Xu Hướng 11/2022 # Những Lưu Ý Cho Sinh Viên Khi Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học / 2023 # Top 19 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 11/2022 # Những Lưu Ý Cho Sinh Viên Khi Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học / 2023 # Top 19 View

Bạn đang xem bài viết Những Lưu Ý Cho Sinh Viên Khi Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Theo Điều 41, Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 và Điều 5, Thông tư 148/2018/TT-BQP ngày 04/10/2018 quy định về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ thì trường hợp sinh viên còn nợ môn học khi đã kết thúc niên khóa học không thuộc đối tượng được tạm hoãn và miễn gọi nhập ngũ vì bạn đã kết thúc khóa học theo quy định.

Căn cứ Điều 41 Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 và Điều 5 Thông tư 148/2018/TT-BQP ngày 04/10/2018 quy định về tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ:

1. Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe.

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân xã, phường, thị trấn (sau đây gọi chung là cấp xã) xác nhận.

c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%.

d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân.

đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định.

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật.

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

2. Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một.

b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ.

c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên.

d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân.

đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên.

3. Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại Khoản 1 Điều này, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ.

Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ.

4. Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày kể từ ngày Chủ tịch Ủy ban nhân dân cấp huyện ký Quyết định.”

Tuy nhiên, các bạn sinh viên cũng đừng quá lo lắng vì trong thời gian được học tập, rèn luyện ở môi trường quân ngũ sẽ giúp nhiều bạn trẻ ngày càng rắn rỏi, trưởng thành hơn, sẵn sàng đối mặt, vượt qua thử thách trong cuộc sống. Môi trường kỷ luật đặc biệt ấy còn tôi luyện cho tuổi trẻ sự tự giác, khuôn phép, ý thức, nền nếp, chỉn chu, biết quan tâm, sẻ chia với mọi người. Bên cạnh đó, thanh niên hoàn thành nghĩa vụ quân sự sẽ được hưởng các chính sách ưu tiên của Nhà nước.

Ban Biên tập

Trang Tuyển Sinh Đại Học Bình Dương / 2023

1️⃣

Phạm vi tuyển sinh:

Trong cả nước

2️⃣ Phương thức tuyển sinh

(thi tuyển, xét tuyển hoặc kết hợp thi tuyển và xét tuyển)

Phương án 1: Xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021.

Phương án 2: Xét tuyển dựa vào kết quả thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Phương án 3: Xét tuyển dựa vào kết quả học tập 3 năm lớp 10,11,12 (xét theo học bạ).

Phương án 4: Xét tuyển dựa vào kết quả học tập năm lớp 12 (xét theo học bạ).

Phương án 5: Xét tuyển dựa vào điểm trung bình cao nhất các môn học của học kỳ 1,2 lớp 10, kỳ 1,2 lớp 11, kỳ 1 lớp 12 (xét theo học bạ THPT-5HK).

Lưu ý: Thí sinh đăng ký xét tuyển online tại website👉 https://xettuyenonline.bdu.edu.vn

3️⃣

Các ngành đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh:

Chỉ tiêu theo Ngành/ Nhóm ngành/ Khối ngành, theo từng phương thức tuyển sinh và trình độ đào tạo

Bảng 1: Các ngành đào tạo và chỉ tiêu tuyển sinh năm 2021

Ngành học

Mã ngành

Khối ngành

Tổ hợp xét tuyển

Chỉ tiêu dự kiến

Kết quả tốt nghiệp THPT

Học bạ

Quản trị kinh doanh

7340101

III

A01,A09,C00,D01

79

183

Kế toán

7340301

III

A01,A09,C00,D01

48

112

Tài chính – Ngân hàng

7340201

III

A01,A09,C00,D01

39

91

Luật Kinh tế

7380107

III

A01,A09,C00,D01

39

91

Công nghệ sinh học

7420201

IV

A00, A09, B00, D01

30

70

Công nghệ thông tin

7480201

V

A00, A09, D01, K01

15

40

Công nghệ kỹ thuật điện, điện tử

7510301

V

A00, A09, A02, D01

15

39

Công nghệ kỹ thuật công trình xây dựng

7510102

V

A00, A09, V00, V01

9

21

Kiến trúc

7580101

V

A00, A09, V00, V01

9

21

Công nghệ kỹ thuật ô tô

7510205

V

A00, A01, A02, A09

15

40

Dược học

7720201

VI

A00, B00, C08, D07

6

16

Văn học

7229030

VII

A01, A09, C00, D01

9

21

Ngôn ngữ Anh

7220201

VII

A01, D01, D10, D66

33

77

Việt Nam học

7310630

VII

A01, A09, C00, D01

33

77

Quản trị nhà trường

7149002

 

A01, A09, C00, D01

15

35

Công nghệ thực phẩm

7540101

 

A00, A09, B00, D07

20

40

Hàn Quốc học

7310614

 

A01, A09, C00, D15

15

40

Nhật Bản học

7310613

 

A01, A09, C00, D15

15

40

Logistisc và Quản lý chuỗi cung ứng

7510605

 

A01, A09, C00, D01

15

40

Bảng 2: Khối, môn xét tuyển

Tổ hợp

Môn 1

Môn 2

Môn 3

A00

Toán

Vật lý

Hóa học

A01

Toán

Vật lý

Tiếng Anh

A02

Toán

Sinh học

Vật lý

A09

Toán

Địa lý

Giáo dục công dân

K01

Toán

Tiếng Anh

Tin học

B00

Toán

Sinh học

Hóa học

C00

Địa lý

Lịch sử

Ngữ văn

C08

Ngữ văn

Hóa học

Sinh học

D01

Toán

Ngoại ngữ

Ngữ văn

D07

Toán

Hóa học

Tiếng Anh

D10

Toán

Địa lý

Tiếng Anh

D66

Ngữ văn

Giáo dục công dân

Tiếng Anh

V00

Toán

Vật lý

Vẽ mỹ thuật (*)

V01

Toán

Ngữ văn

Vẽ mỹ thuật (*)

D15

Ngữ văn

Địa lý

Tiếng Anh

Lưu ý: Thí sinh đăng ký xét tuyển khối V00, V01 phải dự thi môn Vẽ mỹ thuật tại Trường Đại học Bình Dương.

4️⃣

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận hồ sơ đăng ký xét tuyển

📌 Phương án 1: Xét tuyển dựa vào kết quả kỳ thi tốt nghiệp THPT năm 2021

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận đăng ký xét tuyển đối với phương án 1: Đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do Trường Đại học Bình Dương quy định (đối với nhóm ngành sức khỏe có chứng chỉ hành nghề, ngưỡng đảm bảo chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định). Lưu ý: Trường hợp thí sinh trúng tuyển có điểm xét tuyển ✔ Ngành Dược học theo ngưỡng đảm bảo chất lượng do Bộ Giáo dục và Đào tạo quy định.

📌 Phương án 2: Xét Xét tuyển dựa vào kết quả thi đánh giá năng lực của Đại học Quốc gia Thành phố Hồ Chí Minh.

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận đăng ký xét tuyển đối với phương án 2: Đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do Trường Đại học Bình Dương quy định. ✔ Ngành Dược học xét tuyển đối với thí sinh có học lực lớp 12 xếp loại khá hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 6.5 trở lên.

📌 Phương án 3: Xét tuyển dựa vào kết quả học tập 3 năm 10,11,12 (xét theo học bạ)

Công thức tính điểm:

Trong đó:

Dxt: Điểm xét tuyển

Di: Điểm trung bình 3 năm lớp 10,11,12 của môn thứ i (nếu xét tuyển sử dụng kết quả lớp 10,11,12)

✔ Với 2D12i = Điểm trung bình môn i năm lớp 12 nhân 2

✔ Với D11i = Điểm trung bình môn i năm lớp 11

✔ Với D10i = Điểm trung bình môn i năm lớp 10

Ví dụ: Thí sinh Nguyễn Thị A có nguyện vọng xét tổ hợp A00, thí sinh có điểm trung bình môn cụ thể như sau:

Bảng 3. Ví dụ về cách tính điểm phương án 3

Môn học

Toán

Vật lý

Hóa học

Điểm trung bình môn lớp 10

5,0

8,0

7,0

Điểm trung bình môn lớp 11

6,0

9,0

9,0

Điểm trung bình môn lớp 12

7,0

10

8,0

Tổng

((2*7,0) + 6,0 + 5,0)/4 = 6,25

((2*10) + 9,0 + 8,0)/4 = 9,25

((2*8,0) + 9,0 + 7,0)/4 = 8,0

Vậy, thí sinh được xét theo công thức sau: Điểm xét tuyển = 6,25 + 9,25 + 8,0

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận đăng ký xét tuyển đối với phương án 3: Đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do Trường Đại học Bình Dương quy định.

Lưu ý: Trường hợp thí sinh trúng tuyển có điểm xét tuyển ✔ Ngành Dược học xét tuyển đối với thí sinh có học lực lớp 12 xếp loại giỏi hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8.0 trở lên.

📌 Phương án 4: Xét tuyển dựa vào kết quả học tập năm lớp 12.

Công thức tính điểm: Dxt = (DM1 + DM2 + DM3) + Điểm ưu tiên (nếu có)

Trong đó: Dxt: Điểm xét tuyển

✔ Với DM1 = Điểm trung bình môn 1 năm lớp 12

✔ Với DM2 = Điểm trung bình môn 2 năm lớp 12

✔ Với DM3 = Điểm trung bình môn 3 năm lớp 12

Ví dụ: Thí sinh Nguyễn Thị A có điểm trung bình môn học lớp 12 như sau: Toán (9,0 điểm), Vật lý (7,0 điểm), Hóa học (9,0 điểm) và thí sinh xét tổ hợp A00. Vậy thí sinh được xét theo công thức sau: Điểm xét tuyển = Toán (9,0 điểm) + Vật lý (7,0 điểm) + Hóa học (9,0 điểm)

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận đăng ký xét tuyên đôi với phương án 4: Đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do Trường Đại học Bình Dương quy định.

Lưu ý: Trường hợp thí sinh trúng tuyển có điểm xét tuyển ✔ Ngành Dược học xét tuyển đối với thí sinh có học lực lớp 12 xếp loại giỏi hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8.0 trở lên.

📌 Phương án 5: Xét tuyển dựa vào điểm trung bình cao nhất các môn học của học kỳ 1,2 lớp 10, kỳ 1,2 lớp 11, kỳ 1 lớp 12 (xét theo học bạ THPT-5HK).

Công thức tính điểm: Dxt = DhkM1 + DhkM2 + DMhk3

Trong đó: Dxt: Điểm xét tuyển

✔ Với DhkM1 = Điểm max môn 1 (học kỳ 1,2 lớp 10; kỳ 1,2 lớp 11; kỳ 1 lớp 12)

✔ Với DhkM2 = Điểm max môn 2 (học kỳ 1,2 lớp 10; kỳ 1,2 lớp 11; kỳ 1 lớp 12)

✔ Với DhkM3 = Điểm max môn 3 (học kỳ 1,2 lớp 10; kỳ 1,2 lớp 11; kỳ 1 lớp 12)

Ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào, điều kiện nhận đăng ký xét tuyên đôi với phương án 5: Đạt ngưỡng đảm bảo chất lượng đầu vào do Trường Đại học Bình Dương quy định.

Lưu ý: Trường hợp thí sinh trúng tuyển có điểm xét tuyển ✔ Ngành Dược học xét tuyển đối với thí sinh có học lực lớp 12 xếp loại giỏi hoặc điểm xét tốt nghiệp THPT từ 8.0 trở lên. 5️⃣ Thời gian tuyển sinh: Nhà trường tổ chức nhiều đợt tuyển sinh liên tục trong năm, cụ thể như sau:

Bảng 4. Các đợt tuyển sinh

Đợt 1: 02/01 – 10/07

Đợt 7: 01/09 – 10/09

Đợt 2: 11/07 – 21/07

Đợt 8: 11/09 – 21/09

Đợt 3: 21/07 – 31/07

Đợt 9: 22/09 – 02/10

Đợt 4: 01/08 – 10/08

Đợt 10: 03/10 – 13/10

Đợt 5: 11/08 – 20/08

Đợt 11: 14/10 – 24/10

Đợt 6: 21/08 – 31/08

6️⃣ Hồ sơ dự tuyển, bao gồm:

01

Phiếu đăng ký xét tuyển (theo mẫu) – tại website tuyensinh.bdu.edu.vn

01 Bằng tốt nghiệp THPT hoặc Giấy chứng nhận tốt nghiệp tạm thời (có công chứng) (có thể bổ sung sau)

01 giấy chứng nhận điểm thi tốt nghiệp THPT (có thể bổ sung sau)

01 Học bạ THPT (có công chứng)

Giấy chứng nhận ưu tiên (nếu có)

01 Giấy khai sinh (bản sao)

02 ảnh 4×6 (sau ảnh ghi rõ họ tên, ngày, tháng, năm sinh)

Lưu ý: Với những giấy tờ còn thiếu khi nộp hồ sơ thí sinh phải bổ túc trước khi thời gian kết thúc xét tuyển.

7️⃣ Cách thức nộp hồ sơ:

✔ Cách 1: Chuyển phát nhanh qua đường bưu điện.

✔ Cách 2: Nộp trực tiếp tại trường.

👉 NƠI NHẬN

Tại Bình Dương: Phòng Quản lý đào tạo và Công tác sinh viên (Bộ phận Tư vấn tuyển sinh, Trường Đại học Bình Dương)

🎯 Địa chỉ: 504 Đại lộ Bình Dương, phường Hiệp Thành, Tp.Thủ Dầu Một, Bình Dương.

☎️ Điện thoại: 02743.822058 (nội bộ 100 hoặc 101) -  📞 0274 370 3399.

🌀 Website: https://tuyensinh.bdu.edu.vn – 📨 Email: tuyensinh@bdu.edu.vn

Tại Cà Mau: PHÂN HIỆU TRƯỜNG ĐẠI HỌC BÌNH DƯƠNG TẠI CÀ MAU

🎯 Địa chỉ: Số 03, đường Lê Thị Riêng, Phường 5, Tp. Cà Mau, Cà Mau.

☎️ Điện thoại: 0290 399 7777 – 0290 355 2177 – 📞 0942 931 239.

🌀 Website: https://camau.bdu.edu.vn - 📨 Email: tuyensinh.cm@bdu.edu.vn

Sinh Viên Đang Học Đại Học Có Phải Tham Gia Nghĩa Vụ Quân Sự ? Đăng Ký Nghĩa Vụ Quân Sự Ở Nơi Nào ? / 2023

1. Sinh viên đang học đại học có phải tham gia nghĩa vụ quân sự ?

Kính chào Luật Minh Khuê, em có một vấn đề mong các luật sư giải đáp: Em hiện là sinh viên năm 2 trường ĐH CNTPHCM. Em muốn hỏi là vậy năm nay 2020 em có được hoãn NVQS không ? Hay luật đã thay đổi sinh viên cũng phải tham gia NVQS ?

Em xin chân thành cảm ơn!

Luật Nghĩa vụ quân sự 2015 có hiệu lực vào ngày 01/01/2016 đến nay vẫn còn hiệu lực và Thông tư 148/2018/TT-BQP quy định về các trường hợp tạm hoãn như sau:

Điều 41. Tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ

1. Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:

a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe;

b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận;

c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%;

d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân;

e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật;

g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trongthời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.

2. Tư vấn nơi đăng ký nghĩa vụ quân sự ?

Thưa luật sư. Em đi làm bên công ty ở quận Hai Bà Trưng, Hà Nội. Và có lệnh đi khám sức khỏe quân sự, nhưng hộ khẩu thường trú em tại địa chỉ bên huyện Gia Lâm, Hà Nội. Em xin hỏi là em làm đơn xét gia cảnh chính quyền nơi em đăng ký thường trú là huyện Gia Lâm là gia đình em neo người, em là lao động duy nhất phải nuôi mẹ già không còn khả năng lao động ?

Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 : Đăng ký nghĩa vụ quân sự bổ sung; khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập; tạm vắng; đăng ký miễn gọi nhập ngũ trong thời chiến Đăng ký nghĩa vụ quân sự khi thay đổi nơi cư trú hoặc nơi làm việc, học tập như sau :

Như vậy, Trong trường hợp của bạn, hiện bạn được Hội đồng quân sự quận Hai bà trưng xét tuyển gọi nhập ngũ là nơi bạn đang làm việc. Và bạn chưa cung cấp rõ cho chúng tôi biết bạn có đăng kí nghĩa vụ quân sự ở nơi làm việc hay không theo quy định nêu trên. Nếu bạn không đăng ký thì bạn có quyền về nơi đăng ký hộ khẩu thường trú của mình là huyện Gia Lâm. Lúc đó, gia đình bạn có bạn là người lao động duy nhất trong nhà phải nuôi mẹ nhà không có khả năng lao động thì bạn sẽ thuộc trường hợp tạm hoãn Theo Khoản 1 Điều 41 Luật nghĩa vụ quân sự năm 2015 quy định công dân được tạm hoãn gọi nhập ngũ trong trường hợp sau:

Lúc này bạn sẽ làm đơn đề nghị tạm hoãn gửi UBND phường/xã nơi cư trú xác nhận xem xét giải quyết tạm hoãn thực hiện nghĩa vụ quân sự .

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: hoặc liên hệ văn phòngđể nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

3. Những vướng mắc về luật nghĩa vụ quân sự ?

Chào luật sư, Em vừa lấy vợ và có con, con em mới được 6 tháng tuổi, em đã tách khẩu, vợ em chưa có việc làm, em thì vừa mới đầu tư kinh doanh ở ngoài em có lệnh gọi đi nghĩa vụ. Luật sư cho em hỏi liệu em có phải đi nghĩa vụ không ạ ?

Luật sư tư vấn giúp em, cảm ơn luật sư!

4. Phẫu thuật mắt thì có phải tham gia nghĩa vụ quân sự nữa hay không ?

Xin chào luật sư. Tôi vẫn đang trong lứa tuổi để gọi tuyển quân. Mắt tôi cận 5 độ và mới phẫu thuật 1 năm thì nếu đi khám thì có đc miễn nghĩa vụ quân sự không ?

Mong nhận được phản hồi sớm. Xin trân trọng cảm ơn luật sư!

Tư vấn pháp luật nghĩa vụ quân sự miễn phí qua tổng đài điện thoại

Theo thông tin bạn cung cấp thì bạn cần xác định rõ một số nội dung sau để giải quyêt vấn đề của mình:

Bạn nêu rằng bạn đang trong độ tuổi tuyển quân và bạn bị cận 5 độ nhưng bạn mới phẫu thuật được một năm, bạn đang không biết rằng mình có phải tham gia nghĩa vụ quân sự không?

Đối chiếu trường hợp của bạn với các quy định của pháp luật quân sự hiện hành thì bạn sẽ tham gia nghĩa vụ quân sự nếu bạn đảm bảo đủ các tiêu chí sau:

a) Công dân từ đủ 18 tuổi đến hết 25 tuổi.

b) Công dân nam được đào tạo cao đẳng, đại học đã tạm hoãn gọi nhập ngũ thì tuyển chọn gọi nhập ngũ đến hết 27 tuổi.

a) Thực hiện theo quy định của Bộ Quốc phòng, Bộ Công an về tiêu chuẩn chính trị trong tuyển chọn công dân vào phục vụ trong Quân đội.

b) Đối với các cơ quan, đơn vị trọng yếu, cơ mật và lực lượng vệ binh, kiểm soát quân sự chuyên nghiệp thực hiện tuyển chọn theo quy định của Bộ Quốc phòng về cơ quan, đơn vị và vị trí trọng yếu cơ mật trong Quân đội.

a) Tuyển chọn những công dân có sức khỏe loại 1, 2, 3 theo quy định của Bộ Y tế, Bộ Quốc phòng về tiêu chuẩn sức khoẻ thực hiện nghĩa vụ quân sự.

b) Đối với các đơn vị quy định tại Điểm b, Khoản 2 Điều này, thực hiện tuyển chọn bảo đảm các tiêu chuẩn riêng theo quy định của Bộ Quốc phòng.

c) Không gọi nhập ngũ vào Quân đội những công dân có sức khỏe loại 3 có tật khúc xạ về mắt (cận thị 1,5 điop trở lên, viễn thị các mức độ); nghiện ma túy, nhiễm HIV, AIDS.

a) Tuyển chọn và gọi nhập ngũ những công dân có trình độ văn hóa lớp 8 trở lên, lấy từ cao đến thấp. Những địa phương khó khăn, không đảm bảo đủ chỉ tiêu giao quân thì báo cáo cấp có thẩm quyền xem xét, quyết định được tuyển chọn công dân có trình độ văn hóa lớp 7.

b) Các xã thuộc vùng sâu, vùng xa, vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; đồng bào dân tộc thiểu số dưới 10.000 ngươi thì được tuyển từ 20% đến 25% công dân có trình độ văn hóa cấp tiểu học, còn lại là trung học cơ sở trở lên.

Nếu như bạn vẫn đang trong độ tuổi tuyển quân, bạn đủ tiêu chuẩn về chính trị , trình độ văn hóa thì xét chỉ còn vấn đề về sức khỏe của bạn là chưa được rõ ràng. Nếu theo Thông tư 16/2016/TT-BQP-BYT bạn bị cận và vừa phẫu thuật thì xác định như sau:

Điều 9. Phân loại sức khỏe thực hiện nghĩa vụ quân sự

1. Căn cứ phân loại sức khỏe

Theo tiêu chuẩn sức khỏe tại Bảng số 1, Bảng số 2 và Bảng số 3 Phụ lục ban hành kèm theo Thông tư này.

Mỗi chỉ tiêu, sau khi khám bác sỹ cho điểm chẵn từ 1 – 6 vào cột “Điểm”, cụ thể:

a) Điểm 1: Chỉ tình trạng sức khỏe rất tốt;

b) Điểm 2: Chỉ tình trạng sức khỏe tốt;

c) Điểm 3: Chỉ tình trạng sức khỏe khá;

d) Điểm 4: Chỉ tình trạng sức khỏe trung bình;

đ) Điểm 5: Chỉ tình trạng sức khỏe kém;

e) Điểm 6: Chỉ tình trạng sức khỏe rất kém.

4. Cách phân loại sức khỏe

Căn cứ vào số điểm chấm cho 8 chỉ tiêu ghi trong phiếu sức khỏe nghĩa vụ quân sự để phân loại, cụ thể như sau:

a) Loại 1: 8 chỉ tiêu đều đạt điểm 1;

b) Loại 2: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 2;

c) Loại 3: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 3;

d) Loại 4: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 4;

đ) Loại 5: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 5;

e) Loại 6: Có ít nhất 1 chỉ tiêu bị điểm 6.

1. Các bệnh về mắt

Như vậy, nếu bạn đã phẫu thuật mắt trên một năm và đạt kết quả tốt thì bạn sẽ được đo thị lực không kính để tính điểm và cộng thêm 1 điểm khi tính. Nếu khi phẫu thuật xong tiến hành đo thị lực và tính điểm mà bạn đạt loại 4 thì bạn không đủ đảm bảo tiêu chuẩn để tham gia nghĩa vụ quân sự và thuộc trường hợp hoãn nghĩa vụ quân sự. Còn nếu sức khỏe của bạn đạt loại 3 trở xuống thì bạn sẽ vẫn tham gia nghĩa vụ quân sự theo giấy gọi.

Nếu còn vướng mắc, chưa rõ hoặc cần hỗ trợ pháp lý khác bạn vui lòng liên hệ bộ phận tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài điện thoại số: để được giải đáp.

5. Xin tư vấn về chế độ ưu đãi khi thực hiện nghĩa vụ quân sự ?

Thưa luật sư, Cho cháu hỏi cháu bị bệnh và bị khuyết một bên sọ cháu đã ráp lại nhưng chỉ là sọ nhân tạo vây cháu có thể tham gia nghĩa vụ được không tình trạng sức khỏe của cháu bây giờ bình thường không bị ảnh hưởng gì ạ?

Điều 41. Tạm hoãn gọi nhập ngũ và miễn gọi nhập ngũ1. Tạm hoãn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây:a) Chưa đủ sức khỏe phục vụ tại ngũ theo kết luận của Hội đồng khám sức khỏe; b) Là lao động duy nhất phải trực tiếp nuôi dưỡng thân nhân không còn khả năng lao động hoặc chưa đến tuổi lao động; trong gia đình bị thiệt hại nặng về người và tài sản do tai nạn, thiên tai, dịch bệnh nguy hiểm gây ra được Ủy ban nhân dân cấp xã xác nhận; c) Một con của bệnh binh, người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 61% đến 80%; d) Có anh, chị hoặc em ruột là hạ sĩ quan, binh sĩ đang phục vụ tại ngũ; hạ sĩ quan, chiến sĩ thực hiện nghĩa vụ tham gia Công an nhân dân; đ) Người thuộc diện di dân, giãn dân trong 03 năm đầu đến các xã đặc biệt khó khăn theo dự án phát triển kinh tế – xã hội của Nhà nước do Ủy ban nhân dân cấp tỉnh trở lên quyết định; e) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật; g) Đang học tại cơ sở giáo dục phổ thông; đang được đào tạo trình độ đại học hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục đại học, trình độ cao đẳng hệ chính quy thuộc cơ sở giáo dục nghề nghiệp trong thời gian một khóa đào tạo của một trình độ đào tạo.2. Miễn gọi nhập ngũ đối với những công dân sau đây: a) Con của liệt sĩ, con của thương binh hạng một; b) Một anh hoặc một em trai của liệt sĩ; c) Một con của thương binh hạng hai; một con của bệnh binh suy giảm khả năng lao động từ 81% trở lên; một con của người nhiễm chất độc da cam suy giảm khả năng lao động từ 81 % trở lên; d) Người làm công tác cơ yếu không phải là quân nhân, Công an nhân dân; đ) Cán bộ, công chức, viên chức, thanh niên xung phong được điều động đến công tác, làm việc ở vùng có điều kiện kinh tế – xã hội đặc biệt khó khăn theo quy định của pháp luật từ 24 tháng trở lên. 3. Công dân thuộc diện tạm hoãn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 Điều này, nếu không còn lý do tạm hoãn thì được gọi nhập ngũ. Công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ hoặc được miễn gọi nhập ngũ quy định tại khoản 1 và khoản 2 Điều này, nếu tình nguyện thì được xem xét tuyển chọn và gọi nhập ngũ. 4. Danh sách công dân thuộc diện được tạm hoãn gọi nhập ngũ, được miễn gọi nhập ngũ phải được niêm yết công khai tại trụ sở Ủy ban nhân dân cấp xã, cơ quan, tổ chức trong thời hạn 20 ngày.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: hoặc liên hệ văn phòng để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Bộ phận Luật sư Tư vấn pháp luật NVQS – Luật Minh Khuê

Tăng Cường Thực Hiện Pháp Luật Về Giáo Dục Trong Các Trường Đại Học / 2023

1.1. Khái niệm thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học

Thực hiện pháp luật là giai đoạn sau khi đã tiến hành xây dựng pháp luật và là giai đoạn quan trọng không thể thiếu của cơ chế điều chỉnh pháp luật. Bởi pháp luật chỉ có thể phát huy được vai trò và những giá trị của mình trong việc điều chỉnh các quan hệ xã hội, duy trì trật tự và tạo điều kiện cho xã hội phát triển khi nó được tôn trọng và thực hiện đầy đủ, nghiêm minh trong cuộc sống. Do vậy, vấn đề quan trọng không chỉ là ban hành nhiều luật mà là thực hiện pháp luật như thế nào trong thực tế.

Thực hiện pháp luật là quá trình các tổ chức, cá nhân và các chủ thể pháp luật khác khi gặp phải tình huống thực tế mà quy phạm pháp luật đã dự liệu, trên cơ sở nhận thức của mình chuyển hóa một cách sáng tạo quy tắc xử sự chung mà Nhà nước đã quy định vào tình huống cụ thể thông qua hành vi thực tế hợp pháp của mình, nói cách khác, những đòi hỏi, cấm đoán hay cho phép của pháp luật đối với các tổ chức, cá nhân đã được biểu hiện thành các hành vi thực tế thực hiện quyền, nghĩa vụ của các chủ thể pháp luật.

Thực hiện pháp luật là nghĩa vụ của các tổ chức và cá nhân, mọi tổ chức và cá nhân trong xã hội đều phải nghiêm chỉnh thực hiện pháp luật. Đối với Nhà nước thì thực hiện pháp luật là một trong những hình thức để thực hiện các chức năng, nhiệm vụ của Nhà nước, quản lý và bảo vệ xã hội, còn đối với các tổ chức phi nhà nước hoặc các cá nhân thì thực hiện pháp luật là hoạt động sử dụng các quyền, tự do pháp lý và thi hành các nghĩa vụ pháp lý mà pháp luật quy định cho họ.

Giáo dục là hoạt động có mục đích, có chương trình, tác động vào con người thông qua một hệ thống các biện pháp tác động nhằm truyền thụ tri thức và kinh nghiệm, rèn luyện kỹ năng và lối sống, chuẩn bị cho đối tượng của giáo dục tham gia lao động, tham gia đời sống xã hội và nâng cao chất lượng cuộc sống. Giáo dục là hoạt động tất yếu của phát triển xã hội loài người, là một bộ phận cơ bản của quá trình tái sản xuất mở rộng lao động xã hội. Điều 35 Hiến pháp năm 1992 sửa đổi năm 2001 “Phát triển về giáo dục là quốc sách hàng đầu. Nhà nước và xã hội phát triển giáo dục nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài …”. Bên cạnh đó, chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010 xác định mục tiêu, giải pháp và các bước đi theo phương châm đa dạng hóa, chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, xây dựng một nền giáo dục có tính chất thực tiễn và hiệu quả, tạo bước chuyển biến mạnh mẽ về chất lượng, đưa nền giáo dục nước ta sớm tiến kịp các nước phát triển trong khu vực và trên thế giới, nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực và bồi dưỡng nhân tài, góp phần đắc lực thực hiện mục tiêu của chiến lược phát triển kinh tế – xã hội. Văn kiện Đại hội Đại biểu toàn quốc lần thứ XI Đảng Cộng sản Việt Nam khẳng định: “Cần đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục Việt Nam theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế, trong đó, đổi mới cơ chế quản lý giáo dục, phát triển đội ngũ giáo viên và cán bộ quản lý là khâu then chốt”. Hoạt động giáo dục được đi vào đời sống thì cần phải làm tốt công tác thực hiện pháp luật về giáo dục.

Giáo dục là một loại hình hoạt động cơ bản của đời sống xã hội ở nước ta. Các loại hình giáo dục từ buổi sơ khai với những người hay nhóm người làm giáo dục và những cơ sở (nhà trường) chuyên làm công tác giáo dục cho đến khi hình thành một hệ thống nhà trường có mối quan hệ tác động qua lại với các điều kiện, bối cảnh, trình độ phát triển về chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học – công nghệ … Xuất phát từ thực tiễn và nhu cầu của xã hội đối với giáo dục nói chung và giáo dục đại học nói riêng về nâng cao chất lượng đào tạo, phát triển giáo dục cho mọi người, xây dựng xã hội học tập, đến vấn đề đào tạo nguồn nhân lực đa trình độ, lao động chất lượng cao, đã hình thành các nhóm quan hệ xã hội, giữa các nội dung về tổ chức và hoạt động giáo dục đại học gồm: thành lập trường đại học, tuyển sinh, đào tạo, nghiên cứu khoa học; tài chính, tài sản; tổ chức nhân sự; hợp tác quốc tế…Trên cơ sở đó, có thể nêu khái niện thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học như sau:

Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là quá trình hoạt động có mục đích làm cho các quy phạm pháp luật về giáo dục được phát sinh trong quá trình tổ chức và hoạt động giáo dục đại học, bao gồm các quy định về tổ chức cơ sở giáo dục đại học; nhiệm vụ, quyền hạn, vị trí của giáo dục đại học trong hệ thống giáo dục quốc dân; các hoạt động về đào tạo, nghiên cứu khoa học và công nghệ; hợp tác quốc tế về giáo dục đại học; đội ngũ giảng viên, cán bộ quản lý; chương trình, giáo trình và phương pháp giảng dạy… 1.2. Vai trò thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học 1.2.1. Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học góp phần tích cực đưa pháp luật vào đời sống thực tiễn, thúc đẩy sự nghiệp giáo dục phát triển đúng quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước

Thực hiện pháp luật là một hiện tượng xã hội mang tính pháp lý. Quá trình hoạt động thực hiện pháp luật được diễn ra đồng thời và tiếp nối với quá trình xây dựng và hoàn thiện pháp luật của Nhà nước. Xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là hai dạng hoạt động khác nhau nhưng có mối quan hệ chặt chẽ với nhau. Xây dựng pháp luật là quá trình hoạt động của các cơ quan nhà nước có thẩm quyền nhằm ban hành pháp luật và không ngừng hoàn thiện pháp luật. Thực hiện pháp luật là trách nhiệm của mọi tổ chức, mọi công dân Việt Nam và các tổ chức, công dân nước ngoài làm việc, sinh sống trên đất nước Việt Nam. Nhà nước quản lý xã hội bằng pháp luật và trách nhiệm thực hiện pháp luật của công dân, tổ chức mang tính nguyên tắc do Hiến pháp qui định.

Quản lý xã hội bằng pháp luật đòi hỏi nhà nước phải xây dựng và ban hành pháp luật. Nếu pháp luật ban hành nhiều nhưng ít đi vào cuộc sống, hiệu quả điều chỉnh của các qui phạm pháp luật không cao, chứng tỏ rằng quản lý nhà nước kém hiệu quả. Vì vậy, xây dựng pháp luật và thực hiện pháp luật là đòi hỏi khách quan của việc quản lý nhà nước và tăng cường pháp chế XHCN.

Để quản lý lĩnh vực giáo dục trong các trường đại học, nhà nước phải xây dựng, ban hành và từng bước hoàn thiện hệ thống pháp luật về giáo dục, làm căn cứ pháp lý, tạo môi trường thuận lợi cho các hoạt động về giáo dục trong các trường đại học. Thực hiện pháp luật về giáo dục là tích cực đưa pháp luật vào cuộc sống thực tiễn góp phần thúc đẩy sự nghiệp giáo dục nước nhà phát triển đúng với quan điểm, chủ trương của Đảng và Nhà nước ta. Muốn vậy, cần phải nắm vững tính chất nền giáo dục nước ta: “Nền giáo dục Việt Nam là nền giáo dục XHCN có tính nhân dân, dân tộc, khoa học và hiện đại. Lấy chủ nghĩa Mác-Lênin và tư tưởng Hồ Chí Minh làm nền tảng”; đồng thời nắm vững mục tiêu của giáo dục”… là đào tạo con người Việt Nam phát triển toàn diện, có đạo đức, tri thức, sức khỏe, thẩm mỹ và nghề nghiệp, trung thành với lý tưởng độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội, hình thành và bồi dưỡng nhân cách, phẩm chất và năng lực của công dân, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”[1]

1.2.2. Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật, giải quyết kịp thời những vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN về lĩnh vực giáo dục

Yêu cầu đầu tiên của việc thực hiện pháp luật là sự nhận thức đúng đắn những qui định của pháp luật cả về tư tưởng, nội dung và ý nghĩa, từ đó nâng cao ý thức và chủ động đề ra các biện pháp hữu hiệu để thực hiện tốt pháp luật. Khi ý thức pháp luật của các chủ thể được nâng cao và việc thực hiện pháp luật trở thành tự giác thì sẽ góp phần ngăn ngừa và hạn chế các vi phạm pháp luật.

Mọi hành vi vi phạm pháp luật đều có ảnh hưởng không tốt tới quá trình điều chỉnh của pháp luật, làm tổn hại đến pháp chế. Do vậy, nhà nước cần có những biện pháp nhanh chóng và hữu hiệu để xử lý nghiêm minh, kịp thời các hành vi vi phạm pháp luật. Pháp luật là cơ sở để củng cố và tăng cường pháp chế, không thể có cơ sở vững chắc để củng cố nền pháp chế nếu không chú ý đến những biện pháp đảm bảo cho các cơ quan có trách nhiệm xây dựng pháp luật có đủ khả năng và điều kiện để hoàn thiện hệ thống pháp luật. Tổ chức và thực hiện pháp luật là một mặt quan trọng của nền pháp chế. Kết quả của việc tổ chức và thực hiện pháp luật là một trong những tiêu chuẩn để xác định tính chất của nền pháp chế XHCN. Vì vậy, yêu cầu đặt ra là muốn củng cố và tăng cường pháp chế thì phải bảo đảm cho các tổ chức, cơ quan có thẩm quyền tổ chức và thực hiện pháp luật một cách có hiệu quả. Pháp luật về giáo dục cho các trường đại học là một bộ phận của pháp luật nói chung nên nó cũng đòi hỏi các chủ thể cần có nhận thức một cách đúng đắn, đầy đủ tư tưởng, nội dung và ý nghĩa, chủ động đề ra biện pháp và tự giác trong thực hiện. Có như vậy mới hạn chế và ngăn ngừa các vi phạm pháp luật về giáo dục. Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học một cách nghiêm chỉnh và triệt để của các chủ thể là góp phần ngăn ngừa và hạn chế những vi phạm pháp luật về giáo dục. Đồng thời qua quá trình thực hiện pháp luật về giáo dục sẽ phát hiện được những sai sót để điều chỉnh hoặc xử lý kịp thời.

Thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học góp phần làm cho hoạt động giáo dục có nề nếp, thống nhất và phát triển vững chắc, thực hiện được mục tiêu của giáo dục đại học trong thời kỳ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước, đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

1.2.3. Thông qua thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học góp phần phổ biến, giáo dục pháp luật, xây dựng thói quen, ý thức của sinh viên sống và học tập theo Hiến pháp và pháp luật

Giáo dục pháp luật có vị trí, ý nghĩa rất quan trọng. Vai trò của pháp luật bắt nguồn từ giá trị xã hội của pháp luật, từ sự hiểu biết và thực hiện nghiêm túc của các chủ thể pháp luật. Nếu pháp luật là công cụ rất quan trọng để Nhà nước quản lý đất nước, quản lý xã hội, là phương tiện để công dân thực thi nghĩa vụ và bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình thì giáo dục pháp luật giúp cho Nhà nước và công dân biết sử dụng phương tiện đó. Phổ biến, giáo dục pháp luật có ý nghĩa trực tiếp trong việc nâng cao hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước, quản lý xã hội.

Việc phổ biến, giáo dục pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là một khâu trong qui trình tổ chức thực hiện pháp luật về giáo dục, có vai trò đặc biệt quan trọng trong việc đưa pháp luật về giáo dục vào cuộc sống. Hình thức phổ biến, giáo dục pháp luật được thể hiện thông qua các phương tiện thông tin đại chúng, giảng dạy, các hoạt động xét xử,…

Công tác tổ chức thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là một biện pháp bao gồm nhiều mặt hoạt động nhằm đảm bảo cho pháp luật được tôn trọng và thực hiện nghiêm chỉnh trong thực tiễn. Cần tăng cường công tác giải thích pháp luật về giáo dục để làm sáng tỏ nội dung và ý nghĩa của các qui định pháp luật làm cơ sở cho việc phổ biến và giáo dục pháp luật đạt kết quả. Đẩy mạnh công tác phổ biến và giáo dục pháp luật về giáo dục nhằm làm cho sinh viên hiểu biết pháp luật từ đó nâng cao ý thức pháp luật, xây dựng thói quen sống và học tập theo Hiến pháp và pháp luật.

2. Nhu cầu tăng cường thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học 2.1. Nhu cầu thực hiện mục tiêu giáo dục trong các trường đại học theo quan điểm và chủ trương của Đảng và Nhà nước

Báo cáo chính trị tại Đại hội lần thứ IX của Đảng Cộng sản Việt Nam đã chỉ rõ: Phát triển giáo dục và đào tạo là một trong những động lực quan trọng thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, là điều kiện để phát huy nguồn lực con người – yếu tố cơ bản để phát triển xã hội, tăng trưởng kinh tế nhanh và bền vững. Để định hướng cho việc phát triển giáo dục và đào tạo, Đảng ta đã có các tư tưởng chỉ đạo, chủ trương và nhiệm vụ phát triển giáo dục trong thời kỳ đẩy mạnh công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước được xác định trong các văn kiện của Đảng: Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết Trung ương 2 (khóa VIII), Nghị quyết Trung ương 6 và 9 (khóa IX), …

Nhằm đáp ứng nguồn nhân lực theo yêu cầu trên, mục tiêu giáo dục của nước ta là xây dựng con người Việt Nam phát triển toàn diện, có lý tưởng, đạo đức, có tính tổ chức và kỷ luật, có ý thức cộng đồng và tính tích cực cá nhân làm chủ tri thức hiện đại, có tư duy sáng tạo, kỹ năng thực hành, tác phong công nghiệp và có sức khỏe đáp ứng yêu cầu xây dựng và bảo vệ Tổ quốc.

Để định hướng cho việc thực hiện mục tiêu trên, quan điểm chỉ đạo của Đảng ta là: Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu. Giáo dục là sự nghiệp của toàn Đảng, của Nhà nước và của toàn dân. Phát triển giáo dục theo hướng chuẩn hóa, hiện đại hóa, xã hội hóa, gắn với nhu cầu phát triển kinh tế – xã hội và củng cố quốc phòng, an ninh.

Để thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng về phát triển giáo dục đại học trong thời kỳ mới, Quốc hội khóa X đã thông qua Luật Giáo dục (tháng 12/1998), Quốc hội khóa 13 đã thông qua Luật Giáo dục đại học (tháng 6/2012), Nghị quyết Hội nghị Trung ương 8 (khóa 7), Nghị quyết Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ VIII, Nghị quyết Hội nghị Trung ương 3 (khóa VIII), Nghị quyết Đại hội IX, Nghị quyết 08 Bộ Chính trị ngày 02/01/2002, Nghị quyết Đại hội X và Nghị quyết Đại hội XI… Đổi mới chương trình, sách giáo khoa và phương pháp giáo dục nhằm nâng cao chất lượng giáo dục toàn diện thế hệ trẻ, đáp ứng yêu cầu phát triển nguồn nhân lực phục vụ công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước phù hợp với thực tiễn Việt Nam, tiếp cận trình độ các nước trong khu vực và trên thế giới. Phấn đấu đến năm 2020 tất cả các Tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương trong cả nước đạt chuẩn quốc gia về giáo dục đại học.

Phải nhận thấy rằng để phát triển sự nghiệp giáo dục theo quan điểm của Đảng, Luật và Nghị quyết của Quốc hội, trong thời gian qua Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ Giáo dục và Đào tạo đã cụ thể hóa bằng nhiều văn bản để chỉ đạo, hướng dẫn thực hiện. Ở từng địa phương với chức năng và quyền hạn quản lý của mình, các cấp ủy đảng và chính quyền đã căn cứ các quy định của Trung ương và kết hợp tình hình thực tiễn địa phương ban hành nhiều văn bản mang tính chỉ đạo cụ thể, đôn đốc thực hiện nhằm ổn định và phát triển sự nghiệp giáo dục ở địa phương mình.

Như vậy việc bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là thực hiện quan điểm, đường lối của Đảng và Chính sách, pháp luật của Nhà nước nhằm thực hiện cho được mục tiêu nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài cho đất nước, đáp ứng cho nhu cầu phát triển đất nước trong giai đoạn mới.

2.2. Nhu cầu tăng cường hiệu lực quản lý của Nhà nước về giáo dục đại học

Công tác quản lý của Nhà nước về giáo dục là một nội dung quan trọng của pháp luật về giáo dục. Nó không những là một nội dung của thực hiện pháp luật về giáo dục mà còn là hoạt động nhằm bảo đảm pháp luật về giáo dục được tổ chức và thực hiện nghiêm chỉnh trong đời sống xã hội. Tăng cường quản lý nhà nước bằng pháp luật nhằm nâng cao hiệu quả, hiệu lực hoạt động của cơ quan quản lý giáo dục từ trung ương đến địa phương, nhằm xác lập hệ thống các cơ quan quản lý giáo dục các cấp bảo đảm không chồng chéo về quyền hạn và nhiệm vụ; tạo điều kiện thuận lợi tối đa cho các trường đại học phát triển, tạo quyền tự chủ và tự chịu trách nhiệm của nhà trường trong tổ chức, hoạt động giáo dục phù hợp với đặc điểm của trường và thực tiễn của Việt Nam.

Tăng cường công tác pháp chế về giáo dục đại học, trong đó có công tác hoàn thiện hệ thống văn bản quy phạm pháp luật điều chỉnh các hoạt động của các trường đại học theo hướng quy định cụ thể, đảm bảo tính khả thi, quy định rõ trách nhiệm, quyền của từng chủ thể. Đảm bảo khi văn bản được ban hành là có thể thực hiện được ngay. Đây là khâu đột phá, để nâng cao chất lượng và phát triển toàn diện giáo dục đại học, làm tiền đề triển khai hệ thống các giải pháp đồng bộ nhằm khắc phục các yếu kém và nâng cao chất lượng giáo dục đại học, từng bước hội nhập với hệ thống các trường đại học trong khu vực và trên thế giới.

Tăng cường quản lý nhà nước thông qua các hoạt động thanh tra, kiểm tra, giám sát sẽ tạo điều kiện cho các trường đại học thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ của mình trong tất cả các hoạt động giáo dục: tổ chức, nhân sự; đào tạo, tuyển sinh; kiểm định chất lượng giáo dục; nghiên cứu khoa học…

2.3. Nhu cầu khắc phục những hạn chế, tồn tại của việc thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học

Việc thực hiện pháp luật về giáo dục ở các trường đại học trong thời gian qua đã đạt được những kết quả nhất định. Các chủ thể thực hiện pháp luật về giáo dục đã nhận thức được vai trò của giáo dục đối với xã hội, từ đó đã thực sự quan tâm chỉ đạo, lãnh đạo và kiểm tra, đôn đốc việc thực hiện pháp luật về giáo dục trong phạm vi quản lý của mình. Với việc tích cực thực hiện pháp luật về giáo dục và những thành tích của ngành giáo dục đạt được trong thời gian qua đã chứng minh cho sự quan tâm này.

Các hoạt động của giáo dục đại học ở các trường đại học đã thực sự thực hiện nghiêm túc các quy định của pháp luật các cấp quản lý về giáo dục đã vận dụng các hình thức thực hiện pháp luật, đặc biệt là hình thức thi hành pháp luật và áp dụng pháp luật để đưa pháp luật về giáo dục vào thực tiễn xã hội. Bên cạnh đó, việc thực hiện các nội dung quản lý nhà nước về giáo dục được quan tâm đúng mức. Công tác đào tạo, bồi dưỡng về đường lối, chủ trương của Đảng và chính sách, pháp luật của Nhà nước đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục được đặc biệt chú ý. Một số hạn chế là:

+ Một số trường chưa làm tốt chức năng tham mưu và quản lý nhà nước về giáo dục nên các cấp ủy Đảng, chính quyền chưa có những chủ trương, biện pháp cụ thể, thiết thực, kịp thời để thúc đẩy sự nghiệp giáo dục;

+ Ngân sách đầu tư cho giáo dục còn eo hẹp, chưa đáp ứng kịp với quy mô phát triển các ngành học, cấp học. Cơ sở vật chất phục vụ cho việc dạy và học nhìn chung vẫn còn nghèo nàn, thiếu thốn ở một số trường đại học;

+ Các văn bản pháp quy về quản lý giáo dục nói chung, thực hiện pháp luật về giáo dục nói riêng vừa thiếu, vừa không đồng bộ nên quá trình tổ chức thực hiện gặp nhiều ách tắc, khó khăn;

+ Công tác quản lý ở một số trường ngoài công lập, các hình thức học tập tại chức chưa được quản lý chặt chẽ, chất lượng chưa đảm bảo theo yêu cầu. Một số tiêu cực trong ngành giáo dục chưa được xử lý nghiêm minh, kịp thời. Việc phát hiện vi phạm pháp luật về giáo dục còn chậm, chưa xử lý những vi phạm một cách triệt để.

Những hạn chế của việc thực hiện pháp luật về giáo dục ở các trường đại học trong thời gian qua đã đặt ra yêu cầu cấp bách đòi hỏi phải xây dựng các giải pháp nhằm bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục là mối quan tâm của các chủ thể tham gia hoạt động giáo dục.

3. Các giải pháp nhằm tăng cường thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học hiện nay 3.1. Nâng cao nhận thức về thực hiện pháp luật về giáo dục trong trường đại học

Để nâng cao nhận thức thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học là phải nâng cao nhận thức về vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về giáo dục để thực hiện mục tiêu của Đảng và Nhà nước ta: giáo dục là quốc sách hàng đầu. Mục tiêu phát triển kinh tế – xã hội nhằm đưa nước ta ra khỏi tình trạng kém phát triển và năm 2010 và cơ bản trở thành một nước công nghiệp theo hướng hiện đại vào năm 2020, đòi hỏi giáo dục đại học phải phát triển mạnh mẽ để góp phần thúc đẩy sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa đất nước. Việc chuyển sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN; sự phát triển nhanh chóng của khoa học và công nghệ; xu thế toàn cầu hóa và hội nhập kinh tế quốc tế; nhu cầu học tập ngày càng tăng của nhân dân vừa là thời cơ, vừa tạo ra thách thức to lớn đối với giáo dục đại học nước ta.

Giáo dục là quốc sách hàng đầu, có nghĩa là chính sách giáo dục của Đảng và Nhà nước có tầm quan trọng vào hàng thứ nhất trong tất cả chính sách khác. Muốn giáo dục là quốc sách hàng đầu thì phải từ cán bộ, chính sách ưu tiên và tổ chức quản lý. Phát triển giáo dục là quốc sách hàng đầu nhằm nâng cao dân trí, đào tạo nhân lực, bồi dưỡng nhân tài, phục vụ yêu cầu về quyền được học tập của nhân dân. Phát triển giáo dục cả hai mặt: số lượng và chất lượng; trong đó phát triển số lượng là quan trọng, phát triển chất lượng là quyết định, vì chất lượng quyết định hiệu quả của phát triển giáo dục.

Thực hiện pháp luật về giáo dục có vị trí, vai trò đặc biệt quan trọng. Nó là cách thức tốt nhất để đưa pháp luật về giáo dục vào cuộc sống, tích cực thực hiện mục tiêu giáo dục của Đảng và Nhà nước đã đề ra. Có thực hiện tốt những quy định của pháp luật về giáo dục sẽ góp phần hạn chế những vi phạm pháp luật, tăng cường pháp chế XHCN trong lĩnh vực giáo dục; góp phần phổ biến giáo dục pháp luật và xây dựng thói quen, ý thức pháp luật sống và làm việc theo Hiến pháp và pháp luật.

Nền giáo dục Việt Nam phải là nền giáo dục của nhân dân, do nhân dân, vì nhân dân, hướng tới một xã hội học tập. Hệ thống giáo dục không chỉ dành cho tuổi trẻ mà còn dành cho tất cả mọi người để học tập suốt đời, trong đó học theo trường lớp chính quy và không chính quy đều có thể đạt được trình độ mong muốn về kiến thức và kỹ năng. Nhà nước cần tạo cơ chế mạnh dạn huy động nguồn lực và trí tuệ từ nhân dân để phát triển giáo dục và có chính sách bảo đảm bình đẳng giữa trường công lập và trường ngoài công lập. Gắn chặt hơn nữa mối quan hệ giữa nhà trường, gia đình và xã hội.

Ngoài những vấn đề quy định trong Luật Giáo dục, Luật Giáo dục đại học thì vấn đề khác sẽ được điều chỉnh bằng hệ thống văn bản dưới Luật như các Nghị quyết, Nghị định, Quyết định, Chỉ thị, Thông tư… nhằm hướng dẫn, quy định cụ thể các quy định của Luật Giáo dục đại học và các nội dung thuộc thẩm quyền ban hành của Chính phủ, Thủ tướng Chính phủ, Bộ trưởng Bộ Giáo dục và Đào tạo và liên Bộ. Như vậy, cùng với Luật Giáo dục đại học là văn bản có giá trị pháp lý cao thì sẽ hình thành một hệ thống văn bản quy phạm pháp luật đầy đủ, đồng bộ, thống nhất điều chỉnh tất cả các hoạt động của giáo dục đại học tạo nên một hệ thống pháp luật về giáo dục đại học.

Bên cạnh việc hoàn thiện hình thức pháp luật về giáo dục thì cũng phải hoàn thiện nội dung pháp luật về giáo dục trong các trường đại học như:

+ Thể chế các quy định về quản lý giáo dục đại học theo hướng tăng quyền tự chủ, nâng cao trách nhiệm xã hội và thúc đẩy năng lực cạnh tranh của các cơ sở giáo dục đại học;

+ Thể chế các quy định về giao chỉ tiêu tuyển sinh, phương pháp tuyển sinh, quản lý cấp phát bằng, chứng chỉ trên cơ sở tăng tính tự chủ tự chịu trách nhiệm của nhà trường trước người học và xã hội;

+ Quy định nội dung, phương pháp và chương trình giáo dục đáp ứng nhu cầu đào tạo nguồn lực có trình độ cao và hội nhập quốc tế;

+ Thể chế hóa các quy định về nhà giáo nhằm phát triển và nâng cao chất lượng đội ngũ nhà giáo là khâu then chốt trong việc nâng cao chất lượng giáo dục đại học;

+ Quy định quy hoạch mạng lưới và cơ cấu hệ thống giáo dục đại học nhằm đổi mới cơ bản, toàn diện cơ cấu đào tạo nhân lực có trình độ cao;

+ Quy định và đa dạng hóa các nguồn lực đầu tư cho giáo dục đại học, giao quyền tự chủ cho các cơ sở giáo dục đại học trong lĩnh vực tài chính nhằm tạo điều kiện cho các trường chủ động xây dựng và phát triển;

+ Thể chế các quy định về nghiên cứu khoa học và công nghệ, đẩy mạnh hợp tác quốc tế trong giáo dục đại học góp phần hội nhập với hệ thống giáo dục đại học khu vực và thế giới;

+ Thể chế các quy định về đảm bảo và kiểm định chất lượng giáo dục để duy trì và không ngừng nâng cao chất lượng giáo dục đại học.

3.3. Đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật trong các trường đại học

Công cuộc đổi mới toàn diện đất nước thì nhu cầu về nguồn nhân lực đòi hỏi ngày càng tăng cả về số lượng và chất lượng, thì vai trò của giáo dục phải luôn được khẳng định và đặt đúng vị trí của nó, do đó việc thực hiện pháp luật về giáo dục phai ngang tầm với sự đòi hỏi của xã hội. Ở các trường đại học hiện nay vấn đề thực hiện pháp luật về giáo dục phải được xem là một hình thức tốt nhất để đưa pháp luật về giáo dục vào các trường, góp phần hạn chế, ngăn ngừa những vi phạm pháp luật về giáo dục, do đó, đòi hỏi phải có nhận thức đúng đắn quan điểm giáo dục là quốc sách hàng đầu và vị trí, vai trò, ý nghĩa của việc thực hiện pháp luật về giáo dục trong đời sống xã hội. Vì vậy, việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật về giáo dục là biện pháp chủ yếu để đạt được yêu cầu về nhận thức nói trên.

Từ khi có Chỉ thị số 02/CT-TTg, Quyết định số 03/QĐ-TTg ngày 07/01/1998 của Thủ tướng Chính phủ về tăng cường công tác phổ biến, giáo dục pháp luật thì công tác này đang từng bước được đẩy mạnh, góp phần tích cực vào việc nâng cao ý thức pháp luật của người dân, động viên hướng dẫn nhân dân hăng hái tham gia vào phát triển kinh tế – xã hội. Các ngành, các cấp đã quan tâm trong việc củng cố tổ chức, huy động cán bộ, xây dựng cơ chế, tạo điều kiện về cơ sở vật chất để thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật. Nhưng cũng phải thấy được rằng, mặc dù Đảng và Nhà nước ta đã ban hành một số văn bản pháp luật làm cơ sở pháp lý cho việc đẩy mạnh công tác phổ biến, giáo dục pháp luật và xét về mặt tổng thể tuy có những hoạt động sôi nổi, rộng khắp với sự nỗ lực thường xuyên của nhiều tổ chức, cơ quan từ Trung ương đến địa phương nhưng hiệu quả công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, tác động của phổ biến, giáo dục pháp luật đối với việc nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của người dân, đến trật tự kỷ cương pháp luật, cũng còn những hạn chế. Một trong những nguyên nhân của tình trạng này là do hiện nay việc thực hiện công tác phổ biến, giáo dục pháp luật vẫn còn dàn trải, chưa hình thành được cơ chế, phương thức hữu hiệu, tập trung nguồn lực cũng như huy động sự tham gia đóng góp của toàn xã hội cho công tác phổ biến, giáo dục pháp luật.

Để công tác này thực sự đổi mới về chất, cần phải có bước đi mạnh mẽ, phải có trọng tâm, trọng điểm trong kế hoạch tổng thể về phổ biến, giáo dục pháp luật để góp phần thực hiện các mục tiêu, chính sách về phát triển kinh tế – xã hội giai đoạn 2001-2010 được thông qua tại Đại hội Đảng toàn quốc lần thứ IX và thực hiện đường lối, chủ trương của Đảng và Nhà nước về giáo dục. Chỉ thị số 32-CT/TW ngày 09/12/2003 của Ban Bí thư Trung ương về tăng cường sự lãnh đạo của Đảng trong công tác phổ biến, giáo dục pháp luật, nâng cao ý thức chấp hành pháp luật của cán bộ, nhân dân, “…công tác phổ biến, giáo dục pháp luật cần được tiếp tục đổi mới về phương thức thực hiện để có những chuyển biến tích cực đáp ứng những đòi hỏi của thời kỳ phát triển mới của đất nước ta”[2]. Nước ta đang trong thời kỳ chuyển đổi sang nền kinh tế thị trường định hướng XHCN, nhu cầu quản lý xã hội nói chung và quản lý lĩnh vực giáo dục và đào tạo nói riêng cần có những văn bản pháp luật sát hợp để điều chỉnh các quan hệ xã hội này. Thực tiễn ở nước ta hiện có rất nhiều văn bản pháp luật điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực giáo dục; điều đó đòi hỏi phải phổ biến, giáo dục như thế nào cho đạt hiệu quả, để pháp luật đó đi vào cuộc sống và được bảo đảm thực hiện.

3.4. Kiện toàn tổ chức và hoạt động về giáo dục trong các trường đại học

Trong sự nghiệp giáo dục, đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục có vai trò đặc biệt quan trọng, là nòng cốt để nâng cao chất lượng giáo dục. Trong thời gian qua, các trường đại học đã quan tâm xây dựng được một đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục khá đông đảo, phần lớn có phẩm chất đạo đức, trình độ chuyên môn và năng lực thực tiễn. Tuy nhiên, so với yêu cầu của sự phát triển giáo dục trong thời kỳ mới thì đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục còn những hạn chế và bất cập. Vì vậy, các cơ quan quản lý giáo dục cần phải xây dựng và thực hiện quy chế làm việc theo yêu cầu cải cách thủ tục hành chính. Các trường học và cơ sở đào tạo khác tổ chức và hoạt động theo quy định của Điều lệ nhà trường phù hợp với chức năng nhiệm vụ và ngành nghề đào tạo, các trường học theo hướng tinh gọn đảm bảo chất lượng và hiệu quả. Thực hiện nghiêm túc quy chế chuyên môn xem đây là hình thức chủ yếu của việc thực hiện pháp luật về giáo dục trong trường học để nâng cao chất lượng và hiệu quả của giáo dục. Công khai minh bạch công tác thu chi tài chính, kiên quyết ngăn chặn và xử lý nghiêm minh đối với các hành vi tham nhũng, sử dụng kinh phí giáo dục sai mục đích, lợi dụng hoạt động giáo dục để vụ lợi.

Hiệu quả thực hiện pháp luật về giáo dục phụ thuộc rất lớn vào trình độ chuyên môn, nghiệp vụ cũng như phẩm chất đạo đức, lòng nhiệt thành và trách nhiệm của đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Do vậy, việc xây dựng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục giỏi về chuyên môn, nghiệp vụ, trong sáng về đạo đức, tận tụy với nghề nghiệp là một trong những yếu tố quan trọng tạo điều kiện cho sự bảo đảm cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục. Bên cạnh việc củng cố tổ chức bộ máy và cán bộ, cần quan tâm đẩy mạnh các hoạt động trọng tâm trong nhà trường như việc tổ chức giảng dạy và học tập theo chương trình, kế hoạch và tổ chức các hoạt động giáo dục khác để nâng cao chất lượng toàn diện cho thế hệ trẻ theo mục tiêu giáo dục. Quan tâm củng cố các tổ chức trong nhà trường như tổ chức đảng, công đoàn, đoàn thanh niên; các tổ chuyên môn, hội đồng khoa học, hội đồng giáo dục… nhằm tạo một sức mạnh tổng hợp để thực hiện nhiệm vụ của nhà trường.

Để đảm bảo việc thực hiện pháp luật về giáo dục trong các trường đại học ở Việt Nam hiện nay được tốt hơn, đòi hỏi phải xây dựng và thực hiện chu đáo công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý để bảo đảm hoàn thành được nhiệm vụ. Công tác quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục phải đảm bảo các yêu cầu sau:

+ Có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng một cách thường xuyên cho đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục về chính trị, chuyên môn nghiệp vụ theo nhu cầu thực hiện nhiệm vụ của ngành. Chăm lo công tác phát triển Đảng trong đội ngũ giáo viên của các trường để làm hạt nhân trong thực hiện pháp luật về giáo dục.

+ Có quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng để chuẩn hóa cho đội ngũ giáo viên theo quy định của Bộ Giáo dục và Đào tạo nhằm tạo nền tảng cho việc thực hiện nâng cao chất lượng toàn diện trong tất cả các ngành học. Kết hợp chuẩn hóa đại trà với đào tạo chuyên sâu để nâng chuẩn cho đội ngũ giáo viên giảng dạy các lớp chọn, bồi dưỡng sinh viên giỏi.

+ Cần có những chính sách tuyển dụng, sử dụng, đãi ngộ đối với đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục. Thực hiện tốt việc quy hoạch, kế hoạch đào tạo, bồi dưỡng giáo viên để khắc phục tình trạng thiếu giáo viên dạy các môn pháp luật, quốc phòng, thể dục… có chính sách thỏa đáng trong việc giải quyết chế độ cho số giáo viên lớn tuổi, năng lực chuyên môn yếu không đáp ứng được với yêu cầu đổi mới giáo dục hiện nay.

+ Các cơ quan quản lý giáo dục, các nhà trường cần phối hợp với Công đoàn Giáo dục đẩy mạnh phong trào thi đua “hai tốt” và các cuộc vận động “dân chủ hóa nhà trường”, “kỷ cương – tình thương – trách nhiệm”, giúp đỡ đội ngũ nhà giáo và cán bộ quản lý giáo dục rèn luyện, trau dồi phấm chất đạo đức, bản lĩnh sư phạm, giữ gìn hình ảnh tốt đẹp về người thầy giáo, cô giáo, thực sự là tấm gương sáng cho sinh viên noi theo.

3.5. Đảm bảo điều kiện vật chất cho việc thực hiện pháp luật về giáo dục ở các trường đại học

Nhà nước tăng cường đầu tư xây dựng cơ sở hạ tầng cho giáo dục đại học; các trường đại học cũng đã tập trung đầu tư xây dựng cơ sở như: trung tâm thư viện, phòng thí nghiệm, ký túc xá và sân chơi thể dục thể thao… Nhà nước có chính sách ưu đãi, hỗ trợ, khuyến khích các nhà đầu tư trong nước và ngoài nước đầu tư vào lĩnh vực giáo dục đại học; bảo đảm quyền sở hữu theo pháp luật và các quyền lợi về vật chất và tinh thần của nhà đầu tư. Các trường đại học cũng đã chủ động thực hiện đa dạng hóa nguồn thu từ các hợp đồng đào tao, nghiên cứu và triển khai, chuyển giao công nghệ, các hoạt động dịch vụ, sản xuất, kinh doanh.

Thực hiện hạch toán thu – chi đối với các trường đại học công lập, có quyền tự chủ cao trong thu – chi theo nguyên tắc lấy các nguồn thu bù đủ các khoản chi hợp lý, có tích lỹ cần thiết để phát triển cơ sở vật chất phục vụ đào tạo và nghiên cứu.

Nhìn chung, cơ sở vật chất của các trường đại học, trang thiết bị, đồ dùng dạy học được tăng cường. Nhưng vẫn còn một số trường (nhất là các trường ở miền núi, ở Tây Nguyên) thì cơ sở vật chất còn khó khăn còn thiếu thiết bị dạy học, phòng thí nghiệm, phòng thư viện, phòng bộ môn, mặt bằng chật hẹp… Thực trạng đó cũng đã làm ảnh hưởng không ít đến việc thực hiện pháp luật về giáo dục ở các trường đại học.

Để bảo đảm thực hiện pháp luật về giáo dục ở các trường đại học, nhằm nâng cao chất lượng, ngăn ngừa, hạn chế những vi phạm, pháp luật về giáo dục, yêu cầu đặt ra là các cấp phải quan tâm đầu tư kinh phí đúng vị trí, ngang tầm với nhiệm vụ của giáo dục, bảo đảm những điều kiện vật chất cần thiết để hoạt động thực hiện pháp luật về giáo dục được tiến hành một cách bình thường và đạt hiệu quả.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Lưu Ý Cho Sinh Viên Khi Thực Hiện Luật Nghĩa Vụ Quân Sự ✔Trường Đại Học Bình Dương ✔Giáo Dục Mở ✔Xét Tuyển Đại Học / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!