa án, viện kiểm sát theo khu vực”, “bảo đảm nguyên tắc độc lập của các cơ quan tư pháp”, “lấy tòa án làm trung tâm, tổ chức tòa án theo thẩm quyền và cấp xét xử”, “xây dựng nền công tố mạnh, xác định rõ chức năng, nhiệm vụ giữa cơ quan điều tra và viện kiểm sát cũng như vai trò kiểm sát hoạt động tư pháp của viện kiểm sát”; “tổ chức lại hệ thống cơ quan điều tra theo hướng thu gọn đầu mối”… Thực hiện xã hội hóa hợp lý và phát triển hài hòa các cơ quan bổ trợ tư pháp để giảm gánh nặng cho Nhà nước, tạo môi trường đồng bộ cho việc cải cách tổ chức hoạt động của tòa án, viện kiểm sát và cơ quan điều tra. Chú trọng công tác đào tạo nguồn nhân lực để bảo đảm về năng lực, trình độ và đạo đức nghề nghiệp.

Mười là, đối với chính sách pháp luật phục vụ quá trình cải cách hành chính nhà nước, cần xác định nguyên tắc, mục tiêu cơ bản của cải cách hành chính nhà nước là hài hòa giữa quyền, lợi ích của người dân với trách nhiệm quản lý của Nhà nước. Cải cách để hướng tới một “nền hành chính dân chủ, trong sạch, vững mạnh, chuyên nghiệp, hiện đại” có nghĩa không chỉ chú trọng đến việc loại bỏ, sửa đổi những thủ tục bất hợp lý, bất hợp pháp, không cần thiết, không phù hợp mà còn phải nghiên cứu xây dựng và hoàn thiện các thủ tục hành chính cần thiết để bảo đảm quyền, lợi ích và nhu cầu của nhân dân và doanh nghiệp nhằm thực hiện tốt vai trò quản lý của Nhà nước. Cần tiến hành cải cách có trọng tâm, trọng điểm theo lộ trình, đặc biệt hoàn thiện việc xây dựng, ban hành chính sách pháp luật về những lĩnh vực mà người dân đang bức xúc như đấu thầu, chỉ định thầu; thủ tục về quản lý, sử dụng đất đai, quyền sở hữu nhà; thuế, hải quan… Tập trung xây dựng, hoàn thiện có chất lượng các văn bản chính sách pháp luật quy định về chế tài xử lý hành chính. Đẩy mạnh công tác xã hội hóa cung cấp dịch vụ công, bên cạnh việc tăng cường sự hợp tác với khu vực doanh nghiệp trong nước và nước ngoài. Đẩy mạnh công tác kiểm tra, giám sát. Phát huy vai trò của khoa học và công nghệ để hiện đại hóa hoạt động hành chính và nâng cao chất lượng dịch vụ hành chính. Nâng cao chất lượng đội ngũ cán bộ, công chức, trong đó trọng tâm là cải cách chế độ, chính sách tiền lương nhằm tạo động lực để cán bộ, công chức làm việc hiệu quả n

TS. Đỗ Phú Hải – Khoa Chính sách công, Học viện Khoa học Xã hội, Viện Hàn lâm Khoa học Xã hội Việt Nam

1. chúng tôi Võ Khánh Vinh, “Xã hội học pháp luật: Những vấn đề cơ bản”. Học viện KHXH, Nxb Khoa học Xã hội, H.2012, tr.180-195.

2. chúng tôi Đinh Dũng Sỹ, Chính sách và mối quan hệ giữa chính sách với pháp luật trong hoạt động lập pháp, Vụ Pháp luật Văn phòng Chính phủ, 2008.

3. TS. Đỗ Phú Hải, Những vấn đề cơ bản của chính sách công, Học viện KHXH, 2012.

4. TS. Đỗ Phú Hải, Chu trình chính sách công: Vấn đề lý luận và thực hiện, Đề tài cấp cơ sở Học viện KHXH, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, 2012.

5. TS. Đỗ Phú Hải, Đánh giá chính sách công tại Việt Nam: Những vấn đề lý luận và thực tiễn, Đề tài cấp cơ sở Học viện KHXH, Viện Hàn lâm KHXH Việt Nam, 2013.

6. TS. Đỗ Phú Hải, Thiết kế chính sách công tại các nước đang phát triển. Đại hội chính sách công quốc tế lần thứ 1, 6/2013, Science de PO, Grenoble, Pháp, 2013.

7. TS. Đỗ Phú Hải, Những vấn đề cấp bách của chính sách công. Hội thảo Chính sách pháp luật, Học viện KHXH, 9/2013.

8. TS. Đỗ Phú Hải, Chính sách phát triển nguồn nhân lực KHCN, Tạp chí KHXH, 01/2014.

9. chúng tôi Bùi Nguyên Khánh, Tập bài giảng chính sách pháp luật. Học viện KHXH, 02/2013.

10. TS. Hoàng Văn Tú, Tập bài giảng chính sách pháp luật, Học viện KHXH, 4/2014.

tcnn.vn

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Hạn Chế, Bất Cập Và Giải Pháp Để Xây Dựng Văn Bản Quy Phạp Pháp Luật Thời Gian Đến Đạt Hiệu Quả Cao trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!