Xu Hướng 2/2024 # Những Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Vay Mà Các Bên Trong Giao Dịch Vay Dân Sự Cần Chú Ý # Top 5 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Những Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Vay Mà Các Bên Trong Giao Dịch Vay Dân Sự Cần Chú Ý được cập nhật mới nhất tháng 2 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Trả lời:

Theo quy định của pháp luật về nguyên tắc và nghĩa vụ cung cấp thông tin trong giao dịch dân sự:

Điều 3. Các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự (Bộ Luật Dân sự năm 2024)

1. Mọi cá nhân, pháp nhân đều bình đẳng, không được lấy bất kỳ lý do nào để phân biệt đối xử; được pháp luật bảo hộ như nhau về các quyền nhân thân và tài sản.

3. Cá nhân, pháp nhân phải xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình một cách thiện chí, trung thực.

2. Cá nhân, pháp nhân xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự của mình trên cơ sở tự do, tự nguyện cam kết, thỏa thuận. Mọi cam kết, thỏa thuận không vi phạm điều cấm của luật, không trái đạo đức xã hội có hiệu lực thực hiện đối với các bên và phải được chủ thể khác tôn trọng.

4. Việc xác lập, thực hiện, chấm dứt quyền, nghĩa vụ dân sự không được xâm phạm đến lợi ích quốc gia, dân tộc, lợi ích công cộng, quyền và lợi ích hợp pháp của người khác.

5. Cá nhân, pháp nhân phải tự chịu trách nhiệm về việc không thực hiện hoặc thực hiện không đúng nghĩa vụ dân sự.

Điều 387. Thông tin trong giao kết hợp đồng (Bộ Luật Dân sự năm 2024)

1. Trường hợp một bên có thông tin ảnh hưởng đến việc chấp nhận giao kết hợp đồng của bên kia thì phải thông báo cho bên kia biết.

2. Trường hợp một bên nhận được thông tin bí mật của bên kia trong quá trình giao kết hợp đồng thì có trách nhiệm bảo mật thông tin và không được sử dụng thông tin đó cho mục đích riêng của mình hoặc cho mục đích trái pháp luật khác.

3. Bên vi phạm quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều này mà gây thiệt hại thì phải bồi thường.

Như vậy khi giao kết hợp đồng, các bên có nghĩa vụ phải cung cấp thông tin chính xác, không được dùng thủ đoạn gian dối, cưỡng ép, đe dọa để bên còn lại giao kết hợp đồng vay.

Trân trọng./.

2. Bên vay sử dụng chứng minh nhân dân giả để vay tiền bị xử lý thế nào?

Nếu bên vay cung cấp thông tin sai sự thật, sử dụng chứng minh nhân dân, giấy tờ giả để bên cho vay tin tưởng và giao kết hợp đồng vay thì tùy theo mức độ sẽ bị xử hành chính hoặc có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Khoản 3 điều 9 Nghị định 167/2013/NĐ-CP của Chính phủ quy định về mức xử phạt vi phạm hành chính trong lĩnh vực an ninh, trật tự, an toàn xã hội; phòng, chống tệ nạn xã hội; phòng cháy và chữa cháy; phòng, chống bạo lực gia đình quy định:

“3. Phạt tiền từ 2.000.000 đồng đến 4.000.000 đồng đối với một trong những hành vi sau đây:

a)Khai man, giả mạo hồ sơ, cung cấp thông tin, tài liệu sai sự thật để được cấp chứng minh nhân dân;

Như vậy, nếu bên vay làm giả chứng minh nhân dân để sử dụng, bố bạn có thể bị phạt tiền từ 2 triệu đồng đến 4 triệu đồng.

Nếu xét thấy hành vi sử dụng chứng minh thư giả của bố bạn có yếu tố cấu thành tội phạm theo quy định của pháp luật, Tùy vào mức độ vi phạm, bố bạn có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội làm giả con dấu, tài liệu của cơ quan, tổ chức:

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

3. Bên vay cố tình trốn tránh, trốn khỏi nơi cư trú không trả tiền vay xử lý thế nào?

Khi thực hiện hợp đồng vay tài sản, bên vay có nghĩa vụ thực hiện như sau:

Điều 466. Nghĩa vụ trả nợ của bên vay (Bộ Luật dân sự năm 2024)

1. Bên vay tài sản là tiền thì phải trả đủ tiền khi đến hạn; nếu tài sản là vật thì phải trả vật cùng loại đúng số lượng, chất lượng, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

2. Trường hợp bên vay không thể trả vật thì có thể trả bằng tiền theo trị giá của vật đã vay tại địa điểm và thời điểm trả nợ, nếu được bên cho vay đồng ý.

3. Địa điểm trả nợ là nơi cư trú hoặc nơi đặt trụ sở của bên cho vay, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

4. Trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này trên số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác hoặc luật có quy định khác.

5. Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau:

a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này;

b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.

Nếu bên vay cố tình trốn tránh, lẩn trốn và trốn khỏi nơi cư trú thì bên cho vay có thể tố cáo đến công an huyện nơi bên vay cư trú về tội Lạm dụng tín nhiệm nhằm chiếm đoạt tài sản quy định tại điều 175 Bộ luật hình sự 2024 như sau:

Điều 175. Tội lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản

1. Người nào thực hiện một trong những hành vi sau đây chiếm đoạt tài sản của người khác trị giá từ 4.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 4.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi chiếm đoạt hoặc đã bị kết án về tội này hoặc về một trong các tội quy định tại các điều 168, 169, 170, 171, 172, 173, 174 và 290 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm hoặc tài sản là phương tiện kiếm sống chính của người bị hại hoặc tài sản có giá trị đặc biệt về mặt tinh thần đối với người bị hại, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

a) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng rồi dùng thủ đoạn gian dối chiếm đoạt tài sản đó hoặc đến thời hạn trả lại tài sản mặc dù có điều kiện, khả năng nhưng cố tình không trả;

b) Vay, mượn, thuê tài sản của người khác hoặc nhận được tài sản của người khác bằng các hình thức hợp đồng và đã sử dụng tài sản đó vào mục đích bất hợp pháp dẫn đến không có khả năng trả lại tài sản.

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a) Có tổ chức;

b) Có tính chất chuyên nghiệp;

c) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 50.000.000 đồng đến dưới 200.000.000 đồng;

d) Lợi dụng chức vụ, quyền hạn hoặc lợi dụng danh nghĩa cơ quan, tổ chức;

đ) Dùng thủ đoạn xảo quyệt;

e) Tái phạm nguy hiểm.

3. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 05 năm đến 12 năm:

a) Chiếm đoạt tài sản trị giá từ 200.000.000 đồng đến dưới 500.000.000 đồng;

b) Gây ảnh hưởng xấu đến an ninh, trật tự, an toàn xã hội.

4. Phạm tội chiếm đoạt tài sản trị giá 500.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tù từ 12 năm đến 20 năm.

5. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, bị cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản.

4. Bên vay được cho vay với lãi suất tối đa là bao nhiêu trong giao dịch dân sự

Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2024 quy định về lãi suất cho vay trong giao dịch dân sự như sau:

Điều 468. Lãi suất

1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.

2. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ.

Như vậy trong hợp đồng vay, lãi suất do hai bên thỏa thuận nhưng không được vượt quá 20% / năm tương đương không được vựt quá 1,67%/ 1 tháng. Nếu mức lại suất vượt quá quy định tại điều này thì mức lãi suất đó sẽ vô hiệu. Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi nhưng không thỏa thận cụ thể lãi suất thì lãi suất được xác định là 10%/ 1 năm tương ứng 0.833%/ 1 tháng.

Trân trọng./.

5. Nếu lãi suất quá cao có thể bị truy cứu trách nhiệm hình sự về tội cho vay nặng lãi

Nếu bên cho vay (Không phải công ty tài chính) cho vay với lãi suất gấp 5 lần mức lãi suất cao nhất quy định tại điều 468 Bộ luật dân sự năm 2024 (Tức 100%/ 1 năm) và thu lợi bất chính trên 300.000.000 đồng sẽ bị truy cứu trách nhiệm hình sự như sau:

Điều 201. Tội cho vay lãi nặng trong giao dịch dân sự

1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.

Lưu ý về việc nhắc nợ bên vay

Thông tư 18/2024TT-NHNN sửa đổi, bổ sung một số điều của Thông tư 43/2024/TT-NHNN về cho vay tiêu dùng của công ty tài chính.Theo đó, ngoài những nội dung như hiện hành, quy định nội bộ khi cho vay tiêu dùng của công ty tài chính còn phải bổ sung thêm những nội dung sau:

– Số lần nhắc nợ tối đa 05 lần/01 ngày, hình thức nhắc nợ do các bên thỏa thuận;

– Không nhắc nợ, đòi nợ, gửi thông tin về việc thu hồi nợ của khách hàng đối với tổ chức, cá nhân không có nghĩa vụ trả nợ cho công ty tài chính, trừ trường hợp có yêu cầu của cơ quan có thẩm quyền theo quy định;

– Bảo mật thông tin khách hàng theo quy định.

Mọi vướng mắc bạn vui lòng trao đổi trực tiếp với bộ phận luật sư tư vấn pháp luật trực tuyến qua tổng đài 24/7 gọi số: hoặc gửi qua email: Tư vấn pháp luật dân sự miễn phí qua Email để nhận được sự tư vấn, hỗ trợ từ Luật Minh Khuê.

Bộ phận Tư vấn pháp luật dân sự – Công ty luật Minh Khuê

Ý Kiến Góp Ý Cho Các Quy Định Dự Thảo Luật Dân Sự Về Hợp Đồng Vay Tài Sản

1.Về vấn đề trả lãi và lãi suất

– (Khoản 4) Trong trường hợp vay không có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi đối với khoản nợ chậm trả theo lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước tương ứng với thời hạn chậm trả tại thời điểm trả nợ, nếu có thoả thuận.

– (Khoản 5) Trong trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ, thì bên vay phải trả lãi trên nợ gốc và lãi theo lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà nước tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

– (Khoản 1) Lãi suất vay do các bên thoả thuận nhưng không được vượt quá 50% của lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại cho vay tương ứng.

– (Khoản 2) Trong trường hợp các bên có thoả thuận về việc trả lãi trong việc vay, nhưng không xác định rõ lãi suất hoặc có tranh chấp về lãi suất, thì áp dụng lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn do Ngân hàng Nhà nước quy định tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ.

Các điều khoản mà chúng tôi vừa dẫn ra ở trên có nói đến “lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn của Ngân hàng Nhà nước”, “lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà nước” và “lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định”. Các quy định về lãi suất tiết kiệm có kỳ hạn, lãi suất nợ quá hạn và lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định không thể tìm thấy trong pháp luật dân sự mà phải tìm trong các văn bản chuyên ngành- pháp luật ngân hàng. Như vậy, các quy định của Điều 458, 460 là các quy định dẫn chiếu. Vấn đề đặt ra là: trong pháp luật ngân hàng các mức lãi suất trên có được quy định hay không?

Như chúng ta đã biết, Bộ luật Dân sự hiện hành có hiệu lực từ ngày 1/7/19961 thì trước đó 6 tháng ngày 28/12/1995, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước ra Quyết định số 381/QĐ- NH1 Về điều chỉnh lãi suất tiền gửi và tiền vay đối với tổ chức kinh tế và dân cư. Theo đó, kể từ ngày 1/1/1996 trở đi Ngân hàng Nhà nước đã không còn công bố lãi suất tiết kiệm nữa mà công bố trần lãi suất. Các tổ chức tín dụng căn cứ vào trần lãi suất cho vay do Ngân hàng Nhà nước công bố để ấn định mức lãi suất tiền gửi tiết kiệm và lãi suất cho vay cụ thể, phù hợp với điều kiện hoạt động của từng tổ chức tín dụng. Ngày 02/8/2000, Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam ra Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 Về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng. Theo đó, từ ngày 5/8/2000 cơ chế điều hành trần lãi suất cho vay được thay thế bằng cơ chế điều hành lãi suất cơ bản đối với cho vay bằng đồng Việt Nam và cơ chế lãi suất thị trường có quản lý đối với cho vay bằng ngoại tệ. Như vậy, hiện nay ở từng thời điểm nhất định, Ngân hàng Nhà nước thường công bố lãi suất cơ bản trên cơ sở tham khảo mức lãi suất cho vay thương mại đối với khách hàng tốt nhất của nhóm các tổ chức tín dụng được lựa chọn, để các tổ chức tín dụng tham khảo ấn định lãi suất kinh doanh và định hướng lãi suất thị trường. Do đó, từ 1/1/1996 đến nay, chúng ta không xác định được mức lãi suất nào là lãi suất tiền gửi tiết kiệm do Ngân hàng Nhà nước công bố, mà chỉ xác định được lãi suất tiền gửi tiết kiệm do các tổ chức tín dụng tự quy định dựa trên trần lãi suất và nay là lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước Việt Nam công bố. Và từ ngày 5/8/2000, chúng ta cũng không xác định được mức lãi suất cao nhất do Ngân hàng Nhà nước quy định đối với loại vay tương ứng, bởi mức lãi suất này do các tổ chức tín dụng tự ấn định căn cứ vào lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố.

Đối với khoản nợ đến hạn nếu chưa trả được và không được gia hạn thì phải chuyển sang nợ quá hạn và áp dụng lãi suất nợ quá hạn. Trước đây, theo quy định của Quyết định số 266/QĐNH1 ngày 27/9/1996 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Việt Nam thì lãi suất nợ quá hạn được tính bằng 150% mức lãi suất ghi trong hợp đồng nếu hợp đồng vay tiền được xác lập trước ngày 1/10/1996; mức lãi suất quá hạn được tính bằng 150% mức trần lãi suất cho vay cùng loại do Ngân hàng Nhà nước công bố nếu hợp đồng được xác lập từ ngày 1/10/1996. Hiện nay, quy định này đã được sửa đổi theo hướng dành quyền tự quyết cho tổ chức tín dụng trong phạm vi mức tối đa do Ngân hàng Nhà nước quy định: “Lãi suất nợ quá hạn được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng, nhưng không vượt quá 150% mức lãi suất cho vay ghi trong hợp đồng tín dụng”(Quyết định số 241/2000/QĐ-NHNN1 ngày 02/8/2000 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước Về việc thay đổi cơ chế điều hành lãi suất cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng). Việc quy định lãi suất nợ quá hạn như trên đã khiến cho khái niệm “lãi suất nợ quá hạn” được nêu trong khoản 5, Điều 458 trở nên thiếu rõ ràng và khó thực hiện vì không xác định được “lãi suất nợ quá hạn của Ngân hàng Nhà nước” là lãi suất nào?

2. Về Điều 461- Thực hiện hợp đồng vay không kỳ hạn và Điều 462- Thực hiện hợp đồng vay có kỳ hạn

Để đúng hơn về mặt khái niệm, Dự thảo BLDS (sửa đổi) cần sửa đổi các cụm từ “hợp đồng vay không kỳ hạn” và “hợp đồng vay có kỳ hạn” thành “hợp đồng vay không xác định thời hạn” và “hợp đồng vay xác định thời hạn”. Liên hệ với pháp luật ngân hàng khi quy định về hợp đồng cho vay tín dụng- một hợp đồng gần gũi với HĐVTS ta sẽ thấy rõ điều này.

Tại khỏan 2 Điều 3 quy chế cho vay của tổ chức tín dụng đối với khách hàng(ban hành theo Quyết định số 1627/2001/QĐ – NHNN, ngày 31/12/2001 của Thống đốc Ngân hàng Nhà nước) thì: “Thời hạn cho vay là khoảng thời gian được tính từ khi khách hàng bắt đầu nhận vốn vay cho đến thời điểm trả hết nợ gốc và lãi vốn vay đã được thoả thuận trong hợp đồng tín dụng giữa tổ chức tín dụng và khách hàng”. Còn “Kỳ hạn trả nợ là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay đã được thoả thuận giữa tổ chức tín dụng và khách hàng mà tại cuối mỗi khoảng thời gian đó khách hàng phải trả một phần hoặc toàn bộ vốn vay cho tổ chức tín dụng” (khoản 3 Điều 3 Quy chế đã dẫn). Như vậy, theo cách định nghĩa trên, thời hạn cho vay và kỳ hạn trả nợ có điểm giống nhau: đều là căn cứ xác định thời điểm để bên vay thực hiện nghĩa vụ trả nợ của mình. Tuy nhiên, giữa chúng có điểm khác nhau:

– Nếu thời hạn cho vay là một khoảng thời gian, thì kỳ hạn là các khoảng thời gian trong thời hạn cho vay;

– Hết thời hạn cho vay, bên vay có nghĩa vụ trả hết nợ gốc và lãi cho bên cho vay; còn đến kỳ hạn bên vay chỉ có nghĩa vụ trả một phần trong toàn bộ tài sản vay. Tuy nhiên, có trường hợp các bên không có thoả thuận về kỳ hạn trả nợ, khi hết thời hạn cho vay thì đồng thời cũng đến kỳ hạn trả nợ. Trong trường hợp này, thời hạn cho vay trùng với kỳ hạn trả nợ bên vay có nghĩa vụ phải trả hết nợ gốc và lãi.

Nếu hiểu theo cách này, thì việc đồng nhất khái niệm thời hạn cho vay và kỳ hạn như trog Dự thảo BLDS (sửa đổi) là không chính xác. Mặt khác, nếu quy định như thế chúng ta sẽ thấy cùng một vấn đề nhưng đã có sự thiếu thống nhất khi sử dụng từ ngữ trong hoạt động lập pháp. Khoản 3 Điều 457 Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định: “Không được yêu cầu bên vay trả lại tài sản trước thời hạn, trừ trường hợp quy định tại Điều 462 của Bộ luật này”, trong khi đó, khoản 1 Điều 462 Dự thảo BLDS (sửa đổi) lại quy định: “… bên vay chỉ được đòi lại tài sản trước kỳ hạn, nếu được bên vay đồng ý”.

3. Về Điều 463- Chơi hụi, họ, biêu phường

Điều 463 Dự thảo BLDS (sửa đổi) quy định:

“1- Chơi hụi, họ, biêu, phường (sau đây gọi chung là chơi hụi) là một hình thức giao dịch về tài sản theo tập quán trên cơ sở thỏa thuận của một nhóm người tập hợp nhau lại cùng định ra số người chơi hụi, thời gian chơi hụi, số tiền chơi hụi, định kỳ lĩnh hụi, thể thức lĩnh hụi và quyền, nghĩa vụ của chủ hụi và các hụi viên trong dây hụi.

2- Việc chơi hụi nhằm mục đích tương trợ trong nhân dân theo quy định của pháp luật và được Nhà nước bảo hộ.

3- Nghiêm cấm việc tổ chức chơi hụi dưới hình thức cho vay nặng lãi nhằm mục đích thu lợi bất chính”.

Trong quá trình xây dựng Bộ luật Dân sự (sửa đổi), lần đầu tiên ở nước ta, Ban soạn thảo đã đưa những quy định về hụi, họ vào trong một Dự thảo luật. Tuy nhiên, vấn đề có công nhận việc chơi hụi, họ là một giao dịch hợp pháp không? Hụi, họ thực chất có phải là hợp đồng vay tài sản có tính chất dân sự thông thường không? Và có nên quy định về hụi, họ trong Bộ luật Dân sự (sửa đổi) không?… đang là những vấn đề còn có nhiều ý kiến tranh luận khác nhau làm nhức đầu Ban soạn thảo. Chính vì vậy, trong kế hoạch lấy ý kiến nhân dân, các ngành, các cấp về Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi), vấn đề hụi họ đã được đưa ra để lấy ý kiến. Về vấn đề này tôi có một số quan điểm như sau:

Thứ nhất, về việc có công nhận chơi hụi, họ là một giao dịch hợp pháp không? Có ý kiến cho rằng việc chơi hụi, họ là một tệ nạn xã hội, làm tan nát biết bao gia đình và do đó cần phải bị nghiêm cấm. Như chúng ta đã biết, việc chơi hụi vốn là một tập quán có mục đích tốt đẹp thể hiện tình đoàn kết, tương thân, tương ái trong nhân dân, tuy nhiên theo đà phát triển của xã hội nó đã bị một số kẻ lợi dụng để lừa đảo chiếm đoạt tài sản làm cho tập quán nay bị biến dạng đi theo chiều hướng xấu. Nếu chúng ta đặt vấn đề nghiêm cấm việc chơi hụi tôi e rằng là sẽ khó thực hiện được vì đây là một tập quán, mà đã là tập quán thì nó thường bám rễ sâu trong đời sống cộng đồng khó mà thay đổi.

Ở nước ta, vào cuối những năm 80 đầu thập niên 90 của thế kỷ XX, trước tình hình các dây hụi được lập ra sau đó bị bể, vỡ hàng loạt gây ảnh hưởng xấu đến ổn định kinh tế và trật tự xã hội. Ngày 10/8/1990, Văn Phòng Hội đồng Bộ trưởng đã ra Thông báo số 2590/PPCT về ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng về chống tệ nạn xã hội “vỡ hụi”. Tuy nhiên, việc chơi hụi vẫn không giảm, mà còn có chiều hướng gia tăng, số lượng các tranh chấp về nợ hụi khởi kiện tại toà án ngày một nhiều, trong khi đó pháp luật lại chưa có quy định điều chỉnh cụ thể vấn đề này. Chính vì vậy, ngày 8/8/1992, Toà án nhân dân tối cao, Viện kiểm sát nhân tối cao đã ra Thông tư liên ngành số 04/TTLN hướng dẫn toàn ngành thống nhất đường lối giải quyết tranh chấp về nợ hụi. Theo Thông tư số 04/TTLN, thì các tranh chấp về hụi, họ phải được thụ lý và giải quyết như là một loại tranh chấp về vay nợ, khi phát hiện có dấu hiệu tội phạm thì phải chuyển sang xử lý bằng hình sự. Tuy nhiên, sau khi BLDS 1995 được ban hành, Thông tư này đã bị huỷ bỏ theo Nghị quyết về việc thi hành BLDS của Quốc hội. Trong khi đó, BLDS 1995 lại không có quy định nào điều chỉnh về vấn đề này, nên khi có tranh chấp Toà án đã không có căn cứ pháp luật để giải quyết. Trước tình hình đó, Toà án nhân dân tối cao ra công văn hướng dẫn các Toà án địa phương ngừng thụ lý việc giải quyết tranh chấp hụi phát sinh từ sau ngày 1/7/1996 – thời điểm BLDS 1995 có hiệu lực, nếu đã thụ lý, chưa giải quyết xong thì ra quyết định tạm đình chỉ. Việc thiếu vắng sự điều chỉnh của pháp luật đối với loại quan hệ này dẫn đến nhiều khi các bên tự giải quyết tranh chấp với nhau bằng “luật rừng”, gây mất ổn định xã hội.

Thông báo số 2590/PPCT của Văn Phòng Hội đồng Bộ trưởng về ý kiến chỉ đạo của Thường vụ Hội đồng Bộ trưởng về chống tệ nạn xã hội “vỡ hụi” mặc dù không phải là văn bản có tính quy phạm bắt buộc, nhưng nó đã thể hiện quan điểm của nhà nước ta là nghiêm cấm việc chơi hụi, vì là không công nhận giao dịch này, nên ở thời điểm này, khi các bên có tranh chấp về hụi, họ mà khởi kiện ra toà án sẽ không được toà án thụ lý giải quyết để bảo vệ quyền lợi của các bên. Mặc dù vậy, không vì thế mà việc chơi hụi chấm dứt. Hiện nay, tuy việc chơi hụi không rộ lên như đã từng rộ lên một thời ở nước ta, nhưng ở đâu đó vẫn có một số nhóm người tham gia, nhất là ở những khu chợ bất chấp nó có được pháp luật công nhận hay không. Khi nói đến hụi, người ta vẫn thường nghĩ đến sự lừa đảo, lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản với những vụ giựt hụi hàng tỉ đồng gây tác hại đến nhiều gia đình, gây rối loạn trật tự xã hội. Nhưng thực tế, lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản chỉ là hiện tượng bất thường, có rất nhiều dây hụi vẫn an toàn vì sự tin cậy lẫn nhau và hụi vẫn có nhiều mặt tích cực, dựa vào các ưu điểm sau đây:

– Thủ tục đơn giản, sự góp vốn dễ dàng, vừa túi tiền nên hụi có thể chơi ở bất kỳ đâu, bất cứ lúc nào nhất là ở khu vực chợ, thương mại có thu nhập đều đặn hàng ngày;

– Nhiều người góp vốn cho một người vay mà không cần cầm cố, thế chấp, bảo lãnh;

– Phương thức ưu tiên vay vốn theo thời gian rất minh bạch, công khai bằng cách đấu giá lãi suất (bỏ hụi);

– Người không cần vốn ngay được đền bù bằng cách hưởng lãi suất theo thời gian giống như gửi tiền tiết kiệm.

Từ những phân tích trên, tôi cho rằng chúng ta không nên nghiêm cấm hẳn việc chơi hụi.

Đã đến lúc chúng ta pháp điển hoá tập quán này thành quy phạm pháp pháp luật, để hạn chế những yếu tố tiêu cực như cho vay nặng lãi, lừa đảo hay lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản, phát huy những mặt tích cực của hụi, họ để nó thực sự là một hình thức gây vốn hiệu quả mang tính chất tương trợ, không nhằm mục đích kinh doanh, vụ lợi.

Thứ hai, khi đã công nhận hụi là một giao dịch hợp pháp rồi thì nên quy định nó ở đâu?

Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) theo phương án quy định về hụi, họ thực chất là hợp đồng vay tài sản dân sự thuần tuý, mang tính chất tương thân tương ái, không kinh doanh và trục lợi. Có lập luận cho rằng, việc chơi hụi không phải đơn thuần là “cho vay tài sản”. Nếu theo định nghĩa, thông thường muốn vay mượn phải có người đi vay và kẻ cho vay.

Ở đây là một người đi vay nhiều người và tiền vay là hình thức góp vốn; thay vì kẻ cho vay xác định lãi suất (cao, cắt cổ) mà người đi vay phải cam chịu, thì khi chơi hụi, lãi suất là do người đi vay tự nguyện đề nghị. Mặt khác, trong chơi hụi, có một người- chủ hụi đứng ra làm trung gian tài chính làm đầu mối huy động vốn và hưởng lợi nhuận, vì vậy việc chơi hụi thực chất là một quan hệ tín dụng- tín dụng dân gian. Do đó những người theo quan điểm này cho rằng, hụi, họ cần để cho các văn bản pháp luật chuyên ngành tài chính-ngân hàng quy định. Chúng tôi cho rằng, việc tranh luận hụi, họ là quan hệ dân sự hay tín dụng thật khó mà đến hồi ngã ngũ. Nhưng có một điều không thể phủ nhận là nếu bỏ qua tiêu chí là dân sự hay tín dụng (cả hai đều thuộc lĩnh vực tư) đi, thì việc chơi hụi rất giống với quan hệ vay mượn. Trong khi đó, quan điểm chỉ đạo của việc sửa đổi Bộ luật Dân sự lần này là xây dựng theo hướng là Bộ luật chung điều chỉnh các quan hệ trong lĩnh vực tư trên cơ sở bình đẳng, tự nguyện, tự thoả thuận và tự chịu trách nhiệm của các bên. Vì vậy mà việc quy định về hụi, họ trong một điều luật mang tính nguyên tắc để nó trở thành luật nền như trong Dự thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) là hoàn toàn hợp lý. Mặt khác, theo như đánh giá của Ban soạn thảo Bộ luật Dân sự (sửa đổi) trong Tờ trình Chính phủ về Dự thảo Bộ luật này, thì BLDS được coi như là cẩm nang của mỗi người dân, mỗi gia đình trong các giao lưu dân sự; nên quy định hụi, họ trong BLDS sẽ được người dân biết đến nhiều hơn và tuân thủ nó khi tham gia chơi hụi.

(Chuyên trang Tư vấn Luật – thủ tục hành chính cho toàn dân chúng tôi – thuộc Luật Bắc Việt

#1 Quy Định Về Hợp Đồng Vay Tín Chấp Theo Pháp Luật Dân Sự

Hợp đồng vay tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội.

Nội dung hợp đồng vay tín chấp phải bao gồm: số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp.

Trong nền kinh tế của mỗi quốc gia hiện nay, hoạt động bảo đảm thực hiện nghĩa vụ có vai trò đặc biệt quan trọng, là công cụ để bảo đảm quyền lợi cho chủ thể quyền trong quan hệ. Bên cạnh mục tiêu chung là hướng tới lợi ích của các chủ thể trong xã hội, thì ngoài ra biện pháp bảo đảm còn được quy định nhằm giúp đỡ những cá nhân, hộ gia đình có hoàn cảnh kinh tế khó khăn. Đó cũng là nguyên nhân mà biện pháp bảo đảm tín chấp ra đời và được kế thừa đến Bộ luật Dân sự 2024. Vậy vay tín chấp là gì? Hợp đồng vay tín chấp được pháp luật quy định như thế nào? Bài viết sau đây của sẽ trình bày cụ thể về hợp đồng vay tín chấp.

Căn cứ pháp lý Vay tín chấp là gì?

Tín chấp là một hình thức bảo đảm thực hiện nghĩa vụ, trong đó có tổ chức chính trị – xã hội cơ sở cam kết với các tổ chức tín dụng bằng uy tín của mình nhằm bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay một khoản tiền tại các tổ chức tín dụng để tổ chức, kinh doanh, làm dịch vụ theo quy định của pháp luật.

Nhìn nhận tín chấp dưới các góc độ khác nhau, có thể thấy:

Dưới góc độ khách quan: Tín chấp là tập hợp các quy định của pháp luật quy định về hình thức tín chấp, gồm các nội dung như: chủ thể bảo đảm tín chấp, chủ thể được vay tín chấp, mục đích vay tín chấp,…

Dưới góc độ chủ quan: Tín chấp là một giao dịch bảo đảm, cụ thể là hợp đồng tín chấp, được hình thành trên cơ sở thỏa thuận giữa các bên. Với tính chất là một giao dịch bảo đảm, giao dịch thế chấp phải tuân thủ các quy định của pháp luật được áp dụng chung cho các giao dịch.

Chủ thể của hợp đồng tín chấp Bên được bảo đảm

Chủ thể được vay tín chấp bao gồm cá nhân, hộ gia đình nghèo. Hiện nay, việc xác định chuẩn nghèo được căn cứ theo Quyết định số 59/2024/QĐ-TTg của Thủ tướng Chính phủ ngày 19 tháng 11 năm 2024 về việc ban hành chuẩn nghèo tiếp cận đa chiều áp dụng cho giai đoạn 2024 – 2024. Trên thực tế, để xác định các hộ gia đình nghèo thì căn cứ vào danh sách được lập trên địa bàn các xã, phường. Những hộ gia đình được cấp giấy chứng nhận hộ nghèo để được hưởng các chính sách ưu đãi của nhà nước.

Sở dĩ, chỉ cá nhân, hộ gia đình nghèo mới được vay tín chấp bởi lẽ biện pháp tín chấp không đòi hỏi cá nhân, hộ gia đình phải dùng lợi ích vật chất để bảo đảm, phù hợp với điều kiện kinh tế của cá nhân, hộ gia đình nghèo. Hơn nữa, vay tín chấp tại các Ngân hàng chính sách xã hội là chủ trương, đường lối, chính sách của Đảng và nhà nước nhằm thực hiện công cuộc xóa đói, giảm nghèo cho nhân dân.

Tuy nhiên, không phải cá nhân, hộ gia đình nghèo nào cũng được vay tín chấp mà theo quy định tại khoản 2 Điều 49 Nghị định 163/2006/NĐ-CP của Chính phủ ngày 29 tháng 12 năm 2006 quy định về giao dịch bảo đảm thì cá nhân, hộ gia đình nghèo phải thỏa mãn những điều kiện nhất định, cụ thể:

Cá nhân, hộ gia đình nghèo được bảo đảm bằng tín chấp phải là thành viên của một trong các tổ chức chính trị – xã hội quy định tại Điều 50 Nghị định này.

Quy định này xuất phát từ việc tổ chức chính trị – xã hội là bên đứng ra bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo nên họ phải nắm rõ tình hình kinh tế, giáo dục, y tế,… của người vay. Do đó, cá nhân, hộ gia đình nghèo phải là thành viên của những tổ chức này.

Đối với việc bảo đảm bằng tín chấp, bên bảo đảm là các tổ chức chính trị – xã hội cơ sở. Theo quy định tại Điều 50 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì:

Đơn vị tại cơ sở của các tổ chức chính trị – xã hội sau đây là bên bảo đảm bằng tín chấp:

1. Hội Nông dân Việt Nam;

2. Hội Liên hiệp Phụ nữ Việt Nam;

3. Tổng Liên đoàn Lao động Việt Nam;

4. Đoàn Thanh niên Cộng sản Hồ Chí Minh;

5. Hội Cựu chiến binh Việt Nam;

6. Mặt trận Tổ quốc Việt Nam.

Các tổ chức – chính trị trên được quy định là bên đảm bảo bởi:

Mặc dù mỗi một tổ chức, chính trị – xã hội có mục đích hoạt động khác nhau, tuy nhiên, các tổ chức chính trị – xã hội đều có mục đích chung là hướng tới lợi ích của cộng đồng, giải quyết các vấn đề trong xã hội nhằm nâng cao bảo vệ quyền lợi cho các thành viên của hội. Biện pháp tín chấp với tư cách là biện pháp bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo thì việc các tổ chức chính trị – xã hội đứng ra bảo đảm hoàn toàn phù hợp với phương châm và mục đích của hội.

Đối tượng của biện pháp tín chấp là uy tín mà không phải là lợi ích vật chất, do đó cần thiết phải lựa chọn các chủ thể có uy tín cao và có uy tín với nhiều người. Các tổ chức chính trị – xã hội là những chủ thể có truyền thống thành lập và hoạt động từ lâu đời, hướng tới lợi ích chung của cộng đồng nên đây là những chủ thể tạo được niềm tin lớn từ quần chúng nhân dân và các chủ thể khác trong xã hội.

Thành viên của tổ chức chính trị – xã hội là cá nhân, hộ gia đình nghèo được vay tín chấp thì chính tổ chức chính trị – xã hội là chủ thể bảo đảm nên việc lựa chọn bên bảo đảm là các tổ chức chính trị – xã hội tạo điều kiện thuận lợi trong vấn đề nắm bắt tình hình kinh tế của cá nhân, hộ gia đình; đồng thời, trong quá trình sử dụng tiền vay và trong vấn đề trả nợ, tổ chức chính trị – xã hội ở cơ sở có thể kiểm soát và giám sát

Bên nhận bảo đảm

Bên nhận bảo đảm trong biện pháp tín chấp đồng thời là bên cho vay trong hợp đồng vay là các tổ chức tín dụng. Khoản 1 Điều 4 Luật Các tổ chức tín dụng 2010 quy định:

Tổ chức tín dụng là doanh nghiệp thực hiện một, một số hoặc tất cả các hoạt động ngân hàng. Tổ chức tín dụng bao gồm ngân hàng, tổ chức tín dụng phi ngân hàng, tổ chức tài chính vi mô và quỹ tín dụng nhân dân.

Như vậy, các tổ chức tín dụng bao gồm:

Thứ nhất, ngân hàng

Ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng có thể được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng. Theo tính chất và mục tiêu hoạt động, các loại hình ngân hàng bao gồm ngân hàng thương mại, ngân hàng chính sách, ngân hàng hợp tác xã.

Ngân hàng thương mại là loại hình ngân hàng được thực hiện tất cả các hoạt động ngân hàng và các hoạt động kinh doanh khác theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu lợi nhuận.

Ngân hàng hợp tác xã là ngân hàng của tất cả các quỹ tín dụng nhân dân do các quỹ tín dụng nhân dân và một số pháp nhân góp vốn thành lập theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng nhằm mục tiêu chủ yếu là liên kết hệ thống, hỗ trợ tài chính, điều hòa vốn trong hệ thống các quỹ tín dụng nhân dân.

Ngân hàng chính sách là ngân hàng được thành lập để thực hiện chính sách tín dụng ưu đãi đối với người nghèo và các đối tượng chính sách khác.

Thứ hai, tổ chức tín dụng phi ngân hàng

Tổ chức tín dụng phi ngân hàng là loại hình tổ chức tín dụng được thực hiện một hoặc một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật này, trừ các hoạt động nhận tiền gửi của cá nhân và cung ứng các dịch vụ thanh toán qua tài khoản của khách hàng. Tổ chức tín dụng phi ngân hàng bao gồm công ty tài chính, công ty cho thuê tài chính và các tổ chức tín dụng phi ngân hàng khác.

Công ty cho thuê tài chính là loại hình công ty tài chính có hoạt động chính là cho thuê tài chính theo quy định của Luật này.

Thứ ba, tổ chức tài chính vi mô

Tổ chức tài chính vi mô là loại hình tổ chức tín dụng chủ yếu thực hiện một số hoạt động ngân hàng nhằm đáp ứng nhu cầu của các cá nhân, hộ gia đình có thu nhập thấp và doanh nghiệp siêu nhỏ.

Thứ tư, quỹ tín dụng nhân dân

Quỹ tín dụng nhân dân là tổ chức tín dụng do các pháp nhân, cá nhân và hộ gia đình tự nguyện thành lập dưới hình thức hợp tác xã để thực hiện một số hoạt động ngân hàng theo quy định của Luật Các tổ chức tín dụng và Luật hợp tác xã nhằm mục tiêu chủ yếu là tương trợ nhau phát triển sản xuất, kinh doanh và đời sống.

Đối tượng của hợp đồng tín chấp

Khác với các biện pháp bảo đảm khác, tín chấp là biện pháp duy nhất trong các biện pháp bảo đảm đang được ghi nhận trong Bộ luật Dân sự 2024 có đối tượng không phải là lợi ích vật chất. Đối tượng của biện pháp tín chấp là uy tín, cụ thể là uy tín của các tổ chức chính trị – xã hội.

Theo từ điển Tiếng Việt, uy tín là sự tín nhiệm và mến phục được mọi người công nhận. Uy tín gắn liền với một lĩnh vực hoạt động, diễn ra trong không gian, thời gian xác định. Uy tín là giá trị nhân thân của cá nhân hay tổ chức. Uy tín của các chủ thể được pháp luật ghi nhận và bảo vệ trong các văn bản khác nhau.

Sở dĩ, uy tín có thể trở thành một đối tượng của biện pháp bảo đảm bởi:

Mặc dù uy tín không phải là lợi ích vật chất nhưng việc bảo đảm bằng uy tín được thừa nhận từ lâu đời trong cả đời sống xã hội và trong các văn bản pháp lý.

Uy tín của chủ thể là yếu tố quan trọng trong việc xác định giá trị của con người cũng như của tổ chức. Thực tế cho thấy, rất nhiều các chủ thể coi trọng uy tín hơn tiền bạc, đặc biệt là đối với các chủ thể làm ăn, kinh doanh thì chữ tín được đặt hàng đầu. Đặc biệt hơn nữa, uy tín là một trong số ít các giá trị nhân thân được pháp luật thừa nhận bảo vệ ngay cả sau khi cá nhân chết.

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể trong hợp đồng tín chấp Quyền và nghĩa vụ của bên được bảo đảm Quyền của bên được bảo đảm

Bên được bảo đảm có quyền lựa chọn biện pháp bảo đảm bằng tín chấp để có điều kiện thuận lợi phục vụ đời sống, sản xuất, kinh doanh… của mình.

Nghĩa vụ của bên được bảo đảm

Thứ nhất, sử dụng vốn vay đúng mục đích đã cam kết

Với mục tiêu xóa đói, giảm nghèo nhằm cải thiện chất lượng đời sống cho cá nhân, hộ gia đình thì những chủ thể này khi vay vốn phải sử dụng vốn theo đúng mục đích đã cam kết nhằm đạt được mục tiêu đề ra. Hơn nữa, việc cá nhân, hộ gia đình nghèo sử dụng vốn vay đúng mục đích nhằm mang lại hiệu quả cao nhất trong việc khai thác vốn vay, qua đó bảo đảm cho việc trả nợ của cá nhân, hộ gia đình nghèo với các tổ chức tín dụng.

Thứ hai, tạo điều kiện thuận lợi cho tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội kiểm tra việc sử dụng vốn vay

Bên vay tín chấp phải tạo điều kiện thuận lợi cho bên bảo đảm và bên nhận bảo đảm kiểm tra việc sử dụng vốn vay để tránh việc lãng phí, thất thoát vốn vay do những chủ thể này sử dụng không đúng mục đích vay. Các hành vi gây khó khăn, tạo minh chứng giả trong việc sử dụng vốn vay nhằm đánh lừa tổ chức tín dụng và tổ chức chính trị – xã hội được xem là hành vi vi phạm nghĩa vụ của bên vay và phải chịu trách nhiệm dân sự theo thỏa thuận của các bên hoặc theo quy định của pháp luật.

Thứ ba, trả nợ đầy đủ gốc và lãi vay đúng hạn cho tổ chức tín dụng

Hợp đồng vay là hợp đồng chuyển quyền sở hữu tài sản, theo đó bên vay được quyền sử dụng, định đoạt tài sản vay; khi đến hạn trả nợ, bên vay có trách nhiệm trả đầy đủ cả gốc và lãi cho bên cho vay.

Với tính chất là một chính sách xã hội, việc cho vay tiền có bảo đảm bằng tín chấp bao gồm cả thỏa thuận về lãi. Thông thường, mức lãi suất vay được ấn định trong các văn bản pháp luật, đây là những mức lãi suất ưu đãi, rất thấp so với lãi suất vay trên thị trường.

Trong trường hợp khi đến hạn trả nợ mà cá nhân, hộ gia đình nghèo không trả thì họ còn phải chịu thêm khoản tiền lãi quá hạn đối với số tiền gốc chưa trả theo quy định của Bộ luật Dân sự 2024.

Quyền và nghĩa vụ của bên bảo đảm Quyền của bên bảo đảm

Điều 52 Nghị định 163/2006/NĐ-CP quy định:

Tổ chức chính trị – xã hội có quyền từ chối bảo đảm bằng tín chấp, nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho tổ chức tín dụng.

Các tổ chức chính trị – xã hội có quyền đồng ý hoặc từ chối bảo đảm cho khoản vay của cá nhân, hộ gia đình nghèo trước tổ chức tín dụng. Nếu xét thấy cá nhân, hộ gia đình nghèo không có khả năng sử dụng vốn vay để sản xuất, kinh doanh, làm dịch vụ và trả nợ cho các tổ chức tín dụng thì các tổ chức chính trị – xã hội được từ chối bảo đảm. Nhằm đảm bảo sự khách quan trong việc từ chối bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn thì các tổ chức chính trị – xã hội phải chứng minh được lý do từ chối của mình.

Nghĩa vụ của bên bảo đảm

Theo quy định tại Điều 51 Nghị định 163/2006/NĐ-CP thì tổ chức chính trị – xã hội đứng ra bảo đảm cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp có các nghĩa vụ sau đây:

Thứ nhất, xác nhận theo yêu cầu của tổ chức tín dụng về điều kiện, hoàn cảnh của cá nhân, hộ gia đình nghèo khi vay vốn tại tổ chức tín dụng đó.

Thứ hai, chủ động hoặc phối hợp chặt chẽ với tổ chức tín dụng giúp đỡ, hướng dẫn, tạo điều kiện cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn; giám sát việc sử dụng vốn vay đúng mục đích, có hiệu quả; đôn đốc trả nợ đầy đủ, đúng hạn cho tổ chức tín dụng.

Quyền và nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm Quyền của bên nhận bảo đảm

Theo quy định tại Điều 54 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, tổ chức tín dụng có quyền “yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp phối hợp trong việc kiểm tra sử dụng vốn vay và đôn đốc trả nợ”.

Tổ chức chính trị – xã hội cơ sở là chủ thể đặt trên địa bàn có cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn nên đây là tổ chức có điều kiện thuận lợi trong việc kiểm tra, giám sát bên vay trong quá trình sử dụng vốn vay. Do đó, tổ chức tín dụng được quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội phải thực hiện nghĩa vụ này. Khi đến hạn trả nợ, tổ chức tín dụng được quyền yêu cầu tổ chức chính trị – xã hội đôn đốc cá nhân, hộ gia đình nghèo thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo đúng cam kết với tổ chức tín dụng đã cho vay.

Nghĩa vụ của bên nhận bảo đảm

Theo quy định tại Điều 53 Nghị định 163/2006/NĐ-CP, tổ chức tín dụng có nghĩa vụ phối hợp với tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp trong việc cho vay và thu hồi nợ.

Hình thức và nội dung của hợp đồng tín chấp Hình thức của hợp đồng tín chấp

Việc cho vay có bảo đảm bằng tín chấp phải được lập thành văn bản có xác nhận của tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp về điều kiện, hoàn cảnh của bên vay vốn. Lý giải quy định này, có quan điểm cho rằng bởi biện pháp tín chấp được quy định trong hợp đồng vay tài sản, do đó thỏa thuận vay tài sản được lập thành văn bản thì tín chấp đương nhiên phải được lập thành văn bản.

Nội dung của hợp đồng tín chấp

Thỏa thuận bảo đảm bằng tín chấp phải cụ thể về số tiền, mục đích, thời hạn vay, lãi suất, quyền, nghĩa vụ và trách nhiệm của người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp. Cụ thể:

Số tiền vay: Số tiền vay được quy định cụ thể trong các văn bản pháp luật về việc cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay vốn và được áp dụng như nhau đối với các chủ thể này.

Mục đích vay tín chấp: Vay tín chấp luôn có quy định cụ thể về mục đích vay. Mục đích vay trong tín chấp thường hướng đến việc sản xuất, kinh doanh, trồng trọt, chăn nuôi,…

Thời hạn vay: Thời hạn vay được quy định cụ thể trong các văn bản pháp lý. Bên cạnh việc xác định thời hạn vay theo đơn vị thời gian, thời hạn vay còn được xác định theo một sự kiện nhất định ( Ví dụ: Cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp để đi xuất khẩu lao động thì thời hạn vay theo thời gian đi xuất khẩu lao động).

Lãi suất: Lãi suất được quy định cụ thể trong các văn bản quy định về chương trình cho cá nhân, hộ gia đình nghèo vay tín chấp. Có thể coi đây là một hình thức vay vốn lãi suất thấp bởi lãi suất trong vay tín chấp thường thấp hơn so với lãi suất thông thường.

Quyền và nghĩa vụ của các chủ thể: Bao gồm người vay, tổ chức tín dụng cho vay và tổ chức chính trị – xã hội bảo đảm bằng tín chấp.

Quy Định Về Hợp Đồng Vay Tiền Trong Bộ Luật Dân Sự Năm 2024

Khi gặp khó khăn trong việc vay vốn ngân hàng, doanh nghiệp thường đi vay tiền cá nhân hay doanh nghiệp khác, kéo theo nhiều rủi ro cho cả hai bên do không hiểu rõ quy định về hợp đồng vay tiền.

Vay và cho vay tiền là hoạt động phổ biến của doanh nghiệp, kể cả đối với doanh nghiệp không hoạt động cấp tín dụng (tính chất ngân hàng).

Căn cứ pháp lý của hợp đồng vay tài sản theo quy định của Bộ luật Dân sự năm 2024:

Hợp đồng vay tài sản: “Hợp đồng vay tài sản là sự thỏa thuận giữa các bên, theo đó bên cho vay giao tài sản cho bên vay; khi đến hạn trả, bên vay phải hoàn trả cho bên cho vay tài sản cùng loại theo đúng số lượng, chất lượng và chỉ phải trả lãi nếu có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.” ( Điều 463)

Trong phạm vi bài viết, chúng tôi tổng hợp một số điểm mới của Bộ luật Dân sự số 91/2024/QH13 có hiệu lực từ ngày 01/01/2024 (Bộ luật dân sự năm 2024), thay thế cho Bộ luật Dân sự số 33/2005/QH11 (Bộ luật dân sự năm 2005) về hợp đồng vay tiền . Các doanh nghiệp cần lưu ý, vận dụng linh hoạt các quy định này để đảm bảo phù hợp vơi mục tiêu kinh doanh, cũng như hạn chế pháp lý và thương mại không đáng có.

Một là, hợp đồng vay tiền không bắt buộc phải có điều khoản lãi suất .

Đây là vấn đề nhiều doanh nghiệp hiểu nhầm, rằng hợp đồng vay tiền bắt buộc phải có lãi suất. Điều đó dẫn đến tâm lý doanh nghiệp ngại vay tiền của đối tác hay bạn hàng. Tuy nhiên, việc có lãi vay hay không là phụ thuộc vào thỏa thuận của các bên khi vay tiền, nên doanh nghiệp hoàn toàn có thể ký hợp đồng vay không lãi suất.

Hai là, thỏa thuận mức lãi vay trong giới hạn.

Nếu các bên có thỏa thuận về mức lãi vay thì mức lãi này bị giới hạn. Doanh nghiệp lưu ý giới hạn lãi suất vay có sự thay đổi trong quy định của pháp luật.Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, lãi suất vay do các bên thoả thuận, nhưng không được vượt quá 150% của lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố đối với loại cho vay tương ứng. Việc xác định lãi suất trần khá phức tạp đối với doanh nghiệp, dẫn đến các bên thường thỏa thuận lãi suất quá cao hoặc quá thấp.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2024, trường hợp các bên có thỏa thuận về lãi suất thì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Có thể thấy, mức lãi tăng lên nhiều so với quy định cũ; thế nên phụ thuộc vào khả năng tài chính và mức độ tin tưởng giữa các bên, doanh nghiệp cần cân nhắc kỹ về mức lãi suất vay trong hợp đồng chúng tôi định mới cũng bổ sung chế tài trong trường hợp lãi suất thỏa thuận vượt quá 20%/năm, thì mức lãi này không có hiệu lực, và các bên sẽ áp dụng mức lãi trong mức giới hạn của luật định.

Khoản 5 Điều 466 Bộ luật Dân sự năm 2024 quy định nghĩa vụ trả nợ của bên vay như sau: “5- Trường hợp vay có lãi mà khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi như sau: a) Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả; trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật này; b) Lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả, trừ trường hợp có thỏa thuận khác.”

Khi doanh nghiệp cho vay không có lãi, chủ yếu là sự hỗ trợ, giúp đỡ của bên cho vay với bên vay, nên rất hiếm trường hợp các bên thỏa thuận về việc trả lãi đối với khoản nợ chậm trả khi đến hạn. Tuy nhiên, các bên cũng cần lưu ý kể cả khi không có thoả thuận, pháp luật vẫn có quy định đối với khoản tiền chậm thanh toán, trong trường hợp vay không có lãi.

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, nếu không có thỏa thuận thì bên vay không phải trả lãi cho khoản chậm trả. Theo Bộ luật Dân sự năm 2024, khi đến hạn bên vay không trả nợ hoặc trả không đầy đủ thì bên cho vay có quyền yêu cầu trả tiền lãi với mức lãi suất 10% (được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn).

Bốn là, việc áp dụng mức lãi chậm trả theo thỏa thuận.

Đối với trường hợp doanh nghiệp cho vay có lãi, quy định pháp luật thay đổi theo hướng có lợi hơn cho bên cho vay tiền, cụ thể như sau:

Theo Bộ luật Dân sự năm 2005, dù các bên có thỏa thuận về mức lãi chậm trả, thì vẫn áp dụng theo lãi suất cơ bản do Ngân hàng Nhà nước công bố tương ứng với thời hạn vay tại thời điểm trả nợ. Theo Bộ luật Dân sự năm 2024, khi đến hạn bên vay không trả hoặc trả không đầy đủ thì bên vay phải trả lãi theo lãi suất vay trong hợp đồng, mà không theo lãi suất cơ bản như Bộ luật Dân sự năm 2005: Lãi trên nợ gốc theo lãi suất thỏa thuận trong hợp đồng tương ứng với thời hạn vay mà đến hạn chưa trả, trường hợp chậm trả thì còn phải trả lãi theo mức lãi suất 10% (được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn).

Nếu không có thỏa thuận, lãi trên nợ gốc quá hạn chưa trả bằng 150% lãi suất vay theo hợp đồng tương ứng với thời gian chậm trả. Có thể thấy tiền lãi bên vay phải trả theo Bộ luật Dân sự năm 2024 lớn hơn so với quy định cũ do lãi suất các bên thỏa thuận thường cao hơn lãi suất cơ bản của Ngân hàng Nhà nước.

Năm là, một số quy định của Bộ luật Dân sự năm 2024 về hợp đồng vay tiền (vay tài sản) cần chú ý.

Bài viết được thực hiện bởi: Luật sư Nguyễn Duy Hội – Trưởng chi nhánh Hà Nội của Công ty Luật TNHH Everest

Khuyến nghị của Công ty Luật TNHH Everest:

Bài viết trong lĩnh vực pháp luật doanh nghiệp được luật sư, chuyên gia của Công ty Luật TNHH Everest thực hiện nhằm mục đích nghiên cứu khoa học hoặc phổ biến kiến thức pháp luật, hoàn toàn không nhằm mục đích thương mại.

Bài viết có sử dụng những kiến thức hoặc ý kiến của các chuyên gia được trích dẫn từ nguồn đáng tin cậy. Tại thời điểm trích dẫn những nội dung này, chúng tôi đồng ý với quan điểm của tác giả. Tuy nhiên, quý Vị chỉ nên coi đây là những thông tin tham khảo, bởi nó có thể chỉ là quan điểm cá nhân người viết.

Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Vay Tiền ?

Luật Minh Khuê tư vấn pháp luật Dân sự về hợp đồng vay tiền theo quy định của pháp luật Việt Nam hiện nay:

Thứ hai, về ý chí của chủ thể khi tham gia giao dịch dân sự là hoàn toàn tự nguyện, không có sự ép buộc, đe dọa phải thực hiện giao kết hợp đồng vay tiền.

Đối với hợp đồng vay tiền nói riêng, hợp đồng vay tài sản nói chung, về hình thức, các bên không buộc phải công chứng hay chứng thực. Hợp đồng vay tiền chỉ cần đáp ứng đủ ba điều kiện nêu trên là hợp pháp và có hiệu lực pháp luật. Nếu các bên có nhu cầu muốn công chứng hay chứng thực hoặc có người làm chứng cho hợp đồng thì có thể yêu cầu thực hiện. Tuy nhiên, về hiệu lực pháp luật giữa hợp đồng vay tiền có công chứng, chứng thực, có người làm chứng với hợp đồng vay tiền không có công chứng, không có chứng thực hay không có người làm chứng là như nhau, không hơn kém nhau về hiệu lực pháp lý. Việc công chứng, chứng thực hay có người làm chứng ghi lời chứng, ký chứng nhận vào hợp đồng chỉ giúp các bên trong hoạt động chứng minh trước tòa được đơn giản hơn.

Nếu các bên có nhu cầu công chứng hay chứng thực hợp đồng vay tiền, các bên có thể công chứng tại văn phòng công chứng hoặc phòng công chứng nơi gần nhất để thuận tiện. Cơ quan có thẩm quyền chứng thực hiện nay là Ủy ban nhân dân cấp xã (xã, phường, thị trấn) hoặc ủy ban nhân dân cấp huyện (quận, huyện, thị xã).

Giao dịch dân sự không có một trong các điều kiện được quy định tại Điều 117 của Bộ luật này thì vô hiệu, trừ trường hợp Bộ luật này có quy định khác.”

Tại thời điểm giao kết hợp đồng, quý khách đã bị ép buộc giao kết, ý chí của quý khách không hoàn toàn tự nguyện nên quý khách có thể yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng bảo hiểm nêu trên vô hiệu và phải đảm bảo về thời hiệu yêu cầu Tòa án tuyên bố hợp đồng vô hiệu tại Điều 132 Bộ luật dân sự năm 2024.

Pháp Luật Quy Định Như Thế Nào Về Tội Cho Vay Nặng Lãi Trong Giao Dịch Dân Sự

Với một xã hội đang phát triển, đời sống người dân càng nâng cao thì nhu cầu về tiền bạc dĩ nhiên theo cấp số nhân mà tăng mạnh. Đánh vào tâm lý đó nhiều tổ chức cho vay nặng lãi ra đời với các lời giới thiệu tương đối hấp dẫn từ thủ tục đơn giản nhận tiền nhanh chóng nhưng kéo sau đó là người vay có nguy cơ bị mất nhà mất tài sản vì không có khả năng thanh toán nợ. Vậy, pháp luật quy định như thế nào về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự?

Thủ đoạn hoạt động chủ yếu của các đối tượng cho vay nặng lãi là: lợi dụng sự thiếu hiểu biết, khó khăn về kinh tế của một bộ phận người dân, những đối tượng cho vay nặng lãi đã tổ chức phát, dán tờ rơi ở các khu dân cư, các chợ, ngã tư cột đèn… với những nội dung rất hấp dẫn như: “Cho vay không cần thế chấp, nhận tiền ngay trong ngày” hoặc chỉ cần “A lô là có tiền” kèm theo số điện thoại liên lạc nhằm lừa người dân vay tiền với các thủ tục rất đơn giản, nhanh gọn, có tiền ngay… Nhưng thực chất đó là cái “bẫy” vay tiền với lãi suất cao. Đối tượng vay thường là những người có kinh tế khó khăn, trình độ thấp, thiếu hiểu biết hoặc là những con bạc, đôi khi là những người có khó khăn đột xuất…

Cách cho vay của bọn chúng có thể là vay trực tiếp nhưng cũng có thể đội lốt dưới vỏ bọc là những tiệm Cầm đồ, Công ty tài chính… cách đòi nợ là gây áp lực đòi trực tiếp, đôi khi lại đội lốt dưới vỏ bọc là những công ty đòi nợ thuê.

Việc cho vay tiền của bọn chúng không chỉ là cho vay tiền mặt mà còn có thể được ngụy trang dưới nhiều hình thức khác như cầm cố thế chấp tài sản, thế chấp nhà, mua hàng trả góp có giá trị lớn sau đó về bán lại cho bọn chúng…

Để trốn tránh việc xử lý của pháp luật, thường bọn chúng yêu cầu người vay ghi giấy nợ, giấy thế chấp tài sản… với lãi suất thấp đúng bằng với quy định của nhà nước nhưng trên thực tế, người vay phải trả lãi suất rất cao có khi lên tới 40%/tháng.

Ví dụ: Khi người vay cần vay 20 triệu đồng nhưng trên thực tế chỉ nhận được 16 triệu, còn 04 triệu bọn chúng trừ vào tiền “hoa hồng” và góp luôn kỳ thứ nhất. Sau đó cứ 05 ngày thì phải góp 2,8 triệu và trả góp thêm 09 kỳ nữa. Như vậy người vay được 16 triệu, sau hai tháng đã trả góp cho bọn chúng 29,2 triệu, đúng là một lãi suất “cắt cổ”.

Các khoản vay “tín dụng đen” sẽ tăng theo cấp độ “lãi mẹ đẻ lãi con”, sau một thời gian con nợ sẽ khó có khả năng thanh toán. Nếu đến hạn mà người vay không trả tiền thì bọn chúng sẽ kéo đồng bọn đến nhà để đe dọa, thậm chí đánh đập gây thương tích; thường xuyên cho người gọi điện thoại hoặc trực tiếp đến nhà chửi bới, đe dọa, tạt sơn hoặc các chất dơ bẩn vào cổng, cửa, đánh đập, khủng bố tinh thần, đập phá tài sản, bắt giữ người trái pháp luật, cưỡng đoạt tài sản của nạn nhân. Nhiều trường hợp đã phải bán nhà để trả nợ hoặc bỏ trốn khỏi địa phương. Gây mất trật tự xã hội và bất an trong nhân dân.

Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2024 có quy định về lãi suất vay như sau:

”1. Lãi suất vay do các bên thỏa thuận.

Trường hợp lãi suất theo thỏa thuận vượt quá lãi suất giới hạn được quy định tại khoản này thì mức lãi suất vượt quá không có hiệu lực.”

Như vậy theo quy định của pháp luật thì lãi suất vay dù được các bên tự do thỏa thuận nhưng cũng không được vượt quá 20% khoản tiền vay.

Nếu mức lãi suất mà bên cho vay đưa ra vượt quá 20% lãi suất vay theo quy định của pháp luật thì được xem là trái pháp luật

Tiếp theo đó tại Điều 201 Bộ luật Hình sự 2024 quy định cụ thể về tội cho vay nặng lãi:

”1. Người nào trong giao dịch dân sự mà cho vay với lãi suất gấp 05 lần mức lãi suất cao nhất quy định trong Bộ luật dân sự, thu lợi bất chính từ 30.000.000 đồng đến dưới 100.000.000 đồng hoặc đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc đã bị kết án về tội này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 50.000.000 đồng đến 200.000.000 đồng hoặc phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm.

2. Phạm tội thu lợi bất chính từ 100.000.000 đồng trở lên, thì bị phạt tiền từ 200.000.000 đồng đến 1.000.000.000 đồng hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.

3. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, cấm đảm nhiệm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm.”

Theo đó khoản tiền thu lợi bất chính chính là số tiền lãi thu được sau khi trừ đi số tiền lãi tương ứng với mức lãi suất theo quy định của Bộ luật Dân sự.

Khoản tiền thu lợi bất chính để xác định trách nhiệm hình sự là tổng số tiền lãi mà người phạm tội thu được của tất cả những người vay, nếu hành vi cho vay lãi nặng được thực hiện một cách liên tục, kế tiếp nhau về mặt thời gian.

Mặc dù pháp luật Việt Nam đã có những quy định cụ thể về tội cho vay nặng lãi trong giao dịch dân sự tuy nhiên các tổ chức tín dụng đen này vẫn hoành hành và điều cần làm là người dân nên thật sự cảnh giác để tránh mắc bẫy dẫn đến hệ lụy không lường.

Cập nhật thông tin chi tiết về Những Quy Định Pháp Luật Về Hợp Đồng Vay Mà Các Bên Trong Giao Dịch Vay Dân Sự Cần Chú Ý trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!