Xu Hướng 3/2024 # Ôn Tập Văn Bản Văn Học Nước Ngoài # Top 8 Xem Nhiều

Bạn đang xem bài viết Ôn Tập Văn Bản Văn Học Nước Ngoài được cập nhật mới nhất tháng 3 năm 2024 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

IV. Ôn tập Văn bản văn học nước ngoài – học kỳ 1 – văn lớp 8

4.1. Truyện cổ tích “Cô bé bán diêm” – An-đéc-xen.

– Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm).

– Chủ đề: Lòng thương cảm, xót xa dành cho những số phận bất hạnh

– Nghệ thuật: Câu chuyện cổ tích với nhiều tình tiết kỳ ảo, sắp xếp hợp lý. Bối cảnh tạo dựng với hình ảnh đối lập, tăng sắc thái biểu cảm cho câu chuyện.

– Nội dung chính: Bằng những hình ảnh cảm động, An-đéc-xen, qua câu chuyện Cô bé bán diêm đã thể hiện được niềm cảm thông, thương yêu dành cho em bé bất hạnh. Những yếu tố phi lí trong câu chuyện càng bộc lộ được sự sẻ chia của tác giả. Xây dựng kết thúc chuyện bằng “một cảnh thương tâm”, An-đéc-xen cũng đã gián tiếp phê phán xã hội lạnh lùng, vô cảm, không có tình thương.

4.2. Đoạn trích “Đánh nhau với cối xay gió” – Xéc-van-téc (trích tiểu thuyết Đôn Ki-hô-tê):

– Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm).

– Chủ đề: Thể hiện sự tương phản trong tính cách con người đồng thời thể hiện khát vọng cao đẹp về tình yêu.

– Nghệ thuật: Thủ pháp phóng đại trong dựng cảnh, tương phản trong miêu tả nhân vật cùng giọng điệu trào phúng, hóm hỉnh.

– Nội dung chính: Đánh nhau với cối xay gió là một trang đời, một trong những chiến công của Đôn Ki-hô-tê. Với thủ pháp trào lộng, phóng đại và tương phản đối lập, tác trong kể chuyện, Xéc-van-téc đã xây dựng hình ảnh của một trang hiệp sĩ Tây Ban Nha đã lỗi thời của thời Trung cổ. Đằng sau bề mặt câu chữ, người đọc luôn bắt gặp nụ cười của trào phúng của Xéc-van-téc nhưng ẩn bên trong tiếng cười ấy là sự đề cao trong chừng mực tình yêu tự do, sự bình đẳng, cách sống thiết thực, yêu đời.

4.3. Truyện ngắn “Chiếc lá cuối cùng” – O Hen-ri:

– Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm).

– Chủ đề: Thể hiện tình thương cùng với quan niệm nghệ thuật chân chính của nhà văn O Hen – ri.

– Nghệ thuật: Xây dựng tình huống truyện bất ngờ với hai lần đảo lộn tình thế đồng thời, còn thể hiện tính cách thông qua hành động và lời nói nhân vật.

– Nội dung chính: “Chiếc lá cuối cùng”, một sáng tác của O Hen – ri, là truyện ngắn viết về những con người bình thương nhưng lại tạo những ấn tượng khó phai bởi ánh sáng nhân đạo, tình thương người toát ra từ các nhân vật bình thường ấy. “Bức thông điệp màu xanh” mà tác giả gửi gắm trong tác phẩm đã thể hiện những tình cảm chân thành, lời nhắn nhủ thiết tha mong mỏi nhân loại hãy phấn đấu cho hạnh phúc của con người, đem nghệ thuật phục vụ con người, hướng đến con người.

4.4. Truyện ngắn “Hai câu phong” – Ai-ma-tốp (trích “Người thầy đầu tiên”)

– Phương thức biểu đạt: Tự sự (kết hợp với miêu tả, biểu cảm).

– Chủ đề: Qua câu chuyện về hai cây phong, tác giả đã thể hiện tình yêu quê hương tha thiết cùng với những kỷ niệm khó quên thuở ấu thơ cùng người thầy đầu tiên đáng kính.

– Nghệ thuật: Đa dạng trong sử dụng đại từ (“tôi”, “chúng tôi”). Kết hợp miêu tả thông qua liên tưởng, tưởng tượng mang giá trị tạo hình cao.

– Nội dung chính: Đoạn trích “Hai cây phong” trong “Người thầy đầu tiên” của Ai-ma-tốp đã khắc họa hình ảnh hai cây phong hết sức sinh động. Hai cây phong hiện lên rõ nét không chỉ thông qua thị giác mà còn được cảm nhận bằng thính giác với những âm thanh khi xôn xao, khi lại rì rào, có lúc lại háo hức, reo vui. Từ hình ảnh ấy, tác giả tinh tế “rẽ lối” sang câu chuyện về người thầy Đuy-sen, người thầy đầu tiên, bằng những bài học ý nghĩa đã khơi sâu tình yêu quê hương, vun xới ước mơ của những cô cậu học trò thơ dại.

Ôn Tập Văn Học Nước Ngoài Và Văn Bản Nhật Dụng Lớp 8

Ôn tập văn học nước ngoàivà văn bản nhật dụng

Tiết 65 : I.Văn bản nước ngoài:Ôn tập văn học nước ngoàivà văn bản nhật dụng Nêu tên tác giả và quốc gia của các văn bản nước ngoài đó ?Củng cố bài cũAn-đéc-xenXéc-van-técÔ. Hen-riAi-ma-tốpĐan MạchTây ban nhaMỹCư-rơ-gư-xtan Vào đêm giao thừa, đường phố lạnh giá một cô bé ngồi nép trong một góc tường, rét buốt nhưng không dám về nhà vì sợ bố đánh. Em quyết định quẹt một que diêm để sưởi. Lần quẹt thứ nhất, em thấy ánh lò sưởi. Lần thứ hai, thấy bàn ăn có ngỗng quay. Lần thứ ba thấy cây thông Nô-en. Lần thứ tư thấy bà hiện về, những que diêm còn lại, hai bà cháu bay về chầu thượng đế. Buổi sáng hôm sau, người ta thấy thi thể em bé giữa những bao diêm. Hai thầy trò Đôn-ki-hô-tê gặp những chiếc cối xay gió, chàng nghĩ là những gã khổng lồ xấu xa. Mặc cho Xan-chô Pan-xa can ngăn, Đôn-ki-hô-tê vẫn xông tới phóng giáo đâm vào cánh quạt. Vừa lúc đó, gió nổi lên, cánh quạt hất chàng ngã lộn cổ xuống đất. Ngọn giáo gãy tan tành. Đôn-ki-hô-tê rất đau nhưng không kêu ca, cho mình bại trận là do pháp sư Phơ-re-xtôn gây ra. Hai thầy trò lại tiếp tục lên đường tìm kiến cuộc phiêu lưu mới. Giôn-xi mắc bệnh, cô chán chường buông xuôi sự sống. Cô đếm ngược và chờ đợi chiếc lá cuối cùng lìa cành, mình cũng lìa đời. Sáng hôm sau Giôn-xi tỉnh dậy thấy cây thường xuân vẫn còn chiếc lá chưa rụng qua một ngày và một đêm mưa gió phũ phàng. Giôn-xi nhận thấy muốn chết là có tội, cô lấy lại được nghị lực sống và vượt qua cái chết. Xiu kể lại cho Giôn-xi biết chiếc lá cuối cùng chính là bức tranh cụ Bơ-men bí mật vẽ trong đêm mưa gió. Cụ đã chết vì sưng phổi. Làng Ku-ku-rêu nằm ven chân núi, phía dưới là thung lũng Vàng. Trên làng, giữa ngọn đồi, hai cây phong to lớn như hai ngọn hải đăng, là biểu tượng của tiếng nói riêng, tâm hồn riêng của làng. Nhân vật “tôi” cảm nhận sự gắn bó tuổi thơ mình với hai cây phong, những kí ức gắn liền ngôi trường và thầy giáo Đuy-sen. Người thầy giáo với tâm hồn cao đẹp, không bằng cấp nhưng đã vun trồng bao ước mơ, hi vọng cho những trò nhỏ của mình. Mồ côi mẹ, bà nội mất, sống với người cha nghiện rượu lạnh lùng, tàn nhẫn. Sống chui rúc trong một xó tối tăm trên gác sát mái nhà. Phải đi bán diêm để sống.Nghèo khó, bất hạnh, thiếu thốn tình cảm, đói khát, sống cô độc, lạnh lẽo, thật đáng thương trong đêm giao thừa, thời tiết buốt giá.? Qua phần đầu câu truyện, chúng ta được biết gì về gia cảnh của cô bé bán diêm ?Lần thứ nhất : tưởng đang ngồi trước lò sưởi  được sưởi ấm.Lần thứ hai : một bàn ăn sạch sang trọng, có ngỗng quay.Lần thứ ba : thấy cây thông Nô-en đẹp, nến sáng lấp lánh, nhiều màu sắc rực rỡ.Lần thứ tư : hình ảnh người bà hiện về mỉm cười với em. Lần thứ năm : em quẹt hết các que diêm còn lại  muốn giữ bà lại mãi mãi.  Tất cả chỉ là ảo ảnh hiện thực là đói rét bát hạnh.? Những lần quẹt que diêm của em bé và những mộng tượng của em bé ? Hiện thực phũ phàng khi que diêm bị tắt ?– Quý tộc sa sút.– Gầy gò, cao, cưỡi ngựa.– Hiệp sĩ giệt ác, cứu người. khát vọng cao cả, tốt đẹp.– Tưởng những tên không lồ. hoang tưởng, mê muội.– Một mình xông vào đánh …  dũng cảm, quyết tâm.– Trọng thương không rên la.– Không bận tâm đến ăn ngủ.  quá máy móc, mù quáng.– Nông dân nghèo.– Béo, lùn, cưỡi lừa.– Muốn cai trị một số đảo.  ước muốn bình thường.– Khẳng định là cối xay gió.  thực tế, tỉnh táo.– Hết lời can ngăn chủ. ứng xử sáng suốt.– Đau một chút là rên. – Ăn ngủ thoải mái.  hèn nhát, thực dụng.Một hoạ sĩ trẻ, nghèo, đang bị sưng phổi nặng  chán nản, mệt mỏi, tuyệt vọng.Suy nghĩ : Khi nào chiếc lá cuối cùng rụng xuống thì cô sẽ chết  tuyệt vọng, chờ đợi cái chết đến với mình.Lần hai, thấy chiếc lá vẫn còn đó  cô cảm nhận được sức sống mãnh liệt, bền bỉ của chiếc và nhu cầu sống trở lại trong cô.  Thay đổi suy nghĩ, thái độ vượt qua được cái chết.? Diễn biến tâm trạng và tình trạng bệnh tình của Giôn xi ?Bác Bơ-men một hoạ sĩ già, thường ngồi làm mẫu vẽ cho các hoạ sĩ trẻ, bác luôn mơ ước vẽ được một kiệt tác, yêu thương, lo lắng bệnh tình của Giôn-xi.Lặng lẽ vẽ chiếc lá cuối cùng trong đêm mưa gió. Sau đó cụ đã chết vì viêm phổi.  Một con người cao thượng quên mình vì người khác.? Hình ảnh bác Bơ-men và kiệt tác “Chiếc lá cuối cùng” của bác ?Hai cây phong trong kí ức tuổi thơ : chúng ghiêng ngả đung đưa như muốn chào mời … xào xạc dịu hiền. Là nơi hội tụ bắt chim trong những ngày hè. Là nơi hội tụ niềm vui tuổi thơ, nơi gắn bó chan hoà thân ái. Là nơi tiếp sức cho tuổi thơ khám phá thế giới. Là người bạn thân thiết của những đứa trẻ trong làng.? Hình ảnh “hai cây phong” trong sự cảm nhận của “chúng tôi” ?Như những ngọn hải đăng trên đỉnh núi. Mỗi lần về làng, việc đầu tiên là tìm hai cây phong thân thuộc ấy.Có tiếng nói, tâm hồn riêng, chan chứa những lời ca êm dịu, rì rào theo những cung bậc khác nhau như làn sóng thuỷ triều, như tiếng thì thầm tha thiết …  Khắc họa hình ảnh tươi đẹp, kiên cường, gần gũi, gắn bó với con người  thể hiện tình yêu quê hương da diết.? Hình ảnh hai cây phong đối trong cảm nhận của nhân vật “Tôi” – An-tư-nai ?Thể hiện những bức tranh đẹp đẽ về thiên nhiên, về vẻ đẹp con người qua cái nhìn từ tấm lòng nhân hậu trân trọng cuộc sống của các nhà văn.Những nhân vật được thể hiện qua cách nhìn khác nhau nhưng đều đẹp đẽ về tính cách, cách ứng xử đầy tình nhân cái.Đem đến cho người đọc những bài học hay về cuộc sống.Điểm giống nhau về nội dung của các VBNN ?

a.Nhân vật cô bé bán diêm: – Đứa trẻ đói rét, bất hạnh đáng thương. b.Nhân vật Đôn-ki-hô-tê: – Sống có lý tưởng nhưng kỳ quặt. c.Nhân vật Gion-xi , Xiu và Bơ-men: – Những nghệ sĩ nghèo yêu thương đùm bọc nhau trong cuộc sống. d.Nhân vật “tôi” trong “Hai cây phong”: – Hai cây phong là biểu tượng tình cảm đẹp đẽ của “tôi’ và “chúng tôi”Điểm khác nhau về các nhân vật qua các VBNN ?

Tiết 65 : I.Văn bản nước ngoài: II.Văn bản nhận dụng:Ôn tập văn học nước ngoàivà văn bản nhật dụng (Ni lông lẫn vào đất) làm cản trở quá trình sinh trưởng của thực vật, dẫn tới xói mòn.Làm tắc các đường dẫn nước thải, tăng khả năng ngập lụt, làm muỗi phát sinh, truyền dịch bệnh.Đặc biệt làm ô nhiễm thực phẩm, gây tác hại cho não gây ung thư phổi.Khí độc do đốt bao bì ni lông gây ngộ độc… Làm cho thế giới mất an toàn, gây hại cho sức khoẻ.? Qua văn bản “Thông tin về ngày trái đất năm 2000”, cho chúng ta biết về tác hại của việc sử dụng bao bì ni lông như thế nào ?Hạn chế tối đa việc dùng bao bì ni lông. Tuyên truyền về sự tác hại của bao bì ni lông. Vận động mọi người tìm giải pháp thay thế bao bì khác ít tác hại đến môi trường. Đề xuất hợp lí, có tính khả thi nhưng chưa triệt để tận gốc vấn đề.? Hãy nêu một số giải pháp hạn chế dùng bao bì ni lông ?Về sức khoẻ : làm tê liệt các lông mao ở vòm họng, phế quản, nang phổi, gây viêm phế quản, ung thư …Làm co thắt các động mạch, gây huyết áp cao, tắc động mạch, nhồi máu cơ tim, có thể gây tử vong. Khói thuốc lá còn đầu độc người xung quanh.Về đạo đức : tỉ lệ thanh thiếu niên hút thuốc ở nước ta cao.Để có tiền hút, thiếu niên có thể sinh ra trộm cắp. Từ nghiện thuốc lá có thể dẫn tới nghiện thuốc phiện làm huỷ hoại lối sống, nhân cách con người.? Hãy nêu tác hại của thuốc lá qua văn bản “Ôn dich, thuốc lá” của Nguyễn Khắc Viện ?Các nước phát triển tiến hành những chiến dịch, thực hiện những biện pháp ngăn ngừa, hạn chế quyết liệt  đang đạt được hiệu quả cao.Chúng ta cần phải quyết tâm chống lại nạn dịch thuốc lá.Hãy trở thành tuyên truyên viên về chống tác hại thuốc lá vì sức khỏe con người.? Những kiến nghị của tác giả Nguyễn Khắc Viện về việc chống thuốc lá ?Lúc đầu trái đất chỉ có hai người. Nếu mỗi gia đình chỉ sinh hai con thì đến năm 1995 dân là 5,63 tỉ người, tương đương ô thứ 30 của bàn cờ.Dự tính năm 2024 dân số thế giới sẽ là hơn 7 tỉ người. Sự gia tăng dân số tỉ lệ thuận với sự nghèo khổ, tỉ lệ nghịch với sự phát triển kinh tế – văn hoá …? Thực trạng bài toán dân số được tính toán từ câu chuyện trong Kinh thánh và dự báo đến hiện nay như thế nào ?Nếu con người sinh sôi theo cấp số nhân thì đến lúc sẽ không còn đất để sinh sống.Muốn tồn tại con người phải hạn chế sự gia tăng dân số bằng việc thực hiện tốt về kế hoạch hóa gia đình. Là lời kêu gọi khẩn thiết, vô cùng cấp bách.? Những kiến nghị của tác giả Thái An về vấn đề dân số ?Đều sử dụng phương thức nghị luận, cách lập luận chặt chẽ, nêu ra những luận cứ xác đáng, thuyết phục.Đề cập đến vấn đề thường nhật bức thiết gắn với vấn đề lâu dài trong đời sống xã hội.Đặt ra vấn đề xã hội, con người cần quan tâm, tuyên truyền giáo dục mọi người cần có trách nhiệm vì lợi ích cộng đồng.Điểm chung giống nhau :So sánh 3 văn bản nhật dụng đã học ?

a.Thông tin về ngày trái đất năm 2000: Lời kêu gọi hạn chế dùng bao bì ny-lon để bảo vệ môi trường. b.Ôn dịch, thuốc lá: Giống như ôn dịch, thuộc lá gây nguy hại đến sức khỏe và tính mạng con người. c.Bài toán dân số: Đất đai không sinh thêm, con người mỗi ngày càng nhiều hơn. Đó là bài toán đáng lo ngại của thế giới.Điểm riêng khác nhau :So sánh 3 văn bản nhật dụng đã học ? 1. Bài cũ : – Ôn tập nắm vững kiến thức về văn bản. – Hệ thống lại văn bản đã học. – Đối chiếu so sánh các văn bản. 2. Bài mới : – Nêu cảm nghĩ về nhân vật, văn bản – Soạn văn bản “Hai chữ nước nhà”.Chaò tạm biệt

Ôn Tập Văn Bản “Tức Nước Vỡ Bờ”

Văn bản: Tức nước vỡ bờ(Trích Tắt đèn – Ngô Tất Tố)I. Tác giả:– Ngô Tất Tố (1893 – 1954) quê quán Lộc Hà, huyện Từ Sơn, tỉnh Bắc Ninh. Thủơ nhỏ, ông nổi tiếng thông minh, đỗ đầu kì thi khảo hạch vùng Kinh Bắc, được ái mộ gọi là “Đầu xứ Tố”. Khi nền Hán học suy tàn, ông tự học chữ Quốc ngữ, và học tiếng Pháp. ông trở thành một nhà văn, một nhà báo, nhà dịch thuật và khảo cứu nổi tiếng.– Ngô Tất Tố là một “tay ngôn luận xuất sắc trong đám nhà nho” (Vũ Trọng Phụng). Ông đã đứng về phía nhân dân, bênh vực những người nghèo khổ, vạch mặt bọn địa chủ, cường hào và quan lại tham lam độc ác và thối nát đã áp bức, bóc lột nhân dân một cách vô cùng dã man. ông là một tấm gương sáng về tinh thần tự học, vươn lên cho tuổi trẻ chúng ta noi theo.– Tác phẩm chính: tiểu thuyết “Tắt đèn”; “Lều chõng”; Phóng sự “Việc làng”II. Đoạn trích: “Tức nước vỡ bờ”1. Nhan đề đoạn trích : (Thành ngữ “Tức nước vỡ bờ” được dùng đặt tên cho văn bản như vậy có ý nghĩa gì?)– “Tức nước vỡ bờ” (con giun xéo lắm cũng quằn, già néo đứt dây) là một thành ngữ dân gian. “Tức” chỉ trạng thái bên trong bị dồn nén đầy chặt quá đến mức muốn bung ra. Câu thành ngữ có ý nghĩa chỉ sự chèn ép, áp bức quá sẽ khiến người ta phải vùng lên chống đối phản kháng lại. Câu thành ngữ nêu lên một quy luật của tự nhiên mà lại có ý nghĩa xã hội sâu sắc, thâm thuý vô cùng.– Người biên soạn đã vận dụng cách nói dân gian ngắn gọn, rất thông minh ấy để đặt tên cho chương XVIII của cuốn tiểu thuyết “Tắt đèn” giúp người đọc có sự định hướng ban đầu rõ rệt về tình huống hấp dẫn của truyện, về những hình tượng nhân vật sống động, điển hình.– Nhan đề ấy cũng thật phù hợp với nội dung ý nghĩa của đoạn trích. Sự áp bức trắng trợn, dã man của bọn tay sai cho chế độ thực dân phong kiến ấy đã buộc người phụ nữ nông dân đầy nhẫn nhịn như chị Dậu phải “vỡ bờ” đứng dậy đấu tranh.– Song nhan đề đoạn trích còn toát lên chân lí: con đường sống của quần chúng bị áp bức chỉ có thể là con đường đấu tranh để tự giải phóng, không có con đường nào khác. Vì vậy mà tuy tác giả “Tắt đèn” khi đó chưa giác ngộ Cách mạng, tác phẩm kết thúc rất bế tắc nhưng nhà văn Nguyễn Tuân đã nói rằng: “Với Tắt đèn, Ngô Tất Tố đã xui người nông dân nổi loạn”. Ngô Tất Tố chưa nhận thức được chân lí Cách mạng nên chưa chỉ ra được con đường đấu tranh tất yếu của quần chúng bị áp bức, nhưng bằng cảm quan hiện thực mạnh mẽ, nhà văn đã cản nhận được xu thế “tức nước vỡ bờ” và sức mạnh to lớn khôn lường của sự “vỡ bờ” đó. Và không phải quá lời nếu cho rằng cảnh ”

Ôn Tập Văn Bản “Tôi Đi Học” (Thanh Tịnh)

Văn bản ” Tôi đi học” của nhà văn Thanh Tịnh là một bài văn giàu chất thơ, gợi cho ta những kí ức thân thương của những buổi đầu bỡ ngỡ đến trường. Tư liệu Ngữ văn THCS xin giới thiệu tới các thầy cô và các em bài phân tích văn bản Tôi đi học. Hi vọng đây sẽ là tài liệu hữu ích cho các thầy cô và các em trong quá trình học Ngữ văn 8.

– Thanh Tịnh (1911 – 1988), tên khai sinh là Trần Văn Ninh, quê ở xóm Gia Lạc, ven sông Hương, ngoại ô thành phố Huế.

– Tác phẩm của ông thường toát lên vẻ đẹp đằm thắm, tình cảm êm dịu, trong trẻo.

-Truyện ngắn “Tôi đi học” in trong tập Quê mẹ, xuất bản năm 1941.

+ Từ đầu đến “trên ngọnnúi”: Tâm trạng và cảm giác của nhân vật tôi trên đường cùng mẹ tới trường

+ Tiếp theo đến “được nghỉ cả ngày”: Tâm trạng và cảm giác của tôi khi đứng giữa sân trường

+ Còn lại: Tâm trạng của nhân vật tôi khi ngồi vào chỗ của mình và đón nhận tiết học đầu tiên.

c. Thể loại: Truyện ngắn đậm chất trữ tình, cốt truyện đơn giản. Có thể xếp vào kiểuvăn bản biểu cảm vì toàn truyện là cảm xúc tâm trạng của nhân vật trong buổi tựu trường đầu tiên.

1. Tâm trạng của nhân vật tôi trên đường tới trường

– Yếu tố khơi nguồn cảm xúc: thiên nhiên – trời vào thu, lá rụng nhiều, mây bàng bạc và con người – mấy em nhỏ rụt rè núp dưới nón mẹ lần đầu tiên đến trường.

– Cảm xúc của nhân vật tôi:

+ nao nức những kỉ niệm mơn man

+ quên thế nào được cảm giác trong sáng ấy…

Ngày đầu tiên đến trường đọng lại mãi trong lòng tác giả như một kí ức thiêng liêng nhất. Để rồi mỗi dịp tựu trường, lờng tác giả lại nôn nao nhớ về kỉ niệm của mình.

– Tâm trạng, cảm giác của nhân vật tôi hiện lên thật chân thật, sống động qua lời văn giàu cảm xúc và các hình ảnh so sánh.

+ Con đường quen bỗng trở nên lạ lẫm

+ Cảm thấy trang trọng, đứng đắn trong chiếc áo vải dù đen

+ Thèm được có những người bạn học

+ Ý nghĩ non nớt, ngây thơ: chỉ người thạo mới cầm được sách bút

Tâm trạng rất đỗi tự nhiên của một đứa trẻ lần đầu tiên đến trường. Cậu bé hiện lên vừa non nớt, ngây thơ lại vừa có tâm hồn tinh tế, nhạy cảm và bước đầu có sự trưởng thành.

– Sự thay đổi trong cảm nhận của nhân vật tôi:

+ Trước đó: trường xa lạ, cáo ráo và sạch sẽ hơn các nhà khác trong làng

+ Bây giờ: trường xinh xắn, oai nghiêm như cái đình làng

+ Đứng nép bên người thân, chỉ dám nhìn một nửa hay bước đi từng bước một; so sánh: chú chim non – khoảng trời rộng

+ Khi tiếng trống trường vang lên, các anh chị lớn đã đi về lớp, các cậu bé cảm thấy chơ vơ, bước đi bối rối.

+ Khi thầy hiệu trưởng điểm danh, cậu cảm thấy tim như ngừng đập

+ Khi nghe gọi tên, cảm thấy giật mình và lúng túng. Và càng lúng túng hơn khi được mọi người qua lại ngắm nhìn.

+ Khi xếp hàng vào lớp: cảm thấy nặng nề; khóc vì phải xa mẹ

ân cần, vỗ về, ông đốc hiền từ mà nghiêm khắc dạy bảo, thầy giáo trẻ tươi cười, người thân nhìn những cậu học sinh với cặp mắt lưu luyến, mọi người đi đường đều ngắm nhìn… đều cho thấy trách nhiệm, sự quan tâm của gia đình và nhà trường dành cho thế hệ tương lai.’

Những cảm xúc rất đỗi chân thực, tự nhiên của một đứa trẻ lần đầu tiên đến trường. Tác giả hồi tưởng và kể lại một cách sống động từng tâm trạng, từng suy nghĩ, có thể thấy ngày đầu tiên đến trường đã đọng lại trong lòng tác giả một dấu ấn khó phai mờ.

Cha mẹ, thầy cô là bàn tay ân cần nâng đỡ, là làn gió mát nhẹ đưa, là tia nắng sáng tươi soi đường để những cánh chim non đang chập chững cất lên mạnh dạn, tự tin bay vào bầu trời khoáng đạt. Thái độ, tình cảm của những người thân đã giúp các cậu học trò mau chóng hoà nhập vào thế giới kì diệu của mái trường .

3. Tâm trạng của nhân vật tôi khi vào trong lớp, đón nhận giờ học đầu tiên.

– Tâm trạng của nhân vật tôi có sự thay đổi:

+ Từ lúng túng, lo sợ khi đứng trước sân trường, bước vào lớp, cậu bé cảm thấy lạ lẫm xen lẫn thích thú. Cậu đã dần quen với ngôi trường, với lớp học.

+ Rồi không mất nhiều thời gian, bàn ghế, bạn bè đã trở thành thân thuộc với cậu (lạm nhận bàn ghế là của mình; bạn bè chưa quen biết nhưng cũng k xa lạ). Cậu cảm thấy quyến luyến lớp học và bạn bè.

Cậu bé cảm thấy lạ vì đây là lần đầu tiên bước vào lớp học, gặp bạn bè. Nhưng cậu ý thức được rằng từ đây, những điều này sẽ gắn bó thân thiết với mình. Do đó cậu cảm thấy thân thuộc và quyến luyến.

Tâm hồn trong sáng, hồn nhiên nhưng cũng rất sâu sắc, giàu tình cảm của cậu bé.

– Hình ảnh chú chim là một hình ảnh đẹp. Cậu bé cũng như chú chim non đang lần đầu bỡ ngỡ, rụt rè bay đến chân trời rộng. Hình ảnh cánh chim, phải chăng còn là sự lưu luyến, tiếc nuối nhưng giây phút vui đùa của một đứa trẻ ham chơi.

– Tiếng phấn của thầy: nhắc nhở về hiện tại. Cậu bé nhanh chóng hòa nhập vào buổi học.

Tâm hồn yêu thiên nhiên, hồn nhiên và sự nhanh nhẹn, tự tin, nhanh chóng hòa nhập vào môi trường mới.

– Ba chữ: “Tôi đi học” khép lại dòng hồi tưởng của nhân vật tôi như một dấu son trang trọng; như một niềm tự hào về một dấu ấn khó quên trong cuộc đời.

– Kỉ niệm trong sáng của tuổi học trò, nhất là buổi tựu trường đầu tiên luôn là những rung động khó phai trong lòng mỗi người.

Tự sự xen kẽ miêu tả và biểu cảm; đặc biệt là những câu văn giàu cảm xúc và những hình ảnh so sánh đậm chất trữ tình.

– Truyện ngắn được bố cục theo hồi tưởng của nhân vật, theo trình tự thời gian.

Nguồn – Tư liệu Ngữ văn THCS

Ôn Tập Văn Bản Nhật Dụng Học Kỳ I

II. Ôn Tập Văn bản nhật dụng học kỳ I – văn lớp 8

2.1. Văn bản “Thông tin về Trái Đất năm 2000” – Theo tài liệu Sở KHCN Hà Nội

– Phương thức biểu đạt: Thuyết minh kết hợp với nghị luận.

– Chủ đề: Kêu gọi cộng đồng ý thức được tác hại của bao bì ni lông, từ đó có những hành động thiết thực để giảm thiểu nhu cầu dùng bao bì ni lông.

– Nghệ thuật: Vận dụng tổng hợp nhiều phương pháp thuyết minh: Nêu định nghĩa, giải thích, liệt kê, phân loại, phân tích.

2.2. Văn bản “Ôn dịch thuốc lá” – Theo Nguyễn Khắc Viện “Từ thuốc lá đến ma tuý – Bệnh nghiện”

– Phương thức biểu đạt: Thuyết minh kết hợp với nghị luận.

– Chủ đề: Thể hiện quyết tâm phòng chống thuốc lá trên cở sở nhận thức được những tác hại to lớn, nhiêu mặt và lâu dài của thuốc lá đối với đời sống cộng đồng.

– Nghệ thuật: thuyết minh với những lập luận chặt chẽ đầy thuyết phục. Vận dụng các phương pháp thuyết minh: giải thích, so sánh, nêu ví dụ.

– Nội dung chính: Như một cản bệnh hiểm nghèo của xã hội, nghiện thuốc lá được tác giả gọi là “ôn dịch” bởi những tác hại ghê gớm mà nó gây ra: lan truyền nhanh, gặm nhấm sức khỏe ngay cả những người không hút thuốc lá. Những tác hại mà thuốc lá gây ra không chỉ đơn thuần ở khía cạnh sức khỏe, nó còn tàn phá kinh tế, suy yếu xã hội, hư hỏng thế hệ tương lai. Từ những dẫn chứng đầy thuyết phục, tác giả đã gián tiếp đặt ra vấn đề đáng để xã hội suy ngẫm, phải làm sao để đẩy lùi căn bệnh “ôn dịch” này.

2.3. Văn bản “Bài toán dân số” – Theo Thái An, Báo Giáo dục – Thời đại

– Phương thức biểu đạt: Nghị luận (kết hợp với tự sự).

– Chủ đề: Tình hình dân số thế giới ngày một gia tăng, đặt ra những tiếng chuông báo động về nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số, đặc biệt là ở những dân tộc chậm phát triển.

– Nghệ thuật: Lập luận chặt chẽ, lí lẽ sắc bén, dẫn chứng rõ ràng, đa dạng, số liệu minh chứng phong phú đầy sức thuyết phục.

– Nội dung chính: Bài báo với nội dung tương đối ngắn gọn nhưng lại chứa đựng nội dung rất có ý nghĩa. Để tăng sức thuyết phục cho lý lẽ của mình, người viết đã sử dụng nhiều số liệu minh chứng cụ thể, rõ ràng Cả nhân loại đang đứng trước nguy cơ bùng nổ và gia tăng dân số quá nhanh. Đó là một hiểm họa cần báo động, là con đường “tồn tại hay không tồn tại” của chính con người.

Ôn Tập Kiến Thức Văn Bản Học Kì 1

1. KHÁI QUÁT VHVN TỪ CMT8-1945 ĐẾN HẾT THẾ KỈ XX.

2. TUYÊN NGÔN ĐỘC LẬP (HỒ CHÍ MINH)

3. NGUYỄN ĐÌNH CHIỂU, NGÔI SAO SÁNG TRONG VĂN NGHỆ CỦA DÂN TỘC

4. TÂY TIẾN (Quang Dũng)

5. VIỆT BẮC (trích – TỐ HỮU)

6. ĐẤT NƯỚC (Trích trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

7. SÓNG (XUÂN QUỲNH)

8. ĐÀN GHI TA CỦA LOR-CA (THANH THẢO)

9. NGƯỜI LÁI ĐÒ SÔNG ĐÀ ( trích – NGUYỄN TUÂN)

10. AI ĐÃ ĐẶT TÊN CHO DÒNG SÔNG? (Trích – HOÀNG PHỦ NGỌC TƯỜNG)

VHVN từ Cách mạng tháng Tám năm 1945 đến năm 1975: * Những chặng đường phát triển:

+ 1945 – 1954: Văn học thời kì kháng chiến chống thực dân Pháp;

+ 1955 – 1964: VH trong những năm xây dựng chủ nghĩa xã hội ở miền Bắc và đấu tranh thống nhất đất nước ở miền Nam;

+ 1965- 1975: VH thời kì chống Mỹ cứu nước.

* Những thành tựu và hạn chế:

+ Thực hiện xuất sắc nhiệm vụ lịch sử giao phó; thể hiện hình ảnh con người Việt Nam trong chiến đấu và lao động.

+ Tiếp nối và phát huy những truyền thống tư tưởng lớn của dân tộc: truyền thống yêu nước, truyền thống nhân đạo và chủ nghĩa anh hùng.

+ Những thành tựu nghệ thuật lớn về thể loại, về khuynh hướng thẩm mỹ, về đội ngũ sáng tác, đặc biệt xuất hiện những tác phẩm lớn mang tính thời đại.

+ Tuy vậy, văn học thời kỳ này vẫn có những hạn chế nhất định: giản đơn, phiến diện, công thức…

* Những đặc điểm cơ bản: VHVN từ 1975 đến hết thế kỉ XX:

Những chuyển biến ban đầu: Hai cuộc kháng chiến kết thúc, văn học của cộng đồng bắt đầu chuyển hướng về muôn thuở.

Thành tựu cơ bản nhất của văn học thời kì này chính là ý thức về sự đổi mới, sáng tạo trong bối cảnh mới của đời sống.

– Quan điểm sáng tác của Hồ Chí Minh: Người coi văn nghệ là vũ khí chiến đấu lợi hại phụng sự cho sự nghiệp cách mạng. Nhà văn phải có tinh thần xung phong như người chiến chiến sĩ. Người coi trọng tính chân thật và tính dân tộc của văn học; khi cầm bút, Người bao giờ cũng xuất phát từ đối tượng ( Viết cho ai?) mục đích tiếp nhận ( Viết để làm gì?) để quyết định nội dung ( Viết cái gì?) và hình thức (Viết thế nào?) của tác phẩm.

– Di sản văn học: những tác phẩm chính của Hồ Chí Minh thuộc các thể loại: văn chính luận, truyện và kí, thơ ca.

– Phong cách nghệ thuật: độc đáo, đa dạng, mỗi thể loại văn học đều có phong cách riêng, hấp dẫn

+ Văn chính luận: thường ngắn gọn, tư duy sắc sảo, lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng đầy sức thuyết phục, giàu tính luận chiến và đa dạng về bút pháp.

+ Truyện và kí: rất hiện đại, thể hiện tính chiến đấu mạnh mẽ và nghệ thuật trào phúng vừa có sự sắc bén, thâm thúy của phương Đông, vừa có cái hài hước, hóm hỉnh giàu chất uy-mua của phương Tây.

+ Thơ ca: những bài thơ tuyên truyền lời lẽ giản dị, mộc mạc mang màu sắc dân gian hiện đại, dễ thuộc, dễ nhớ, có sức tác động lớn; nghệ thuật hàm súc, có sự kết hợp độc đáo giữa bút pháp cổ điển và hiện đại, chất trữ tình và tính chiến đấu.

Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện có giá trị lịch sử to lớn, tầm vóc tư tưởng cao đẹp và là một áng văn chính luận mẫu mực.

Tuyên ngôn độc lập được công bố trong một hoàn cảnh lịch sử đặc biệt đã quy định đối tượng hướng tới, nội dung và cách viết nhằm đạt hiệu quả cao nhất.

* Nêu nguyên lí chung về quyền bình đẳng, tự do, quyền mưu cầu hạnh phúc của con người và các dân tộc.

Trích dẫn hai bản tuyên ngôn của Mĩ, Pháp nhằm đề cao những giá trị của tư tưởng nhân đạo và văn minh nhân loại, tạo tiền đề cho những lập luận tiếp theo. Từ quyền bình đẳng, tự do của con người, Hồ Chí Minh suy rộng ra về quyền bình đẳng, tự do của các dân tộc. Đây là một đóng góp riêng của Người vào lịch sử tư tưởng nhân loại.

* Tố cáo tội ác của thực dân Pháp:

+ Thực dân Pháp đã phản bội và chà đạp lên chính nguyên lí mà tổ tiên họ xây dựng.

+ Vạch trần bản chất xảo quyệt, tàn bạo, man rợ của thực dân Pháp bằng những lí lẽ và sự thật lịch sử không thể chối cãi. Đó là những tội ác về chính trị, kinh tế, văn hóa…; là những âm mưu thâm độc, chính sách tàn bạo. Sự thật đó có sức mạnh lớn lao, bác bỏ luận điệu của thực dân Pháp về công lao ” khai hóa”, quyền ” bảo hộ” Đông Dương. Bản tuyên ngôn cũng khẳng định thực tế lịch sử: nhân dân ta nổi dậy giành chính quyền, lập nên nước VN Dân chủ Cộng hòa.

+ Những luận điệu khác của các thế lực phản cách mạng quốc tế cũng bị phản bác mạnh mẽ bằng những chứng cớ xác thực, đầy sức thuyết phục.

– Tuyên bố thoát li hẳn quan hệ thực dân với Pháp, kêu gọi toàn dân đoàn kết chống lại âm mưu của thực dân Pháp.

– Kêu gọi cộng đồng quốc tế công nhận quyền độc lập tự do của Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ quyền độc lập, tự do ấy.

– Lập luận chặt chẽ, lí lẽ đanh thép, bằng chứng xác thực, giàu sức thuyết phục.

– Ngôn ngữ vừa chính xác vừa gợi cảm. Giọng văn linh hoạt

– Tuyên ngôn độc lập là một văn kiện lịch sử vô giá tuyên bố trước quốc dân đồng bào và thế giới về quyền tự do, độc lập của dân tộc Việt Nam và khẳng định quyết tâm bảo vệ nền độc lập tự do ấy.

– Kết tinh lí tưởng đấu tranh giải phóng dân tộc và tinh thần yêu chuộng độc lập tự do.

– Là áng văn chính luận mẫu mực

Phần mở đầu: Nêu cách tiếp cận vừa có tính khoa học vừa có ý nghĩa phương pháp luận đối với thơ văn NĐC, một hiện tượng văn học độc đáo có vẻ đẹp riêng không dễ nhận ra.

Phần tiếp theo: Ý nghĩa, giá trị to lớn của cuộc đời, văn nghiệp của Nguyễn Đình Chiểu.

+ Cuộc đời và quan niệm sáng tác của Nguyễn Đình Chiểu – môt chiến sĩ yêu nước, trọn đời phấn đấu hi sinh vì nghĩa lớn của dân tộc: coi thơ văn là vũ khí chiến đấu bảo vệ chính nghĩa, chống lại kẻ thù xâm lược và tay sai, vạch trần âm mưu, thủ đoạn và lên án những kẻ lợi dụng văn chương làm điều phi nghĩa.

+ Thơ văn yêu nước chống ngoại xâm của Nguyễn Đình Chiểu “làm sống lại” một thời kì “khổ nhục” nhưng “vĩ đại”, tham gia tích cực vào cuộc đấu tranh của thời đại, cổ vũ mạnh mẽ cho cuộc chiến đấu chống ngoại xâm bằng những hình tượng văn học” sinh động và não nùng” xúc động lòng người. Văn tế Nghĩa si Cần Giuộc làm sống dậy một hình tượng mà từ trước đến nay chưa từng có trong văn chương thời trung đại: hình tượng người nông dân.

+ Truyện Lục vân Tiên là một tác phẩm lớn của Nguyễn Đình Chiểu, chứa đựng những nội dung tư tưởng gần gũi với quần chúng nhân dân, “là một bản trường ca ca ngợi chính nghĩa, những đạo đức đáng quý trọng ở đời”, có thể “truyền bá rộng rãi trong dân gian”.

– Phần kết: Khẳng định vị trí của Nguyễn Đình Chiểu trong nền văn học dân tộc.

– Bố cục chặt chẽ, các luận điểm triển khai bám sát vấn đề trung tâm.

– Cách lập luận từ khái quát đến cụ thể, kết hợp cả diễn dịch, quy nạp và hình thức “đòn bẩy”.

– Lời văn có tính khoa học, vừa có màu sắc văn chương vừa khách quan; ngôn ngữ giàu hình ảnh.

– Giọng điệu linh hoạt, biến hóa: khi hào sảng, lúc xót xa….

Khẳng định ý nghĩa cao đẹp của cuộc đời và văn nghiệp của NĐC: cuộc đời của một chiến sĩ phấn đấu hết mình cho sự nghiệp đấu tranh giải phóng dân tộc; sự nghiệp thơ văn của ông là một minh chứng hùng hồn cho địa vị và tác dụng to lớn của văn học nghệ thuật cũng như trách nhiệm của người cầm bút đối với đất nước, dân tộc.

Bức tranh thiên nhiên núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội nhưng vô cùng mĩ lệ, trữ tình và hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân trong cảm xúc ” nhớ chơi vơi” về một thời Tây Tiến:

+ Vùng đất xa xôi hoang vắng, hùng vĩ, dữ dội, khắc nghiệt, đầy bí hiểm nhưng vô cùng thơ mộng trữ tình.

+ Cảnh đêm liên hoan rực rỡ lung linh, chung vui với bản làng xứ lạ.

+ Cảnh sông nước miền Tây một chiều sương giăng hư ảo.

+ Hình ảnh người lính trên chặng đường hành quân: gian khổ, hi sinh mà vẫn ngang tàng, tâm hồn vẫn trẻ trung, lãng mạn.

Bức chân dung về người lính Tây Tiến trong nỗi “nhớ chơi vơi” về một thời gian khổ mà hào hùng:

Bài thơ đã khắc họa thành công hình tượng người lính Tây Tiến trên nền cảnh núi rừng miền Tây hùng vĩ, dữ dội. Hình tượng người lính Tây Tiến mang vẻ đẹp lãng mạn, đậm chất bi tráng sẽ luôn đồng hành trong trái tim và trí óc của mỗi chúng ta.

– Tám câu thơ đầu: Khung cảnh chia tay và tâm trạng của con người.

+ Bốn câu trên: Lời ướm hỏi, khơi gợi kỉ niệm về một giai đoạn đã qua, về không gian nguồn cội, nghĩa tình; qua đó, thể hiện tâm trạng của người ở lại.

+ Bốn câu thơ tiếp: Tiếng lòng người về xuôi bâng khuâng lưu luyến.

Tám mươi hai câu sau: Những kỉ niệm về Việt Bắc hiện lên trong hoài niệm.

+ Mười hai câu hỏi: Gợi lên những kỉ niệm ở Việt Bắc trong những năm tháng đã qua, khơi gợi, nhắc nhớ những kỉ niệm trong những năm cách mạng và kháng chiến. VB từng là chiến khu an toàn, nhân dân ân tình, thủy chung, hết lòng với cách mạng và kháng chiến.

+ Bảy mươi câu đáp: Mượn lới đáp của người về xuôi, nhà thơ bộc lộ nỗi nhớ da diết với VB; qua đó, dựng lên hình ảnh chiến khu trong kháng chiến anh hùng và tình nghĩa thủy chung. Nội dung chủ đạo là nỗi nhớ VB, những kỉ niệm về VB ( bốn câu đầu đoạn khẳng định tình nghĩa thủy chung son sắt; hai mươi tám câu tiếp nói về nỗi nhớ thiên nhiên, núi rừng và con người, cuộc sống nơi đây; hai mươi hai câu tiếp theo nói về cuộc kháng chiến anh hùng; mười sáu câu cuối đoạn thể hiện nỗi nhớ cảnh và người VB, những kỉ niệm về cuộc kháng chiến)

Bài thơ đậm đà tính dân tộc, tiêu biểu cho phong cách thơ Tố Hữu: thể thơ lục bát, lối đối đáp, cách xưng hô mình – ta, ngôn từ mộc mạc, giàu sức gợi,…

Bản anh hùng ca về cuộc kháng chiến; bản tình ca về nghĩa tình cách mạng và kháng chiến

6. ĐẤT NƯỚC (Trích trường ca Mặt đường khát vọng – Nguyễn Khoa Điềm)

Phần 1: Nêu lên cách cảm nhận độc đáo về quá trình hình thành, phát triển của đất nước; từ đó khơi dậy ý thức về trách nhiệm thiêng liêng với nhân dân, đất nước.

– Phần 2: Tư tưởng ” Đất Nước của Nhân dân” được thể hiện qua ba chiều cảm nhận về đất nước.

Qua đó, nhà thơ khẳng định, ngợi ca công lao vĩ đại của nhân dân trên hành trình dựng nước và giữ nước

Một cách cảm nhận mới về đất nước, qua đó khơi dậy lòng yêu nước, tự hào dân tộc, tự hào về nền văn hóa đậm đà bản sắc Việt Nam.

– Phần 1: Sóng và em- những nét tương đồng:

+ Cung bậc phong phú, trạng thái đối cực phức tạp, đầy bí ẩn, nghịch lí.

+ Khát vọng vươn xa, thoát khỏi những gì nhỏ hẹp, chật chội, tầm thường.

+ Đầy bí ẩn

+ Luôn trăn trở, nhớ nhung và bao giờ cũng thủy chung son sắt.

– Phần 2: Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời và khát vọng tình yêu:

+ Những suy tư, lo âu, trăn trở trước cuộc đời: Ý thức được sự hữu hạn của đời người, sự mong manh của hạnh phúc.

+ Khát vọng sống hết mình trong tình yêu: khát vọng hóa thân thành sóng để bất tử hóa tình yêu.

– Thể thơ năm chữ truyền thống; cách ngắt nhịp, gieo vần độc đáo, giàu sức liên tưởng

– Xây dựng hình tượng ẩn dụ, giọng thơ tha thiết.

Vẻ đẹp tâm hồn của người phụ nữ trong tình yêu hiện lên qua hình tượng ” sóng”: tình yêu thiết tha, nồng nàn, đầy khát vọng và sắt son chung thủy, vượt lên mọi giới hạn của đời người.

– Hình tượng Lor-ca được nhà thơ phác họa bằng những nét vẽ mang dấu ấn của siêu thực: ” tiếng đàn bọt nước”, “áo choàng đỏ gắt”, ” vầng trăng chếnh choáng “, ” yên ngựa mỏi mòn” … Lor-ca hiện lên mạnh mẽ song cũng thật lẻ loi trên đường gập ghềnh, xa thẳm.

– Bằng hệ thống hình ảnh vừa mang nghĩa thực vừa mang nghĩa ẩn dụ, tượng trưng, tác giả đã tái hiện cái chết bi thảm, dữ dội của Lor-ca. Nhưng bất chấp tất cả, tiếng đàn – linh hồn của người nghẹ sĩ – vẫn sống. Trong tiếng đàn ấy, nỗi đau và tình yêu, cái chết và sự bất tử hòa quyện vào nhau … Lời thơ di chúc của Lor-ca được nhắc lại, hàm ẩn cả tình yêu đất nước, tình yêu nghệ thuật và khát vọng cách tân nghệ thuật mãnh liệt.

– Cái chết không thể tiêu diệt được tâm hồn và những sáng tạo nghệ thuật của Lor-ca. Nhà cách tân vĩ đại đất nước Tây Ban Nha đã trở thành bất tử trong chính cuộc giã từ này.

Sử dụng thành công những thủ pháp tiêu biểu của thơ siêu thực, đặc biệt là chuỗi hình ảnh ẩn dụ, biểu tượng. Ngôn ngữ thơ hàm súc, giàu sức gợi.

Ngợi ca vẻ đẹp nhân cách, tâm hồn và tài năng của Lor-ca- nhà thơ, nhà cách tân vĩ đại của văn học Tây Ban Nha và thế giới thế kỉ XX.

– Sông Đà trên trang văn của Nguyễn Tuân hiện lên như một ” nhân vật” có hai tính cách trái ngược:

+ Hung bạo, dữ dằn: cảnh đá ” dựng vách thành”, những đoạn đá “chẹt” lòng sông như cái yết hầu; cảnh ” nước xô đá, đá xô sóng, sóng xô gió cuồn cuộn luồng gió gùn ghè”; những hút nước sẵn sàng nhấn chìm và đập tan chiếc thuyền nào lọt vào; những thạch trận, phòng tuyến sẵn sàng “ăn chết” con thuyền và người lái đò;…

+ Trữ tình, thơ mộng: dòng chảy uốn lượn của con sông như mái tóc người thiếu nữ Tây Băc kiều diễm; nước sông Đà biến đổi theo mùa, mỗi mùa có một vẻ đẹp riêng; cảnh vật hai bên bờ sông Đà vừa hoang sơ nhuốm màu cổ tích vừa trù phú, tràn trề nhựa sống;…

Qua hình tượng sông Đà, Nguyễn Tuân thể hiện tình yêu mến tha thiết đối với thiên nhiên đất nước. Với ông, thiên nhiên cũng là một tác phẩm nghệ thuật vô song của tạo hóa. Cảm nhận và miêu tả sông Đà, Nguyễn Tuân đã chứng tỏ sự tài hoa, uyên bác và lịch lãm. Hình tượng sông Đà là phông nền cho sự xuất hiện và tôn vinh vẻ đẹp của người lao động trong chế độ mới.

+ Là vị chỉ huy ” cái thuyền sáu bơi chèo” trong cuộc chiến đấu không cân sức với thiên nhiên dữ dội, hiểm độc (sóng, nước, đá, gió,…). Bằng trí dũng tuyệt vời và phong thái ung dung, tài hoa, người lái đò ” nắm lấy bờm sóng” vượt qua trận “thủy chiến” ác liệt ( đá nổi, đá chìm, ba phòng tuyến trùng vi vây bủa,…) thuần phục dòng sông. Ông nhìn thử thách bằng cái nhìn giản dị mà lãng mạn; bình tĩnh và hùng dũng ngay cả lúc đã bị thương.

+ Nguyên nhân chiến thắng của ông lái đòi: sự ngoan cường, dũng cảm và nhất là kinh nghiệm sông nước.

Hình ảnh ông lái đò cho thấy NT đã tìm được nhân vật mới: những con người đáng trân trọng, ngợi ca, không thuộc tầng lớp đài các “vang bóng một thời”,mà là những người lao động bình thường- chất ” vàng mười của Tây Bắc”. Qua đây, nhà văn muốn phát biểu quan niệm: người anh hùng không chỉ có trong chiến đấu mà còn có trong cuộc sống lao động thường ngày.

Giới thiệu, khẳng định, ngợi ca vẻ đẹp của thiên nhiên và con người lao động ở miền Tây Bắc của Tổ quốc; thể hiện tình yêu mến, sự gắn bó thiết tha của Nguyễn Tuân đối với đất nước và con người Việt Nam.

* Thủy trình của Hương giang:

+ Ở nơi khởi nguồn: sông Hương có vẻ đẹp hoang dại, đầy cá tính, là “bản trường ca của rừng già”, là ” cô gái Di-gan phóng khoáng và man dại”, là ” người mẹ phù sa của một nền văn hóa xứ sở”.

+ Đến ngoại vi thành phố Huế: sông Hương như ” người gái đẹp nằm ngủ mơ màng giữa cánh đồng Châu Hóa đầy hoa dại” được người tình mong đợi đến đánh thức. Thủy trình của sông Hương khi bắt đầu về xuôi tựa ” một cuộc tìm kiếm có ý thức” người tình nhân đích thực của một người con gái đẹp trong câu chuyện tình yêu lãng mạn nhuốm màu cổ tích.

+ Đến giữa thành phố Huế: sông Hương như tìm được chính mình ” vui hẳn lên…mềm hẳn đi như một tiếng “vâng” không nói ra lời của tình yêu. Nó có những đường nét tinh tế, đẹp như “điệu slow tình cảm dành riêng cho Huế”., như ” người tài nữ đánh đàn lúc đêm khuya”,…

+ Trước khi từ biệt Huế: sông Hương giống như ” người tình dịu dàng và chung thủy”. Con sông ” như nàng Kiều trong đêm tình tự”, ” trở lại tìm Kim Trọng” để nói một lời thề trước lúc đi xa…

* Dòng sông của lịch sử và thi ca:

Thể hiện những phát hiện, khám phá sâu sắc và độc đáo về sông Hương; bộc lộ tình yêu tha thiết, sâu lắng và niềm tự hào lớn lao của nhà văn đối với dòng sông quê hương, với xứ Huế thân thương.

Theo chúng tôi

Cập nhật thông tin chi tiết về Ôn Tập Văn Bản Văn Học Nước Ngoài trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!