Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Văn Bản “Ôn Dịch Thuốc Lá” Của Nguyễn Khắc Viện / 2023 # Top 16 View | Bac.edu.vn

Xu Hướng 12/2022 # Phân Tích Văn Bản “Ôn Dịch Thuốc Lá” Của Nguyễn Khắc Viện / 2023 # Top 16 View

Bạn đang xem bài viết Phân Tích Văn Bản “Ôn Dịch Thuốc Lá” Của Nguyễn Khắc Viện / 2023 được cập nhật mới nhất trên website Bac.edu.vn. Hy vọng những thông tin mà chúng tôi đã chia sẻ là hữu ích với bạn. Nếu nội dung hay, ý nghĩa bạn hãy chia sẻ với bạn bè của mình và luôn theo dõi, ủng hộ chúng tôi để cập nhật những thông tin mới nhất.

Ngay ở nhan đề của bài viết ta đã thấy được bài viết muốn nói lên điều gì. Thuốc lá là một thứ thuốc có chất ngây nghiện, mà khi dính vào rồi thì rất khó để bỏ được chế từ cây thuốc lá. “Ôn dịch” là từ mà dân gian hay thường sử dụng để nói về các chủng bệnh nguy hiểm, dễ lây lan và làm chết người hàng loạt, có thể gây chết dân chết mòn, cũng có thể là chết nhanh chóng. Ví dụ như: dịch tả, dịch cúm, HIV/AIDS,.. Tác giả đã sử dụng ngôn từ rất hay, so sánh cái tác hại đáng sợ của thuốc lá với hậu quả ghê gớm của các loại bệnh dịch, nó không chỉ có thấy được sự đáng sợ của thuốc lá mà tác giả còn đang thông báo rằng nên chấm dứt và ngưng sử dụng thuốc lá.

Rất rõ ràng bài này được chia làm bốn phần với những ngụ ý riêng của tác giả.

Phần mở đầu (từ đầu.. đến nặng hơn cả AIDS) tác giả dã nêu nhạn xét chung về hậu quả ghê gớm của những nạn dịch từ trước tới nay và lấy điều đó làm cơ sở để khẳng định rằng tác hại của thuốc lá là rất nghiêm trọng: “Dịch hạch, thổ tả hàng vạn hàng triệu người chết, nhờ tiến bộ y học, loài người hầu như đã diệt trừ được những dịch khủng khiếp ấy. Nhưng đến cuối thế kỉ này lại xuất hiện những ôn dịch khác”.

Cả thế giới ai cũng đang lo âu về nạn AIDS, đã làm chết nhiều người, nhưng chưa đưa ra được biện pháp, giải pháp để chữa trị hoàn toàn căn bệnh ác ôn này, thì nhiều nhà bác học, sau nhiều năm với những công trình nghiên cứu đã lớn tiếng báo động: “Ôn dịch thuốc lá đang đe dọa sức khỏe và tính mạng con người còn nặng hơn cả AIDS”. Câu này chính là luận điểm chính của văn bản, phần sau chính là phần giải thích và chứng minh cho luận điểm.

Phần hai (tiếp từ nặng hơn cả AIDS… đến tổn hao sức khỏe) chứng minh rằng thuốc lá gây tác hại rất lớn đối với con người mà đó là người hút. Trong bài có câu “Nếu giặc đánh như vũ bão thì không đáng sợ, đáng sợ là địch gặm nhấm như tầm ăn dâu” câu nói này là ông mượn của Trần Hưng Đạo một người có tài binh thao lược, mượn câu nói ấy để so sánh những khó khăn trong việc chống thuốc lá như là chống quân xâm lược. Khói thuốc thì ví như giặc vô hình, một người hút nhưng nó ảnh hưởng rất lớn đến người xung quanh nếu hít phải, khói thuốc là giặc vô hình rất khó đối phó ta sẽ thấy tác giả viết về việc khói thuốc lá gây hại đến người không hút ở phần sau. Khói thuốc không gây hại ngay cho con người mà nói gặm nhấm từng chút sức khỏe của con người, đó là loại khó đối phó nhất giống như tằm ăn dâu vậy. Những người hút thuốc lá họ không nghĩ đến điều đó, thậm chí họ còn cảm thấy sảng khoái khi được ngậm điếu thuốc lá trong miệng phì phèo và thư giãn. Nhiều thanh niên thì lấy thuốc lá để chứng minh cho các bậc phụ huynh thấy rằng mình đã lớn. Tác hại của thuốc lá gây ra cho con người rất nghiêm trọng nó ngấm dần vào phối rồi phá hỏng nội tạng trong con người.

Phần ba (tiếp theo… đến con đường phạm pháp) tác giả, bác sĩ Nguyễn Khắc Viện nêu tác hại của việc những người hít phải khói thuốc cũng có những ảnh hưởng i như người hút. Còn ảnh hưởng đến kinh tế đất nước: “Không cần nhắc đến những việc nghiêm trọng như vậy, chỉ riêng bệnh viêm phế quản của hàng triệu người đã mất bao nhiêu ngày công lao động và làm tổn hao sức khỏe cộng đồng”. Và nêu ra rất nhiều những tác hại của việc hút thuốc lá ảnh hưởng đến cộng đồng. Tác giả đã lên án và bác bỏ những quan điểm sai lầm về việc hút thuốc lá mà không có hại đến người khác.

Phần cuối (còn lại) là phần cảm nghĩ và lời bình của tác giả.

Qua bài “Ôn dịch thuốc lá” của Nguyễn Khắc Viện ta thấy được rằng thuốc lá có tác hại rất lớn đối với cuộc sống của con người, nó hủy hoại con người, gặm nhấm như lũ chuột, gặm nhấm sức khỏe con người và kinh tế quốc dân. Nhà nước ta cần phải có biện pháp gắt gao để ngăn chặn ôn dịch thuốc lá ngày càng tấn công nhiều hơn đến thế hệ trẻ. Là thế hệ trẻ chúng ta cần có lối sống lành mạnh không lao vào các tệ nạn xã hội, phấn đấu xây dựng đất nước ngày càng vững mạnh, văn minh hơn.

Phân Tích Văn Bản Ông Giuốc / 2023

1.Lời chỉ dẫn sân khấu dài chia lớp kịch này thành hai cảnh rõ rệt: cảnh trước gồm những lời thoại của ông Giuốc-đanh và bác phó may; cảnh sau gồm những lời thoại của ông Giuốc-đanh và tay thợ phụ. Cảnh trước trên sân khấu có bốn nhân vật là bác phó may, tay thợ phụ mang bộ lễ phục của ông Giuốc-đanh và một gia nhân của ông Giuốc-đanh. Cảnh sau đông hơn, sôi động, cảnh có thêm bốn thợ phụ nừa.

Cảnh trước chủ yếu chỉ là lời đối thoại của ông Giuốc-đanh và bác phó may. Sang cảnh sau khán giả không chỉ được nghe lời đối thoại, mà còn được xem các thợ phụ cởi quần áo cũ, mặc lễ phục mới cho ông Giuốc-đanh. Kịch sôi động hẳn lên. Ở cảnh này còn có cả nhảy múa và âm nhạc rộn ràng.

2.Mở đầu lớp kịch là cuộc đối thoại giữa ông Giuốc-danh với bác phó may xoay quanh một số sự việc như bộ lễ phục, đôi bít tất, bộ tóc giả và lông dính mũ, nhưng chủ yếu là xoay quanh bộ lễ phục.

Bộ lễ phục của ông Giuốc-đanh được một bác phó may vụng tay nghề nhưng khéo ăn nói. Chẳng biết do dốt hay do sơ suất hoặc do cố tình biến ông Giuốc-đanh thành trò cười nên đã may hoa ngược. Ông Giuốc-đanh chưa phải là mất hết tĩnh táo nên đã phát hiện ra điều đó. Nhưng chỉ cần bác thợ may vụng chèo khéo chống, đánh đúng thói trưởng giả học làm sang của ông Giuốc-đanh, bịa ra lí lẽ những người quý phái đều mặc hoa ngược là ông ưng thuận ngay.

Ở cảnh này có kịch tính cao. Bác phó may đang ở thế bị động (bị chê may áo ngược hoa), nay chuyền sang thế chủ động, tấn công lại bằng hai đề nghị liên tiếp: “Nếu ngài muốn thì tôi sẽ may hoa xuôi lại thôi mà”, “xin ngài cứ việc bảo”. Và thế là ông Giuốc-đanh cứ lùi mãi: “Không, không”, “Tôi đã bảo không mà. Bác may thế được rồi”, sau đó bác phó may đánh bài lảng sang chuyện khác, hỏi bộ lễ phục ông mặc có vừa vặn không.

Tiếp theo, ông Giuốc-đanh lại phát hiện ra bác phó may ăn bớt vải của mình. Bác phó may chống đỡ yếu ớt. Lần này bác lại gỡ thế bí bằng cách hỏi ông Giuốc-đanh có muốn mặc thử bộ lỗ phục không. Nước cờ của bác phó may thật cao tay vì nó một lần nữa đã đánh trúng vào tâm lí đang muốn học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh.

3.Ở cảnh sau, người đọc, người xem lại phát hiện ra một biểu hiện mới của tính cách trưởng giả học làm sang của ông Giuốc-đanh.

Mô-li-e chuyền tiếp từ cảnh trước sang cảnh sau một cách hết sức tự nhiên và khéo léo. Khi ông Giuốc-đanh mặc xong bộ lễ phục là được các tay thợ phụ tôn xưng là “ông lớn” ngay, khiến ông tưởng rằng cứ mặc bộ lề phục vào là nghiễm nhiên trở thành quý phái.

Các tay thợ phụ là nhừng kẻ ranh mãnh, dùng mánh khóe nịnh hót để moi tiền, điếm đúng huyệt học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh. Chúng thấy ông mắc mưu, cứ tôn lên mãi, hết “ông lớn” đến “cụ lớn” rồi đến “đức ông”.

Ông Giuốc-đanh vẫn nghĩ đến túi tiền của mình, ông nói riêng: “Nó như thế là phải chăng, nếu không ta đến mất tong cả túi tiền cho nó thôi”. Nhưng qua câu nói đó, ta thấy tính cách trưởng giả học làm sang dường như đã ngấm vào máu, vẫn thể hiện mãnh liệt đến mức ông sẵn sàng mất hết tất cả tiền đế được “làm sang”.

4.Qua hai cảnh trong lớp kịch, điều gây cười cho khán giả là ông Giuốc-đanh ngu dot chẳng biết gì, chỉ vì thói học đòi làm sang mà bị bác phó may và tay thợ phụ lợi dụng để kiôm chác. Khán giả cười khi thấy ông ngớ ngẩn tưởng rằng phải mặc áo hoa ngược mới là sang trọng. Người ta cười khi thấy ông cứ moi mãi tiền ra đế mua lấy cái danh hão.

Có thể nói đoạn trích đã lột tả khá đầy đủ tính cách học đòi làm sang của ông Giuốc-đanh. Qua tác phẩm của mình nhà văn muốn đả kích một lớp người trong xã hội bấy giờ dốt nát, học đòi, kệch cỡm.

Phân Tích Ý Nghĩa Văn Bản Uy / 2023

Phân tích ý nghĩa văn bản Uy-lít-xơ trở về Trích Ô-đi-xê – Sử thi Hy Lạp – Hô-me-rơ –

Uy-lít-xơ trở về Trích Ô-đi-xê – Sử thi Hy Lạp – Hô-me-rơ –

Hô-me-rơ là nhà thơ mù, được coi là tác giả của I-li-át và Ô-đi-xê. Ông là con một gia đình nghèo, được sinh ra bên dòng sông Mê-lét vào khoảng thế kỉ IX – VIII trước công nguyên. Tên của ông là Mê-lê-xi-gien. Sử thi Ô-đi-xê là một trong hai bộ sử thi nổi tiếng đất nước Hy Lạp. Tác phẩm kể lại hành trình trở về quê hương của Uy-lít-xơ sau khi hạ thành Tơ-roa.

Ô-đi-xê gồm 12 110 câu thơ, chia thành 24 khúc ca. Chủ đề chính của Ô-đi-xê là chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu; tái hiện xung đột giữa các nền văn minh, các trình độ văn hóa, là cuộc đấu tranh để bảo vệ hạnh phúc gia đình.

Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về là khúc ca thứ XXIII của sử thi Ô-đi-xê. Văn bản thuật lại chuyện sau hai mươi năm đánh thắng thành Tơ-roa và lênh đênh phiêu bạt, Uy-lít-xơ trở về quê hương, chiến thắng bọn cầu hôn Pê-nê-lốp, đoàn tụ gia đình.

Nhân vật Pê-nê-lốp:

Khi nhũ mẫu Ơ-cri-lê báo tin, thề thốt, đua ra chứng cứ Uy-lít-xơ đã trở về. Đó là cái sẹo do rang nanh trắng của một con lợn lồi húc người ngày xưa. Pê-nê-lốp vui mừng nhưng không tin, trong lòng rất đỗi phân vân. Pê-nê-lốp xuống nhà để “xem xác chết của bọn cầu hôn và người giết chúng”

Khi gặp Uy-lít-xơ: Rất đỗi sững sốt, dáng điệu cử chỉ lúng túng, tìm cách ứng xử.

Trước lời trách của Tê-lê-mác, Pê-nê-lốp “thận trọng” trả lời và cho biết sẽ nhận ngươi đó là chồng nếu ông trả lời được bí mật về “những dấu hiệu riêng chỉ hai người biết với nhau”. Đó là nàng ngầm nói về bí mật chiếc giường, khôn khéo thông minh xác minh sự thật. Thử thách Uy-lít-xơ bằng “bí mật chiếc giường” thông qua đối thoại với nhũ mẫu Ơ-Cri-lê “Già hãy khiêng chiếc giường chắc chắn ra khỏi gian phòng vách tường kiên cố do chính tay Uy-lít-xơ xây nên, rồi lấy da cừu, chăn và vải đẹp trải lên giường”.

Pê-nê-lốp hạnh phúc, mừng vui tột cùng khi nhận ra Uy-lít-xơ “nước mắt chan hòa, ôm lấy cổ chồng, hôn lên trán chồng”

Tác giả luôn dùng từ “thận trọng” đi kèm sau tên nhân vật Pê-nê-lốp.

Pê-nê-lốp: là người vợ thủy chung, kiên định, biết yêu tha thiết nhưng cũng rất kiên cường trong việc bảo vệ phẩm giá và hạnh phúc gia đình; là người phụ nữ thông minh, bình tĩnh, thận trọng, khôn khéo, tế nhị.

Nhân vật Uy-lít-xơ:

Để có mặt trong nhà của Pê-nê-lốp: Phải chiến đấu dũng cảm với bọn cầu hôn. Khi gặp Pê-nê-lốp thấy sự xa cách của vợ: Nhẫn nại, chấp nhận chờ đợi mọi sự thử thách. “Còn Uy-lít-xơ thì ngồi tựa vào một cái cột cao, mắt nhìn xuống đất, đợi xem bây giờ trông thấy mình rồi, người vợ cao quý của mình sẽ nói gì với mình”

Trước tác động của con trai: Nhẫn nại và mỉm cười. Uy-lít-xơ cho rằng Pê-nê-lốp chưa chịu nhận mình là chồng vì anh ta còn mang dáng vẻ của một người hành khất rách rưới, bẩn thỉu. Nhận ra thử thách của Pê-nê-lốp và bình tĩnh, thông minh, giải đáp được thử thách (giải đáp “bí mật của chiếc giường”)

Tác giả luôn dung cụm từ “cao quý và nhẫn nại” đi kèm sau tên nhân vật Uy-lít-xơ.

Uy-lít-xơ: là người dũng cảm, bình tĩnh, tự tin, thông minh, mưu trí, chung thủy, hiểu sâu sắc về vợ mình.

Qua cảnh vợ chồng đoàn tụ sau hai mươi năm xa cách, văn bản đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp. Đó cũng chính là vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của người Hi lạp cổ đại. Văn bản đã rất thành công với lối so sánh mở rộng (so sánh có đuôi dài). Cách miêu rả cụ thể, chi tiết, tỉ mỉ là đặc trưng của sử thi Hy Lạp. Tâm trạng nhân vật được thể hiện qua dáng điệu, cử chỉ, cách ứng xử, thái độ… Hình ảnh chọn lọc, ngôn ngữ trang trọng, tao nhã.

Đoạn trích Uy-lít-xơ trở về là bài ca ca ngợi vẻ đẹp tâm hồn, tình yêu xứ sở, tình cảm vợ chồng, tình cha con, chủ-khách, chủ – tớ; đề cao vẻ đẹp trí tuệ, sự khôn ngoan, mưu trí, dũng cảm, tỉnh táo, sáng suốt của nhân vật lý tưởng và khát vọng bảo vệ hạnh phúc gia đình. Đó cũng là khúc ca ca ngợi sức mạnh kì diệu của trí tuệ Hi Lạp cổ đại trong tiến trình chinh phục thiên nhiên để khai sáng, mở rộng giao lưu; tái hiện những xung đột giữa các nền văn minh, các trình độ văn hóa; cuộc đấu tranh bảo vệ hạnh phúc gia đình.

1. Nêu ngắn gọn hiểu biết của em về tác giả Hô-me-rơ.

2. Trình bày ngắn gọn hiểu biết của em về sử thi Ô-đi-xê?

3. Nếu khái quát giá trị nội dung và nghệ thuật của văn bản “Uy-lít-xơ trở về”.

4. Văn bản “Uy-lít-xơ trở về” đã khắc họa vẻ đẹp tâm hồn và trí tuệ của con người Hi Lạp thông qua hai nhân vật Uy-lít-xơ và Pê-nê-lốp, đó là những phẩm chất gì?

Theo chúng tôi

Phân Tích Văn Bản Sơn Tinh, Thủy Tinh / 2023

Phân tích văn bản Sơn Tinh, Thủy Tinh

Truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh bắt nguồn từ kho tàng thần thoại cổ, mà trực tếp là từ thần thoại về núi Tản Viên (và kèm theo đó là ca từ thần thoại về con sông Đà, đoạn sông chảy qua vùng Việt Trì, Phú Thọ để nhập vào sông Hồng), nhưng đã được lịch sử hóa để thành một truyền thuyết.

2. Hình tượng nhân vật (chính) và ý nghĩa tượng trưng

Trong truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh có bốn nhân vật: Sơn Tinh – núi Tản Viên, Thủy Tinh – vị chúa vùng nước thẳm vốn từ ngoài biển xa hằng năm mượn sông Đà làm địa bàn “gây chiến” với Sơn Tinh, Hùng Vương thứ mười tám và công chúa Mị Nương.

Nhân vật Hùng Vương được xây dựng nhằm đem lại màu sắc lịch sử cho truyện kể muôn đời về Núi và Nước. Nhân vật công chúa Mị Nương xuất hiện trong truyện thực hiện vai trò làm đầu mối cho sự xung đột giữa hai vị thần, khiến truyện Sơn Tinh, Thủy Tinh không còn là một thần thoại giải thích các hiện tượng tự nhiên thuần túy nữa, mà đã là một truyện kể (truyền thuyết) về việc con người chinh phục thiên nhiên để xây dựng và bảo vệ cuộc sống hạnh phúc của mình. Tựu trung, mọi điều xảy ra chỉ xoay quanh mâu thuẫn giữa thần Núi với thần Nước.

Điều đó có nghĩa rằng chỉ có Sơn Tinh và Thủy Tinh là nhân vật chính, Hùng Vương và Mị Nương là nhân vật phụ góp phần tạo nên bối cảnh xảy ra cuộc xung đột giữa hai nhân vật chính.

Vì thế để có thể hiểu được ý nghĩa của truyện, ta cần tập trung phân tích ý nghĩa của hình tượng nhân vật chính. Cụ thể là phân tích các chi tiết nghệ thuật có giá trị được truyện dùng đế xây dựng hình tượng nhân vật chính. Gồm có:

– Những chi tiết về cuộc thi tài và cầu hôn;

– Những chi tiết về cuộc giao tranh;

– Những chi tiết về cách kết thúc cuộc giao tranh.

a) Những chỉ tiết về cuộc thi tài và cầu hôn

Những chi tiết này vừa là sản phẩm của trí tưởng tượng mang đậm tính chất thần kì (Sơn Tinh chỉ cần vẫy tay một cái là núi đồi, cồn bãi mọc lên khắp phía đông, phía tây; Thủy Tinh chỉ cần đứng một chỗ mà hô được mưa đến, gọi được gió về), vừa không thoát li thực tế (là thần Núi, Sơn Tinh chỉ có thể điều khiển được đồi núi, cồn bãi; còn Thủy Tinh là thần Nước nên chỉ có thể gọi được gió bão, hô được mưa lũ).

Hai vị thần không thể đổi được tài nghệ cho nhau, cũng chẳng ai có thế kiếm được cả hai loại phép lạ đó. Mặc dù cả hai vị thần đều tài giỏi ngang nhau.

Những lễ vật mà Hùng Vương thách cưới thảy đều kì lạ và khó kiếm (nhất là lại chĩ được kiếm trong thời gian một đêm – thời hạn quá ngắn đến mức hoang đường, kì ảo đối với những người phải đáp ứng).

Nhưng đó cũng lại là những thứ hoặc là sản phẩm của nghề trồng lúa nước (vốn là biệt tài của người Việt ngay từ thời Văn Lang), hoặc là dựa trên cơ sở thành tựu thuần hóa những động vật hoang dã thành vật nuôi trong nhà (những voi, gà, ngựa là những loài gia súc mà người Việt thời cổ đã nuôi để làm thực phẩm hoặc đế giúp vào việc làm ăn, vận chuyển).

Sở dĩ chỉ riêng Sơn Tinh kiếm đủ lễ vật là vì đó chí gồm những thứ ở trên cạn. Thế là dân gian đã mượn lời thách của Hùng Vương để bộc lộ cảm tình, sự thiên vị đối vói Sơn Tinh. Điều này cũng lại có cơ sở thực tế: để chạy khỏi vùng bị lụt, con người phải lên núi cao và chưa bao giờ nước lũ lại dâng đến ngọn núi – huống chi là núi Tản Viên cao nhất vùng Phong Châu.

Rõ ràng ở đây có sự kết hợp của trí tưởng tượng kì diệu với hoàn cảnh thực tế. Thần thoại trở thành truyền thuyết gắn bó với cuộc đời là như thế.

b) Những chi tiết về cuộc giao tranh

Cuộc đánh ghen của Thủy Tinh và cuộc chống trả của Sơn Tinh cũng có tính chất hai mặt như những chi tiết về cuộc thi tài và cầu hôn. Thủy Tinh là thần nên có sức mạnh ghê gớm tới mức chỉ có được trong trí tưởng tượng mang ảnh hưởng của thần thoại: hô mưa, gọi gió thì tạo nên bão dông, lũ lụt “rung chuyền đất trời… nước ngập nhà cửa, nước dâng lên lưng đồi, sườn núi, thành Phong Châu như nổi lềnh bềnh trên một biển nước”. Nhưng những hình ảnh tưởng tượng dữ dội, kì vĩ ấy vẫn dựa trên những kinh nghiệm, quan sát thực lô về những trận lũ lụt khủng khiếp trên dọc hai bờ sông Hồng, sông Đà trong mùa mưa bão hằng năm. Sơn Tinh cũng là thần nên năng lực cũng đạt tới mức khác thường, thần kì: “Thần dùng phép lạ bốc từng quả dồi, dời từng dãy núi, dựng thành lũy đất, ngăn chặn dòng nước”] đặc biệt là hỗ nước sông do Thủy Tinh dâng lên cao bao nhiêu thì đồi núi do Sơn Tinh đắp cao lên bấy nhiêu, lúc nào cũng cao hơn mực nước. Tài năng đắp cao đất để ngăn nước đó là một phần có cơ sở ở quá trình trị thủy của tổ tiên người Việt, nhưng một phần (và là phần chủ yếu ở một tác phẩm văn học) bắt nguồn từ ước mơ của họ muốn có sức mạnh phi thường, khả năng to lớn đế chiến thắng nạn lụi. Ước mơ ấy, suy cho cùng cũng nảy sinh từ thực tế lao động sản xuất và đấu tranh với thiên nhiên. Những điều này nói lên giá trị phản ánh hiện thực của những chi tiết nghệ thuật tưởng như hoang đường và cũng thế hiện mối quan hộ mật thiết giữa sáng tác văn học dân gian với đời sống của nhân dân.

c) Những chi tiết về cách kết thúc cuộc giao tranh

Kết thúc truyện là sự chiến thắng của Sơn Tinh đốì với Thủy Tinh – không thể không như vậy vì thực tế là nước lũ dâng cao đên đâu rồi cũng đến lúc phải rút. Nhưng Sơn Tinh đã thắng mà chưa thắng hẳn, Thủy Tinh dẫu thua mà chưa chịu thua hẳn, hằng năm vẫn “làm mưa gió, bão lụt, dâng nước đánh Sơn Tinh”. Và rồi lần nào cũng vậy, Thủy Tinh “đánh mệt mỏi, chán chê… đành rút quân về”. Tuy nhiên, cách kết thúc ấy còn tổng kết một bài học kinh nghiệm lớn: con người không bao giờ chịu ngồi yên khoanh tay nhìn và chờ đợi bị động trước thiên nhiên; sức người hoàn toàn có thể, năm nào cũng vậy, chiến thắng được thiên tai lũ lụt.

Không chỉ mang những ý nghĩa như vậy, với cách kết thúc đã phân tích ở trên, truyện còn là lời thế hệ trước nhắn nhủ, gửi gắm cho thê hệ sau nhiệm vụ tiếp tục vươn lên chinh phục tự nhiên, làm chủ đất nước. Công trình thủy điện sông Đà với nhà máy thủy điện Hòa Bình và sắp tới đây, với nhà máy thủy điện Tạ Bú, Sơn La (cùng các công trình thủy điện, đê điều khác), sự nghiệp trồng rừng và giữ gìn, bảo vệ rừng chính là việc làm thực tế để tiếp tục sự nghiệp trị thủy, xây dựng đời sống no ấm, phồn vinh của cha ông ta.

Phân Tích Văn Bản Mẹ Tôi Của Ét / 2023

A. Sơ đồ tóm tắt gợi ý

B. Dàn bài chi tiết

1. Mở bài

Giới thiệu tác giả

Ét-môn-đô-đơ A-mi-xi (1846-1908) là nhà văn Ý.

Là một nhà hoạt động xã hội, nhà văn lỗi lạc, giàu lòng nhân ái.

Nêu sơ lược về tác phẩm

Văn bản Mẹ tôi được trích trong tác phẩm Những tấm lòng cao cả (1886).

2. Thân bài

Nội dung của văn bản: En-ri-cô ăn nói thiếu lễ độ với mẹ. Bố biết chuyện, viết thư cho En-ri-cô với lời lẽ vừa yêu thương vừa tức giận. Trong thư, bố nói về tình yêu, về sự hi sinh to lớn mà mẹ đã dành cho En-ri-cô. Trước cảnh ứng xử khéo léo và tế nhị nhưng kiên quyết, gay gắt của bố, En-ri-cô đã vô cùng hối hận.

Tình thương của người mẹ dành cho En-ri-cô

Thức suốt đêm, quằn quại, khóc nức nở vì sợ mất con.

Người mẹ sẵn sàng bỏ hết hạnh phúc để tránh đau đớn cho con.

Có thể đi ăn xin để nuôi con, hi sinh tính mạng để cứu con.

Yêu thương con sâu sắc.

Dịu dàng và hiền hậu.

Giàu đức hi sinh và hết lòng tận tụy vì con.

⇒ Dành hết tình yêu thương cho con, quên mình vì con.

⇒ Mẹ là chỗ dựa tinh thần vững chắc cho con suốt cuộc đời.

⇒ Phẩm chất cao đẹp, xứng đáng để chúng ta tôn thờ, kính trọng.

Tâm trạng, thái độ của người bố đối với En-ri-cô

Cảnh cáo nghiêm khắc lỗi lầm của En-ri-cô

Sự hỗn láo của con như một nhát dao đâm vào tim bố vậy

Bố không thể nén cơn tức giận

Con mà lại xúc phạm đến mẹ ư?

Thật đáng xấu hổ và nhục nhã.

Gợi lại hình ảnh lớn lao và cao cả của người mẹ và làm nổi bật vai trò của người mẹ trong gia đình.

⇒ Vừa dứt khoát như ra lệnh vừa mềm mại như khuyên nhủ, mong muốn con hiểu được công lao, sự hi sinh vô bờ bến của mẹ.

Lời khuyên của bố

Yêu cầu con sửa lỗi lầm

Không bao giờ thốt ra một lời nói nặng với mẹ

Con phải xin lỗi mẹ

Con hãy cầu xin mẹ hôn con

⇒ Lời khuyên chân thành, sâu sắc.

⇒ En-ri-cô có một người cha mẫu mực, sâu sắc, thấu hiểu đạo lí.

3. Kết bài

Với giọng văn tha thiết nhưng nghiêm khắc cùng với cách diễn đạt độc đáo, nhà văn đã giúp chúng ta cảm nhận được vẻ đẹp cao cả, giàu đức hi sinh của người mẹ, vẻ đẹp mẫu mực của người cha và cho ta bài học sâu sắc về đạo làm con.

Lựa chọn hình thức viết thư để thể hiện những tình cảm, thái độ của người cha đối với En-ri-cô.

C. Bài văn mẫu

Phần hay nhất, cảm động nhất trong bức thư là người bố nói với con về hình ảnh thương yêu, về đức hi sinh cao cả và tình thương mênh mông của người mẹ hiền.

Bố nhắc lại một kĩ niệm không bao giờ có thể quên là cách đây mấy năm, En-ri-cô bị ốm nặng, mẹ đã “thức suốt đêm” săn sóc con, “cúi mình trên chiếc nôi trông chừng hơi thở hổn hển của con”. Người mẹ lo âu, đau đớn “quằn quại vì nỗi sợ, khóc nức nở khi nghĩ rằng có thể mất con”.

Cập nhật thông tin chi tiết về Phân Tích Văn Bản “Ôn Dịch Thuốc Lá” Của Nguyễn Khắc Viện / 2023 trên website Bac.edu.vn. Hy vọng nội dung bài viết sẽ đáp ứng được nhu cầu của bạn, chúng tôi sẽ thường xuyên cập nhật mới nội dung để bạn nhận được thông tin nhanh chóng và chính xác nhất. Chúc bạn một ngày tốt lành!