Xu Hướng 12/2022 # Nội Dung Hợp Đồng Xây Dựng? Chấm Dứt Hợp Đồng Xây Dựng? / 2023 # Top 14 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Nội Dung Hợp Đồng Xây Dựng? Chấm Dứt Hợp Đồng Xây Dựng? / 2023 # Top 14 View

Bạn đang xem bài viết Nội Dung Hợp Đồng Xây Dựng? Chấm Dứt Hợp Đồng Xây Dựng? / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Nội dung của hợp đồng xây dựng? Các loại hợp đồng xây dựng theo quy định hiện nay? Các trường hợp tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng? Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng?

Trong quá trình phát triển của cơ sở hạ tầng thì xây dựng là một trong những nhân tố không thể thiếu, góp phần quan trọng trong sự thay đổi về cảnh quan, phát triển nền kinh tế đất nước. Hiện nay xây dựng đang là một trong những vấn đề, lĩnh vực được rất nhiều nhà đầu tư quan tâm. Việc xây dựng thường được dựa theo hợp đồng xây dựng, là văn bản thỏa thuận giữa các bên quy định trách nhiệm, nghĩa vụ để đảm bảo xây dựng công trình. Chính vì thế việc soạn thảo, kí kết và thực hiện hợp đồng rất quan trọng, đòi hỏi các bên nắm vững những quy định của pháp luật để bảo đảm quyền và lợi ích hợp pháp của mình. Hy vọng qua bài viết này, đội ngũ chuyên gia, luật sư của Luật Dương Gia sẽ giúp các bạn nắm rõ những vấn đề cần lưu ý khi soạn thảo, kí kết, thực hiện hợp đồng xây dựng theo các quy định mới nhất của pháp luật.

Hợp đồng xây dựng được quy định tại khoản 1 Điều 138 Luật xây dựng 2014 và khoản 1 Điều 2 Nghị định 37/2015/NĐ-CP là một loại hợp đồng dân sự xác lập thỏa thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện toàn bộ hay một phần công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Trong đó bên giao thầu là chủ đầu tư, tổng thầu, đại diện của chủ đầu tư hoặc nhà thầu chính của dự án đầu tư xây dựng. Bên nhận thầu được xác định phụ thuộc vào bên giao thầu: nếu bên giao thầu là chủ đầu tư thì bên nhận thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính và ngược lại nếu bên giao thầu là tổng thầu hoặc nhà thầu chính thì bên nhận thầu sẽ là nhà thầu phụ. Ngoài ra bên nhận thầu có thể là liên danh của các nhà thầu.

Hình thức của hợp đồng xây dựng: Hợp đồng xây dựng phải được lập thành văn bản, không thể áp dụng hình thức giáo kết bằng miệng cho hợp đồng xây dựng.

Ngôn ngữ được sử dụng trong hợp đồng phải là Tiếng Việt, nếu có bên nước ngoài tham gia thì ngôn ngữ trong hợp đồng do các bên thỏa thuận.

Dựa theo các tiêu chí khác nhau thì hợp động xây dựng được chia thành các loại khác nhau, cụ thể như sau:

– Căn cứ theo tiêu chí hình thức giá hợp đồng: hợp đồng trọn gói; h ợp đồng theo đơn giá điều chỉnh; hợp đồng theo đơn giá cố định; hợp đồng theo thời gian và hợp đồng theo giá kết hợp.

– Căn cứ mối quan hệ giữa các chủ thể tham gia hợp đồng: hợp đồng đấu thầu chính; hợp đồng đấu thầu phụ; hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài và hợp đồng giao khoán nội bộ.

Như vậy ta có thể thấy hợp đồng xây dựng bao gồm rất nhiều loại khác nhau, tùy từng trường hợp, tùy từng nhu cầu công việc mà các bên lựa chọn hình thức hợp đồng xây dựng phù hợp.

Một là, nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng:

Được quy định tại khoản 2 Điều 138 Luật xây dựng 2014 và Điều 4 Nghị định 37/2015/NĐ-CP, khi ký kết hợp đồng xây dựng, các bên phải đảm bảo bốn nguyên tắc sau đây:

– Hợp đồng được ký kết phải trên tinh thần tự nguyện, hợp tác, bình đẳng, nội dung của hợp đồng không trái pháp luật và đạo đức xã hội;

– Các bên phải bảo đảm có đủ vốn để thanh toán nghĩa vụ tài chính theo thỏa thuận của hợp đồng;

– Bên nhận thầu là liên danh nhà thầu thì phải có thỏa thuận liên danh;

– Nếu nhà thầu chính là nhà thầu nước ngoài thì phải có cam kết thuê thầu phụ trong nước.

Hai là, chữ ký của các bên trong hợp đồng xây dựng:

– Hai bên chủ thể tham gia hợp đồng xây dựng phải ký tên, đóng dấu doanh nghiệp vào hợp đồng xây dựng để đảm bảo tính pháp lý;

– Các thành viên trong liên danh phải ký tên, đóng dấu (nếu có) vào hợp đồng xây dựng nếu các bên có thỏa thuận khác;

– Nhà thầu chính, tổng thầu được ký hợp đồng với một hoặc một số nhà thầu phụ được chủ đầu tư chấp thuận. Nhưng các hợp đồng thầu phụ phải thống nhất, đồng bộ với hợp đồng thầu chính. Trong đó tổng thầu, nhà thầu chính phải chịu trách nhiệm với chủ đầu tư về tiến độ, chất lượng các công việc đã ký kết bao gồm cả các công việc do nhà thầu phụ thực hiện;

– Về giá ký kết hợp đồng xây dựng không được vượt giá trúng thầu hoặc kết quả đàm phán, thương thảo hợp đồng xây dựng, trừ trường hợp khối lượng phát sinh ngoài phạm vi công việc của gói thầu và đã được người có thẩm quyền quyết định đầu tư cho phép.

– Khi thực hiện hợp đồng xây dựng, các bên phải dựa theo các nguyên tắc được quy định tại khoản 3 Điều 138 Luât xây dựng 2014, bao gồm:

+ Việc thực hiện hợp đồng không được xâm phạm đến lợi ích của Nhà nước, cộng đồng, lợi ích hợp pháp của tổ chức, cá nhân khác;

+ Các bên hợp đồng phải thực hiện đúng các cam kết trong hợp đồng về: phạm vi công việc, yêu cầu số lượng, chất lượng, chủng loại, thời hạn, phương thức thực hiện, phương thức thanh toán và các thỏa thuận khác;

– Hiệu lực của hợp đồng:

Thời điểm hợp đồng xây dựng có hiệu lực là thời điểm các bên ký kết trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

Tuy nhiên để đảm bảo hiệu lực thì hợp đồng xây dựng phải thoả mãn các nguyên tắc sau:

+ Người ký kết hợp đồng phải có đủ năng lực hành vi dân sự và phải đúng thẩm quyền theo quy định của pháp luật;

+ Các nguyên tắc ký kết hợp đồng xây dựng phải được bảo đảm.

Xin chào công ty Luật dương gia, tôi là một đơn vị xây dựng nhỏ lẻ. Hiện giờ, tôi mới trúng thầu và được ký kết hợp đồng xây dựng với bên khách hàng. Như vậy, đơn vị tôi phải ghi những gì trong hợp đồng để bảo đảm quyền lợi của mình?

Theo quy định tại Luật xây dựng 2014 thì:

1. Hợp đồng xây dựng gồm các nội dung sau:

c) Nội dung và khối lượng công việc;

d) Chất lượng, yêu cầu kỹ thuật của công việc, nghiệm thu và bàn giao;

e) Giá hợp đồng, tạm ứng, đồng tiền sử dụng trong thanh toán và thanh toán hợp đồng xây dựng;

g) Bảo đảm thực hiện hợp đồng, bảo lãnh tạm ứng hợp đồng;

h) Điều chỉnh hợp đồng xây dựng;

i) Quyền và nghĩa vụ của các bên tham gia hợp đồng xây dựng;

l) Tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng;

m) Giải quyết tranh chấp hợp đồng xây dựng;

o) Quyết toán và thanh lý hợp đồng xây dựng;

2. Đối với hợp đồng tổng thầu xây dựng ngoài các nội dung quy định tại khoản 1 Điều này còn phải được bổ sung về nội dung và trách nhiệm quản lý của tổng thầu xây dựng.

3. Chính phủ quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng.

2. Các loại hợp đồng xây dựng theo quy định hiện nay

Luật sư cho tôi hỏi hiện nay trong lĩnh vực xây dựng, khi các bên giao kết với nhau thì có những loại hơp đồng xây dựng nào, tôi xin cảm ơn!

Khi đưa ra các loại hợp đồng xây dựng thì xem xét tính chất cũng như mục đích chính và ý chí giao kết của các bên, theo đó sẽ phân chia thành các loại hợp đồng xây dựng như sau:

Theo tính chất, nội dung công việc hợp đồng xây dựng có các loại sau:

a) Hợp đồng tư vấn xây dựng (viết tắt là hợp đồng tư vấn) là hợp đồng để thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động đầu tư xây dựng;

b) Hợp đồng thi công xây dựng công trình (viết tắt là hợp đồng thi công xây dựng) là hợp đồng để thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình; hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình là hợp đồng thi công xây dựng để thực hiện tất cả các công trình của một dự án đầu tư;

c) Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ (viết tắt là hợp đồng cung cấp thiết bị) là hợp đồng thực hiện việc cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng cung cấp thiết bị cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

d) Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering – Construction viết tắt là EC) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình là hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

đ) Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ (tiếng Anh là Engineering – Procurement viết tắt là EP) là hợp đồng để thực hiện việc thiết kế và cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ; hợp đồng tổng thầu thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

e) Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Procurement – Construction viết tắt là PC) là hợp đồng để thực hiện việc cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình là hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

g) Hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình (tiếng Anh là Engineering – Procurement – Construction viết tắt là EPC) là hợp đồng để thực hiện các công việc từ thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình; hợp đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

h) Hợp đồng chìa khóa trao tay là hợp đồng xây dựng để thực hiện toàn bộ các công việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình của một dự án đầu tư xây dựng;

i) Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công là hợp đồng xây dựng để cung cấp kỹ sư, công nhân (gọi chung là nhân lực), máy, thiết bị thi công và các phương tiện cần thiết khác để phục vụ cho việc thi công công trình, hạng mục công trình, gói thầu hoặc công việc xây dựng theo thiết kế xây dựng;

k) Các loại hợp đồng xây dựng khác.

b) Hợp đồng theo đơn giá cố định;

c) Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh;

d) Hợp đồng theo thời gian;

đ) Hợp đồng theo giá kết hợp là hợp đồng xây dựng sử dụng kết hợp các loại giá hợp đồng nêu trên.

Theo mối quan hệ của các bên tham gia trong hợp đồng, hợp đồng xây dựng có các loại sau:

a) Hợp đồng thầu chính là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà thầu chính hoặc tổng thầu.

b) Hợp đồng thầu phụ là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng thầu với nhà thầu phụ.

c) Hợp đồng giao khoán nội bộ là hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một cơ quan, tổ chức.

d) Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài là hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước.

3. Các trường hợp tạm ngừng và chấm dứt hợp đồng xây dựng

“- Các bên tham gia hợp đồng được tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng trong các trường hợp sau:

+ Bên giao thầu có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng khi bên nhận thầu không đáp ứng các yêu cầu về chất lượng, an toàn lao động và tiến độ theo hợp đồng đã ký kết.

+ Bên nhận thầu có quyền tạm dừng thực hiện hợp đồng xây dựng và kéo dài tiến độ thực hiện hợp đồng khi bên giao thầu vi phạm các thỏa thuận về thanh toán, cụ thể như: Không thanh toán đủ cho bên nhận thầu giá trị của giai đoạn thanh toán mà các bên đã thống nhất vượt quá 28 ngày kể từ ngày hết hạn thanh toán, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác; không có bảo đảm thanh toán cho các khối lượng sắp được thực hiện.

– Trước khi một bên tạm dừng thực hiện công việc trong hợp đồng, thì phải thông báo cho bên kia biết bằng văn bản trước 28 ngày, trong đó nêu rõ lý do tạm dừng thực hiện; bên giao thầu, bên nhận thầu phải có trách nhiệm cùng thương lượng giải quyết để tiếp tục thực hiện đúng thỏa thuận hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp bất khả kháng. Trường hợp, bên tạm dừng thực hiện hợp đồng không thông báo hoặc lý do tạm dừng không phù hợp với quy định của hợp đồng thì phải bồi thường thiệt hại cho phía bên kia.”

“- Mỗi bên đều có quyền chấm dứt hợp đồng mà không phải bồi thường thiệt hại trong các trường hợp quy định tại các Khoản 7 và 8 Điều 41 Nghị định 37/2015/NĐ-CP.:

+) Trường hợp đã tạm dừng thực hiện hợp đồng mà bên vi phạm hợp đồng không khắc phục lỗi của mình trong khoảng thời gian năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày bắt đầu tạm dừng theo thông báo, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và không có lý do chính đáng thì bên tạm dừng có quyền chấm dứt hợp đồng.

+) Trường hợp một bên đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng mà không phải do lỗi của bên kia gây ra, thì bên đơn phương chấm dứt hợp đồng phải bồi thường thiệt hại cho bên kia.

– Khi một bên chấm dứt hợp đồng thì phải thông báo bằng văn bản cho bên kia trước một khoảng thời gian nhất định theo thỏa thuận trong hợp đồng nhưng không ít hơn hai mươi tám (28) ngày, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác và trong đó phải nêu rõ lý do chấm dứt hợp đồng. Nếu bên chấm dứt hợp đồng không thông báo mà gây thiệt hại cho bên kia, thì phải bồi thường thiệt hại cho bên kia. Các bên phải hoàn tất thủ tục thanh lý hợp đồng trong khoảng thời gian theo thỏa thuận trong hợp đồng, nhưng không quá năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày thông báo chấm dứt hợp đồng, trừ trường hợp các bên thỏa thuận khác. Ngoài thời gian này nếu một bên không làm các thủ tục thanh lý hợp đồng thì bên kia được toàn quyền quyết định việc thanh lý hợp đồng.”

Ngoài ra, theo quy định tại Nghị định 37/2015/NĐ-CP có quy định cụ thể các trường hợp mà bên giao thầu, bên nhận thầu có quyền chấm dứt hợp đồng. Theo đó Bên giao thầu có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:

+ Bên nhận thầu bị phá sản, giải thể hoặc chuyển nhượng hợp đồng xây dựng cho người hoặc tổ chức khác mà không có sự chấp thuận của bên giao thầu.

+ Bên nhận thầu từ chối thực hiện công việc theo hợp đồng hoặc năm mươi sáu (56) ngày liên tục không thực hiện công việc theo hợp đồng, dẫn đến vi phạm tiến độ thực hiện theo thỏa thuận hợp đồng, trừ trường hợp được phép của bên giao thầu.

Bên nhận thầu có quyền chấm dứt hợp đồng trong các trường hợp sau:

+ Bên giao thầu bị phá sản, giải thể hoặc chuyển nhượng hợp đồng xây dựng cho người hoặc tổ chức khác mà không có sự chấp thuận của bên nhận thầu.

+ Sau năm mươi sáu (56) ngày liên tục công việc bị dừng do lỗi của bên giao thầu, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

+ Bên giao thầu không thanh toán cho bên nhận thầu sau năm mươi sáu (56) ngày kể từ ngày bên giao thầu nhận đủ hồ sơ thanh toán hợp lệ, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.”

Có thể thấy, theo Nghị định 37/2015/NĐ-CP, các trường hợp chấm dứt hợp đồng xây dựng được các bên quy định trong hợp đồng, đồng thời có những trường hợp cụ thể theo quy định của Nghị định này mà không bắt buộc phải thỏa thuận trong hợp đồng xây dựng mà vẫn có thể tiến hành chấm dứt hợp đồng xây dựng . Trong thời hạn hai (02) ngày làm việc kể từ khi hợp đồng xây dựng bị chấm dứt, bên nhận thầu phải di chuyển toàn bộ vật tư, nhân lực, máy móc, thiết bị và các tài sản khác thuộc sở hữu của mình ra khỏi công trường, nếu sau khoảng thời gian này bên nhận thầu chưa thực hiện việc di chuyển thì bên giao thầu có quyền xử lý đối với các tài sản này, trừ trường hợp các bên có thỏa thuận khác.

4. Quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng xây dựng

Xin chào luật sư. Tôi có câu hỏi kính mong luật sư giải đáp. Tôi có một hợp đồng xây dựng, nay tôi không cho bên B thi công nữa do không đủ năng lực. Nhưng hợp đồng chỉ có một bản tôi giữ đầy đủ chữ ký 2 bên. Nay tôi muốn đưa ra tòa vấn đề này như vậy 1 bản hợp đồng có hiệu lực không?

Căn cứ Điều 41 Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định chấm dứt hợp đồng xây dựng như sau:

Đầu tiên, bạn cần xem xét rõ hợp đồng giữa bạn và nhà thầu đã thỏa thuận từ trước có quy định như thế nào về điều khoản chấm dứt hợp đồng. Nếu trong điều khoản này có đề cập tới “năng lực của bên thi công” thì bạn hoàn toàn có quyền đơn phương chấm dứt hợp đồng. Tuy nhiên bạn cần thông báo ngay cho bên thi công biết về việc này để tránh phải bồi thường thiệt hại. Bản hợp đồng bạn giữ là căn cứ trước tòa nếu bên B có khiếu nại về hành vi chấm dứt hợp đồng của bạn.

Còn khi bạn chưa đủ căn cứ chứng minh bên thi công vi phạm hợp đồng thì khi đơn phương chấm dứt hợp đồng bạn sẽ phải bồi thường cho bên thi công là bên B.

Các Loại Hợp Đồng Xây Dựng / 2023

Hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự phổ biến và phức tạp. Nhất là đối với các dự án xây dựng lớn, các hợp đồng xây dựng có thể được ký kết bởi rất nhiều bên: có thể có nhiều chủ đầu tư cùng hợp tác, có thể có nhiều nhà thầu cùng tham gia hoặc các bên thứ ba thực hiện các dịch vụ khác nhau phục vụ cho quá trình xây dựng. Vì mục đích và nội dung thỏa thuận là rất đa dạng nên Nghị định 37/2015/NĐ-CP quy định chi tiết về hợp đồng xây dựng đã chia ra các loại hợp đồng xây dựng như sau:

Theo tính chất, nội dung công việc thì có các loại hợp đồng sau:

Loại hợp đồng Nội dung

Hợp đồng tư vấn xây dựng Thực hiện một, một số hay toàn bộ công việc tư vấn trong hoạt động đầu tư xây dựng.

Hợp đồng thi công xây dựng công trình/

Hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình

Thực hiện việc thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình hoặc phần việc xây dựng theo thiết kế xây dựng công trình;

Hợp đồng tổng thầu thi công xây dựng công trình là hợp đồng thi công xây dựng để thực hiện tất cả các công trình của một dự án đầu tư.

Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ/Hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ Thực hiện việc cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ;

Hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng cung cấp thiết bị cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng công trình/ Hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình Thực hiện việc thiết kế và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình;

Hợp đồng tổng thầu thiết kế và thi công xây dựng công trình là hợp đồng thiết kế và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ/ Hợp đồng tổng thầu thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ Thực hiện việc thiết kế và cung cấp thiết bị để lắp đặt vào công trình xây dựng theo thiết kế công nghệ;

Hợp đồng tổng thầu thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ là hợp đồng thiết kế và cung cấp thiết bị công nghệ cho tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình/ Hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình Thực hiện việc cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình;

Hợp đồng tổng thầu cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình là hợp đồng cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình/ Hợp đồng tổng thầu thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình Thực hiện các công việc từ thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ đến thi công xây dựng công trình, hạng mục công trình;

Hợp đồng tổng thầu EPC là hợp đồng thiết kế – cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng tất cả các công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng chìa khóa trao tay Thực hiện toàn bộ các công việc lập dự án, thiết kế, cung cấp thiết bị công nghệ và thi công xây dựng công trình của một dự án đầu tư xây dựng.

Hợp đồng cung cấp nhân lực, máy và thiết bị thi công Cung cấp kỹ sư, công nhân (gọi chung là nhân lực), máy, thiết bị thi công và các phương tiện cần thiết khác để phục vụ cho việc thi công công trình, hạng mục công trình, gói thầu hoặc công việc xây dựng theo thiết kế xây dựng.

Các loại hợp đồng xây dựng khác Tùy theo nội dung các bên thỏa thuận.

Theo hình thức giá hợp đồng, có các loại hợp đồng sau:

Loại hợp đồng Nội dung

Hợp đồng trọn gói Là hợp đồng mà giá hợp đồng không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng đối với khối lượng các công việc thuộc phạm vi hợp đồng đã ký kết, trừ trường hợp bất khả kháng và thay đổi phạm vi công việc phải thực hiện.

Hợp đồng theo đơn giá cố định Là hợp đồng mà giá được xác định trên cơ sở đơn giá cố định cho các công việc nhân với khối lượng công việc tương ứng và không thay đổi trong suốt quá trình thực hiện hợp đồng, trừ trường hợp bất khả kháng.

Hợp đồng theo đơn giá điều chỉnh Là hợp đồng mà giá được xác định trên cơ sở đơn giá đã điều chỉnh do trượt giá theo các thỏa thuận trong hợp đồng nhân với khối lượng công việc tương ứng được điều chỉnh giá.

Hợp đồng theo thời gian Là hợp đồng mà giá được xác định xác định trên cơ sở mức thù lao cho chuyên gia, các khoản chi phí ngoài mức thù lao cho chuyên gia và thời gian làm việc (khối lượng) tính theo tháng, tuần, ngày, giờ.

Hợp đồng theo giá kết hợp Là hợp đồng mà giá được xác định dựa trên sự kết hợp các cách xác định giá nêu trên.

Theo mối quan hệ của các bên tham gia hợp đồng, có các loại hợp đồng sau:

Hợp đồng thầu chính: Hợp đồng xây dựng được ký kết giữa chủ đầu tư với nhà thầu chính hoặc tổng thầu;

Hợp đồng thầu phụ: Hợp đồng xây dựng được ky kết giữa nhà thầu chính hoặc tổng thầu với nhà thầu phụ;

Hợp đồng giao khoán nội bộ: Hợp đồng giữa bên giao thầu và bên nhận thầu thuộc một cơ quan, tổ chức.

Hợp đồng xây dựng có yếu tố nước ngoài: Hợp đồng xây dựng được ký kết giữa một bên là nhà thầu nước ngoài với nhà thầu trong nước hoặc chủ đầu tư trong nước.

Phạt Vi Phạm Trong Hợp Đồng Xây Dựng / 2023

1. Bản chất của hợp đồng xây dựng và pháp luật điều chỉnh đối với hợp đồng xây dựng

Một cách khái quát, hợp đồng xây dựng có thể là một loại hợp đồng đặc thù trong lĩnh vực đầu tư xây dựng chịu sự điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014, hợp đồng dân sự chịu sự điều chỉnh của BLDS 2015, và/hoặc hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trước hết, bản thân hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng đặc thù thuộc lĩnh vực chuyên ngành về đầu tư xây dựng và được quy định tại Luật Xây dựng 2014. Do đó, hợp đồng xây dựng thuộc đối tượng điều chỉnh của Luật Xây dựng 2014.

Luật Xây dựng 2014 cũng định nghĩa hợp đồng xây dựng là một loại hợp đồng dân sự. Do vậy, hợp đồng xây dựng có thể thuộc phạm vi điều chỉnh của BLDS 2015. Cụ thể, khoản 1 Điều 138 của Luật Xây dựng 2014 quy định như sau:

“Hợp đồng xây dựng là hợp đồng dân sự được thoả thuận bằng văn bản giữa bên giao thầu và bên nhận thầu để thực hiện một phần hay toàn bộ công việc trong hoạt động đầu tư xây dựng”.

Mặc dù không được định nghĩa cụ thể tại Luật Xây dựng 2014, hợp đồng xây dựng về lý thuyết cũng có thể là hợp đồng thương mại chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005. Về cơ bản, hợp đồng thương mại cũng là một loại hợp đồng dân sự. Tuy nhiên, khác với những loại hợp đồng dân sự khác, hợp đồng thương mại có đặc trưng về chủ thể xác lập (được xác lập giữa các bên là thương nhân hoặc một trong các bên là thương nhân) và mục đích của hợp đồng (nhằm mục đích sinh lợi). Do đó, nếu một hợp đồng xây dựng cụ thể đáp ứng điều kiện về chủ thể xác lập và mục đích của hợp đồng thương mại (như đã đề cập), hợp đồng xây dựng đó có thể đồng thời là hợp đồng thương mại và chịu sự điều chỉnh của Luật Thương mại 2005.

Trên thực tế, phần lớn các hợp đồng xây dựng đáp ứng các điều kiện của hợp đồng thương mại (như đã đề cập). Trong trường hợp như vậy, các hợp đồng xây dựng này có thể đồng thời là đối tượng điều chỉnh của cả BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014. Ngoài ra, BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều có quy định về mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng. Tuy nhiên, các quy định này có sự khác biệt nhất định và có thể tạo ra xung đột pháp luật khi xác định mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng đối với hợp đồng xây dựng (đặc biệt là hợp đồng xây dựng của công trình không sử dụng vốn nhà nước). Cụ thể, BLDS 2015 cho phép các bên thỏa thuận về mức phạt vi phạm mà không chịu bất kỳ giới hạn nào, trừ khi luật chuyên ngành có quy định khác[1]. Luật Thương mại 2005 quy định mức phạt vi phạm không vượt quá 8% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm[2]. Luật Xây dựng 2014 quy định mức phạt vi phạm không vượt quá 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm đối với công trình xây dựng sử dụng vốn nhà nước[3]. Luật Xây dựng 2014 không quy định về mức phạt vi phạm áp dụng đối với hợp đồng xây dựng của công trình xây dựng không sử dụng vốn nhà nước.

Do BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 có quy định khác nhau về mức phạt vi phạm tối đa, vấn đề pháp lý cơ bản đầu tiên được đặt ra là quy định nào sẽ được ưu tiên áp dụng đối với hợp đồng xây dựng trên cơ sở nguyên tắc giải quyết xung đột pháp luật. Khi nguyên tắc giải quyết xung đột được xác định, các bên có cơ sở pháp lý rõ ràng hơn khi thỏa thuận mức phạt vi phạm tối đa trong hợp đồng xây dựng, bao gồm cả hợp đồng xây dựng của công trình không sử dụng vốn nhà nước.

Nếu nhìn vào quan hệ giữa BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014, việc áp dụng riêng lẻ hai nguyên tắc này dường như tạo ra sự mâu thuẫn. Theo đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc thứ nhất, trình tự ưu tiên áp dụng để giải quyết xung đột pháp luật trong trường hợp này sẽ là BLDS 2015, Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005. Trong khi đó, nếu chỉ áp dụng nguyên tắc thứ hai, trình tự này sẽ là Luật Xây dựng 2014, Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015. Đây là vấn đề không phát sinh tại thời điểm BLDS 2005 có hiệu lực vì Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 được ban hành sau BLDS 2005. Do đó, hai nguyên tắc này cần được giải thích cùng nhau để có thể rút ra các nguyên tắc pháp lý phù hợp nhằm xử lý xung đột pháp luật về vấn đề này.

Nguyên tắc văn bản ban hành sau

Khoản 3 Điều 156 của Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015 quy định nguyên tắc văn bản ban hành sau và nguyên tắc này xử lý xung đột giữa các văn bản pháp luật do cùng một cơ quan ban hành. Cụ thể như sau:

“Trong trường hợp các văn bản quy phạm pháp luật do cùng một cơ quan ban hành có quy định khác nhau về cùng một vấn đề thì áp dụng quy định của văn bản quy phạm pháp luật ban hành sau “.

Nguyên tắc này về cơ bản áp dụng giữa các văn bản pháp luật do cùng một cơ quan ban hành (ví dụ, các luật do Quốc hội ban hành). Nếu không có một nguyên tắc xung đột nào khác áp dụng (ví dụ luật chuyên ngành được ưu tiên áp dụng so với BLDS 2015 theo nguyên tắc luật chung – luật riêng) thì BLDS 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành trước thời điểm ban hành BLDS 2015 và không được ưu tiên áp dụng so với các luật ban hành sau thời điểm ban hành BLDS 2015 trong trường hợp có xung đột pháp luật. Cụ thể, BLDS 2015 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005, và Luật Xây dựng 2014 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Thương mại 2005.

Nguyên tắc luật chung – luật riêng

Nguyên tắc luật chung – luật riêng không được quy định cụ thể tại Luật Ban hành văn bản quy phạm pháp luật năm 2015, nhưng thường được quy định tại các văn bản quy phạm pháp luật cụ thể. Bản thân BLDS 2015 cũng quy định nguyên tắc này để giải quyết xung đột giữa BLDS 2015 và các luật chuyên ngành. Theo nguyên tắc luật chung – luật riêng của BLDS 2015; BLDS 2015 sẽ được xem là “luật chung” và các luật chuyên ngành sẽ được xem là “luật riêng”. Trong quan hệ giữa “luật chung” và “luật riêng”, luật chuyên ngành với tư cách là “luật riêng” được ưu tiên áp dụng với điều kiện là không được trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định trong BLDS 2015; nếu trái thì các quy định của BLDS 2015 sẽ được áp dụng. Ngoài ra, nếu luật chuyên ngành không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó được quy định trong BLDS 2015 thì BLDS 2015 sẽ áp dụng. Cụ thể, khoản 2 và 3 của Điều 4 BLDS 2015 quy định nguyên tắc pháp lý này như sau:

Bên cạnh BLDS 2015, Luật Thương mại 2005 cũng có quy định nguyên tắc luật chung – luật riêng tại Điều 4. Cụ thể như sau:

2. Hoạt động thương mại đặc thù được quy định trong luật khác thì áp dụng quy định của luật đó.

3. Hoạt động thương mại không được quy định trong Luật thương mại và trong các luật khác thì áp dụng quy định của Bộ luật Dân sự“.

Khác với BLDS 2015 và Luật Thương mại 2005, Luật Xây dựng 2014 không quy định nguyên tắc luật chung – luật riêng.

Nếu đọc cả hai nguyên tắc văn bản ban hành sau và luật chung – luật riêng như đã nêu, bốn kết luận sau có thể được rút ra để giải quyết xung đột pháp luật trong bối cảnh quan hệ hợp đồng xây dựng:

(i) Nếu quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015, quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 sẽ không được áp dụng và quy định của BLDS 2015 sẽ được áp dụng;

(ii) Nếu quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015, quy định của Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 sẽ được áp dụng và quy định của BLDS 2015 sẽ không được áp dụng;

(iii) Nếu Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều không quy định về một vấn đề mà vấn đề đó lại được quy định trong BLDS 2015 thì BLDS 2015 sẽ được áp dụng; và

(iv) Nếu Luật Xây dựng 2014 có quy định về một vấn đề cụ thể thì ưu tiên áp dụng quy định đó. Nếu Luật Xây dựng 2014 không có quy định thì áp dụng Luật Thương mại 2005 nếu Luật Thương mại 2005 có quy định điều chỉnh vấn đề cụ thể đó. Nếu Luật Thương mại 2005 và Luật Xây dựng 2014 đều không có quy định thì áp dụng quy định của BLDS 2015 nếu BLDS 2015 có quy định điều chỉnh vấn đề cụ thể đó.

3. Mức phạt vi phạm tối đa được áp dụng trong hợp đồng xây dựng

Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 đều có quy định về mức phạt vi phạm tối đa và các quy định này không trái với các nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự được quy định tại BLDS 2015[5]. Do đó, trong trường hợp này, quy định của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 về mức phạt vi phạm tối đa đối với các hợp đồng chịu sự điều chỉnh tương ứng của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 sẽ được ưu tiên áp dụng so với BLDS 2015.

1. Đối với hợp đồng xây dựng của công trình có sử dụng vốn nhà nước, do Luật Xây dựng 2014 (với tư cách là luật chuyên ngành điều chỉnh quan hệ hợp đồng xây dựng) đã có quy định cụ thể về mức phạt vi phạm tối đa (cụ thể là 12% giá trị phần hợp đồng bị vi phạm), nên quy định của Luật Xây dựng 2014 sẽ được ưu tiên áp dụng so với Luật Thương mại 2005 và BLDS 2015; và

BLDS 2015. Điều 418.2. Thoả thuận phạt vi phạm

Chú thích:

[1] Khoản 2 Điều 418 BLDS 2015.

[2] Điều 301 Luật Thương mại 2005.

[3] Khoản 2 Điều 146 Luật Xây dựng 2014.

[4] Đoạn 3 Công văn số 48.

[5] Theo Điều 3 BLDS 2015, năm nguyên tắc cơ bản của pháp luật dân sự bao gồm (i) không phân biệt đối xử, (ii) tự do thỏa thuận, (iii) thiện chí trung thực, (iv) không xâm phạm lợi ích công cộng và (v) tự chịu trách nhiệm. Quy định về mức phạt vi phạm tối đa của Luật Xây dựng 2014 và Luật Thương mại 2005 không trái với bất kỳ nguyên tắc cơ bản nào của BLDS 2015″.

Trường Hợp Nào Được Chấm Dứt Hợp Đồng? / 2023

Xin chào Luật sư, Luật sư có thể cho tôi biết hiện nay pháp luật quy định như thế nào về các trường hợp chấm dứt hợp đồng không? Tôi xin cảm ơn Luật sư!

Chào bạn, với câu hỏi của bạn Luật sư tư vấn dân sự của Luật Hoàng Phi xin được trả lời như sau:

Hiện nay, Điều 422 Bộ luật Dân sự 2015 có quy định về Chấm dứt hợp đồng như sau:

Trường hợp chấm dứt hợp đồng?

Hợp đồng chấm dứt trong trường hợp sau đây:

1. Hợp đồng đã được hoàn thành;

2. Theo thỏa thuận của các bên;

3. Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

4. Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;

5. Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;

6. Hợp đồng chấm dứt theo quy định tại Điều 420 của Bộ luật này;

7. Trường hợp khác do luật quy định.”

Các trường hợp nào được chấm dứt hợp đồng?

Theo quy định này, chấm dứt hợp đồng có các trường hợp chủ yếu như sau:

Thứ nhất, hợp đồng chấm dứt khi hợp đồng được hoàn thành là trường hợp các bên trong hợp đồng đã thực hiện xong các quyền và nghĩa vụ theo thỏa thuận.

Thứ hai, hợp đồng chấm dứt theo sự thỏa thuận của các bên là trường hợp hợp đồng chấm dứt khi các quyền và nghĩa vụ chưa được thực hiện hoặc chưa được thực hiện xong.

Thứ ba, hợp đồng chấm dứt khi cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện. Thông thưòng, khi chủ thể giao kết hợp đồng là cá nhân chết hoặc pháp nhân chấm dứt tồn tại sẽ xảy ra hai trưòng hợp:

– Hợp đồng vẫn có giá trị nếu hợp đồng có thể do cá nhân, pháp nhân khác thực hiện. Tuy nhiên, trong nhiều trường hợp thì hợp đồng vẫn chấm dứt nếu việc thực hiện hợp đồng không thể chuyển giao cho chủ thể khác. Ví dụ, cá nhân giao kết hợp đồng chết nhưng không có người thừa kế tiếp tục thực hiện hợp đồng;

Thứ tư, hợp đồng bị hủy bỏ hoặc đơn phương chấm dứt. Mặc dù việc hủy bỏ hợp đồng và đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng đều làm cho hợp đồng không còn tồn tại trên thực tế, nhưng về bản chất thì việc chấm dứt này lại khác nhau. Khi hợp đồng bị hủy bỏ thì hợp đồng không có giá trị từ thòi điểm giao kết, tức là coi như chưa có hợp đồng phát sinh trên thực tế. Hậu quả pháp lý của hợp đồng bị hủy bỏ được giải quyết giống như hợp đồng bị tuyên bố vô hiệu. Khi hợp đồng bị đơn phương chấm dứt thực hiện thì hợp đồng chỉ không có giá trị đối với phần hợp đồng chưa được thực hiện. Phần hợp đồng đã được thực hiện vẫn có giá trị pháp lý.

Thứ năm, hợp đồng chấm dứt do đối tượng không còn. Đối tượng của hợp đồng là điều khoản cơ bản của mọi hợp đồng. Việc thỏa thuận rõ hay không rõ về đối tượng của hợp đồng sẽ làm ảnh hưởng đến việc hình thành hợp đồng. Nếu không thỏa thuận rõ về đốỉ tượng thì hợp đồng không được hình thành. Tuy nhiên, trong trường hợp các bên thỏa thuận rõ về đối tượng của hợp đồng nhưng vì lý do chủ quan hoặc khách quan dẫn đến đối tượng hợp đồng không còn thì hợp đồng sẽ chấm dứt. Tùy từng trường hợp mà các bên có thể phải chịu trách nhiệm về việc đối tượng của hợp đồng không còn.

Thứ sáu, một điểm mới về các căn cứ chấm dứt hợp đồng trong BLDS năm 2015 đó là hợp đồng có thể chấm dứt khi hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi cơ bản. Cũng giống như việc sửa đổi hợp đồng khi hoàn cảnh thay đổi cơ bản, việc chấm dứt hợp đồng cũng cần có điều kiện nhất định như: (i) Hoàn cảnh thực hiện hợp đồng thay đổi theo quy định tại khoản 1 Điều 420 BLDS; (ii) Một bên bị ảnh hưởng đến lợi ích do hoàn cảnh thay đổi; (iii) Các bên không thỏa thuận được về việc sửa đổi hợp đồng trong một thời hạn hợp lý.

Ngoài các trường hợp chấm dứt hợp đồng theo quy định tại các khoản 1, 2, 3, 4, 5, 6 nói trên, hợp đồng cũng sẽ bị chấm dứt trong các trường hợp do pháp luật quy định. Ví dụ, hợp đồng không thể thực hiện được vì lý do khách quan (A thuê B cày ruộng bãi, nhưng mưa lũ đã làm lở toàn bộ diện tích ruộng bãi của A xuống sông).

Như vậy, BLDS 2015 đã quy định sáu trường hợp cơ bản, thường gặp làm chấm dứt hợp đồng. Ngoài ra vẫn có quy định mở để bao quát cả những trường hợp khác nếu được luật khác quy định.

Trong trường hợp cần tư vấn thêm, khách hàng có thể liên hệ với Luật sư của Luật Hoàng Phi qua TỔNG ĐÀI TƯ VẤN LUẬT MIỄN PHÍ để được tư vấn.

Chấm dứt hợp đồng trước hạn được không?

Chào Công ty Luật Hoàng Phi, tôi có một thắc mắc sau đây mong được giải đáp:

Tôi đang là cộng tác viên cho một trung tâm tư vấn, theo thỏa thuận sau 6 tháng công việc của tôi mới chấm dứt. Tuy nhiên, sau 2 tháng trung tâm này muốn cho tôi thôi việc với lý do là tôi không làm được việc. Thực tế, các công việc theo thỏa thuận trong hợp đồng cộng tác viên tôi đều hoàn thành biết. Nhưng tôi biết là giám đốc trung tâm tư vấn này muốn dành vị trí tôi đang làm cho một người bà con khác. Vậy việc chấm dứt hợp đồng trước hạn như vậy có đúng không? Xin cảm ơn!

Với câu hỏi của bạn, Luật Hoàng Phi xin được trả lời như sau:

Vì hợp đồng của bạn là hợp đồng cộng tác viên, chưa phải là hợp đồng lao động, do đó, Chúng tôi sẽ dựa vào quy định pháp luật dân sự để tư vấn cho bạn trong trường hợp này

Theo quy định Bộ luật dân sự hiện nay, cụ thể là tại Điều 422 Bộ Luật dân sự, có nhiều trường hợp chấm dứt hợp đồng lao động như:

+ Hợp đồng đã được hoàn thành;

+ Theo thỏa thuận của các bên;

+ Cá nhân giao kết hợp đồng chết, pháp nhân giao kết hợp đồng chấm dứt tồn tại mà hợp đồng phải do chính cá nhân, pháp nhân đó thực hiện;

+ Hợp đồng bị hủy bỏ, bị đơn phương chấm dứt thực hiện;

+ Hợp đồng không thể thực hiện được do đối tượng của hợp đồng không còn;…

Như vậy, hợp đồng dân sự chấm dứt hợp pháp không chỉ khi công việc hoàn thành, theo thời hạn ban đầu các bên đã thỏa thuận mà vẫn có thể chấm dứt trước thời hạn trong các trường hợp khác khi có căn cứ. Trong trường hợp này, nếu sau khi giám đốc – người đại diện của trung tâm bạn đang làm thông báo cho bạn thôi việc và bạn không đồng ý, đây là trường hợp chấm dứt theo ý chí của một bên trong hợp đồng, hay còn gọi là đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng. Việc đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng theo đúng quy định pháp luật nếu thỏa mãn các nội dung theo quy định tại khoản 1 Điều 428 Bộ luật dân sự 2015, cụ thể như sau:

“ Điều 428. Đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng

1. Một bên có quyền đơn phương chấm dứt thực hiện hợp đồng và không phải bồi thường thiệt hại khi bên kia vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận hoặc pháp luật có quy định.”

Nếu giám đốc trung tâm bạn làm đưa ra lý do bạn “không làm được việc” nhưng thực tế bạn hoàn thành các công việc theo đúng hợp đồng cộng tác việc, trung tâm cũng không đưa ra được căn cứ để xác định bạn vi phạm nghiêm trọng nghĩa vụ trong hợp đồng hoặc các bên có thỏa thuận, trường hợp khác pháp luật có quy định, việc đơn phương chấm dứt hợp đồng dù có thông báo nhưng không đúng quy định pháp luật. Khi đó, theo khoản 5 Điều 428 trung tâm của bạn được xác định là bên vi phạm nghĩa vụ và phải thực hiện các trách nhiệm dân sự như bồi thường thiệt hại, bị phạt vi phạm theo thỏa thuận trong hợp đồng và theo các quy định khác của pháp luật.

Tác giả

Nguyễn Văn Phi

Cập nhật thông tin chi tiết về Nội Dung Hợp Đồng Xây Dựng? Chấm Dứt Hợp Đồng Xây Dựng? / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!