Xu Hướng 2/2023 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính # Top 6 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 2/2023 # Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính # Top 6 View

Bạn đang xem bài viết Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngày 24/11/2010, Quốc hội nước Cộng hòa xã hội Chủ nghĩa Việt Nam, khóa XII, kì họp thứ 8 đã thông qua LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH và NQ số 56/2010/QH12 về việc thi hành Luật TTHC, Chủ tịch nước ký lệnh số 22/2010/L.CTN ngày 07/12/2010 về việc công bố Luật TTHC và kể từ 01/7/2011 Luật này sẽ có hiệu lực. Để nhận thức và thực hiện đúng đắn và đầy đủ các quy định của Luật Tố tụng Hành chính chúng ta cần nghiên cứu các vấn đề sau đây

I. SỰ CẦN THIẾT VÀ QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO VỀ VIỆC BAN HÀNH LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

1. Sự cần thiết phải ban hành Luật Tố tụng Hành chính

Pháp lệnh Thủ tục giải quyết các vụ án hành chính và các Pháp lệnh sửa đổi bổ sung đã tạo điều kiện cho việc giải quyết các khiếu kiện hành chính, góp phần bảo vệ lợi ích của Nhà nước, quyền, lợi ích hợp pháp của công dân; tăng cường pháp chế xã hội chủ nghĩa. Tuy nhiên, thực tiễn giải quyết các vụ án hành chính trong gần 15 năm qua cho thấy những quy định của Pháp lệnh đã bộc lộ những hạn chế, bất cập, có những quy định mâu thuẫn với các văn bản quy phạm pháp luật khác (Luật Đất đai, Luật Khiếu nại, tố cáo…), có những quy định thiếu rõ ràng và chưa đầy đủ, đặc biệt là các vấn đề về thẩm quyền giải quyết các khiếu kiện hành chính của Tòa án, điều kiện khởi kiện, thời hiệu khởi kiện, vấn đề chứng minh và chứng cứ, nhất là quy định chưa rõ ràng đầy đủ về việc thi hành bản án, quyết định hành chính – một khâu rất quan trọng, có ý nghĩa đảm bảo tính hiệu lực của các phán quyết của Tòa án trên thực tế, cũng như đảm bảo thiết thực quyền, lợi ích hợp pháp của công dân, tổ chức.

Với chính sách mở cửa và trong điều kiện Việt Nam đã là thành viên của nhiều điều ước quốc tế và trở thành thành viên chính thức của Tổ chức Thương mại quốc tế (WTO), thì việc pháp điển hoá các quy định của pháp luật về tố tụng để giải quyết các khiếu kiện hành chính, cụ thể hoá các cam kết của Việt Nam với các nước, các tổ chức quốc tế là rất cần thiết.

Ngày 2/6/2005, Bộ Chính trị ban hành Nghị quyết 49-NQ/TW về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, trong đó, xác định: “Mớ rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính; đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện thuận lợi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án”. Cộng với việc mở rộng quyền khiếu kiện, Nghị quyết 49/NQ-TW đặt ra yêu cầu “xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Toà án phải nghiêm minh chấp hành” .

Với tính chất phức tạp của các khiếu kiện hành chính, việc xây dựng và ban hành Luật Tố tụng Hành chính, văn.bản quy phạm pháp luật có hiệu lực cao hơn thay thế Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính, nhằm đảm bảo tính đồng bộ và thống nhất của hệ thống pháp luật, góp phần bảo vệ tốt hơn các quyền và lợi ích chính đáng của người dân là hết sức cần thiết.

2. Quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu của việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính

Việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính đã quán triệt những quan điểm chỉ đạo và các yêu cầu sau đây:

a) Thể chế hoá các chủ trương, đường lối, quan điểm của Đảng, Nhà nước về cải cách tư pháp đã được xác định trong các Nghị quyết, văn kiện của Đảng, đặc biệt là Nghị quyết 49/NQ-TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về “Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020” như đã trình bày ở trên.

b) Bảo đảm tính hợp Hiến, hợp pháp và tính thống nhất của Luật Tố tụng Hành chính trong hệ thống pháp luật; bảo đảm tính khả thi của Luật Tố tụng Hành chính.

c) Bảo đảm trình tự, thủ tục tố tụng hành chính phải dân chủ, công khai, đơn giản, công bằng, thuận lợi cho người tham gia tố tụng thực hiện các quyền và nghĩa vụ của mình; đề cao vai trò, trách nhiệm của cá nhân, cơ quan, tồ chức trong hoạt động tố tụng hành chính.

d) Trên cơ sở tổng kết, đánh giá các quy định của pháp Luật Tố tụng Hành chính hiện hành, kế thừa kinh nghiệm giải quyết các vụ án hành chính từ thực tiễn xét xử của Toà án và tham khảo có chọn lọc kinh nghiệm của nước ngoài, đáp ứng các yêu cầu của thực tiễn đời sống xã hội và của quá trình hội nhập quốc tế của nước ta.

đ) Bảo đảm các bản án, quyết định của Toà án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành nghiêm chỉnh và kịp thời.

e) Bảo đảm các quy định của Luật Tố tụng Hành chính không làm cản trở việc thực hiện các cam kết, điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam đã tham gia.

II. KẾT CẤU CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Luật Tố tụng Hành chính 2010 (Luật TTHC) gồm 18 chương với 265 Điều, cụ thể như sau:

Chương I: “Những quy đinh chung” (27 Điều từ Điều 1 đến Điều 27); Chương II: “Thẩm quyền của Tòa án” (6 Điều từ Điều 28 đến Điều 33); Chương III: “Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng và việc thay đổi người tiên hành tố tụng”, (13 Điều từ Điều 34 đến Điều 46); Chương IV: “Người tham gia tố tụng, quyền và nghĩa vụ của người tham gia tố tụng” (13 Điều từ Điều 47 đến Điều 59); Chương V: “Các biện pháp khẩn cấp tạm thời” (12 Điều từ Điều 60 đến Điều 71); Chương VI: “Chứng minh và chứng cứ” (20 Điều từ Điều 72 đến Điều 91); Chương VII: “Cấp tống đạt thông báo văn bản tố tụng” (11 Điều từ Điều 92 đến Điều l02); Chương VIII: “Khởi kiện, thụ lý vụ án” (1 4 Điều từ Điều 103 đến Điều 116); Chương IX: “Chuẩn bị xét xử” (8 Điều từ Điều 117 đến Điều 124); Chương X: “Phiên tòa sơ thẩm” (43 Điều từ Điều 125 đến Điều 167); Chương XI: “Thủ tục giải quyết kiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biểu Hội đồng nhân dân” (5 Điều từ Điều 168 đến Điều 172); Chương XII: “Thủ tục phúc thẩm” (36 Điều từ Điều 173 đến Điều 208); Chương XIII: “Thủ tục giám đốc thẩm” (23 Điều từ Điều 209 đến Điều 231); Chương XIV: “Thủ tục tái thẩm” (7 Điều từ Điêu 232 đến Điều 238); Chương XV: “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao” (2 Điều – Điều 239 và Điều 240); Chương XVI: “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (8 Điều từ Điều 241 đến Điều 248); Chương XVII: “Khiếu nạt, tố cáo trong tố tụng hành chính” (14 Điều từ Điều 249 đến Điều 262); Chương XVIII “Điều khoản thi hành” (3 Điều từ Điều 263 đến Điều 265).

Như vậy, so với Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính 1996, sửa đối bổ sung năm 1998, 2006 (11 Chương với 76 Điều), Luật TTHC đã có sự thay đổi lớn về mặt kết cấu cũng như số lượng các chương, điều. Cụ thể:

Các Điều của Luật TTHC đều có tên gọi chứ không chỉ đơn thuần đánh số như Pháp lệnh. So với Pháp lệnh, Luật TTHC có thêm 189 Điều (từ 76 Điều lên 265 Điều).

Luật TTHC có 7 chương mới hoàn toàn: Chương V “Các biện phẩm khẩn cấp lạm thời”, Chương VI “Chứng minh và chứng cứ”, Chương VII “Cấp, tống đạt thông báo văn bản tổ tụng”, Chương XI “Thủ tục giải quyết khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội hoặc danh sách cử tri bầu cử đại biếu Hội đồng nhân dân”, Chương XV “Thủ tục đặc biệt xem xét lại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao”, Chương XVI “Thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” và Chương XVII “Khiếu nại, tố cáo trong tố tụng hành chính”.

– Ngoài ra, Luật TTHC còn có một số nội dung khác so với Pháp lệnh:

+ Bỏ Chương V quy định về “án phí” thay vào đó Luật quy định bằng 1 điều Luật trong Chương I “Những quy định chung”.

+ Tách Chương X- “Thủ tục Giám đốc thẩm, tái thẩm” thành 2 chương: Chương XIII “Thủ tục giám đốc thẩm” và Chương XIV “Thủ tục tái thẩm”.

+ Bổ sung quy định về “Cơ quan tiến hành tố tụng” (Chương III) bên cạnh quy định về “Người tiến hành tố tụng”.

III. MỘT SỐ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT TỐ TỤNG HÀNH CHÍNH

Có thể nói 265 Điều của Luật TTHC so với 76 Điều của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính là một sự chênh lệch rất lớn. Con số đó phần nào đã phản ánh quy mô của kết quả pháp điển hóa lĩnh vực pháp luật tố tụng này. Với dung lượng như vậy, Luật TTHC đã điều chỉnh đầy đủ những nội dung cần thiết của đạo luật tố tụng. Trong đó có cả những vấn đề mới hoàn toàn và cà những vấn đề “kinh điển” của TTHC nhưng đã có sự sửa đổi, bổ sung quan trọng theo tinh thần, đường lối cải cách tư pháp của Đảng và phù hợp với yêu cầu thực tiễn. Trong phạm vi bài viết này, chúng tôi không đề cập tất cả nội dung của Luật TTHC mà chỉ đề cập đến một số vấn đề như sau: Những khiếu.kiện thuộc thẩm quyền của Tòa án; điều kiện khởi kiện; thời hiệu khởi kiện; vấn đề thi hành bán án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính, thủ tục đặc biệt; vị trí, vai trò của VKS trong TTHC, Nghị quyết của Quốc hội về việc thi hành Luật TTHC.

1. Những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án:

Trong quá trình xây dựng Luật Tố tụng Hành chính vấn đề các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xử của Toà án luôn được các cơ quan chức năng và Quốc hội quan tâm đặc biệt. Quán triệt một trong những nội dung của Nghị quyết 49-NQ/TW ngày 2/6/2005 của Bộ Chính trị về Chiến lược cải cách tư pháp đến năm 2020, là “Mở rộng thẩm quyền xét xử của Toà án đối với các khiếu kiện hành chính, đổi mới mạnh mẽ các thủ tục giải quyết các khiếu kiện hành chính tại Toà án; tạo điều kiện cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đắng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Toà án…” . Luật Tố tụng Hành chính xác định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền xét xứ của Toà án theo phương pháp loại trừ.

Thực tiễn cho thấy, việc quy định theo phương pháp liệt kê các khiếu kiện thuộc thẩm quyền của Toà án như Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính đã hạn chế quyền khởi kiện vụ án hành chính của cá nhân, cơ quan, tổ chức đối với một số loại việc, đặc biệt là các quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai. Việc quy định theo phương pháp liệt kê như Pháp lệnh trong một số trường hợp dẫn đến việc tranh luận không đáng có hoặc bỏ sót loại việc lẽ ra cần được giải quyết tại Toà án.

Quy định các khiếu kiện hành chính thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án theo phương pháp loại trừ sẽ tạo điều kiện thuận lợi cho cá nhân, cơ quan, tổ chức trong việc xác định quyền khởi kiện các vụ án hành chính, đảm bảo sự công bằng cho người dân và đáp ứng được yêu cầu của cải cách tư pháp và hội nhập kinh tế quốc tế của nước ta. Về mặt kỹ thuật lập pháp, việc quy định theo phương pháp loại trừ là tiến bộ và bảo đảm tính ổn định của điều luật.

Tại điều 28, Luật Tố tụng Hành chính quy định những khiếu kiện thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án như sau:

2. Khiếu kiện về danh sách cử tri bầu cử đại biểu Quốc hội, danh sách cử tri bầu cử đại hiểu Hội đồng nhân dân.

3. Khiếu kiện quyết định kỷ luật buộc thôi việc công chức giữ chức vụ từ Tổng Cục trưởng và tương đương trở xuống.

4. Khiếu kiện quyết định giải quyết khiếu nại về quyết định xử lý vụ việc cạnh tranh”.

Như vậy, phạm vi thẩm quyền của Tòa án đã được làm rõ bằng việc loại trừ khỏi đối tượng khởi kiện vụ án hành chính các “quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức” và “các quyết định hành chính, hành vi hành chính thuộc phạm vi bí mật nhà nước trong các lĩnh vực quốc phòng, an ninh, ngoại giao”. Quyết định hành chính, hành vi hành chính mang tính nội bộ của cơ quan, tổ chức được giải thích tại khoản 4 Điều 3, như sau: “Là những quyết định, hành vi quản lý, chỉ đạo, điều hành hoạt động thực hiện chức năng, nhiệm vụ trong phạm vi cơ quan, tổ chức đó”.

Các quyết định hành chính và hành vi hành chính trong lĩnh vực quốc phòng, an ninh ngoại giao mang tính chất bí mật nhà nước sẽ do Chính phủ quy định cũng nằm ngoài phạm vi thẩm quyền xét xử án hành chính của Toà án nhân dân.

Về việc quy định thẩm quyền của Toà án giải quyết các khiếu kiện hành chính trong quân đội. Vấn đề này đã được đề cập khi xây dựng Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính trước đây nhưng đa số ý kiến của các cơ quan chức năng và đại biểu Quốc hội đều thống nhất là chưa cần thiết quy định Toà án quân sự các cấp có thẩm quyền xét xử các khiếu kiện quyết định hành chính và hành vi hành chính do các cấp chỉ huy hoặc cơ quan quân sự thực hiện.

Ngoài ra, để loại trừ xung đột trong các quy định của pháp luật về thẩm quyền loại việc được khởi kiện ra Tòa hành chính, Điều 264- Luật TTHC đã “sửa đổi bổ sung một số điều của Luật Đất đai”, đó là sửa đổi Khoản 2- Điều 136 và Điều 138 của Luật Đất đai năm 2003. Theo đó, đương sự không có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất hoặc một trong các loại giấy tờ quy định tại các khoản 1, 2 Điều 50- Luật Đất đai khi có tranh chấp quyền sử dụng đất nếu không đồng ý với quyết định giải quyết của Chủ tịch UBND cấp huyện hoặc UBND cấp tỉnh thì đương sự có thể lựa chọn tiếp tục khiếu nại lên cơ quan hành chính cấp trên hoặc khởi kiện ra Tòa hành chính (Khoản 1- Điều 264- Luật TTHC). Tại Khoản 2- Điều 264, Luật TTHC sửa Khoản 2, Điều 138 Luật Đất đai, như sau: “Trình tự, thủ tục giải quyết khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính về đất đai thực hiện theo quy định của Luật tố tụng hành chính”. Như vậy, với quy định về việc sứa đổi, bổ sung Khoản 2 Điều 136 và 138- Luật Đất đai 2003, Luật TTHC đã tạo ra sự thống nhất trong việc giải quyết các khiếu kiện đối với các quyết định hành chính, hành vi hành chính về quản lí đất đai cũng như sự thống nhất với quy định của Luật khiếu nại, tố cáo 2005 góp phần bảo đảm tính khả thi của Luật TTHC.

Việc giải thích từ ngữ tại Điều 3 Luật TTHC đã góp phần làm rõ thêm thế nào là “quyết định hành chính”, “hành vi hành chính” với tư cách là đối tượng khởi kiện được quy định tại Điều 28 Luật TTHC. Tại Khoản 1 Điều 3 giải thích như sau: “Quyết định hành chính là văn bản do cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc người có thẩm quyền trong các cơ quan, tô chức đó ban hành, quyết định về một vấn đề cụ thể trong hoạt động quản lý hành chính được áp dụng một lần đối với một hoặc một số đối tượng cụ thể”.

Như vậy theo khái niệm này, quyết định hành chính là đối tượng xét xử của Toà án khi nó thoả mãn những điều kiện sau đây:

– Quyết định hành chính đó phải là quyết định cá biệt;

– Quyết định đó phải tác động trực tiếp đến quyền, lợi ích của cá nhân cơ quan, tổ chức, làm phát sinh tranh chấp giữa cá nhân, cơ quan, tổ chức với cơ quan có thẩm quyền. Tuy nhiên, trong thực tế có những văn bản hành chính không đúng về mặt hình thức của một quyết định hành chính nhưng lại có đầy đủ những dấu hiệu đặc trưng nên cũng có thể coi là quyết định hành chính và có thể bị khởi kiện.

 Tại khoản 2, Điều 3 giải thích về hành vi hành chính như sau: “Hành vi hành chính là hành vi của cơ quan hành chính nhà nước, cơ quan, tổ chức khác hoặc của người có thẩm quyền của cơ quan, tổ chức đó thực hiện hoặc không thực hiện nhiệm vụ, công vụ theo quy định của pháp luật”.

Tuy cùng là đối tượng xét xừ của Toà án nhưng hành vi hành chính không được thể hiện bằng văn bản mà chỉ biểu hiện dưới dạng không làm đúng hoặc làm trái các quy định của pháp luật, hay im lặng tức là không thực hiện một trách nhiệm, một nghĩa vụ của cơ quan nhà nước, của người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước đáng lẽ phải làm. Hành vi hành chính là đối tượng xét xử của Toà án theo Luật Tố tụng Hành chính là hành vi gây thiệt hại hoặc xâm hại trực tiếp đến quyền và lợi ích hợp pháp của cá nhân cơ quan, tổ chức và giữa chúng có mối quan hệ nhân quả. Ví dụ: Công ty A đã hoàn tất các thủ tục bổ sung hoặc sửa đổi giải pháp kinh doanh nhưng quá thời hạn do luật định mà cơ quan B hay công chức C vẫn không giải quyết và cũng không trả lời cho Công ty A lý do hợp lý. Trong trường hợp này sự im lặng là hành vi hành chính của cơ quan B hoặc công chức C có thể bị khởi kiện và thuộc thẩm quyền của Toà án hành chính giải quyết.

2- Về điều kiện khởi kiện hành chính:

Theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính sửa đổi bổ sung năm 2006 thì cá nhân, cơ quan, tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính nếu đã thực hiện thủ tục khiếu nại (lần đầu hoặc lần thứ hai) đến người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại mà hết thời hạn giải quyết khiếu nại theo quy định mà không được giải quyết hoặc không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại. Đối với một số lĩnh vực như: Quản lý đất đai, kỷ luật buộc thôi việc cán bộ, công chức thì yêu cầu phải có quyết định giải quyết khiếu nại rồi mới có quyền khởi kiện ra Toà án (Điều 2- Pháp lệnh). Việc quy định như vậy chưa tạo điều kiện thuận lợi cho công dân, tổ chức trong việc khởi kiện vụ án hành chính, thủ tục còn rườm rà và trong một số trường hợp còn không đảm bảo được quyền, lợi ích hợp pháp của họ, không phù hợp với thoả thuận của Việt Nam khỉ gia nhập tổ chức thương mại thế giới (WTO)

Khắc phục nhược điểm này của Pháp lệnh, tại Điều 103 Luật TTHC đã quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính. Theo đó, cá nhân cơ quan tổ chức có quyền khởi kiện vụ án hành chính đối với quyết định hành chính hành vi hành chính trong trường hợp không đồng ý với quyết định đó, hoặc đã khiếu nại với người có thẩm quyền giải quyết khiếu nại, nhưng hết thời hạn giải quyết theo quy định của pháp luật về khiếu nại mà khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng không đồng ý với kết quả giải quyết đó. Như vậy, thủ tục “tiền tố tụng” đã không còn là yếu tố bắt buộc đối với hầu hết các khiếu kiện hành chính nữa.

Với quy định này, cá nhân, cơ quan, tổ chức hoàn toàn có quyền lựa chọn giải pháp hành chính (khiếu nại đến cơ quan hành chính hoặc người đã ban hành quyết định hành chính, hành vi hành chính) hay giải pháp tư pháp (khởi kiện ra Toà án) khi có tranh chấp hành chính. Họ cũng đồng thời không phải tuần tự qua các bước: Khiếu nại lần đầu, khiếu nại lần hai, khởi kiện.

Quy định theo hướng đơn giản hóa điều kiện khởi kiện vụ án hành chính như trên cũng chính là một trong các yếu tố để công dân, cơ quan tổ chức tiếp cận với Toà án được dễ dàng, thuận lợi hơn trong việc yêu cầu bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của mình, đáp ứng yêu cầu cải cách tư pháp theo tinh thần Nghị quyết 49/NQ- TW của Bộ Chính trị “đổi mới mạnh mẽ thủ tục giải các khiếu kiện hành chính tại Tòa án, tạo điều kiện thuận lơi cho người dân tham gia tố tụng, bảo đảm sự bình đẳng giữa công dân và cơ quan công quyền trước Tòa án …”

3- Thời hiệu khởi kiện:

Theo quy định tại Điều 30 Pháp lệnh thì thời hiệu khởi kiện là 30 ngày hoặc 45 ngày tùy vào từng trường hợp cụ thể. Sở dĩ thời hiệu ngắn như vậy là vì tất cả các khiếu kiện đều đã qua “thủ tục khiếu nại”, các bên tranh chấp đều đã “theo đuổi” vụ việc trong một thời gian nhất định, đều biết về nội dung tranh chấp, đều đã có thời gian chuẩn bị tài liệu, chứng cứ hay lựa chọn, nhờ tư vấn trước khi khởi kiện. Quy định thời hiệu như vậy là phù hợp với điều kiện khởi kiện tương ứng trong Pháp lệnh. Hiện nay, Luật TTHC thủ tục “tiền tố tụng” không bắt buộc đối với cơ quan tổ chức, công dân khi khởi kiện hành chính, nên Luật cũng có sự điều chỉnh thời hiệu khởi kiện cho phù hợp. Theo đó, thời hiệu khởi kiện được xác định tại Điều 104 như sau:

– 01 năm, kể từ ngày nhận được hoặc biết được quyết định hành chính, hành vi hành chính, quyết định kỷ luật buộc thôi việc;

– Đối với vụ việc cạnh tranh và khiếu kiện về danh sách cử tri thì Luật TTHC vẫn giữ quy định như trong Pháp lệnh là 30 ngày (đối với vụ việc cạnh tranh) vả 5 ngày (đối với danh sách cử tri).

Như vậy, thời hiệu khởi kiện được quy định tương đối dài (l năm) với các loại tranh chấp hành chính nói chung. Trường hợp quy định ngắn hơn là 30 ngày, 5 ngày đối với loại khởi kiện vụ án hành chính có tính đặc thù. Trường hợp vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan thì thời gian có sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan không tính vào thời hiệu khởi kiện (Khoản 3 Điều l04). Ngoài ra, các quy định của Bộ luật Dân sự về cách tính thời hạn, thời hiệu cũng được áp dụng trong tố tụng hành chính (Khoản 4, Điều 104). Có thể nói, việc quy định thời hiệu khởi kiện như Luật TTHC đã tạo điều kiện tốt nhất cho đương sự trong việc bảo vệ kịp thời quyền, lợi ích hợp pháp của mình.

4- Về thủ tục đặc biệt xem xét 1ại quyết định của Hội đồng Thẩm phán Toà án nhân dân tối cao:

Theo quy định của pháp luật hiện hành, Hội đồng Thẩm phán ( HĐTP)- Tòa án nhân dân tối cao (TANDTC) là cơ quan xét xử cao nhất nên không một thiết chế nào có thẩm quyền xem xét lại quyết định của HĐTP TANDTC. Tuy nhiên, thực tiễn xét xử giám đốc thẩm của HĐTP- TANDTC thời gian qua ở một số loại án cho thấy có trường hợp quyết định giám đốc thẩm của HĐTP có sai lầm nghiêm trọng hoặc phát hiện tình tiết quan trọng mới có thể làm thay đổi nội dung cơ bản quyết định mà HĐTP, các đương sự không biết được khi ra quyết định đó nhưng không có cơ chế để giải quyết lại, gây ra sự bức xúc cho đương sự và dư luận xã hội cũng như tình trạng khiếu kiện kéo dài.

Đây là quy định đặc biệt, có tính cách mạng trong hệ thống pháp luật tố tụng nước ta, được quy định lần đầu tiên trong pháp luật TTHC. Với thủ tục rất chặt chẽ, nó sẽ tạo điều kiện khắc phục sai sót của quyết định HĐTP Toà án nhân dân tối cao mà trước đây pháp luật chưa quy định. Đồng thời, nó cũng sẽ góp phần tăng cường niềm tin của nhân dân với nền công lý.

5- Về thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính:

Trước đây, Pháp lệnh chưa quy định thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính mà mới chỉ có quy định mang tính nguyên tắc “Bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu tục pháp luật về vụ án hành chính phải được các cơ quan nhà nước, tổ chức và mọi người tôn trọng. Cá nhân, cơ quan nhà nước, tổ chức có nghĩa vụ chấp hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành phải nghiêm chỉnh chấp hành. Cơ quan nhà nước được giao nhiệm vụ thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính phải nghiêm chỉnh thi hành và chịu trách nhiệm trước pháp luật về việc thực hiện nhiệm vụ đó”. (Điều 9- Pháp lệnh).

Do thiếu vắng những quy định cụ thể về cơ chế đảm bảo thi hành bản án quyết định của Tòa án về vụ án hành chính nên trong thực tế, việc thi hành các bản án, quyết định của Tòa án chưa được đảm bảo, nhiều bản án, quyết định không được thi hành hoặc thi hành không đúng, ảnh hưởng đến lợi ích của người được thi hành cũng như không đảm bảo hiệu lực của bản án, quyết định trong thực tế.

Khắc phục hạn chế trên, Luật TTHC đã dành một chương để quy định về “thủ tục thi hành bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính” (Chương XVI). Đây chính là sự thể chế hóa đường lối được xác định trong Nghị quyết số 49-NQ/TW của Bộ Chính trị: “Xây dựng cơ chế bảo đảm cho mọi bản án của Tòa án có hiệu lực pháp luật phải được thi hành, các cơ quan hành chính vi phạm bị xử lý theo phán quyết của Tòa án phải nghiêm chỉnh chấp hành”. Với 8 điều nhưng Luật TTHC đã điều chỉnh cụ thể các vấn đề cơ bản về thi hành án hành chính như: Thủ tục thi hành án, trách nhiệm thực hiện yêu cầu thi hành án, quản lý nhà nước về thi hành án, xử lý vi phạm trong thi hành án, kiểm sát việc thi hành án hành chính… Với những quy định này, bản án, quyết định của Tòa án về vụ án hành chính đã có cà một cơ chế phối hợp và đồng bộ để đảm bảo cho việc thi hành. Về mặt nguyên tắc, công tác thi hành án được thống nhất quản lý bởi Chính Phủ, có sự phối hợp với TATDTC, VKSNDTC. Trong đó, cơ quan thi hành án dân sự, cơ quan quản lý thi hành án dân sự có trách nhiệm đôn đốc và phối hợp với nhau để thi hành bản án, quyết định của Tòa án. Viện kiểm sát sẽ kiểm sát việc tuân theo pháp luật của tất cả các chủ thể trong quá trình đó. Như vậy, công tác thi hành án hành chính sẽ được đảm bảo thực hiện hiệu quả, góp phần bảo vệ quyền lợi của công dân và củng cố hoạt động xét xử của Tòa án.

6 – Vị trí, vai trò của Viện kiểm sát nhân dân trong tố tụng hành chính:

Một trong những nguyên tắc cơ bản của pháp luật Việt Nam nói chung cũng như của pháp luật TTHC nói riêng, đó là nguyên tắc pháp chế xã hội chủ nghĩa. Đây là nguyên tắc mang tính hiến định. Nó yêu cầu mọi chủ thể phải chấp hành nghiêm chỉnh các quy định của pháp luật, đảm bảo tính thống nhất và thượng tôn của pháp luật. Thiết chế để đảm bảo cho các yêu cầu trên vận hành trong thực tiễn áp dụng pháp luật chính là Viện kiểm sát (VKS). Trong tố tụng hành chính, VKS đóng vai trò rất quan trọng bởi tranh chấp hành chính là tranh chấp giữa cơ quan nhà nước, người có thẩm quyền trong cơ quan nhà nước với cá nhân, cơ quan, tổ chức. Do vậy, sự tham gia của VKS trong TTHC để đảm bảo sự nghiêm minh của pháp luật, sự công bằng, bình đẳng, sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể là rất cần thiết.

Điều 23- Luật TTHC ghi nhận vai trò của VKS như sau : “VKSND kiếm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nhằm đảm bảo cho việc giải quyết vụ án hành chính kịp thời, đúng pháp luật…”. Theo quy định tại Điều 34, VKSND là cơ quan tiến hành tố tụng và Viện trưởng VKS, Kiểm sát viên VKS là người tiến hành tố tụng với nhiệm vụ quyền hạn được quy định tại Điều 39 và 40- Luật TTHC. Theo quy định tại Khoản 2- Điều 23, VKS thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân theo pháp luật xuyên suốt quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý đến khi kết thúc vụ án:

+ VKS đảm bảo việc thụ lý hay không thụ lý vụ án của TAND có căn cứ và đúng pháp luật. Khoản 2- Điều 109 Luật TTHC quy định: “Khi trả đơn khởi kiện, Tòa án phải có văn bản ghi rõ lý do trả lại đơn khởi kiện. Văn bản trả lại đơn được gửi ngay cho VKS cùng cấp”. Đây là quy định mới của Luật TTHC so với Pháp lệnh trước đây. Quy định này đã loại trừ sự tùy tiện của đương sự trong việc khởi kiện cũng như của Tòa án trong việc xem xét trả lại đơn khởi kiện.

+ Trong giai đoạn chuẩn bị xét xử để đảm bảo việc thu thập tài liệu, chứng cứ xác minh lập hồ sơ vụ án của TAND được khách quan, đầy đủ, đúng pháp luật. Khi cần thiết VKS có thể “yêu cầu Toà án xác minh, thu thập chứng cứ trong quá trình giải quyết vụ án” (Khoản 3, Điều 78) và “yêu cầu cá nhân, cơ quan, tổ chức đang quản lý lưu giữ cung cấp cho mình chứng cứ” ( Khoản 2- Điều 87).

– Vi trí, vai trò của VKS được thể hiện tập trung nhất trong công tác kiểm sát xét xử vụ án hành chính. Theo quy định của Luật TTHC, VKS tham gia tất cả các phiên tòa, phiên họp sơ thẩm, phúc thẩm, các phiên họp giám đốc thẩm, tái thẩm. Tại các phiên tòa, phiên họp này, Kiểm sát viên phát biểu về việc “tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng hành chính, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án” (Khoản 1 – Điều 1 60) hoặc “trình bày về nội dung kháng nghị và các căn cứ của việc kháng nghị” (Đoạn 3, Điểm a, Khoản 1 – Điều 204), “phát biểu ý kiến của VKS về việc tuân theo pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án hành chính ở giai đoạn phúc thẩm” (Khoản 3 Điều 204). Tại giai đoạn giám đốc thẩm và tái thẩm “Đại diện VKS phát biểu ý kiến của VKS về việc giải quyết vụ án” (Khoản 3- Điều 223 và Điều 238).Trong quá trình thực hiện thủ tục đặc biệt xem xét lại QĐ của HĐTP TANDTC, vị trí vai trò của VKS tiếp tục khẳng định bằng việc kiến nghị và tham gia các phiên họp của HĐTP TANDTC. Như vậy, sự tham gia của VKS trong quá trình giải quyết vụ án tại Tòa án là một hoạt động quan trọng đảm bảo sự tuân thủ pháp luật của các chủ thể tiến hành tố tụng và tham gia tố tụng.

Như vậy, trong quá trình giải quyết vụ án hành chính từ khi thụ lý cho đến khi thi hành phán quyết của Tòa án, không một khâu tố tụng nào thiếu vắng vai trò của VKS. Để VKS thực hiện tốt chức năng, vai trò, nhiệm vụ của mình, Luật TTHC đã trao cho VKS những quyền năng nhất định:

Quyền yêu cầu, kiến nghị: Đây là một trong những quyền quan trọng của VKS khi thực hiện chức năng kiểm sát tư pháp nói chung cũng như khi thực hiện kiểm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC nói riêng. Khoản 2 Điều 23 đã ghi nhận quyền này như sau: “VKSND… thực hiện các quyền yêu cầu, kiến nghị… theo quy định của pháp luật”. Bên cạnh đó, VKS sử dụng quyền năng này, trong một số trường hợp cụ thể tùy thuộc vào yêu cầu kiểm sát ở từng giai đoạn tố tụng khác nhau:

+ “VKS có quyền kiến nghị với Chánh án Toà án đang giải quyết vụ án về quyết định áp dụng, thay đổi, hủy bỏ biện pháp khẩn cấp tạm thời…” (Khoản 1- Điều 70).

+ “VKS có quyền yêu cầu, kiến nghị đối với Tòa án cùng cấp và cấp dưới, cơ quan, tổ chức và cá nhân có trách nhiệm để bảo đảm việc giải quyết khiếu nại, tố cáo có căn cứ; đúng pháp luật” (Điều 262).

Quyền kháng nghị: Đây là quyền năng đặc trưng và quan trọng nhất của VKS khi thực hiện chức năng kiềm sát việc tuân theo pháp luật trong TTHC. Theo quy định của Luật TTHC, “Viện trưởng VKS cùng cấp và cấp trên trực tiếp có quyền kháng nghị bản án, quyết định tạm đình chỉ, đình chỉ giải quyết vụ án của Tòa án cấp sơ thẩm để yêu cầu Tòa án cấp trên trực tiếp giải quyết lại theo thủ tục phúc thẩm” (Điều 181), “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm bản án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án nhân dân các cấp trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối  cao” (Khoản 1 Điều 212). “Viện trưởng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thú tục giám đốc thẩm bản án, quyết định của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 212). “Viện trưởng VKSNDTC có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thẩm bán án, quyết định đã có hiệu lực của Toà án các cấp, trừ quyết định của HĐTP Toà án nhân dân tối cao” (Khoản 1 Điều 235). “Viện trướng VKS cấp tỉnh có quyền kháng nghị theo thủ tục tái thấm bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật của Toà án cấp huyện” (Khoản 2 Điều 235). Như vậy, khi bản án, quyết định sơ thẩm có vi phạm pháp luật, cũng như khi bản án quyết định của Tòa án đã có hiệu lực pháp luật nhưng phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng hay tình tiết mới có thể làm thay đổi bản chất vụ án, VKS sẽ thực hiện quyền kháng nghị để đảm bảo việc xét xử của Tòa án tuân thủ đúng pháp luật, tránh oan sai, bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp của công dân.

Thông qua những quy định của Luật TTHC, chúng ta thấy VKS tiếp tục được khẳng định là cơ quan thực hiện chức năng kiểm sát việc tuân thủ pháp luật quá trình giải quyết vụ án hành chính. Vị trí, vai trò của VKS được thế hiện xuyên suốt quá trình này với tư cách là định chế đảm bảo tính nghiêm mình của pháp luật, tính đúng đắn của hoạt động xét xử của Tòa án, góp phần nâng cao hiệu quà quản lý Nhà nước trong lĩnh vực hành chính.

7 – Về Nghị quyết số 56/2010/QH12 về việc thi hành luật TTHC:

Cùng với việc ban hành Luật Tố tụng Hành chính, Quốc hội đã thông qua Nghị quyết số 56/2010/QH12 ngày 24/11/2010 Về việc thi hành Luật tố tụng hành chính.

Tại Khoản 1 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết vụ án hành chính theo trình tự giám đốc thẩm; Cụ thể như sau:

“1. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố đến ngày Luật này có hiệu lực:

a) Thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại Khoản 1 và Khoản 2 Điều 69 của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính;

b) Thời hạn đề nghị xem xét kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, thời hạn kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm đối với bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố thì áp dụng theo quy định tại các điều 211, 215 và 236 của Luật Tố tụng Hành chính;

c) Thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm bản án quyết định nêu tại Điểm a và Điểm b Khoản này được thực hiện theo quy định của Pháp lệnh thú tục giải quyết các vụ án hành chính”.

Quy định tại Điểm b Khoản 1 Điều 2 nêu trên đã tạo thuận lợi cho đương sự khi áp dụng Khoản 2 Điều 215 Luật TTHC để đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật từ ngày Luật TTHC được công bố mà đương sự đã có đơn đề nghị kháng nghị giám đốc thẩm, nhưng quá thời hạn kháng nghị giám đốc thẩm theo quy định tại Khoản 1 Điều 215 Luật TTHC mới phát hiện có vi phạm pháp luật nghiêm trọng.

Tại Khoản 2 và Khoản 3 Điều 2 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính đối với những trường hợp vụ án hành chính đã được Tòa án thụ lý giải quyết trước khi Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực; Cụ thể như sau:

“2. Kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực:

a) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án thụ lý trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng kể từ ngày Luật lố tụng hành chính có hiệu lực mới xét xử sơ thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết,

b) Đối với những vụ án hành chính đã được Tòa án xét xử sơ thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà có kháng cáo kháng nghị, nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử phúc thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

c) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật mà bị kháng nghị giám đốc thấm, tái thẩm trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực nhưng kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mới xét xử giám đốc thẩm, tái thẩm thì áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để giải quyết;

d) Đối với những bản án, quyết định đã có hiệu lực pháp luật có đơn đề nghị giám đốc thẩm tái thẩm trong thời gian kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính được công bố cho đến ngày Luật này có hiệu lực mà chưa có kháng nghị của người có thẩm quyền, thì việc kháng nghị được thực hiện theo Luật Tố tụng Hành chính;

đ) Đối với những vụ án hành chính đã được Toà án xét xử và bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực mà kể từ ngày Luật này có hiệu lực mới kháng nghị giám đốc thẩm, tái thẩm thì căn cứ để thực hiện việc kháng nghị theo thủ tục giám đốc thẩm, tái thẩm theo quy định của Pháp lệnh thủ tục giải quyết các vụ án hành chính.

3. Đối với các bản án, quyết định của Toà án đã có hiệu lực pháp luật trước ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, nhưng đến ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực vẫn chưa được thi hành hoặc chưa thi hành xong thì được thi hành theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

Tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 quy định việc áp dụng Luật Tố tụng Hành chính để hồi tố giải quyết những trường hợp khiếu kiện quyết định hành chính, hành vi hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai mà trước đây Tòa án không thụ lý giải quyết theo quy định tại Điều 136 và Điều 138 của Luật Đất đai năm 2003, cụ thế là:

“Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày Luật Tố tụng Hành chính có hiệu lực, người khiếu nại đã thực hiện việc khiếu nại quyết định hành chính, hành ví hành chính về quản lý đất đai đến Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện, quận, thị xã, thành phố thuộc tỉnh, Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương từ ngày 01 tháng 6 năm 2006 đến ngày Luật này có hiệu lực, nếu khiếu nại không được giải quyết hoặc đã được giải quyết nhưng người khiếu nại không đồng ý với quyết định giải quyết khiếu nại thì có quyền khởi kiện tại Tòa án nhân dân theo quy định của Luật Tố tụng Hành chính”.

Hiện nay, Tòa án nhân dân tối cao đang cùng các ngành xây đựng Nghị quyết để hướng dẫn quy định tại Điều 3 Nghị quyết 56/2010 nêu trên.

Ngày 15/2/2011 Viện trưởng VKSTC đã ban hành Chỉ thị số 03/2011/CT – VKSTC “Về việc triển khai thi hành Luật TTHC trong ngành KSND”.

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng

Thứ nhất, bảo vệ an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia, là một trong những nội dung đặc biệt quan trọng trong Luật An ninh mạng. Theo đó, Luật chỉ rõ, hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia là hệ thống thông tin khi bị sự cố, xâm nhập, chiếm quyền điều khiển, làm sai lệch, gián đoạn, ngưng trệ, tê liệt, tấn công hoặc phá hoại sẽ xâm phạm nghiêm trọng an ninh mạng. Từ đó, quy định rõ các biện pháp và hoạt động bảo vệ tương xứng với mức độ quan trọng của hệ thống thông tin này, như: thẩm định, đánh giá, kiểm tra, giám sát và ứng phó, khắc phục sự cố an ninh mạng đối với hệ thống thông tin quan trọng về an ninh quốc gia.

Thứ hai, Luật An ninh mạng quy định các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý các hành vi vi phạm pháp luật, bao gồm: phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng và đấu tranh bảo vệ an ninh mạng v.v…

Thứ ba, Luật An ninh mạng quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị; quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức; bảo vệ an ninh mạng đối với cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế; bảo đảm an ninh thông tin trên không gian mạng; nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng; nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng.

Thứ tư, Luật An ninh mạng quy định rõ, doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và các dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt Nam có hoạt động thu thập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quan hệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra, phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

Thứ năm, Luật An ninh mạng quy định các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng; xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng; ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao; chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng và kinh phí cho hoạt động bảo vệ an ninh mạng. Đồng thời, Luật cũng quy định rõ trách nhiệm cụ thể của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, bao gồm: Bộ Công an; Bộ Quốc phòng; Bộ Thông tin và Truyền thông; Ban Cơ yếu Chính phủ; Bộ, ngành, Ủy ban nhân dân cấp tỉnh; doanh nghiệp cung cấp dịch vụ trên không gian mạng và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức, cá nhân sử dụng không gian mạng trong bảo đảm hoạt động bảo vệ an ninh mạng v.v…

Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Quốc Phòng Năm 2022

I. SỰ CẦN THIẾT BAN HÀNH LUẬT

Thứ nhất, từ năm 2005 đến nay, Đảng ta đã ban hành các nghị quyết, chỉ thị với nhiều chủ trương, quan điểm mới về bảo vệ Tổ quốc, quốc phòng, an ninh cần phải được thể chế hóa như:

Nghị quyết Đại hội đại biểu toàn quốc lần thứ XII của Đảng xác định mục tiêu bảo vệ Tổ quốc có sự phát triển là “bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Đảng, Nhân dân và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ sự nghiệp đổi mới, công nghiệp hóa, hiện đại hóa; bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc, bảo vệ an ninh chính trị, trật tự an toàn xã hội và nền văn hóa; giữ vững ổn định chính trị và môi trường hòa bình để xây dựng, phát triển đất nước theo định hướng xã hội chủ nghĩa”; nguyên tắc lãnh đạo của Đảng đối với quốc phòng, an ninh có sự phát triển là “tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt”; nhà nước quản lý “tập trung, thống nhất” đối với quốc phòng, an ninh; yếu tố văn hóa, đối ngoại được bổ sung trong xây dựng nền quốc phòng toàn dân và tiềm lực khu vực phòng thủ; kết hợp quốc phòng với kinh tế, văn hóa, xã hội và kinh tế, văn hóa, xã hội với quốc phòng.

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 25/10/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (khóa XI) về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới (Nghị quyết số 28-NQ/TW) đã có sự phát triển về phương hướng xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân.

Nghị quyết số 28-NQ/TW ngày 22/9/2008 của Bộ Chính trị về tiếp tục xây dựng các tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương thành khu vực phòng thủ vững chắc trong tình hình mới, xác định rõ và đồng bộ phương hướng, mục tiêu, quan điểm, yêu cầu, nhiệm vụ và các giải pháp chủ yếu về xây dựng khu vực phòng thủ; kiện toàn, bảo đảm các chế độ chính sách, đào tạo, bố trí sử dụng cán bộ quân sự ở cơ sở.

Nghị quyết số 06-NQ/TW ngày 16/7/2011 của Bộ Chính trị (Khóa XI) xác định rõ chủ trương, quan điểm mới về xây dựng và phát triển công nghiệp quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo.

Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Ban Chấp hành Trung ương (Khóa XI) đã xác định mục tiêu, quan điểm, nội dung mới về Hội nhập quốc tế, trong đó chỉ rõ “…Hội nhập quốc tế là quá trình vừa hợp tác vừa đấu tranh; kiên định lợi ích quốc gia, dân tộc; chủ động dự báo, xử lý linh hoạt mọi tình huống, không để rơi vào thế bị động, đối đầu; không tham gia vào các tập hợp lực lượng, các liên minh của bên này chống bên kia…”.

Thứ ba, qua tổng kết 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng năm 2005 trên phạm vi cả nước đã bộc lộ nhiều hạn chế, khuyết điểm, bất cập, nổi bật là: Việc quản lý điều hành và tổ chức thực hiện xây dựng nền quốc phòng toàn dân, mô hình, nhiệm vụ xây dựng nền quốc phòng toàn dân, hệ thống phòng thủ quân khu chưa được quy định rõ; nhiệm vụ, mô hình xây dựng khu vực phòng thủ tỉnh, thành phố trực thuộc Trung ương quy định chưa đầy đủ; chính sách, pháp luật về quốc phòng chưa hoàn thiện, thiếu đồng bộ, còn quy định ở nhiều văn bản QPPL, hiệu lực pháp lý thấp, chưa thống nhất, chậm thể chế hóa chủ trương, quan điểm mới của Đảng và cụ thể Hiến pháp, dẫn đến hiệu lực, hiệu quả quản lý nhà nước về quốc phòng của các cấp, các ngành, địa phương có nơi còn hạn chế; một số địa phương chưa đầu tư đúng mức cho xây dựng thế trận và hoạt động của khu vực phòng thủ. Chất lượng xây dựng, huấn luyện, diễn tập, hoạt động và bảo đảm chế độ chính sách cho lực lượng vũ trang còn bất cập. Sự phối hợp, hướng dẫn, thực hiện nhiệm vụ về quốc phòng, các mặt bảo đảm cho quốc phòng, sẵn sàng động viên cho chiến tranh chưa ngang tầm yêu cầu nhiệm vụ bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Trách nhiệm phối hợp trong hoạt động quốc phòng của một số bộ, ngành, địa phương thiếu chặt chẽ, hiệu quả chưa cao. Việc kết hợp giữa phát triển kinh tế, văn hóa, xã hội với củng cố, tăng cường quốc phòng trên một số lĩnh vực, ngành, địa bàn chưa chặt chẽ. Tiềm lực quốc phòng, an ninh chưa tương xứng với sự phát triển của đất nước và yêu cầu bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới. Công tác xây dựng quy hoạch, kế hoạch phát triển công nghiệp, khoa học và công nghệ quốc gia, huy động công nghiệp dân sinh cho quốc phòng chưa được coi trọng, chưa có chiến lược, cơ chế, chính sách đầy đủ để phát triển mạnh công nghiệp quốc phòng theo hướng lưỡng dụng, chưa đáp ứng yêu cầu vũ khí trang bị cho lực lượng vũ trang đối phó thắng lợi với các hình thái chiến tranh công nghệ cao trong tương lai. Bố trí, sử dụng nguồn lực cho quốc phòng, xây dựng nền quốc phòng toàn dân, khu vực phòng thủ và xây dựng lực lượng vũ trang còn gặp nhiều khó khăn.

Thứ tư, từ thực tiễn các cuộc chiến tranh, xung đột trên thế giới những năm gần đây và dự báo chiến tranh trong tương lai, ngoài chiến tranh truyền thống còn xuất hiện chiến tranh phi quy ước, chiến tranh ủy nhiệm, chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng và việc sử dụng vũ khí công nghệ cao, tác chiến điện tử, tác chiến không gian mạng, an ninh phi truyền thống, sẽ được sử dụng là chủ yếu, ngay từ đầu và trong suốt cuộc chiến tranh. Mặt khác, thế giới đã và đang có nhiều thay đổi khó lường về phương thức, quy mô, phạm vi, không gian, thời gian, môi trường, lực lượng và thủ đoạn tác chiến… để tiến hành chiến tranh. Nhằm chủ động ngăn ngừa, ngăn chặn, đẩy lùi và đối phó thắng lợi trong mọi tình huống, đánh bại mọi hình thức chiến tranh xâm lược nếu xảy ra, đòi hỏi phải sửa đổi, bổ sung các quy định của Luật Quốc phòng năm 2005 tạo cơ sở pháp lý đầy đủ và cao hơn nhằm đáp ứng sự nghiệp xây dựng và bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

Xuất phát từ những vấn đề nêu trên, việc xây dựng, ban hành Luật Quốc phòng năm 2018 là cần thiết.

II. MỤC ĐÍCH, QUAN ĐIỂM CHỈ ĐẠO XÂY DỰNG LUẬT

1. Mục đích ban hành Luật

Xây dựng nền quốc phòng toàn dân vững mạnh toàn diện, phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để bảo vệ vững chắc độc lập, chủ quyền, thống nhất, toàn vẹn lãnh thổ của Tổ quốc, bảo vệ Nhân dân, Đảng, Nhà nước và chế độ xã hội chủ nghĩa; bảo vệ công cuộc đổi mới, sự nghiệp công nghiệp hóa, hiện đại hóa, bảo vệ lợi ích quốc gia, dân tộc; bảo vệ nền văn hóa dân tộc; giữ vững môi trường hòa bình, ổn định chính trị, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội.

2. Quan điểm chỉ đạo xây dựng Luật

– Giữ vững, tăng cường sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước đối với Quân đội nhân dân, Công an nhân dân, dân quân tự vệ và sự nghiệp bảo vệ Tổ quốc.

– Nghiên cứu những ưu điểm, khuyết điểm, nguyên nhân, bài học kinh nghiệm, các nhóm giải pháp, kiến nghị, đề nghị được rút ra từ tổng kết 10 năm thực hiện Luật Quốc phòng hiện hành để bảo đảm tính thực tiễn, khả thi.

– Bảo đảm tính công khai, dân chủ, minh bạch và dễ tiếp cận; tiếp thu những ý kiến hợp lý của các cơ quan, tổ chức, cá nhân, chuyên gia, nhà khoa học trong quá trình soạn thảo.

– Nghiên cứu có chọn lọc pháp luật của một số nước trên thế giới về quốc phòng, vận dụng phù hợp với điều kiện nước ta.

III. BỐ CỤC VÀ NỘI DUNG CƠ BẢN CỦA LUẬT

A. Bố cục của Luật

Chương I. Những quy định chung

Chương này gồm 6 điều (từ Điều 1 đến Điều 6), quy định phạm vi điều chỉnh; giải thích từ ngữ; nguyên tắc hoạt động quốc phòng; chính sách của Nhà nước về quốc phòng; quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng; các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực quốc phòng.

Chương II. Hoạt động cơ bản về quốc phòng

Chương này gồm 10 điều (từ Điều 7 đến Điều 16), quy định nền quốc phòng toàn dân; phòng thủ quân khu; khu vực phòng thủ; giáo dục quốc phòng và an ninh; động viên quốc phòng; công nghiệp quốc phòng, an ninh; phòng thủ dân sự; đối ngoại quốc phòng; kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng; công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương.

Chương III. Tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm

Chương này gồm 6 điều (từ Điều 17 đến Điều 22), quy định tuyên bố, công bố, bãi bỏ tình trạng chiến tranh; ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; tổng động viên, động viên cục bộ; quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; thiết quân luật; giới nghiêm.

Chương IV. Lực lượng vũ trang nhân dân

Chương này gồm 6 điều (từ Điều 23 đến Điều 28), quy định thành phần, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân; nguyên tắc hoạt động và trường hợp sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân; quân đội nhân dân; Công an nhân dân; Dân quân tự vệ; chỉ huy Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ.

Chương V. Bảo đảm quốc phòng

Chương này gồm 5 điều (từ Điều 29 đến Điều 33), quy định bảo đảm nguồn nhân lực; bảo đảm nguồn lực tài chính; bảo đảm tài sản phục vụ quốc phòng; bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế – xã hội và đối ngoại; bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân.

Chương VI. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức về quốc phòng

Chương này gồm 6 điều (từ Điều 34 đến Điều 39), quy định nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ; nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng; nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, ngành trung ương; nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp; nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp; nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận.

Chương VII. Điều khoản thi hành

Chương này có 01 điều (Điều 40) quy định hiệu lực thi hành.

B. Những nội dung cơ bản của Luật

1. Những quy định chung (Chương I)

– Về phạm vi điều chỉnh (Điều 1)

Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung quy định về “tình trạng chiến tranh”, “tình trạng khẩn cấp về quốc phòng”, “thiết quân luật”, “giới nghiêm”, “bảo đảm quốc phòng”, những nội dung này được Luật Quốc phòng năm 2018 quy định cụ thể tại Chương III, Chương V.

– Về giải thích từ ngữ (Điều 2)

Luật Quốc phòng năm 2018 không giải thích các từ ngữ: nền quốc phòng toàn dân; khu vực phòng thủ; thiết quân luật; giới nghiêm tại Điều 2 về giải thích từ ngữ mà giải thích các từ ngữ này tại các điều khác nhau trong Luật như: nền quốc phòng toàn dân (khoản 1 Điều 7); khu vực phòng thủ (khoản 1 Điều 9); thiết quân luật (khoản 1 Điều 21); giới nghiêm (khoản 1 Điều 22) đây là điểm mới so với Luật Quốc phòng 2005.

Đồng thời, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung giải thích các từ ngữ: quân sự; chiến tranh nhân dân; thế trận quốc phòng toàn dân; phòng thủ đất nước; xâm lược; chiến tranh thông tin; thảm họa quy định tại Điều 2; phòng thủ quân khu (khoản 1 Điều 8); phòng thủ dân sự (khoản 1 Điều 13); kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng (khoản 1 Điều 15); công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương (khoản 1 Điều 16).

– Về nguyên tắc hoạt động quốc phòng (Điều 3)

Điều này được quy định trên cơ sở nội dung của Điều 5 Luật Quốc phòng năm 2005, trong đó điểm mới nổi bật là sửa đổi khoản 1 như sau: hoạt động quốc phòng “đặt dưới sự lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng Cộng sản Việt Nam, sự quản lý tập trung, thống nhất của Nhà nước” nhằm thể chế quan điểm, chủ trương mới của Đảng tại Nghị quyết Đại hội XII. Đồng thời, sửa đổi khoản 2, theo đó Luật Quốc phòng năm 2018 quy định “Củng cố, tăng cường quốc phòng là nhiệm vụ trọng yếu, thường xuyên, huy động sức mạnh tổng hợp của toàn dân tộc và của cả hệ thống chính trị, trong đó lực lượng vũ trang nhân dân làm nòng cốt” nhằm thể chế quan điểm của Đảng tại Nghị quyết số 28-NQ/TW năm 2013 của Ban chấp hành Trung ương Khóa XI về Chiến lược bảo vệ Tổ quốc trong tình hình mới.

– Về chính sách của Nhà nước về quốc phòng (Điều 4)

Kế thừa quy định của Điều 4 Luật Quốc phòng năm 2005 và để phù hợp với Hiến pháp năm 2013, thể chế quan điểm, chủ trương của Đảng, Nhà nước tại Nghị quyết số 28-NQ/TW, Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Ban Chấp hành TW (Khóa XI) về Hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW ngày 31/12/2013 của Quân ủy Trung ương về Hội nhập quốc tế và đối ngoại quốc phòng đến năm 2020 và những năm tiếp theo (Nghị quyết số 806-NQ/QUTW), Điều 4 Luật Quốc phòng năm 2018 đã sửa đổi theo hướng quy định đầy đủ, toàn diện chính sách nhà nước về quốc phòng, nhằm đảm bảo công khai, minh bạch về tính chất, mục đích quốc phòng Việt Nam là nền quốc phòng toàn dân để bảo vệ Tổ quốc. Đặc biệt, Luật Quốc phòng năm 2018 đã bổ sung quy định chính sách của Nhà nước về phát triển khoa học và công nghệ để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân, công nghiệp quốc phòng, an ninh để phù hợp với cuộc cách mạng công nghiệp lần thứ 4. Cụ thể Điều 4 quy định như sau: “Phát triển khoa học và công nghệ để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, lực lượng vũ trang nhân dân, công nghiệp quốc phòng, an ninh đáp ứng nhiệm vụ xây dựng và bảo vệ Tổ quốc”.

– Về quyền và nghĩa vụ của công dân về quốc phòng (Điều 5)

– Về các hành vi bị nghiêm cấm trong lĩnh vực quốc phòng (Điều 6)

2. Hoạt động cơ bản về quốc phòng (Chương II)

– Về nền quốc phòng toàn dân (Điều 7)

Kế thừa quy định tại khoản 2, Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2005, khoản 1 Điều 7 Luật Quốc phòng năm 2018 giải thích nền quốc phòng toàn dân là sức mạnh quốc phòng của đất nước, được xây dựng trên nền tảng chính trị, tinh thần, nhân lực, vật lực, tài chính, mang tính chất toàn dân, toàn diện, độc lập, tự chủ, tự cường.

Ngoài ra, kế thừa các quy định của Điều 8 Luật Quốc phòng năm 2005, khoản 2 Điều 7 Luật Quốc phòng năm 2018 đã quy định 11 nội dung cơ bản xây dựng nền quốc phòng toàn dân, đây là những nội dung có tính xuyên suốt của hoạt động quốc phòng: 1. Xây dựng chiến lược bảo vệ Tổ quốc, kế hoạch phòng thủ đất nước; nghiên cứu phát triển nghệ thuật quân sự Việt Nam; xây dựng khối đại đoàn kết toàn dân và hệ thống chính trị vững mạnh. 2. Xây dựng thực lực, tiềm lực quốc phòng; xây dựng lực lượng vũ trang nhân dân vững mạnh, có sức chiến đấu cao, làm nòng cốt bảo vệ Tổ quốc. 3. Xây dựng cơ sở vật chất, kỹ thuật; phát triển công nghiệp quốc phòng, an ninh, khoa học, công nghệ quân sự; huy động tiềm lực khoa học, công nghệ của Nhà nước và Nhân dân phục vụ quốc phòng; ứng dụng thành tựu khoa học, công nghệ quân sự phù hợp để xây dựng đất nước. 4. Xây dựng, tổ chức thực hiện kế hoạch bảo đảm nhu cầu dự trữ quốc gia cho quốc phòng; chuẩn bị các điều kiện cần thiết bảo đảm động viên quốc phòng. 5. Xây dựng phòng thủ quân khu, khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện, hợp thành phòng thủ đất nước; củng cố, tăng cường tiềm lực quốc phòng, an ninh ở các vùng chiến lược, trọng điểm, biển, đảo, khu vực biên giới, địa bàn xung yếu; xây dựng thế trận quốc phòng toàn dân gắn với thế trận an ninh nhân dân trong phạm vi cả nước. 6. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp về chiến tranh thông tin, chiến tranh không gian mạng. 7. Xây dựng và tổ chức thực hiện kế hoạch, biện pháp phòng thủ dân sự trong phạm vi cả nước. 8. Đối ngoại quốc phòng. 9. Kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng; kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại. 10. Xây dựng và bảo đảm chế độ, chính sách đối với lực lượng vũ trang nhân dân, thân nhân của người phục vụ trong lực lượng vũ trang nhân dân. 11. Tuyên truyền, phổ biến đường lối, quan điểm của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước về quốc phòng; thực hiện giáo dục quốc phòng và an ninh.

– Về phòng thủ quân khu (Điều 8)

Luật Quốc phòng năm 2018 giao Chính phủ quy định việc chỉ đạo, chỉ huy, mối quan hệ phối hợp, công tác bảo đảm và trách nhiệm của cơ quan, tổ chức về phòng thủ quân khu.

– Về khu vực phòng thủ (Điều 9)

Kế thừa khoản 4 Điều 3 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định khu vực phòng thủ là bộ phận hợp thành phòng thủ quân khu, bao gồm các hoạt động về chính trị, tinh thần, kinh tế, văn hóa, xã hội, khoa học, công nghệ, quân sự, an ninh, đối ngoại; được tổ chức theo địa bàn cấp tỉnh, cấp huyện, đơn vị hành chính – kinh tế đặc biệt, lấy xây dựng cấp xã làm nền tảng để bảo vệ địa phương. Điểm mới nổi bật của nội dung này là quy định đối ngoại là một trong những tiềm lực trong khu vực phòng thủ (điểm b khoản 2 Điều 9), đây là sự phát triển mới, nhằm thể chế quan điểm của Đảng bảo vệ tổ quốc từ xa, từ sớm và bổ sung quy định khu vực phòng thủ Thủ đô Hà Nội là bộ phận hợp thành phòng thủ đất nước (khoản 3 Điều 9), để phù hợp với tính chất nhiệm vụ đặc thù của Thủ đô Hà Nội và quy định của Luật Thủ đô.

– Về giáo dục quốc phòng và an ninh (Điều 10)

– Về động viên quốc phòng (Điều 11)

– Công nghiệp quốc phòng, an ninh (Điều 12)

– Về phòng thủ dân sự (Điều 13)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa Chương 5 Luật Quốc phòng năm 2005 đồng thời luật hóa một số quy định quan trọng của Nghị định số 117/2008/NĐ-CP ngày 14/11/2008 của Chính phủ về phòng thủ dân sự. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định phòng thủ dân sự là bộ phận của phòng thủ đất nước bao gồm các biện pháp phòng, chống chiến tranh; phòng, chống, khắc phục hậu quả thảm họa, sự cố, thiên tai, dịch bệnh; bảo vệ Nhân dân, cơ quan, tổ chức và nền kinh tế quốc dân. Nhiệm vụ phòng thủ dân sự bao gồm: 1. Xây dựng cơ chế hoạt động, kế hoạch phòng thủ dân sự. 2. Tuyên truyền, giáo dục, bồi dưỡng, tập huấn, huấn luyện, diễn tập. 3. Xây dựng hệ thống công trình phòng thủ dân sự. 4. Xây dựng hệ thống tiếp nhận, xử lý thông tin, nghiên cứu dự báo, cảnh báo, thông báo, báo động. 5. Thực hiện các biện pháp phòng thủ dân sự. Lực lượng phòng thủ dân sự bao gồm: 1. Lực lượng nòng cốt gồm Dân quân tự vệ; Công an xã, phường, thị trấn; lực lượng chuyên trách hoặc kiêm nhiệm của Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và các Bộ, ngành trung ương, địa phương. 2. Lực lượng rộng rãi do toàn dân tham gia. Luật Quốc phòng năm 2018 giao Chính phủ quy định chi tiết về phòng thủ dân sự.

– Về đối ngoại quốc phòng (Điều 14)

Đối ngoại quốc phòng đã được quy định tại khoản 3 Điều 4 Luật Quốc phòng năm 2005, tuy nhiên để thể chế Nghị quyết số 22-NQ/TW ngày 10/4/2013 của Bộ Chính trị về Hội nhập quốc tế, Nghị quyết số 806-NQ/QUTW, Luật Quốc phòng năm 2018 đã bổ sung một điều quy định về đối ngoại quốc phòng. Theo đó, đối ngoại quốc phòng để thực hiện đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước, nhằm phát huy sức mạnh tổng hợp của đất nước để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, góp phần vào sự nghiệp hòa bình, độc lập dân tộc, dân chủ và tiến bộ xã hội trên thế giới. Nhiệm vụ đối ngoại quốc phòng bao gồm: 1. Thiết lập, phát triển quan hệ quốc phòng với các quốc gia có chủ quyền và các tổ chức quốc tế. 2. Xây dựng, mở rộng quan hệ hữu nghị, hợp tác quốc tế; thực hiện đối thoại về quốc phòng; xây dựng, củng cố lòng tin, sự hiểu biết, tin cậy lẫn nhau, tình đoàn kết giữa Quân đội nhân dân Việt Nam với quân đội các nước trên thế giới. 3. Tham gia xây dựng và thực thi các cơ chế hợp tác quốc phòng song phương, đa phương, khu vực, liên khu vực và toàn cầu vì mục tiêu hòa bình, ổn định và phát triển. 4. Thông tin đối ngoại về quốc phòng. Nguyên tắc, nội dung, hình thức đối ngoại quốc phòng và trách nhiệm, quyền hạn của cơ quan, tổ chức thực hiện theo quy định của pháp luật.

– Về kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội và kinh tế – xã hội với quốc phòng (Điều 15)

– Về công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương (Điều 16)

Công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương hiện nay đang được quy định tại Nghị định số 119/2004/NĐ-CP ngày 11/5/2004 của Chính phủ về công tác quốc phòng ở các Bộ, cơ quan ngang Bộ, cơ quan thuộc Chính phủ và các địa phương. Luật Quốc phòng năm 2018 đã dành một điều quy định về công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương để nâng cao tính pháp lý của vấn đề này. Theo đó, công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương là hoạt động lãnh đạo, chỉ đạo, quản lý, điều hành và tổ chức thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo thẩm quyền; Luật Quốc phòng năm 2018 quy định bộ, ngành trung ương có ban chỉ huy quân sự làm việc theo chế độ kiêm nhiệm để tham mưu và tổ chức thực hiện công tác quốc phòng. Ngoài ra, Luật Quốc phòng năm 2018 cũng quy định địa phương có cơ quan thường trực công tác quốc phòng là cơ quan quân sự địa phương cùng cấp để phù hợp với thực tiễn đã và đang thực hiện. Luật Quốc phòng năm 2018 giao Chính phủ quy định chi tiết về công tác quốc phòng ở Bộ, ngành trung ương, địa phương.

3. Tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, thiết quân luật, giới nghiêm (Chương III)

– Tuyên bố, công bố, bãi bỏ tình trạng chiến tranh (Điều 17)

Kế thừa Điều 29 về tuyên bố tình trạng chiến tranh và Điều 36 bãi bỏ lệnh tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định về tuyên bố, công bố, bãi bỏ tình trạng chiến tranh như sau: 1. Khi Tổ quốc bị xâm lược, Quốc hội quyết định tình trạng chiến tranh. Khi hành vi xâm lược được chấm dứt trên thực tế, Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng chiến tranh. 2. Trong trường hợp Quốc hội không thể họp được, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định việc tuyên bố tình trạng chiến tranh và báo cáo Quốc hội quyết định tại kỳ họp gần nhất. 3. Căn cứ vào nghị quyết của Quốc hội hoặc của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh.

– Ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (Điều 18)

Nội dung này về cơ bản kế thừa Điều 31 về ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng và Điều 36 bãi bỏ lệnh tuyên bố tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ của Luật Quốc phòng năm 2005. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: khi xảy ra tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Khi không còn tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, Ủy ban Thường vụ Quốc hội quyết định bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Căn cứ vào nghị quyết của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, Chủ tịch nước công bố quyết định ban bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương. Trong trường hợp Ủy ban Thường vụ Quốc hội không thể họp được, Chủ tịch nước công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng trong cả nước hoặc ở từng địa phương theo đề nghị của Thủ tướng Chính phủ. Luật Quốc phòng năm 2018 giao Chính phủ quy định việc thi hành quyết định ban bố, công bố, bãi bỏ tình trạng khẩn cấp về quốc phòng.

– Tổng động viên, động viên cục bộ (Điều 19)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định tại Điều 30, Điều 36 Luật Quốc phòng năm 2005 và được sửa đổi, bổ sung để cụ thể hóa một số quy định tại Điều 74, Điều 88 Hiến pháp năm 2013 và văn bản QPPL hiện hành. Theo đó, điểm mới nổi bật của Luật Quốc phòng năm 2018 là bổ sung quy định “Quân đội nhân dân, Dân quân tự vệ được chuyển vào trạng thái sẵn sàng chiến đấu phù hợp” và “mở rộng lực lượng Dân quân tự vệ”. Các quy định này đã luật hóa quy định tại Thông tư số 33/2016/TT-BQP ngày 29/3/2016 của Bộ Quốc phòng hướng dẫn một số Điều của Luật Dân quân tự vệ và Nghị định số 33/2016/NĐ-CP ngày 5/01/2016 của Chính phủ quy định chi tiết và và biện pháp thi hành một số điều của Luật Dân quân tự vệ.

– Quyền hạn của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng trong tình trạng chiến tranh, tình trạng khẩn cấp về quốc phòng (Điều 20)

Nội dung này về cơ bản giữ nguyên quy định tại Điều 35 Luật Quốc phòng năm 2005 và thiết kế thành 02 khoản quy định như sau: 1. Căn cứ vào quyết định tuyên bố tình trạng chiến tranh hoặc quyết định ban bố tình trạng khẩn cấp về quốc phòng, lệnh tổng động viên hoặc động viên cục bộ, Bộ trưởng Bộ Quốc phòng có quyền ra mệnh lệnh đặc biệt để bảo đảm cho nhiệm vụ chiến đấu tại khu vực có chiến sự. 2. Người đứng đầu chính quyền địa phương, cơ quan, tổ chức nơi có chiến sự phải chấp hành mệnh lệnh đặc biệt của Bộ trưởng Bộ Quốc phòng.

– Thiết quân luật (Điều 21)

Điểm mới nổi bật của nội dung này là quy định về hạn chế quyền con người, quyền công dân trong thực hiện lệnh thiết quân luật. Theo quy định tại khoản 2 Điều 14 Hiến pháp năm 2013 quyền con người, quyền công dân chỉ có thể bị hạn chế theo quy định của Luật trong trường hợp cần thiết vì lý do quốc phòng, an ninh quốc gia, trật tự, an toàn xã hội, đạo đức xã hội, sức khỏe cộng đồng. Theo đó, khoản 6 Điều 21 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định các biện pháp đặc biệt được áp dụng trong thời gian thi hành lệnh thiết quân luật bao gồm: 1. Cấm hoặc hạn chế người, phương tiện đi lại; đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại các nơi công cộng. 2. Cấm biểu tình, đình công, bãi thị, bãi khóa, tụ tập đông người. 3. Bắt giữ hoặc cưỡng chế cá nhân, tổ chức có hoạt động xâm hại đến quốc phòng, an ninh phải rời khỏi hoặc cấm đi khỏi nơi cư trú hoặc một khu vực nhất định. 4. Huy động người, phương tiện của cơ quan, tổ chức, cá nhân. 5. Quản lý đặc biệt đối với các loại vũ khí, vật liệu nổ, công cụ hỗ trợ, chất cháy, chất độc, chất phóng xạ; kiểm soát chặt chẽ cơ sở hạ tầng công nghệ thông tin, phương tiện thông tin, hoạt động báo chí, xuất bản, cơ sở in, sao chụp, việc thu thập, sử dụng thông tin.

– Giới nghiêm (Điều 22)

Tương tự như Điều 21, điểm mới của Điều 22 Luật Quốc phòng năm 2018 cũng quy định hạn chế quyền công dân trong thực hiện giới nghiêm, cụ thể quy định các biện pháp được áp dụng trong thời gian giới nghiêm bao gồm: 1. Cấm tụ tập đông người. 2. Cấm người, phương tiện đi lại, hoạt động trong những giờ nhất định, tại những khu vực nhất định. 3. Đình chỉ hoặc hạn chế hoạt động tại một số nơi công cộng trong những thời điểm nhất định. 4. Đặt trạm canh gác và kiểm soát địa bàn, kiểm tra vật phẩm, hành lý, phương tiện, giấy tờ của người đi lại qua trạm canh gác và kiểm soát. 5. Kịp thời bắt giữ và xử lý người, phương tiện vi phạm lệnh giới nghiêm và vi phạm quy định khác của pháp luật.

4. Lực lượng vũ trang nhân dân (Chương IV)

– Thành phần, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 23)

Nội dung này về cơ bản kế thừa Điều 12 Luật Quốc phòng năm 2005. Tuy nhiên, Điều 23 Luật Quốc phòng năm 2018 sửa đổi tên thành “Thành phần, nhiệm vụ của lực lượng vũ trang nhân dân” để bảo đảm tên điều không trùng với tên Chương IV Luật Quốc phòng năm 2018.

– Nguyên tắc hoạt động và trường hợp sử dụng lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 24)

– Quân đội nhân dân (Điều 25)

Điểm mới của nội dung này là đã quy định “Quân đội nhân dân có chức năng, nhiệm vụ sẵn sàng chiến đấu, chiến đấu bảo vệ Tổ quốc; thực hiện công tác vận động, tuyên truyền chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước; lao động sản xuất, kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội, tham gia phòng thủ dân sự, cùng toàn dân xây dựng đất nước; thực hiện nghĩa vụ quốc tế” nhằm thể chế hóa chủ trương, quan điểm của Đảng và tư tưởng Hồ Chí Minh về Quân đội nhân dân, phù hợp với truyền thống và thực tiễn xây dựng chiến đấu, trưởng thành của Quân đội nhân dân hơn 70 năm qua. Đồng thời, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định “Nhà nước xây dựng Quân đội nhân dân cách mạng, chính quy, tinh nhuệ, từng bước hiện đại, có lực lượng thường trực hợp lý, lực lượng dự bị động viên hùng hậu; một số lực lượng tiến thẳng lên hiện đại” nhằm thể chế Nghị quyết số 28-NQ/TW, Nghị quyết số 24-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quốc phòng Việt Nam, Kết luận số 31-NQ/TW của Bộ Chính trị về Chiến lược Quân sự Việt Nam.

– Công an nhân dân (Điều 26)

– Dân quân tự vệ (Điều 27)

Điểm mới nổi bật của điều này là bổ sung quy định “Nhà nước xây dựng lực lượng dân quân tự vệ vững mạnh và rộng khắp” tại khoản 2, để phù hợp với Điều 66 Hiến pháp năm 2013. Đồng thời bổ sung quy định về “chế độ, chính sách” đối với Dân quân tự vệ, để thống nhất với Luật Dân quân tự vệ.

– Chỉ huy Quân đội nhân dân, Công an nhân dân và Dân quân tự vệ (Điều 28)

Kế thừa quy định của Điều 16 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung một khoản quy định “Bộ trưởng Bộ Công an là người chỉ huy cao nhất trong Công an nhân dân” (khoản 3 Điều 28).

5. Bảo đảm quốc phòng (Chương V)

– Bảo đảm nguồn nhân lực (Điều 29)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 37 Luật Quốc phòng năm 2005, theo đó, Điều 29 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: công dân Việt Nam là nguồn nhân lực chủ yếu của quốc phòng; nhà nước có chính sách, kế hoạch xây dựng, đào tạo, bồi dưỡng nguồn nhân lực; ưu tiên thu hút nguồn nhân lực chất lượng cao để bảo đảm cho nhiệm vụ quốc phòng.

– Bảo đảm nguồn lực tài chính (Điều 30)

Nội dung này kế thừa quy định của Điều 38 Luật Quốc phòng năm 2005, tuy nhiên, Luật Quốc phòng năm 2018 đã bỏ nội dung quy định tại khoản 3, Điều 38, Luật Quốc phòng năm 2005 “Nhà nước khuyến khích tổ chức, cá nhân trong nước, tổ chức, cá nhân nước ngoài đóng góp tài sản cho quốc phòng trên nguyên tắc tự nguyện, không trái với quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà Cộng hoà xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên”.

– Bảo đảm tài sản phục vụ quốc phòng (Điều 31)

– Bảo đảm phục vụ quốc phòng trong lĩnh vực kinh tế – xã hội và đối ngoại (Điều 32)

– Bảo đảm hoạt động của lực lượng vũ trang nhân dân (Điều 33)

Kế thừa quy định tại Điều 18 Luật Quốc phòng năm 2005 và để phù hợp với quy định của Điều 31 Luật Quốc phòng năm 2018, Điều 33 Luật Quốc phòng năm 2018 quy định: “Nhà nước bảo đảm nhu cầu tài chính, tài sản sử dụng vào mục đích quốc phòng, an ninh và các chế độ, chính sách đãi ngộ phù hợp với tính chất hoạt động đặc thù của lực lượng vũ trang nhân dân”.

6. Nhiệm vụ, quyền hạn của cơ quan, tổ chức về quốc phòng (Chương VI)

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Chính phủ (Điều 34)

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ Quốc phòng (Điều 35)

Nội dung này được xây dựng trên cơ sở kế thừa quy định của Điều 45 Luật Quốc phòng năm 2005. Điểm mới của Luật Quốc phòng năm 2018 là bổ sung quy định về nhiệm vụ của Bộ Quốc phòng trong duy trì an ninh, trật tự, an toàn xã hội ở khu vực biên giới, cửa khẩu, hải đảo, vùng biển và vùng trời của nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam theo quy định của pháp luật Việt Nam và điều ước quốc tế mà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam là thành viên để thống nhất với Luật Biên giới quốc gia, Luật An ninh quốc gia, Luật Công an nhân dân.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Bộ, ngành trung ương (Điều 36)

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp (Điều 37)

Kế thừa quy định của Điều 47 Luật Quốc phòng năm 2005, Luật Quốc phòng năm 2018 bổ sung một số quy định mới phù hợp với nhiệm vụ, quyền hạn của Hội đồng nhân dân các cấp về quốc phòng quy định tại Luật tổ chức chính quyền địa phương năm 2015. Theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 quy định Hội đồng nhân dân các cấp có nhiệm vụ, quyền hạn sau: 1. Quyết định biện pháp bảo đảm thực hiện nhiệm vụ quốc phòng theo quy định của pháp luật. 2. Quyết định chủ trương, biện pháp nhằm phát huy tiềm năng của địa phương để xây dựng nền quốc phòng toàn dân, thế trận quốc phòng toàn dân gắn với nền an ninh nhân dân, thế trận an ninh nhân dân vững mạnh, xây dựng tiềm lực quốc phòng, xây dựng khu vực phòng thủ vững chắc toàn diện. 3. Quyết định chủ trương, biện pháp xây dựng lực lượng Dân quân tự vệ, dự bị động viên; quyết định chủ trương, biện pháp kết hợp quốc phòng với kinh tế – xã hội, kinh tế – xã hội với quốc phòng, kết hợp quốc phòng với an ninh, đối ngoại của địa phương. 4. Căn cứ vào lệnh của Chủ tịch nước, quyết định chủ trương, biện pháp để thực hiện nhiệm vụ trong tình trạng khẩn cấp về quốc phòng; chuyển hoạt động của địa phương sang tình trạng chiến tranh. 5. Quyết định ngân sách bảo đảm cho hoạt động quốc phòng của địa phương. 6. Giám sát việc tuân theo Hiến pháp, pháp luật và thực hiện nghị quyết của Hội đồng nhân dân về quốc phòng ở địa phương. 7. Thực hiện nhiệm vụ, quyền hạn khác về quốc phòng theo quy định của pháp luật.

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Ủy ban nhân dân các cấp (Điều 38)

– Nhiệm vụ, quyền hạn của Mặt trận Tổ quốc Việt Nam và các tổ chức thành viên của Mặt trận (Điều 39)

7. Điều khoản thi hành (Chương VII)

Luật Quốc phòng năm 2018 quy định hiệu lực thi hành tại Điều 40, theo đó, Luật Quốc phòng năm 2018 có hiệu lực từ ngày 01/01/2019 và Luật Quốc phòng năm 2005 hết hiệu lực kể từ ngày Luật Quốc phòng năm 2018 có hiệu lực thi hành./.

Bài 3: Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật An Ninh Mạng

Quốc hội thông qua Luật An ninh mạng

Để bảo vệ tối đa quyền và lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân, Luật An ninh mạng đã dành 1 chương (Chương III) quy định đầy đủ các biện pháp phòng ngừa, đấu tranh, xử lý nhằm loại bỏ các nguy cơ đe dọa, phát hiện và xử hành vi vi phạm pháp luật. Bao gồm: Phòng ngừa, xử lý thông tin trên không gian mạng có nội dung tuyên truyền chống Nhà nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa Việt Nam; kích động gây bạo loạn, phá rối an ninh, gây rối trật tự công cộng; làm nhục, vu khống; xâm phạm trật tự quản lý kinh tế; phòng, chống gián điệp mạng, bảo vệ thông tin bí mật nhà nước, bí mật công tác, thông tin cá nhân trên không gian mạng; phòng ngừa, xử lý hành vi sử dụng không gian mạng, công nghệ thông tin, phương tiện điện tử để vi phạm pháp luật về an ninh, trật tự; phòng, chống tấn công mạng; phòng, chống khủng bố mạng; phòng, chống chiến tranh mạng; phòng ngừa, xử lý tình huống nguy hiểm về an ninh mạng; đấu tranh bảo vệ an ninh mạng. Đây là hành lang pháp lý vững chắc để người dân có thể yên tâm buôn bán, kinh doanh hay hoạt động trên không gian mạng.

Chương IV của Luật An ninh mạng tập trung quy định về triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng một cách đồng bộ, thống nhất từ Trung ương tới địa phương, trọng tâm là các cơ quan nhà nước và tổ chức chính trị, quy định rõ các nội dung triển khai, hoạt động kiểm tra an ninh mạng đối với hệ thống thông tin của các cơ quan, tổ chức này. Cơ sở hạ tầng không gian mạng quốc gia, cổng kết nối mạng quốc tế cũng là một trong những đối tượng được bảo vệ trọng điểm.

Với các quy định chặt chẽ, sự tham gia đồng bộ của cơ quan nhà nước, doanh nghiệp và tổ chức, cá nhân, việc sử dụng thông tin để vu khống, làm nhục, xâm phạm danh dự, nhân phẩm, uy tín của người khác sẽ được xử lý nghiêm minh. Các hoạt động nghiên cứu, phát triển an ninh mạng, phát triển công nghệ, sản phẩm, dịch vụ, ứng dụng nhằm bảo vệ an ninh mạng, nâng cao năng lực tự chủ về an ninh mạng và bảo vệ trẻ em trên không gian mạng cũng được quy định chi tiết trong Chương này.

Hiện nay, dữ liệu của nước ta trên không gian mạng đã và đang bị sử dụng tràn lan với mục đích lợi nhuận mà Nhà nước chưa đủ có hành lang pháp lý để quản lý, thậm chí là bị sử dụng vào các âm mưu chính trị hoặc vi phạm pháp luật. Để quản lý chặt chẽ, bảo vệ nghiêm ngặt dữ liệu của nước ta trên không gian mạng, Luật An ninh mạng đã quy định doanh nghiệp trong và ngoài nước cung cấp dịch vụ trên mạng viễn thông, mạng internet và cac dịch vụ giá trị gia tăng trên không gian mạng tại Việt nam có hoạt động thu nhập, khai thác, phân tích, xử lý dữ liệu về thông tin cá nhân, dữ liệu về mối quanhệ của người sử dụng dịch vụ, dữ liệu do người sử dụng dịch vụ tại Việt Nam tạo ra phải lưu trữ dữ liệu này tại Việt Nam trong thời gian theo quy định của Chính phủ.

Nguồn nhân lực bảo vệ an ninh mạng là một trong những yếu tố quyết định sự thành bại của công tác bảo vệ an ninh mạng. Chương V Luật An ninh mạng đã quy định đầy đủ các nội dung bảo đảm triển khai hoạt động bảo vệ an ninh mạng, xác định lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng, ưu tiên đào tạo nguồn nhân lực an ninh mạng chất lượng cao, chú trọng giáo dục, bồi dưỡng, phổ biến kiến thức về an ninh mạng.

Trách nhiệm của cơ quan tổ chức, cá nhân cũng được quy định rõ ràng trong Luật An ninh mạng, tập trung vào trách nhiệm của lực lượng chuyên trách bảo vệ an ninh mạng được bố trí tại Bộ Công an, Bộ Quốc phòng. Theo chức năng, nhiệm vụ được giao, các bộ, ngành chức năng, UBND cấp tỉnh có trách nhiệm thực hiện đồng bộ các biện pháp được phân công để hướng tới một không gian mạng ít nguy cơ, hạn chế tối đa những hành vi vi phạm pháp luật trên không gian mạng.

Mặc dù được chuẩn bị kỹ lưỡng, được đa số đại biểu Quốc hội tán thành, nhưng do đây là đạo luật có quy định về phòng ngừa, đấu tranh, xử lý trực tiếp các hoạt động xâm phạm an ninh quốc gia trên không gian mạng nên vẫn còn có những ý kiến băn khoăn về nội dung Luật. Một số đối tượng chống đối đã có hoạt động tuyên truyền, xuyên tạc với những luận điệu như “chống lại loài người”, “bịt miệng dân chủ”, “đàn áp bất đồng chính kiến”, “tạo rào cản kinh doanh”, “tăng chi phí cho doanh nghiệp”, “thêm giấy phép con”, “lạm quyền”, “cấm sử dụng Facebook, Google”. Đây là những thông tin hoàn toàn bịa đặt, xuyên tạc với mục đích cản trở hoặc gây tâm lý hoang mang, nghi ngờ trong quần chúng nhân dân đối với chủ trương của Đảng, chinh sách pháp luật của Nhà nước về an ninh mạng. Luật An ninh mạng không có những quy định nêu trên, không tạo rào cản, không tăng thủ tục hành chính, không cấp giấy phép con và không cản trở hoạt động bình thường, đúng luật của các tổ chức, cá nhân.

Thu Trang (còn nữa)

Nguồn :

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Nội Dung Cơ Bản Của Luật Tố Tụng Hành Chính trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!