Xu Hướng 8/2022 # Nội Dung Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Của Đảng # Top View

Xem 891

Bạn đang xem bài viết Nội Dung Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Của Đảng được cập nhật mới nhất ngày 16/08/2022 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất. Cho đến thời điểm hiện tại, bài viết này đã đạt được 891 lượt xem.

Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12

Tiếp Tục Thực Hiện Hiệu Quả Chỉ Thị 05

Gắn Việc Thực Hiện Chỉ Thị Số 05 Và Nghị Quyết Trung Ương 4 (Khóa 12) Với Phong Trào Thi Đua Quyết Thắng

Bvpl: Kiểm Tra Việc Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Và Chỉ Thị 05 Của Bộ Chính Trị

Toàn Văn Nghị Quyết Trung Ương Về Hội Nhập Kinh Tế Quốc Tế Hiệu Quả

Nghị quyết số 04-NQ/TW về tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ. Nghị quyết số 05-NQ/TW về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế. Nghị quyết số 06-NQ/TW về thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới.

Kết luận số 09-KL/TW về tình hình kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022; kế hoạch phát triển kinh tế – xã hội, ngân sách nhà nước năm 2022.

Có 4 lý do để Trung ương ban hành Nghị quyết này:

– Thứ nhất, xây dựng, chỉnh đốn Đảng là đòi hỏi khách quan và là nhiệm vụ thường xuyên, quan trọng hàng đầu (then chốt) để củng cố, phát huy vai trò lãnh đạo của Đảng trong từng giai đoạn cách mạng.

– Thứ hai, tình trạng suy thoái tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống (giảm sút niềm tin vào sự lãnh đạo của Đảng, chế độ và định hướng phát triển của đất nước, dao động, nói trái quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; tham nhũng, quan liêu, vô cảm, thiếu trách nhiệm, kéo bè kéo cánh gây mất đoàn kết nội bộ, tham vọng chức quyền, ích kỷ, không trung thực, cờ bạc, rượu chè bê tha, xa hoa, lãng phí…), “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” (phủ nhận chế độ, bịa đặt, xuyên tạc lịch sử, vu cáo, nói xấu lãnh tụ; cấu kết các thế lực phản động, thù địch, kích xúi, vận động, tập hợp phần tử xấu, thành lập tổ chức chống đối Đảng, Nhà nước; thông tin sai lệch, một chiều về tình hình trong nước, quốc tế gây hoang mang dư luận, bất lợi trong quan hệ quốc tế…) trong một bộ phận cán bộ, đảng viên và nhân dân đang diễn ra nghiêm trọng, đe dọa tới sự tồn vong của Đảng và chế độ.

– Thứ ba, trong giai đoạn hội nhập sâu với thế giới hiện nay, yêu cầu, nhiệm vụ lãnh đạo xây dựng và bảo vệ Tổ quốc, giữ vững độc lập, chủ quyền, toàn vẹn lãnh thổ, giữ vững môi trường hòa bình để phát triển đất nước là hết sức khó khăn và nặng nề, đòi hỏi Đảng phải mạnh, phải nâng cao năng lực lãnh đạo và sức chiến đấu mạnh hơn nữa.

– Thứ tư, là để củng cố, tăng cường niềm tin của nhân dân đối với Đảng, Nhà nước và đội ngũ cán bộ, đảng viên của Đảng; đồng thời, phát huy vai trò, trách nhiệm của Nhân dân, MTTQ và các đoàn thể chính trị – xã hội tham gia xây dựng Đảng; đấu tranh chống âm mưu và hoạt động “diễn biến hòa bình” của các thế lực thù địch, tổ chức phản động, phần tử cơ hội, bất mãn chính trị…

Trung ương xác định có 27 biểu hiện của sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên. Những biểu hiện đó là:

a. Biểu hiện suy thoái về tư tưởng chính trị

1) Phai nhạt lý tưởng cách mạng; dao động, giảm sút niềm tin vào mục tiêu độc lập dân tộc và chủ nghĩa xã hội; hoài nghi, thiếu tin tưởng vào chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh.

2) Xa rời tôn chỉ, mục đích của Đảng; không kiên định con đường đi lên chủ nghĩa xã hội; phụ họa theo những nhận thức lệch lạc, quan điểm sai trái.

3) Nhận thức sai lệch về ý nghĩa, tầm quan trọng của lý luận và học tập lý luận chính trị; lười học tập chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh, chủ trương, đường lối, nghị quyết của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước.

4) Không chấp hành nghiêm các nguyên tắc tổ chức của Đảng; sa sút ý chí phấn đấu, không gương mẫu trong công tác; né tránh trách nhiệm, thiếu trách nhiệm, trung bình chủ nghĩa, làm việc qua loa, đại khái, kém hiệu quả; không còn ý thức hết lòng vì nước, vì dân, không làm tròn chức trách, nhiệm vụ được giao.

5) Trong tự phê bình còn giấu giếm, không dám nhận khuyết điểm; khi có khuyết điểm thì thiếu thành khẩn, không tự giác nhận kỷ luật. Trong phê bình thì nể nang, né tránh, ngại va chạm, thấy đúng không bảo vệ, thấy sai không đấu tranh; lợi dụng phê bình để nịnh bợ, lấy lòng nhau hoặc vu khống, bôi nhọ, chỉ trích, phê phán người khác với động cơ cá nhân không trong sáng.

6) Nói và viết không đúng với quan điểm, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Nói không đi đôi với làm; hứa nhiều làm ít; nói một đằng, làm một nẻo; nói trong hội nghị khác, nói ngoài hội nghị khác; nói và làm không nhất quán giữa khi đương chức với lúc về nghỉ hưu.

7) Duy ý chí, áp đặt, bảo thủ, chỉ làm theo ý mình; không chịu học tập, lắng nghe, tiếp thu ý kiến hợp lý của người khác.

8) Tham vọng chức quyền, không chấp hành sự phân công của tổ chức; kén chọn chức danh, vị trí công tác; chọn nơi có nhiều lợi ích, chọn việc dễ, bỏ việc khó; không sẵn sàng nhận nhiệm vụ ở nơi xa, nơi có khó khăn. Thậm chí còn tìm mọi cách để vận động, tác động, tranh thủ phiếu bầu, phiếu tín nhiệm cho cá nhân một cách không lành mạnh.

9) Vướng vào “tư duy nhiệm kỳ”, chỉ tập trung giải quyết những vấn đề ngắn hạn trước mắt, có lợi cho mình; tranh thủ bổ nhiệm người thân, người quen, người nhà dù không đủ tiêu chuẩn, điều kiện giữ chức vụ lãnh đạo, quản lý hoặc bố trí, sắp xếp vào vị trí có nhiều lợi ích.

b. Biểu hiện về suy thoái đạo đức, lối sống

1) Cá nhân chủ nghĩa, sống ích kỷ, thực dụng, cơ hội, vụ lợi; chỉ lo thu vén cá nhân, không quan tâm đến lợi ích tập thể; ganh ghét, đố kỵ, so bì, tị nạnh, không muốn người khác hơn mình.

2) Vi phạm nguyên tắc tập trung dân chủ, gây mất đoàn kết nội bộ; đoàn kết xuôi chiều, dân chủ hình thức; cục bộ, bè phái, kèn cựa địa vị, tranh chức, tranh quyền; độc đoán, gia trưởng, thiếu dân chủ trong chỉ đạo, điều hành.

3) Kê khai tài sản, thu nhập không trung thực.

4) Mắc bệnh “thành tích”, háo danh, phô trương, che giấu khuyết điểm, thổi phồng thành tích, “đánh bóng” tên tuổi; thích được đề cao, ca ngợi; “chạy thành tích”, “chạy khen thưởng”, “chạy danh hiệu”.

5) Quan liêu, xa rời quần chúng, không sâu sát cơ sở, thiếu kiểm tra, đôn đốc, không nắm chắc tình hình địa phương, cơ quan, đơn vị mình; thờ ơ, vô cảm, thiếu trách nhiệm trước những khó khăn, bức xúc và đòi hỏi chính đáng của nhân dân.

6) Quyết định hoặc tổ chức thực hiện gây lãng phí, thất thoát tài chính, tài sản, ngân sách nhà nước, đất đai, tài nguyên…; đầu tư công tràn lan, hiệu quả thấp hoặc không hiệu quả; mua sắm, sử dụng tài sản công vượt quy định; chi tiêu công quỹ tùy tiện, vô nguyên tắc. Sử dụng lãng phí nguồn nhân lực, phí phạm thời gian lao động.

7) Tham ô, tham nhũng, lợi dụng chức vụ, quyền hạn cấu kết với doanh nghiệp, với đối tượng khác để trục lợi. Lợi dụng, lạm dụng chức vụ, quyền hạn được giao để dung túng, bao che, tiếp tay cho tham nhũng, tiêu cực.

8) Thao túng trong công tác cán bộ; chạy chức, chạy quyền, chạy chỗ, chạy luân chuyển, chạy bằng cấp, chạy tội… Sử dụng quyền lực được giao để phục vụ lợi ích cá nhân hoặc để người thân, người quen lợi dụng chức vụ, quyền hạn của mình để trục lợi.

c. Biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ

1) Phản bác, phủ nhận chủ nghĩa Mác – Lênin, tư tưởng Hồ Chí Minh và các nguyên tắc tổ chức của Đảng, nhất là nguyên tắc tập trung dân chủ; đòi thực hiện “đa nguyên, đa đảng”.

2) Phản bác, phủ nhận nền dân chủ xã hội chủ nghĩa, Nhà nước pháp quyền xã hội chủ nghĩa; đòi thực hiện thể chế “tam quyền phân lập”, phát triển “xã hội dân sự”. Phủ nhận nền kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa, chế độ sở hữu toàn dân về đất đai.

3) Nói, viết, làm trái quan điểm, chủ trương, đường lối của Đảng, chính sách, pháp luật của Nhà nước. Hạ thấp, phủ nhận những thành quả cách mạng; thổi phồng khuyết điểm của Đảng, Nhà nước. Xuyên tạc lịch sử, bịa đặt, vu cáo các lãnh tụ tiền bối và lãnh đạo Đảng, Nhà nước.

4) Kích động tư tưởng bất mãn, bất đồng chính kiến, chống đối trong nội bộ. Lợi dụng và sử dụng các phương tiện thông tin, truyền thông, mạng xã hội để nói xấu, bôi nhọ, hạ thấp uy tín, vai trò lãnh đạo của Đảng, gây chia rẽ nội bộ, nghi ngờ trong cán bộ, đảng viên và nhân dân.

5) Phủ nhận vai trò lãnh đạo tuyệt đối, trực tiếp về mọi mặt của Đảng đối với lực lượng vũ trang; đòi “phi chính trị hóa” quân đội và công an; xuyên tạc đường lối quốc phòng toàn dân và an ninh nhân dân; chia rẽ quân đội với công an; chia rẽ nhân dân với quân đội và công an.

6) Móc nối, cấu kết với các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị để truyền bá tư tưởng, quan điểm đối lập; vận động, tổ chức, tập hợp lực lượng để chống phá Đảng và Nhà nước.

7) Đưa thông tin sai lệch, xuyên tạc đường lối, chính sách đối ngoại của Đảng và Nhà nước; thông tin phiến diện, một chiều về tình hình quốc tế, gây bất lợi trong quan hệ giữa Việt Nam với các nước.

8) Phủ nhận vai trò lãnh đạo của Đảng đối với báo chí, văn học – nghệ thuật. Tác động, lôi kéo, lái dư luận xã hội không theo đường lối của Đảng; cổ xúy cho quan điểm, tư tưởng dân chủ cực đoan; thổi phồng mặt trái của xã hội. Sáng tác, quảng bá những tác phẩm văn hóa, nghệ thuật lệch lạc, bóp méo lịch sử, hạ thấp uy tín của Đảng.

9) Có tư tưởng dân tộc hẹp hòi, tôn giáo cực đoan. Lợi dụng vấn đề “dân chủ”, “nhân quyền”, dân tộc, tôn giáo để gây chia rẽ nội bộ, gây chia rẽ giữa các dân tộc, giữa các tôn giáo, giữa dân tộc và tôn giáo, giữa các dân tộc, tôn giáo với Đảng và Nhà nước.

– Nhận thức sâu sắc về nguy cơ, nhận diện đúng những biểu hiện và đề ra các giải pháp phù hợp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi có hiệu quả tình trạng suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ.

– Kiên quyết khắc phục những yếu kém trong công tác cán bộ và quản lý cán bộ; xây dựng đội ngũ cán bộ, đảng viên, nhất là cán bộ lãnh đạo, quản lý các cấp có bản lĩnh chính trị vững vàng, có đạo đức, trách nhiệm, năng lực và động cơ đúng đắn, thực sự tiên phong, gương mẫu, luôn đặt lợi ích của tập thể, quốc gia, dân tộc lên trên lợi ích cá nhân, thực sự là cán bộ của dân, phục vụ nhân dân. Củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

– Nhìn thẳng vào sự thật, nói rõ sự thật, đánh giá đúng sự thật. Kết hợp giữa “xây” và “chống”; “xây” là nhiệm vụ cơ bản, chiến lược, lâu dài; “chống” là nhiệm vụ quan trọng, cấp bách.

– Kiên quyết, kiên trì thực hiện với quyết tâm chính trị cao, nỗ lực lớn; phát huy sự chủ động, sáng tạo và sức mạnh tổng hợp của cả hệ thống chính trị, của nhân dân, trong đó cán bộ lãnh đạo, quản lý, trước hết là cán bộ cấp cao, cán bộ chủ chốt, người đứng đầu các cấp là nòng cốt; thực hiện quyết liệt, đồng bộ các giải pháp để đấu tranh ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” có hiệu quả, nhất là những vụ việc gây bức xúc trong dư luận để củng cố niềm tin của nhân dân đối với Đảng.

– Tăng cường sự lãnh đạo và đoàn kết, thống nhất trong Đảng, trước hết là Ban Chấp hành Trung ương, Bộ Chính trị, Ban Bí thư, cấp ủy và ban thường vụ cấp ủy các cấp. Giữ vững nguyên tắc, kỷ luật, kỷ cương của Đảng; đề cao pháp luật của Nhà nước.

– Chủ động phòng ngừa, tích cực đấu tranh làm thất bại âm mưu, thủ đoạn của các thế lực thù địch, phản động và các phần tử cơ hội, bất mãn chính trị.

Câu 4. Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Đảng đã đề ra những giải pháp gì để ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong cán bộ, đảng viên?

Trong Nghị quyết Trung ương 4 khóa XII, Đảng đề ra 4 nhóm giải pháp, đó là:

– Thứ nhất, đẩy mạnh đổi mới và nâng cao chất lượng, hiệu quả công tác chính trị tư tưởng, tự phê bình và phê bình. Trong đó yêu cầu đối với đảng viên phải gương mẫu về đạo đức, lối sống; có quan hệ tốt, gắn bó với nhân dân. Cam kết không vi phạm 27 biểu hiện suy thoái, “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa”. Cán bộ lãnh đạo, người đứng đầu các cấp phải gương mẫu về mọi mặt.

– Thứ hai, hoàn thiện, ban hành và thực hiện nghiêm cơ chế, chính sách, đặc biệt là cơ chế kiểm tra, giám sát, kiểm soát việc thực thi quyền lực của người có chức, có quyền. Chú trọng quản lý chặt chẽ cán bộ, đảng viên; khắc phục ngay tình trạng ăn uống, chè chén, “liên hoan”, “gặp mặt” không lành mạnh, động cơ không trong sáng.

– Thứ ba, đẩy mạnh và nâng cao hiệu lực, hiệu quả công tác kiểm tra, giám sát, kỷ luật Đảng. Trong đó chú trọng nâng cao hiệu quả hoạt động của Ban chỉ đạo phòng chống tham nhũng; trước mắt Trung ương tập trung xử lý nghiêm các vụ án tham nhũng mà dư luận quan tâm và công khai kết quả xử lý. Người đứng đầu các cơ quan phải chịu trách nhiệm nếu để xảy ra tiêu cực, tham nhũng, lãng phí.

– Thứ tư, phát huy vai trò của nhân dân và MTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội, các cơ quan thông tin đại chúng trong giám sát, phản biện, tham gia xây dựng, chỉnh đốn Đảng.

Trung ương ban hành Nghị quyết về một số chủ trương, chính sách lớn nhằm tiếp tục đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động và sức cạnh tranh của nền kinh tế với 3 lý do sau:

– Thứ nhất, mô hình tăng trưởng của nước ta từ trước đến nay, chủ yếu dựa vào tăng nguồn vốn đầu tư và số lượng lao động, tài nguyên khoáng sản. Mà cái này (lao động, vốn, tài nguyên khoáng sản) là có hạn, sử dụng đến một lúc nào đó cũng sẽ hết. Cho nên, tăng trưởng theo hướng này thì không bền vững. Và thực tế là trong mấy năm nay, tốc độ tăng trưởng của nước ta đã có dấu hiệu chựng lại, chất lượng tăng trưởng thấp.

– Thứ hai, từ năm 2010 đến nay, để duy trì tốc độ tăng trưởng, Đảng và Chính phủ cũng đã có những chủ trương, chính sách để đổi mới mô hình tăng trưởng, như là cơ cấu lại doanh nghiệp nhà nước (mà trọng tâm là các tập đoàn kinh tế); cơ cấu lại lĩnh vực tài chính (mà trọng tâm là các tổ chức tín dụng và ngân hàng); cơ cấu lại đầu tư (mà trọng tâm là đầu tư công)… Nhưng thực tế chưa đạt được kết quả như mong muốn, nền kinh tế nước ta có những mặt, yếu tố, lĩnh vực tụt hậu thậm chí tụt hậu xa hơn với các nước trong khu vực. Những cái đó chỉ là những giải pháp tình thế, giải pháp mang tính hành chính là nhiều, chứ chưa phải là những giải pháp chiến lược dài hạn.

– Thứ ba, hiện nay chúng ta đã hội nhập với thế giới rồi (đã gia nhập cộng đồng ASEAN, tham gia ký kết nhiều hiệp định thương mại thế hệ mới với các nước châu Âu, sắp tới sẽ ký với Mỹ và một số nước khác), nếu không muốn thua thiệt trên sân nhà, muốn kinh tế mạnh lên, sánh với các nước trong khu vực, thì phải có quyết tâm cao, có những giải pháp căn bản, lâu dài để đổi mới mô hình tăng trưởng.

1. Quan điểm của Đảng về đổi mới mô hình tăng trưởng

– Thứ nhất, đây là mô hình tăng trưởng ngày càng dựa nhiều hơn vào năng suất lao động, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế.

– Thứ hai, là huy động, phân bổ và sử dụng hiệu quả các nguồn lực theo tín hiệu và cơ chế thị trường.

– Thứ ba, là phát huy tinh thần yêu nước, lòng tự hào, tự tôn dân tộc, tài năng, trí sáng tạo của con người và mọi tiềm năng, lợi thế của các ngành, lĩnh vực, các địa phương và cả nước.

– Thứ tư, là tạo cơ hội cho mọi người dân tham gia và cùng hưởng lợi từ tăng trưởng.

– Thứ năm, là chú trọng nâng cao chất lượng tăng trưởng, giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, thực hiện tiến bộ và công bằng xã hội, bảo đảm quốc phòng – an ninh, giữ gìn môi trường sinh thái.

– Tiếp tục củng cố vững chắc nền tảng kinh tế vĩ mô; kiểm soát lạm phát bình quân dưới 5%/năm; giảm dần tỷ lệ bội chi ngân sách nhà nước, đến năm 2022 xuống dưới 4% GDP, đến năm 2030 xuống khoảng 3% GDP.

– Quy mô nợ công hằng năm giai đoạn 2022 – 2022 không quá 65% GDP, nợ chính phủ không quá 55% GDP và nợ nước ngoài của quốc gia không quá 50% GDP. Đến năm 2030, nợ công không quá 60% GDP, nợ chính phủ không quá 50% GDP, nợ nước ngoài của quốc gia không quá 45% GDP.

– Giai đoạn 2022 – 2022, hằng năm có khoảng 30 – 35% doanh nghiệp có hoạt động đổi mới sáng tạo. Tốc độ tăng năng suất lao động bình quân hằng năm cao hơn 5,5%; tốc độ tăng năng suất nội ngành đóng góp hơn 60% vào tăng năng suất lao động năm 2022.

– Đến năm 2022, tỷ trọng lao động có chứng chỉ đào tạo tăng lên khoảng 25%; tỷ trọng lao động nông nghiệp giảm xuống dưới 40%.

– Năng suất các nhân tố tổng hợp (TFP) đóng góp vào tăng trưởng bình quân giai đoạn 2022 – 2022 khoảng 30 – 35%; thu hẹp khoảng cách năng lực cạnh tranh quốc gia với các nước ASEAN 4.

Câu 3. Đảng đã đề ra những chủ trương, chính sách gì để đổi mới mô hình tăng trưởng?

Đảng đã đề ra 8 chủ trương, chính sách lớn để đổi mới mô hình tăng trưởng, đó là:

– Một là, nâng cao hiệu lực, hiệu quả điều hành kinh tế vĩ mô;

– Hai là, tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược (đó là: Hoàn thiện thể chế kinh tế thị trường định hướng xã hội chủ nghĩa; Tiếp tục phát triển kết cấu hạ tầng kinh tế – xã hội đồng bộ, hiện đại; Chú trọng phát triển nguồn nhân lực Việt Nam đáp ứng yêu cầu phát triển và hội nhập của đất nước);

– Ba là, ưu tiên phát triển và chuyển giao khoa học – công nghệ hiện đại, coi đây là yếu tố trọng yếu nâng cao năng suất, chất lượng và sức cạnh tranh của nền kinh tế;

– Bốn là, đẩy mạnh cơ cấu lại tổng thể các ngành, lĩnh vực kinh tế trên phạm vi cả nước và từng địa phương, doanh nghiệp với tầm nhìn dài hạn, có lộ trình cụ thể; gắn kết chặt chẽ giữa cơ cấu lại tổng thể nền kinh tế với cơ cấu lại các ngành, lĩnh vực trọng tâm;

– Năm là, phát triển mạnh khu vực kinh tế tư nhân Việt Nam cả về số lượng, chất lượng, thực sự là một động lực quan trọng trong phát triển kinh tế;

– Sáu là, đổi mới cách thức thực hiện liên kết, phối hợp giữa các địa phương trong phát triển kinh tế vùng; thực hiện có hiệu quả quá trình đô thị hóa;

– Bảy là, đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với bảo đảm quốc phòng, an ninh;

– Tám là, đổi mới phương thức, nâng cao năng lực, hiệu lực và hiệu quả quản lý nhà nước.

Trung ương tiếp tục ra nghị quyết để lãnh đạo, chỉ đạo vấn đề hội nhập kinh tế quốc tế, có 2 lý do:

– Thứ nhất, trước những yêu cầu, đòi hỏi khắt khe, phức tạp, nhạy cảm của các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới, chúng ta cần phải có sự chủ động, cẩn trọng hơn trong cụ thể hóa thực hiện. Chẳng hạn như vấn đề cho phép người lao động ở các doanh nghiệp thành lập các tổ chức của mình, ngoài tổ chức công đoàn hiện nay…

– Thứ hai, sau gần 10 năm thực hiện cam kết với tổ chức Thương mại thế giới từ năm 2007 đến nay, bên cạnh thành tựu đạt được, chúng ta còn nhiều hạn chế, yếu kém. Hiệu quả hội nhập kinh tế quốc tế chưa cao, chưa tận dụng được cơ hội của hội nhập kinh tế quốc tế, cũng chưa vượt qua được thử thách của hội nhập kinh tế quốc tế, nguồn ngoại lực hỗ trợ cho phát triển đất nước chưa nhiều.

– Thực hiện tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội;

– Tăng cường khả năng tự chủ của nền kinh tế, mở rộng thị trường, tranh thủ thêm vốn, công nghệ, tri thức, kinh nghiệm quản lý, bảo đảm phát triển nhanh và bền vững, nâng cao đời sống nhân dân;

– Bảo tồn và phát huy bản sắc văn hóa dân tộc; giữ vững độc lập, chủ quyền, thống nhất và toàn vẹn lãnh thổ;

– Nâng cao uy tín và vị thế của Việt Nam trên trường quốc tế.

– Kiên định đường lối đối ngoại độc lập, tự chủ; đa dạng hóa, đa phương hóa quan hệ quốc tế; chủ động và tích cực hội nhập kinh tế quốc tế vì lợi ích quốc gia – dân tộc là định hướng chiến lược lớn để xây dựng và bảo vệ Tổ quốc. Vận dụng sáng tạo các bài học kinh nghiệm và giải quyết tốt các mối quan hệ lớn, nhất là mối quan hệ giữa tính độc lập, tự chủ của nền kinh tế và hội nhập kinh tế quốc tế ngày càng sâu rộng.

– Hội nhập kinh tế quốc tế là trọng tâm của hội nhập quốc tế; hội nhập trong các lĩnh vực khác phải tạo thuận lợi cho hội nhập kinh tế quốc tế. Hội nhập kinh tế quốc tế là sự nghiệp của toàn dân; doanh nhân, doanh nghiệp, đội ngũ trí thức là lực lượng đi đầu. Nhà nước cần tập trung khuyến khích, tạo điều kiện cho sự phát triển, nâng cao năng lực cạnh tranh của quốc gia, doanh nghiệp và sản phẩm Việt Nam, nâng cao trình độ phát triển của nền kinh tế.

– Bảo đảm sự lãnh đạo tuyệt đối của Đảng đối với tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị – xã hội trong bối cảnh nước ta tham gia các hiệp định thương mại tự do thế hệ mới. Nâng cao hiệu quả quản lý của Nhà nước, phát huy vai trò của MTTQ Việt Nam và các tổ chức chính trị – xã hội; tôn trọng và phát huy quyền làm chủ của nhân dân, tăng cường sức mạnh của khối đại đoàn kết toàn dân tộc trong tiến trình hội nhập quốc tế. Đổi mới phương thức lãnh đạo của Đảng đối với các tổ chức chính trị – xã hội, đặc biệt là công đoàn, phù hợp với yêu cầu của tình hình mới.

– Xử lý thỏa đáng mối quan hệ giữa độc lập, tự chủ và hội nhập kinh tế quốc tế, xây dựng nền kinh tế có khả năng tự chủ cao, ứng phó được với những biến động kinh tế quốc tế; giữ vững ổn định kinh tế vĩ mô, an ninh kinh tế.

– Thực hiện đổi mới mô hình tăng trưởng gắn với cơ cấu lại nền kinh tế, coi đây vừa là tiền đề, vừa là hệ quả của hội nhập kinh tế quốc tế, là giải pháp có tính quyết định để nâng cao nội lực nhằm tận dụng cơ hội, vượt qua thách thức của giai đoạn hội nhập kinh tế quốc tế mới, bảo đảm nền kinh tế phát triển nhanh và bền vững. Xác định gia tăng xuất khẩu, số lượng và chất lượng thu hút đầu tư nước ngoài, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế là các tiêu chí kinh tế trực tiếp để đánh giá kết quả hội nhập quốc tế về kinh tế.

– Tiếp tục thực hiện ba đột phá chiến lược, tạo môi trường đầu tư, kinh doanh thuận lợi cho phát triển nhanh và bền vững; thực hiện có hiệu quả tiến trình hội nhập kinh tế quốc tế, giữ vững ổn định chính trị trong tình hình mới và thực thi các cam kết quốc tế. Tập trung nghiên cứu, triển khai thực hiện các giải pháp mới có hiệu quả để phát huy sức mạnh tổng hợp và sự sáng tạo của cộng đồng doanh nghiệp, doanh nhân; huy động mạnh mẽ mọi nguồn lực trong và ngoài nước cho đầu tư phát triển.

– Trong 5 – 10 năm tới, tập trung khai thác hiệu quả các cam kết quốc tế, xây dựng các cơ chế, chính sách phòng vệ thương mại, phòng ngừa và giải quyết tranh chấp quốc tế; có chính sách phù hợp hỗ trợ các lĩnh vực có năng lực cạnh tranh thấp vươn lên; tăng cường đào tạo, nâng cao năng lực cán bộ, trình độ pháp luật quốc tế, xây dựng hàng rào kỹ thuật, biện pháp phòng vệ chủ động phù hợp.

1. Đối với các cấp ủy: lãnh đạo, chỉ đạo học tập, quán triệt và thực hiện nghiêm túc, hiệu quả; triển khai cam kết cá nhân và thực hiện kiểm điểm, tự phê bình và phê bình thường xuyên trong sinh hoạt cấp ủy, chi bộ; tăng cường công tác kiểm tra, giám sát việc thực hiện Nghị quyết, nhất là kiểm tra, giám sát việc thực hiện cam kết cá nhân; tạo điều kiện thuận lợi để MTTQ, các đoàn thể chính trị – xã hội, nhân dân và các cơ quan thông tin đại chúng phát huy vai trò giám sát, phản biện, tham gia xây dựng Đảng và hệ thống chính trị.

2. Đối với chính quyền các cấp: Cụ thể hóa quan điểm, chủ trương của Đảng thành các văn bản pháp luật, kế hoạch, đề án…, để triển khai thực hiện.

3. Đối với cán bộ, đảng viên: Học tập, quán triệt và thực hiện nghiêm túc các quan điểm, chủ trương của Đảng; thực hiện tốt vai trò là tuyên truyền viên của Đảng, tuyên truyền, phổ biến rộng rãi quan điểm, chủ trương của Đảng về: tăng cường xây dựng, chỉnh đốn Đảng; ngăn chặn, đẩy lùi sự suy thoái về tư tưởng chính trị, đạo đức, lối sống, những biểu hiện “tự diễn biến”, “tự chuyển hóa” trong nội bộ; đổi mới mô hình tăng trưởng, nâng cao chất lượng tăng trưởng, năng suất lao động, sức cạnh tranh của nền kinh tế và về hội nhập kinh tế quốc tế. Tự giác, chủ động, tích cực tu dưỡng, rèn luyện đạo đức, lối sống theo bản cam kết cá nhân; gương mẫu chấp hành Cương lĩnh, Điều lệ Đảng, các quy định của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước.

4. Đối với nhân dân: Chấp hành nghiêm các quan điểm, chủ trương của Đảng, chính sách và pháp luật của Nhà nước; thực hiện tốt nghĩa vụ công dân, phát huy dân chủ, tích cực tham gia đóng góp ý kiến xây dựng Đảng, hệ thống chính trị, xây dựng nông thôn mới và xây dựng đô thị văn minh.

Căn cứ vào nội dung này, đề nghị các đồng chí đảng viên phụ trách tổ, tổ trưởng tổ nhân dân tự quản, tùy tình hình thực tế của tổ triển khai tuyên truyền cho phù hợp.

Bài 1: Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii

Ý Nghĩa Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12

Bản Cam Kết Và Kế Hoạch Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii

Bản Cam Kết Thực Hiện Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12 Violet

Bản Cam Kết Học Tập Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa 12

Cập nhật thông tin chi tiết về Nội Dung Nghị Quyết Trung Ương 4 Khóa Xii Của Đảng trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!